TÌM HI ỂU TIỀN DẪN NHẬP CHO LỜI NÓI YÊU CẦU A STUDY ON PRE-SEQUENCES IN REQUESTS IN VIETNAMESE AND ENGLISH TRẦN VĂN PHƯỚC, Đại học Huế NGUYỄN THỊ KIM CÚC, Học viên Cao học 2005-2008, Đ
Trang 1TÌM HI ỂU TIỀN DẪN NHẬP CHO LỜI NÓI YÊU CẦU
A STUDY ON PRE-SEQUENCES IN REQUESTS
IN VIETNAMESE AND ENGLISH
TRẦN VĂN PHƯỚC, Đại học Huế
NGUYỄN THỊ KIM CÚC,
Học viên Cao học 2005-2008, ĐH Đà Nẵng
TÓM T ẮT
Bài báo t ập trung nghiê n cứu tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu từ những cuộc hội tho ại, với hơn 250 tiền dẫn nhập cho mỗi ngôn ngữ, trích từ trong truyện ngắn, tiểu thuy ết và sách thực hành giao tiếp của tiếng Anh và tiếng Việt Bằng phương pháp định lượng và định tính, chúng tôi thử nhận diện, phân loại và tìm nhận những tương đồng
và dị biệt của tiền dẫn nhập cho sự lời nói yêu cầu, đặc biệt là trên bình diện cấu trúc trong ti ếng Anh và tiếng Việt nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp cho người Việt học
ti ếng Anh
ABSTRACT
This article is focused on the pre-sequences in requests in conversations with more than 250 pre-sequences in requests for each language taken from English and Vietnamese short stories, novels and communicative practice books By using qualitative and quantitative methods, we try realizing, classifying, and finding the similarities and differences of pre-sequences in requests, especially, in syntactic aspects in English and Vietnamese in order to enhance communicative efficiency for the Vietnamese learners of English
1 Đặt vấn đề
Trong hoạt động giao tiếp, người nói bao giờ cũng tính đến việc tổ chức các lượt
lời, sự kiện xoay quanh đích giao tiếp Để đạt được hiệu quả giao tiếp, người nói phải xây dựng các chiến lược giao tiếp thông qua các hành vi ngôn ngữ Trong hoạt động giao tiếp, chúng ta phải thực hiện một số hành vi ngôn ngữ nhất định và hầu hết những hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng đe dọa thể diện của người khác Để giảm thiểu
mức tối đa khả năng đe dọa thể diện này, người ta sử dụng nhiều biện pháp Một trong
số những biện pháp đó là dùng tiền dẫn nhập để báo trước, thăm dò
Đối với lời nói yêu cầu thì việc sử dụng tiền dẫn nhập được xem là một chiến lược lịch sự vì bản chất của lời yêu cầu là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành động nào đó trong tương lai và do đó khả năng đe d ọa thể diện của người nghe là khá lớn Với phạm vi bài viết, chúng tôi sẽ nghiên cứu cấu trúc của lời nói yêu cầu trong
tiếng Việt và tiếng Anh
Trang 22 Ti ền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu (Pre-sequences in requests or pre-requests)
2.1 Định nghĩa về tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu trong tiếng Anh
Theo Levinson (1983) thì tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu là một lời nói ở trước một lời yêu cầu, để xác định khả năng đáp ứng của người nghe nhằm thoả mãn cho lời nói yêu cầu sắp được nói
Theo Yule (1996) tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu, hay còn có cách gọi khác là
lời ướm - yêu cầu là phát ngôn trước một yêu cầu, để kiểm tra thử yêu cầu đó có thể đưa
ra được hay không
Ông cho rằng khái niệm thể diện có thể là trợ thủ đắc lực trong việc tìm hiểu làm
thế nào những người tham dự một tương tác không thể hiểu vượt quá giới hạn bằng lời
Từ quan điểm lịch sự điều cơ bản cần nắm được là thể diện rất dễ gặp nguy cơ khi ta (self) cần thực hiện một điều gì dính líu đến người (other) Nguy cơ lớn nhất xuất hiện
là khi người kia bị đặt vào trong một tình huống khó xử Một cách để tránh nguy cơ là
tạo cơ hội cho người kia chặn đứng những hành động có nguy cơ đang tiềm tàng đó Thay vì chỉ đưa ra lời yêu cầu, người nói trước hết có thể sử dụng cái được mô tả là lời ướm của một yêu cầu (pre-request) Sau đây là ví dụ mà Yule cho là tiền dẫn nhập: (1) Nữ: Are you busy? (Anh có bận không)
Nam: Not really (Tất nhiên là không)
Nữ: Check over this memo
(Tìm hộ em con số này đi!) Nam: Okay (Có ngay)
pre- request (ướm yêu cầu)
go head (tiếp đi) request (yêu cầu) accept (chấp nhận) [7: 67]
Lợi thế của yếu tố ướm-yêu cầu là nó có thể trả lời bằng một câu trả lời “tiếp đi” như ví dụ (1) trên hoặc bằng một câu trả lời “thôi đi” như ví dụ (2) sau đây
(2) Nam: Are you busy?
Nữ: Oh, sorry
Pre-request (ướm yêu cầu)
Stop (dừng lại) [7: 67] Câu trả lời trong ví dụ (2) cho phép người nói biết được người nghe không thể đáp ứng được yêu cầu vào lúc đó, nên người nói không đưa ra lời yêu cầu để tránh khả năng đe dọa thể diện của người nghe
2.2 Định nghĩa về tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu trong tiếng Việt
Cho đến nay, khái niệm tiền dẫn nhập (pre-sequences) - thuật ngữ dịch của Đỗ
Hữu Châu - đã trở nên quen thuộc đối với các nhà Việt ngữ học khi nghiên cứu về hành
vi ngôn ngữ và sự kiện lời nói (speech events)
Nguyễn Thiện Giáp (2000) gọi lời tiền dẫn nhập bằng cái tên giản dị là lời ướm
thử Theo ông, lời ướm thử là những lời được dùng để hình dung khả năng của hành động đó Sau đây là ví dụ lời ướm thử để yêu cầu trong tiếng Việt:
(3) A: Ngày mai anh có đi đâu xa không?
B: Không, không đi đâu cả
A: Thế anh có dùng xe máy không?
B: Không Anh muốn mượn à
(l ời ướm thử để yêu cầu)
Trang 3A: Vâng nếu anh không dùng đến
Bàn về lời ướm thử, tác giả Nguyễn Thiện Giáp mới chỉ chú ý đến hình thức
biểu hiện nghi vấn Trên thực tế, những lời ướm còn có nhiều cấu trúc như: nghi vấn,
trần thuật, cầu khiến, cảm thán Hơn thế nữa, nếu các hành vi dẫn nhập trung tâm của
một lời nói (đặc biệt là lời nói yêu cầu) có đích ở lời giống nhau nhưng hiệu lực ở lời khác nhau thì chiến lược dẫn nhập vẫn có thể khác nhau
3 Bi ểu hiện ngôn ngữ của tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện cấu trúc
Để khảo sát sự tồn tại các cấu trúc câu của tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu và
tần số xuất hiện của chúng trong thực tế sử dụng hai cơ sở dữ liệu đã được lập Đối với
cơ sở dữ liệu tiếng Anh chúng tôi đã thu thập được 260 mẫu tiền dẫn nhập và tiếng Việt
gồm 274 mẫu từ những cuộc hội thoại trong tiểu thuyết, truyện ngắn và sách thực hành giao tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt
Theo quan sát của chúng tôi từ dữ liệu thu thập được, tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt đều có các cấu trúc như: cấu trúc nghi vấn (Interrogatives); cấu trúc tường thuật (Declaratives); cấu trúc cầu khiến (Imperatives) và
cấu trúc cảm thán (Exclamatives)
3.1 C ấu trúc nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt
3.1.1 C ấu trúc câu hỏi Có/Không (Yes/No Questions)
Dạng câu hỏi này đòi hỏi người nghe phải xác nhận tính đúng sai của của câu
hỏi Đối với tiếng Anh, thông thường trong cấu trúc hỏi Yes/No này động từ to be, trợ
động từ và các động từ khiếm khuyết được đặt trước chủ ngữ Thế nhưng, trong tiếng
Việt thì dạng câu này được nhận diện bằng những tiểu từ cuối câu như (final particles):
không (not) hay chưa (not… yet)
(4) Inspector Finn: Were you in the city yesterday?
Man: Yes, I was
Inspector Finn: Can you tell me what you did in town? [17: 44] (5) Ông Năm: Cháu có biết chăn bò không?
Đọt: Dạ Cháu làm được
Ông Năm: Vậy đi, mai cháu lên bác Nhà bác có con bò cái Để bác nói với mấy nhà bên cạnh nữa, có chừng ba, bốn con bò cho cháu chăn luôn thể Vậy
(6) Chính trị viên: Đã viết thư cho chị ấy với các cháu chưa?
Tiên: Khó bỏ mẹ, viết được đâu
Chính trị viên: Nghỉ ngơi rồi cậu viết thư đi
[14: 371]
3.1.2 C ấu trúc câu hỏi thông tin (Information questions)
Trong Tiếng Anh, câu hỏi thông tin đựơc bắt đầu bằng những từ để hỏi như who,
who, whose, what, which, when, where, và nhóm t ừ để hỏi như how, what, which, whose
được kết hợp với một cụm danh từ, giới từ, tính từ hay trạng từ và có sự đảo ngữ giữa
Trang 4chủ ngữ với các động từ khiếm khuyết, to be, trợ động từ Tuy nhiên trong tiếng Việt
dạng câu hỏi này có hình thức như một câu tường thuật được kèm với các từ để hỏi như
ai, cái gì, khi nào, ở đâu, thế nào, ra sao…
(7) Pedro: What are you doing?
Miguel: I’m writing to my mother
(8) Ed: What sort of car are you going to buy?
Kevin: I’m not sure
(9) Người Lính: Ai hát thế nhỉ?
Người bạn: Bích Liên đấy!
Người Lính: Vặn to lên một chút, có cho người ta nghe với không? [9: 231] (10) Người lính: Này, anh bạn đi đâu đó?
Hoàng Lương: Mình qua công binh có chút việc
Người lính: Anh bạn đưa tớ mượn chiếc áo mưa [16: 261]
3.1.3 C ấu trúc câu hỏi tường thuật (Declarative questions)
Đây là loại câu hỏi có hình thức giống như một câu tường thuật Khi hỏi có ngữ điệu lên giọng ở cuối câu để tạo nên câu hỏi
(11) Teacher: You are better now?
Kate: Yes, thank you
Teacher: Well, try and do your homework before tomorrow [16: 46] (12) Người phụ nữ: Xin lỗi… anh là nhạc sĩ Nguyễn?
Nguyễn: Vâng
Người phụ nữ: Gia đình tôi xin anh giúp cho một việc… [22: 451-452]
3.1.4 C ấu trúc câu hỏi đuôi (Tag questions)
Trong tiếng Anh, câu hỏi đuôi có kết cấu đặc biệt Câu hỏi này có ý nghĩa hướng đích là tìm kiếm sự đồng tình hoặc xác nhận của người đáp Trong tiếng Anh, phần đuôi
có thể dịch sang dạng hỏi:…phải không; được không? à…của tiếng Việt
(13) Bob: Excuse me This movie is in English, isn’t it?
Woman: Yes, it’s in English, but it has subtitles
Bob: Oh, and by the way, what time does it start? [16: 39] (14) - Tôi mu ốn hỏi một câu …hơi tò mò, được không chị?
- Cũng được thôi…
- Chị đã yêu ai và những ai yêu chị hồi trong Trường Sơn? [8: 149]
3.1.5 C ấu trúc câu hỏi lựa chọn (Alternative questions)
Câu hỏi lựa chọn là dạng câu hỏi mà yêu cầu trả lời được định sẵn, người nghe
sẽ lựa chọn một trong những đáp số người hỏi đưa ra để trả lời Liên từ “or” được dùng
trong tiếng Anh và “hay, hay là”được dùng trong tiếng Việt
(15) Rob: Tim, did you type this letter or did Akiko?
Trang 5Tim: I did Is there something wrong?
Rob: Take a look This should be $ 400,000 You typed $40.000 [10: 38] (16) Kim: Anh có hay nh ận thư chị Tuyết hay không?
Sài: Có
3.2 Cấu trúc tường thuật trong tiếng Anh và tiếng Việt (Declaratives)
Câu trần thuật là loại câu của những hành động ngôn trung có tính chất nhận
định, trình bày [2:123] Đối với tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu từ nguồn dữ liệu đã
thu được, chúng tôi phân loại thành ba nhóm sau:
3.2.1 C ấu trúc tường thuật khẳng định trong tiếng Anh và Tiếng Việt
(17) E: There’s somebody in the other office!
F: I didn’t hear any body
(18) Ông hàng xóm: Tôi hôm nay l ại phải sang nhờ ông Thanh chút việc đây
Ông Thanh: Có việc gì hở bác?
Ông hàng xóm: Vì bốn hôm nữa cưới con ông cậu rồi, thằng con tôi thì ở mãi
tận trong Đồng Tháp, viết thư đến không kịp Lại phải sang xin ông cho gọi nhờ điện thoại, báo cho cháu cho cháu nó về kịp [21: 117]
3.2.2 Cấu trúc tường thuật phủ định trong tiếng Anh và tiếng Việt
(19) Charlz: I can't decide now whether to go with Mr.Wade Hampton's South
Carolina Legion or with the Atlanta Gate City Guard
Scarlett: Oh,
Charlz: Will you wait for me, Miss Scarlett? It - it would be Heaven just knowing that you were waiting for me until after we licked them! [24] (20) Quách An: Tôi th ấy bà tư lệnh không để ý đến chiếc xe nhà đã có phần cũ
Bà tư lệnh: Thưa ông chủ, cũ rồi nhưng tiền đâu mà thay
Quách An: Thưa, có đáng là bao Thôi thế này, nhân tôi sắp nhận một “sê ri” xe hơi “mô đen” đặc biệt, tôi xin tặng bà một chiếc [14: 561]
3.2.3 Cấu trúc tường thuật rào đón trong tiếng Anh và tiếng Việt
(21) Jack: I was wondering if you could do me a favor
Andy: That depends
Jack: Well, I have to go to a wedding this weekend Would it be ok if I borrow
(22) A1: Anh ạ, nếu anh có lòng tốt, em xin nhờ anh một việc
B1: Việc gì cũng được, trừ việc yêu em
A2: Anh chữa cho em mấy trang nhật kí
B 2: Anh xin dành hết tâm lực để viết hộ em [1: 89]
3.3 C ấu trúc câu cầu khiến trong tiếng Anh và tiếng Việt
Câu cầu khiến là câu có giá trị ngôn trung tác động đến ngôi thứ hai, yêu cầu
Trang 6ngôi này thực hiện một hành động đơn phương hoặc hợp tác [2: 132] Trong cấu trúc câu cầu khiến có hình thức điển hình thì ngôi cầu khiến (ngôi thứ nhất) và ngôi nhận
lệnh (ngôi thứ hai) được tỉnh lược Trong tiếng Anh, câu cầu khiến được bắt đầu bằng
một động từ nguyên mẫu (bare infinitive) ở thể khẳng định) và “ Do n’t + động từ
nguyên m ẫu ở thể phủ định Trong khi đó trong tiếng Việt có thể thêm từ vị thái (hãy,
đừng…!) hay ngữ thái từ (…đi!)
3.3.1 C ấu trúc câu cầu khiến khẳng định
(23) - Oh, stop! Please, stop!
- Madam?
- Tell me, is it true? Are the Yankees coming? [24] (24) Lão Thiến: Thán, dậy tao bảo
Thán: Gì?
Lão Thiến: Mày có của sụ, coi chừng thằng Hùng Nó về hơn tuần nay Trốn
3.3.2 C ấu trúc câu cầu khiến phủ định trong tiếng Anh
(25) Friend: Don’t cry, Laura You don’t have to work there
Laura: But I need the money!
Friend: Why don’t you look for a new job? [15: 228]
3.4 C ấu trúc câu cảm thán trong tiếng Anh và tiếng Việt
Tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu dùng cấu trúc câu cảm thán để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của người nói trước khi đưa ra lời nói yêu cầu Trong tiếng Anh, tiền dẫn
nhập cho lời nói yêu cầu được nhân diện bằng cấu trúc ( What + a(n) + Adj + Noun!)
Trong tiếng Việt được nhận diện bằng những tiểu từ ở cuối câu như nhỉ, thay… hoặc
những thán từ “ôi!, ồ !, ô hay!” kết hợp với các từ hay các trạng từ lạ, thật, quá, ghê,
th ế, biết bao, biết mấy…
+ Cấu trúc với “What”
(26) A: What beautiful flowers, Marry!
B: Yes, but they don’t last very long in the house
A: You should put them in a bucket of water for half an hour before you put
(27) Bà Ảnh: Dượng ngủ kỹ nhỉ!
Ông Bài: Ngày nào tôi cũng ngủ tới giờ này, chị thừa biết mà Sao? Có chuyện gì?
Bà Ảnh: Không vòng vo mất thời gian của dượng Tôi muốn biết dượng cho con
Như vậy tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt đều được xuất hiện các cấu trúc đã trình bày trên Có thể tóm tắt dữ liệu thu thập được trong hai bảng dưới đây:
Trang 7B ảng 1: Tần số sử dụng cấu trúc của tiền dẫn nhập cho l ời nói yêu cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt
Lần xuất hiện Tỉ lệ % Lần xuất hiện Tỉ lệ %
B ảng 2: Tần số sử dụng cấu trúc theo từng tiểu loại
c ủa tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt
Câu nghi v ấn
Ti ếng Anh Ti ếng Việt
Lần
xuất hiện
Tỉ lệ
%
Lần
xuất hiện
Tỉ lệ
%
Câu hỏi thông tin (Wh-questions) 30 17.96 39 18.84 Câu hỏi tường thuật (Declarative Questions) 16 9.58 12 5.80 Câu hỏi đuôi (Tag Questions) 10 5.98 53 25.60 Câu hỏi lựa chọn (Or-Questions) 2 1.19 3 1.45
Lần xuất hiện Tỉ lệ % Lần xuất hiện Tỉ lệ %
Lần xuất hiện Tỉ lệ % Lần xuất hiện Tỉ lệ %
Trang 8Câu c ảm thán
Lần xuất hiện Tỉ lệ % Lần xuất hiện Tỉ lệ %
Qua tìm hiểu 260 tiền dẫn nhập trong lời nói yêu cầu trong ngôn ngữ tiếng Anh
và 274 tiền dẫn nhập trong lời nói yêu cầu trong tiếng Việt, từ kết quả phân tích dữ liệu
có thể rút ra một số nhận xét khu biệt giữa tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu trong tiếng Anh và tiếng Việt như sau
Nhìn chung, tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu trong cả hai ngôn ngữ đều xuất
hiện những cấu trúc giống nhau Số câu nghi vấn có tỉ lệ xuất hiện cao nhất, số câu cảm thán có tỉ lệ thấp nhất Cấu trúc tường thuật, cầu khiến, cảm thán xuất hiện ít hơn nhiều
so với cấu trúc nghi vấn Tuy nhiên, người Việt có khuynh hướng sử dụng nhiều câu nghi vấn hơn người Anh Điều này phản ánh sự khác nhau trong tâm lý, văn hóa của hai dân tộc Người phương Đông thiên về tình cảm trong việc giải quyết các mối quan hệ và luôn thận trọng khi yêu cầu người khác một việc gì C hính vì thế trước khi yêu cầu, người nói thường đưa ra những câu hỏi để thăm dò, rào đón
4 K ết luận
Sử dụng tiền dẫn nhập, đặc biệt là tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu, người nói không chỉ có khả năng đạt được đích giao tiếp lớn mà còn có thể tránh nguy cơ đặt người nghe vào tình thế khó xử, vì thực tế nó đã ngỏ cho người nghe hai khả năng hồi đáp Do vậy, việc sử dụng tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu được xem như là một chiến lược giao tiếp qui ước và phổ biến mà chúng ta cần ứng dụng để đáp ứng cho nhu cầu giao tiếp hằng ngày có hiệu quả cao hơn Vi ệc nghiên cứu cấu trúc của tiền dẫn nhập cho lời nói yêu cầu sẽ giúp cho người dạy và người học tiếng Anh thấy được nét khu
biệt về cấu trúc giữa hai ngôn ngữ, khuynh hướng sử dụng cấu trúc tiền dẫn nhập cho
lời nói yêu cầu cho mỗi ngôn ngữ, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học
cũng như trong giao tiếp
TÀI LI ỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt Ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
[2] Cao Xuân Hạo (2003), Câu trong tiếng Việt, Quyển 1, NXB Giáo dục
[3] Levinson, S.C (1983), Pragmatics, Cambridge University Press
[4] Đặng Thị Hảo Tâm (2006), “Tìm hiểu sự lời tiền dẫn nhập cho sự kiện lời nói rủ”,
T ạp chí Ngôn ngữ (10), tr 53-62
[5] Searle J.R (1993), Speech acts, Cambridge at the University Press
[6] Wardhaugh, R (1985), How Conversation Works, Basil Blackwell, Oxford
Trang 9[7] Yule, G (1996), Pragmatics, Oxford University Press
[8] Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học
[9] Đỗ Chu (1997), Mận Trắng, Nhà xuất bản Hội nhà văn
[10] Hartley, B & Viney, P.(1994), New American Streamline- destinations, Oxford
University Press
[11] Hartley, B., & Viney, P.(1994), New American Streamline- departures, Oxford
University Press
[12] Lê Minh Khuê (2003), Truy ện ngắn chọn lọc, NXB Phụ nữ, Hà Nội
[13] Lê Lựu (1989), Thời Xa Vắng, NXB Hội nhà văn
[14] Lê Lựu (2000), Truyện ngắn, NXB Văn hoá Thông tin Hà Nội
[15] Macmillan, Collier (1992), New English 900, song ng ữ Anh Việt Book 1 , Nguyễn
Khuê dịch, Nhà Xuất Bản Trẻ
[16] Richards, J.C & Long, M.N (1988), Breakthrough 1- A course in English
Communication Practice, Oxfoxd University Press
[17] Richards, J.C & Long, M.N (1988), Breakthrough 2 - A course in English
Communication Practice, Oxfoxd University Press
[18] Richards, J.C & Long, M.N (2000), New Interchange III-English for International
Communication, Quang Huy d ịch và chú giải, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh [19] T ổng tập truyện ngắn năm 2000 (2002), Tạp chí Quân đội NXB Văn học Hà Nội
[20] Tuy ển tập truyện ngắn 75-95, tập2 (1996), NXB Hội nhà văn
[21] Truy ện ngắn chọn lọc 2003 (2003), Nhà xuất bản Văn học
[22] 101 truy ện ngắn hay Việt Nam, tập2 (1999), NXB Hội nhà văn
[23] http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspxp?tid=2qtqv3m3237nnnnmn1n3, Trần Thị
Bảo Châu - Giọt Nắng Thiên Đường
[24] http:// onlinebooks.library.upenn.edu/nonus.html.- Gone with the Wind