1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "CÁC CHỨC NĂNG NGỮ DỤNG CỦA LỜI NÓI MỈA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT" doc

9 933 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 216,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC CH ỨC NĂNG NGỮ DỤNG CỦA LỜI NÓI MỈA PRAGMATIC FUNCTIONS OF IRONY IN ENGLISH AND VIETNAMESE Lưu Quý Khương Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHĐN Phạm Thị Kim Sa Trường Cao đẳng Nghề tỉnh

Trang 1

CÁC CH ỨC NĂNG NGỮ DỤNG CỦA LỜI NÓI MỈA

PRAGMATIC FUNCTIONS OF IRONY IN ENGLISH AND VIETNAMESE

Lưu Quý Khương

Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHĐN

Phạm Thị Kim Sa

Trường Cao đẳng Nghề tỉnh Phú Yên

TÓM T ẮT

Nói m ỉa là một phương tiện tu từ được sử dụng rộng rãi và thu hút sự chú ý của nhiều nhà văn, nhà tâm lý học cũng như các nhà ngôn ngữ học Lời nói mỉa được sử dụng để biểu đạt thái độ phủ định đối với điều gì đó Trong Tiếng Anh, nó có thể được sử dụng như phương

ti ện để phê bình, chế giễu, gây cười, nhấn mạnh, để tỏ sự thương cảm, sự hối tiếc Mặc dầu lời nói m ỉa tiếng Việt không có chức năng nhấn mạnh nhưng lại có chức năng biểu lộ sự khinh

mi ệt ngoài các chức năng nêu trên Trong bài viết này, chúng tôi tập trung đề cập đến các chức năng ngữ dụng của lời nói mỉa trong tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm ra những tương đồng, dị biệt góp phần nâng cao hiệu quả dạy, học, dịch thuật những tác phẩm văn học Anh và Việt Kết

qu ả thu được cũng trang bị thêm cho người học 2 ngôn ngữ một cách nói uyển chuyển, thâm thuý h ơn khi biểu đạt ý kiến của mình

ABSTRACT

Irony, a widely employed figure of speech, has received considerable attention from writers, psychologists as well as linguists Irony could be used to show one’s negative attitude to something In English, it could be used as a means to criticise, mock, humour, emphasize, pity

as well as regret Although Vietnamese irony is not used as a means to express emphasis, it is used for contempt apart from the functions mentioned above This paper focusses on pragmatic functions of English irony and Vietnamese irony with the aim of discovering similarities and differences, which contributes to raising the effect of teaching, learning as well as translating English literary works

1 Đặt vấn đề

Nói mỉa là một hiện tượng ngôn ngữ thường gặp không chỉ trong giao tiếp hằng ngày mà còn trong các tác phẩm văn học đặc biệt là tiểu thuyết và truyện ngắn Nói mỉa được coi là phương tiện tu từ để diễn đạt một ý nghĩa thật sự trái ngược với điều đã nói

ra bằng hiển ngôn Nó tinh tế và có khả năng biểu đạt rất lớn mà thông qua đó người

viết/nói có thể biểu thị và truyền đạt những nhận thức, tư tưởng và tình cảm thật của mình Một khi sử dụng lời nói mỉa, người viết/nói luôn chia sẻ sự hiểu biết chung giữa độc giả và người viết để họ có thể nhận ra những gì được nói khác hoặc trái ngược với

những điều muốn nói Vậy nói mỉa có những chức năng ngữ dụng gì? Bài viết này đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên

2 L ịch sử vấn đề nghiên cứu

Nói mỉa là một hiện tượng ngôn ngữ cho đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu đề cập đến Culter [2] đã bàn về các dấu hiệu biểu hiện lời nói mỉa như nét

Trang 2

mặt, cử chỉ, ngữ điệu… Giora [7] đã nghiên cứu về nghĩa bề mặt, nghĩa bề sâu và sự

gián tiếp phủ định nghĩa bề mặt trong lời nói mỉa Đinh Trọng Lạc [10] đề cập đến

phương diện ngữ nghĩa và yếu tố ngữ cảnh của lời nói mỉa Khác với những công trình

vừa nêu, bài viết này khảo sát phương diện ngữ dụng của lời nói mỉa trong tiếng Anh và

tiếng Việt

3 Định nghĩa về nói mỉa

Theo Galperin, “nói mỉa là một phương tiện tu từ dựa trên sự nhận diện đồng

thời hai nghĩa lô gích – nghĩa từ điển và nghĩa ngữ cảnh nhưng hai nghĩa này hoàn toàn

ngược nhau.” [7, tr.142]

(1) It must be delightful to find oneself in a foreign country without a penny in

(Chắc phải thú vị nếu người nào đó ở nước ngoài mà không có đồng xu dính

túi.)

Trong ví dụ này, từ “ delightful” (thú vị) không phù hợp với ngữ cảnh quanh

nó Thật ra từ này phải được hiểu là “ unpleasnt” or “not delightful” (không thú vị”) thì

mới hợp với hoàn cảnh đã nêu ra: “in a foreign country without a penny in one’s

pocket” (ở nước ngoài mà không có đồng xu dính túi)

Đinh Trọng Lạc [12, tr 80] phát biểu rằng “nói mỉa là một phương thức chuyển

tên gọi từ một biểu vật này sang một biểu vật khác, dựa vào sự đối lập giữa cách đánh

giá tốt được diễn đạt một cách hiển minh với cách đánh giá ngụ ý xấu theo nghĩa hàm

ẩn đối với biểu vật.”

(2) Lí lịch ông Thiên lôi thế là trong trắng Nhưng còn đối với đời? Hỏi có còn

Nghĩa mỉa mai của ví dụ trên được thể hiện qua từ “trong trắng” Một kẻ giết

người không thể nào trong trắng được Vì vậy ở đây từ “trong trắng” phải được hiểu

ngược lại “không trong trắng” hoặc “xấu”

Cả hai định nghĩa trên đều thừa nhận rằng nói mỉa được dùng để ám chỉ nghĩa

ngược lại với nghĩa hiển ngôn trong câu

4 Các ch ức năng ngữ dụng của nói mỉa

Trong giao tiếp, người ta không chỉ đưa ra những phát ngôn chứa những cấu trúc

ngữ pháp và từ mà còn thực hiện hành động nào đó thông qua các phát ngôn này Theo

đó, người ta có thể dùng lời nói mỉa để nói lên thái độ thật của mình và biểu lộ nhiều

hành động ngôn từ khác nhau

4.1 Nói m ỉa để chế giễu

Đây là một chức năng ngữ dụng phổ biến nhất của lời nói mỉa trong cả hai ngôn

ngữ Xét các ví sau:

(3) When Becky followed them to the table of drawings, they dropped off one by

one to the fire again She tried to speak to one of the children (of whom she was

commonly fond in public places), but Master George Gaunt was called away by his

Trang 3

mamma;…

(Khi Becky theo h ọ ra bàn để tranh ảnh thì họ lần lượt đứng dậy đi ra bên lò

sưởi Cô ta định nói chuyện với một đứa trẻ (ở những nơi công cộng, bao giờ Beecky

c ũng yêu trẻ) thì lập tức cậu George Gôn bị mẹ gọi lại.)

(4) The Rector’s wife wrote a sermon for her husband about the vanity of

military glory and the prosperity of the wicked, which the worthy parson read in his

(Bà vợ ông cha xứ lập tức thảo ngay hộ chồng một bài thuyết giáo, phân tích sự

phù phiếm của những chiến công quân sự và thịnh vượng của những kẻ xấu; ông thầy tu

đáng kính lấy cái giọng tốt nhất đọc từ đầu chí cuối mà không hiểu được một chữ.)

Cả hai ví dụ trên được trích từ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Hội chợ phù hoa” của

Thackeray, một cuốn tiểu thuyết được cho là không có nhân vật anh hùng Trong ví dụ

(3), tác giả đã chế giễu của sự giả tạo của Becky bởi vì cô ta chưa bao giờ yêu ai khác

kể cả đứa con trai bé nhỏ của mình Cô ta nói chuyện với những đứa trẻ bởi vì không có

người phụ nữ xung quanh muốn nói chuyện với cô ta Trong ví dụ (4), tác giả đã chế

giễu sự ngu dốt và những thói hư tật xấu của ông cha xứ Ông chẳng có những phẩm

chất cao quý của một cha sứ thật sự Hay nói đúng hơn, ông ta chẳng phải là cha xứ

Xét các ví dụ tiếng Việt:

(5) A, nếu vậy thì tôi hiểu ra rồi! thì ra anh vẫn có bụng tốt với tôi! Những khi

anh sĩ nhục tôi là đồ ăn hại, mắng tôi ương gàn, chẳng qua là muốn tôi trở nên tốt, và đó

là chính sách của Dương Lễ đối với Lưu Bình vậy [14,p 165]

Lưu Bình và Dương Lễ là hai nhân vật chính trong vở cải lương cùng tên

Dương Lễ cũng mắng Lưu Bình nhưng với mục đích cao đẹp Cách cư xử của Dương

Lễ đối với Lưu Bình làm cho người ta phải cảm động Nó khác xa với cái cách mà

người nghe đã cư xử với người nói Bằng việc sử dụng những từ ngữ đẹp đẽ, người nói

đã chế giễu bản chất xấu xa của người nghe: trở mặt, khinh bỉ, sĩ nhục bạn bè và quên đi

ơn nghĩa khi trở nên giàu có

(6) Nó làm như nó đẹp giai lắm Các cô con gái Hà Nội ai cũng phải lòng nó

[13,p.165]

Trong ví dụ (6), người nói đã mượn từ “đẹp giai lắm” và “phải lòng” để chế giễu

cái vẻ bề ngoài của người đã được nhắc đến Chúng ta có thể nhận ra sự đánh giá ngược

của người nói thông qua thông từ “làm như”

4.2 Nói m ỉa để phê bình

Các nhà văn thường sử dụng lời nói mỉa để phê bình một cách gián tiếp điều gì

đấy mà họ không hài lòng Các câu sau là ví dụ điển hình:

(7) Mr Sowerberry was closeted with the board for five minutes; and it was

arranged that Oliver should go to him that evening “upon liking”- a phrase which

means, in the case of a parish apprentice, that if the master find, upon a short trial, that

he can get enough work out of a boy without putting too much food into him, he shall

Trang 4

have him for a term of years, to do what he likes with [

(Ông Xaoơberi hỏi riêng với ban quản trị trong vòng năm phút; và người ta thu

xếp, là chiều tối hôm ấy Ôlivơ phải đến nhà ông ta “theo sở thích của mình”, câu này

đối với trường hợp một anh học nghề ở địa phương, có nghĩa là nếu ông chủ sau khi thử

thách một thời gian ngắn, thấy ông ta có thể bắt một thằng bé làm khá nhiều việc mà

không phải nhét vào bụng nó nhiều thức ăn cho lắm thì ông sẽ giữ nó ở nhà mình trong

một vài năm và muốn đối xử với nó như thế nào cũng được.)

Ví dụ trên được trích từ tác phẩm Oliver Twist của Charles Dickens Tác giả giải

thích cụm từ “upon liking” (theo sở thích của mình) theo cách nói của chính quyền địa

phương Nó có nghĩa là cậu bé có thể quyết định tiếp tục việc học nghề hay không

nhưng cái điều ngược lại mới thật sự đúng trong trường hợp này Ông chủ là người duy

nhất có thể quyết định Với lời giải thích của Dickens độc giả có thể thấy được rằng ông

đã gián tiếp phê bình cái ngôn ngữ của chính quyền địa phương Đọc giả có thể hoài

nghi đây là lời nói mỉa mà không cần sự giải thích của tác giả vì cụm từ này được đặt

trong dấu ngoặc kép

(8) Chẳng mấy chốc, nửa chai rượu hết bay Pha cầm lấy chai, nói rằng đi mua

thêm, để gọi lịch sự của ông khách bình dân vốn hay chối từ Nhưng ông khách lại dặn:

“Này, bác xem ở đâu có bán cái số ngang thì mua, chứ thứ này nhiều cồn uống

Rõ ràng câu dặn dò của người khách hoàn toàn trái ngược với cái cụm từ tao nhã

“vốn hay chối từ” mà tác giả đã sử dụng để mô tả tính tình của người khách Qua ngữ

cảnh, ta thấy tác giả đã phê bình sự phàm ăn tục uống và bản tính bất lịch sự của cái con

người được gọi là khách kia

4.3 Nói mỉa như một biện pháp để gây cười

Cười là bản tính của con người Các nhà văn có thể sử dụng nhiều thủ thuật để

gây cười Một trong những thủ thuật đó là nói mỉa

(9) He pretended regimental business to Amelia (by which falsehood she was not

in the least deceived), and consigning his wife to solute or her brother’s society, passed

his evenings in the Crawley’s company-losing money to the husband, and flattering

(Giorgiơ nói dối Amêlia là mình bận lo việc của đơn vị (Amêlia biết thừa anh

chàng n ối dối); mặc vợ lẻ loi ở nhà với ông anh ruột, tối nào anh ta cũng đến nhà

Crâulê để cúng tiền cho anh chồng và để tưởng rằng chị vợ chết mê chết mệt vì mình.)

Hiệu quả gây cười trong ví dụ trên được biểu hiện thông qua cụm từ “was dying

of love for him” (chết mê chết mệt vì mình) vì ngữ cảnh đã tiết lộ rằng những gì Giorgiơ

nghĩ thật là ngớ ngẩn Sự thật là Rêbeca-vợ của Crâulê không hề yêu anh ta Cô ta chỉ

yêu tiền của Giorgiơ và giả vờ làm bất cứ điều gì để có được nó

(10) Sư ông lấm lét nhìn trộm Xuân rồi gãi tai như một sư ông hợp thời trang

Trang 5

Thông thường người ta chẳng bao giờ sử dụng từ “hợp thời trang” để mô tả một

ông sư vì các sư lu ôn sống vì mục đích cao đẹp luôn có hành vi chính chắn và không quan tâm đến vật chất, vẻ bề ngoài hay điều gì khác Ở đây tác giả muốn nói rằng đó

chẳng phải là ông sư Bẳng cách sử dụng từ khác lạ, tác giả làm cho người đọc phải bật cười

4.4 Nói m ỉa như một cách biểu hiện sự thương cảm

Khi tạo ra một nhân vật, người viết thường có trong đầu một cảm giác nhất định

về nhân vật ấy Họ có thể sử dụng nói mỉa để biểu lộ sự thương cảm Có thể thấy chức năng này ở các ví dụ sau:

(11) If Amelia could have heard the comments regarding her which were in the circle from which her father’s ruin had just driven her, she would have seen what her

own crimes were, and how entirely her character was jeopardized [15, tr.162]

phá s ản của cha cô vừa bắt cô phải rời bỏ, thì cô mới thấy hết tội lỗi của mình đã làm

h ại danh dự mình đến thế nào.)

Theo tình tiết trong câu chuyện, tội lỗi duy nhất mà Amêlia đã gây ra là yêu Giorgiơ bằng cả con tim của mình Yêu không phải là một cái tội và Amêlia chẳng có

tội lỗi gì Đó chính là thông điệp mà tác giả đã muốn truyền đạt đến độc giả đồng thời qua đó tác giả đã biểu lộ sự thương cảm của mình đối với tình cảnh trớ trêu của cô gái

tội nghiệp, ngây thơ và chung thủy giữa một đám người ác độc, tham lam và xảo quyệt (12) Cái khăn lượt với cái áo thụng xanh làm cho chú rể trở nên trịnh trọng một

cách đáng thương Và hãy tưởng, anh ấy phải đóng y phục ấy suốt ngày lẫn đêm

[12, tr.916]

“Tr ịnh trọng” không phải là những gì mà tác giả thật sự muốn nói vì nó hoàn toàn trái ngược với cụm từ “ một cách đáng thương” “Trịnh trọng” trong trường hợp

này phải hiểu là “vụng về” Rõ ràng tác giả đã biểu lộ sự thương cảm của mình đối với

người nam trong trang phục chú rể

4.5 Nói m ỉa để biểu lộ sự hối tiếc

Trong cuộc sống có những lúc ta đã làm những điều không đúng, không phù hợp

để rồi sau này mới nhận ra và cảm thấy hối tiếc Người ta có thể biểu lộ sự hối tiếc một cách trực tiếp cũng có thể biểu lộ sự hối tiếc một cách gián tiếp thông qua lời nói mỉa

(13) I had endeavoured to adapt Dora to myself, and found it impracticible It

remained for me to adapt myself to Dora; to share with her what I could, and be happy;

(Tôi ch ỉ còn cách làm cho tính cách của tôi phù hợp với Đôra; và chia sẽ với

đôi vai của mình, nếu như cần phải làm và vẫn cứ sung sướng.)

Trong ví dụ trên, Đêvit Cơppơhin cảm thấy rằng tính tình của Đôra -vợ anh ấy- không phù hợp với mình vì cô ấy quá trẻ con Mặc dầu đã cố gắng hết sức để thay đổi

Trang 6

tính tình của vợ mình, Đêvit không thể làm được Ngược lại Đêvit phải tìm cách thích

nghi với tính tình của người vợ và một mình phải gánh chịu những điều phiền toái mà

cô vợ đã gây ra Như chúng ta biết, trong hôn nhân không có sự chênh lệch nào lớn hơn

tính tình và ý nghĩ không phù hợp nhau Dựa trên ngữ cảnh đó ta có thể nẳm bắt được

điều mà Đêvit thật sự muốn nói là anh ta không hạnh phúc và anh ta thật sự hối tiếc về

việc đã cưới một người vợ như thế

(14) Than ôi, ch ỉ vì một đồng bạc! Cái đồng bạc nhân đức rất đắc tội ấy? Chị

Từ “nhân đức” trong ví dụ trên không nên hiểu theo nghĩa tích cực (ngợi khen)

mà nên hiểu theo nghĩa tiêu cực (chê bai) Chúng ta có thể khám phá được điều này

thông qua cụm từ “rất đắc tội” Thông qua lời nói mỉa, người nói biểu lộ sự hối tiếc của

mình về cái điều, cái hành động mà mình đã làm đối với người đàn bà tên Bích

4.6 Nói m ỉa như một phương tiện để nhấn mạnh

Ngoài các chức năng nêu trên, nói mỉa còn được sử dụng như một biện pháp để

nhấn mạnh điều ngược lại Chức năng này chỉ thấy trong tiếng Anh

(15) Time hustled him into a little noisy and rather dirty machine, in a

by-corner, and made him Member of Parliament for Coketown: one of the respected

members for ounce weights and measures, one of the representatives of the

multiplication table, one of the deaf honourable gentlemen, blind honourable

gentlemen, dumb honourable gentlemen, lame honourable gentlemen, dead

làm cho ông đắc cử hội viên hội đồng thành phố Than Ông là một trong những nhân

v ật đáng kính phụ trách tính toán từng xu nhỏ, từng lạng, từng lô; một nhân vật tiêu

bi ểu cho bảng tính nhân; một trong những quý ông đáng trọng v ọng giả câm; một

v ọng giả điếc; một trong những quý ông đáng trọng vọng giả què, một trong những

quý ông đáng trọng vọng giả chết lúc đụng đến những việc khác ngoài việc cân đo.)

Đoạn trích trên nói về ông Gơ-rát-gơ-rai trong tác phẩm Thời gian khổ của

Charles Dickens Giả câm, giả điếc, giả mù, giả què, giả chết và tính toán từng xu nhỏ

không phải là những tính cách đáng được người khác trọng vọng Bằng cách sử dụng

các từ tao nhã và lập lại chúng nhiều lần, tác giả nhấn mạnh rằng ông Gơ -rát-gơ-rai là

một người không đáng trọng vọng hay đáng khinh

4.7 Nói m ỉa để biểu lộ sự khinh miệt

Nói mỉa để biểu lộ sự khinh miệt chỉ xuất hiện trong khối liệu tiếng Việt Chức

năng này có thể thấy được qua các ví dụ sau:

(16) Đi thôi Nga Từ rày về sau chúng tôi không dám bước vào gian hàng của

bà đâu Ở đây mọi thứ đều bằng vàng, bọn nghèo khổ như chúng tôi tiền đâu mà mua

(17) Mày tưởng người ta không thể mua đâu chó đấy chắc! Hay chó của mày

Trang 7

b ằng vàng?

Ngữ cảnh không cho phép chúng ta hiểu các từ in đậm ở các ví dụ trên theo

nghĩa đen của chúng Ở đây các từ nói mỉa “bằng vàng” ở ví dụ (20) và “ không thể mua

đâu được chó đấy chắc”, “bằng vàng” ở ví dụ (21) được sử dụng để biểu lộ thái độ

khinh miệt của người nói đối với người nghe

5 So sánh t ần số xuất hiện của các chức năng dụng học của lời nói mỉa trong tiếng

Anh và ti ếng Việt

Bảng so sánh tần số xuất hiện của các chức năng ngữ dụng của lời nói mỉa trong

tiếng Anh và tiếng Việt

Ngôn ng ữ

T ần số

Ch ức năng

Nhìn vào cột phần trăm của bảng thống kê trên ta thấy nói mỉa để chế giễu là

chức năng phổ biến nhất trong cả tiếng Anh và tiếng Việt (tiếng Anh: 48.6%; tiếng Việt:

47.6%) Bảng phân tích dữ liệu cũng cho thấy rằng nói mỉa để biểu lộ sự hối tiếc trong

tiếng Anh xuất hiện với tần số thấp nhất (1%) Chức năng nhấn mạnh của lời nói mỉa

không được tìm thầy trong tiếng Việt trong khi trong tiếng Anh nó chiếm 9.2% Ngược

lại, chức năng biểu lộ sự khinh miệt lại không xuất hiện trong tiếng Anh mà lại xuất

hiện trong tiếng Việt (2.0%)

6 Sự giống và khác nhau về chức năng dụng học của nói mỉa trong tiếng Anh và

ti ếng Việt

a S ự giống nhau

Việc đối chiếu phương tiện tu từ nói mỉa trên bình diện ngữ dụng học giữa tiếng

Trang 8

Anh và tiếng Việt cho thấy có sự tương đồng và dị biệt Sự tương đồng nằm ở một số điểm Các nhà văn Anh và Việt thường sử dụng lời nói mỉa để chế giễu, phê bình, gây cười, biểu lộ sự thương cảm hay sự hối tiếc Giữa các chức năng trên, chế giễu là chức năng phổ biến nhất đạt được thông qua lời nói mỉa (tiếng Anh: 243 ví dụ chiếm 48.6%;

tiếng Việt: 238 ví dụ chiếm 47.6 % )

b S ự khác nhau

Thứ nhất, nói mỉa để chế giễu ,gây cười trong Tiếng Anh diễn ra thường xuyên hơn Tiếng Việt trong khi nói mỉa để phê bình, để biểu lộ sự thương cảm và hối tiếc trong tiếng Việt lại diễn ra thường xuyên hơn tiếng Anh Thứ hai, nói mỉa để biểu lộ sự khinh miệt là đặc trưng độc đáo của tiếng Việt vì chúng không được tìm thấy trong

tiếng Anh Ngược lại, nói mỉa để nhấn mạnh điều ngược lại không tìm thầy được trong

tiếng Việt Thứ ba, để hiểu được các chức năng của lời nói mỉa tiếng Anh, người đọc

phải dựa vào ngữ cảnh ở phạm vi rộng hơn lời nói mỉa tiếng Việt Trong 500 ví dụ nói

mỉa tiếng Anh chúng tôi thấy có 218 ví dụ chiếm 43.6% phải dựa vào ngữ cảnh rộng để

giải thích trong khi con số này của tiếng Việt là rất thấp (54 ví dụ chiếm khoảng 10.8%)

7 K ết luận

Những điều vừa trình bày cho thấy lời nói mỉa trong các tác phẩm văn học Anh

và Việt có nhiều chức năng dụng học khác nhau và cũng không hoàn toàn giống nhau,

tần số xuất hiện của các chức năng này cũng không đồng đều Nếu chức năng nhấn

mạnh chỉ xuất hiện trong lời nói mỉa tiếng Anh thì chức năng biểu lộ sự khinh miệt là đặc trưng độc đáo trong lời nói mỉa tiếng Việt Việc giải mã các lời nói mỉa của tiếng Anh dựa vào ngữ cảnh rộng chiếm tỉ lệ nhiều hơn tiếng Việt Với những kết quả đã đạt được, hy vọng bài báo sẽ mang lại cho người học 2 ngôn ngữ thêm một phương tiện để

diễn đạt ý kiến một cách uyển chuyển, thâm thuý hơn và có hiệu quả hơn trong giao tiếp ngôn từ

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

[1] Austen, Jane (1996), Pride and Prejudice, Cambridge University Press

[2] Culter, A (1987), On Saying What You Mean Without Meaning What You Say,

Chicago Linguistic Society

[3] Dicken, C.(1907), David Coperfield, Everyman’s Library

[4] Dicken, C (1907), Oliver Twist, Everyman’s Library

[5] Dicken, C (1996), Hard Time, W.W Nortan & Company, Inc

[6] Galperin,I.R (1971), Stylistics, Higher School Publishing House, Moscow

[7] Giora, R (1995), On Irony and Negation, Discourse Processes19: 239-264

[8] Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb

Giáo dục

[9] Nguyễn Công Hoan (2000), Bước đường cùng, Nxb Đồng Nai

Trang 9

[10] Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục

[11] Mười tám tác giả nữ (1999), Truyện ngắn chọn lọc mười tám tác giả nữ, Nxb Hội

Nhà văn

[12] Nhiều tác giả (1998), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945, Nxb Khoa học Xã hội

[13] Nhiều tác giả (2004), Truyện ngắn Việt Nam 1930-1945, Nxb Giáo dục

[14] Vũ Trọng Phụng (1997), Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (tập 3), Nxb Văn học

[15] Thackeray, W.M (2001), Vanity Fair,Wordsworth Editions Limited

[16] Ngô Tất Tố (2007), Tắt đèn, Nxb Văn hóa Thông tin

Ngày đăng: 22/07/2014, 18:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm