Trong đó, người viết đã chứng minh rằng bài thứ nhất không phải là sự thể hiện của một cuộc t ỏ tình theo cách hiểu thông thường mà là lời kể về một cuộc cầu hôn, bài thứ hai là lời phâ
Trang 1ĐỌC LẠI HAI BÀI CA DAO DƯỚI GÓC NHÌN NGỮ DỤNG HỌC
RE-READING TWO FOLK VERSES IN PRAGMATIC PERSPECTIVE
Bùi Trọng Ngoãn
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
TÓM T ẮT
Bài viết dưới đây là cách tiếp cận mới đối với một đối tượng cũ Chúng tôi đã vận dụng,
ở mức độ có thể, các lí thuyết ngữ dụng học để khám phá về ngôn từ văn bản, tính chất hội tho ại, nội dung hình tượng và tâm tình của các nhân vật giao tiếp trong hai bài ca dao Người
vi ết đã phân tích, xác định lại ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ và nội dung của hai bài ca dao Trong đó, người viết đã chứng minh rằng bài thứ nhất không phải là sự thể hiện của một cuộc
t ỏ tình theo cách hiểu thông thường mà là lời kể về một cuộc cầu hôn, bài thứ hai là lời phân trần của một đôi trai gái sau khi không lấy được nhau
ABSTRACT
The paper presents a new approach to a familiar object The pragmatic theories have been resorted as much as possible to discover the language used in the text, the conversational features, the characters’ images and feelings in the two folk verses The author has analyzed and re-determined the meaning of the linguistic units and the content of the two folk verses The writer has proved that the first folk verse is not the declaration of love expressed in the common way of understanding but words of a proposal, and the second one is the apologetical explanation of a couple after being unable to be married to each other
1 “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng …” và “Trèo lên cây bưởi hái hoa…” là hai bài
ca dao tình yêu, bài đầu kể về một cuộc đính ước, bài sau là lời tâm tình khi không đến được với nhau Tất nhiên chúng không phải là hai phần tiếp nối của một câu chuy ện tình nhưng lại có sự gần gũi về mặt biểu hiện và tâm tình của các nhân vật Chúng tôi l ựa chọn phân tích hai bài này còn vì một lí do khác là tính chất hội thoại
c ủa chúng, một đối tượng của ngữ dụng học
2 Tho ạt nghe, dễ tưởng rằng:
“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng được chăng Đan sàng em cũng xin vâng Tre non đủ lá nên chăng hỡi chàng?”
là m ột màn kịch, là một cuộc đối thoại giữa hai nhân vật Hóa ra không phải vậy
C ụm từ “anh mới hỏi nàng” xác định câu thứ nhất là lời dẫn chuyện, là lời kể (Anh (anh chàng) – nàng (cô nàng) là ngôi ba khác v ới anh – em là ngôi 1- ngôi 2) và
Trang 2câu thơ thứ hai là bổ ngữ thuyết minh Như thế “Tre non đủ lá đan sàng được chăng” không ph ải là lời thoại trực tiếp mà chỉ là lời thoại được trích dẫn mang tính chất siêu ngôn ng ữ
Hai câu sau kì th ực cũng là một sự trích dẫn nguyên văn, tức là lời thoại nằm trong l ời kể Thử chêm xen một vài yếu tố từ ngữ mang chức năng dẫn xuất ta càng thấy
rõ tính ch ất trích dẫn này:
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng (R ằng) tre non đủ lá đan sàng được chăng (Nàng r ằng) đan sàng em cũng xin vâng Tre non đủ lá nên chăng hỡi chàng?
Rõ ràng đây không phải là một màn kịch, một cuộc thoại trực tiếp mà chỉ là một câu chuy ện kể và lời thoại của các nhân vật được dẫn trực tiếp sống động đã làm cho bài ca dao giàu tính t ạo hình như thể một cuộc thoại, một cuộc tỏ tình đang diễn ra trước
m ắt người đọc
Tr ở lại với phần dành cho chàng trai Khi nói “đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng” thì b ản thân nó đã chứa đựng một tiền giả định l à trước đó họ đã có bao nhiêu
cu ộc hẹn hò, gặp gỡ, từ những đêm trăng mờ, trăng tỏ… Lời yêu, lời thương dù chân thành và sâu s ắc đến mấy vẫn là lời khó nói, vẫn phải chờ đợi điều kiện chín muồi Điều
ki ện đó đã tới: hoàn cảnh thuận lợi (đêm trăng thanh), tình yêu đang độ trẻ trung (tre non đủ lá) Ngoài khung cảnh nên thơ thanh tịnh tương ứng với chuyện tình yêu trong
tr ẻo, ở đây còn có một nhân vật thứ ba là trăng Với người Việt, khi nói chuyện trọng đại bao giờ cũng phải “ba mặt một lời”, “nói có ngọn đèn” hay “hai vầng nhật nguyệt” chói lòa soi t ỏ Đêm tỏ tình, nhân vật linh thiêng thực thi quyền năng chứng giám ấy là trăng
Ngược lại, đã viện đến nhân vật tối thượng kia thì đây phải là chuyện đại sự của đời người Vậy mà chàng trai đã dùng lối nói ẩn dụ kín đáo lắm: “Tre non đủ lá đan sàng được chăng” Các nhà ngữ pháp gọi câu thơ này là câu hỏi lựa chọn và hai tiếng
được chăng cuối câu đã thông báo nhường quyền quyết định cho người đối thoại, được
hay không được là ở người ấy! Như thế đây không phải là lời tỏ tình mà là lời cầu hôn Hơn nữa, đan sàng là sự kết nối các thanh, mảnh đơn lẻ thành một vật phẩm mới, khác
gì chuy ện hôn nhân kết ước giữa đời!
Nhưng phải là “tre non đủ lá” chứ không thể là măng tơ non nớt, bồng bột, vội vàng C ũng không thể là tre già, quá muộn màng, đã qua hết tuổi xuân thì, xuân sắc
Song song v ới lời cầu hôn, câu nói còn hé lộ thông tin về chàng trai: tha thiết với làng quê t ừ trong sâu thẳm tâm thức và sự gắn bó với tự nhiên kia đã chuyển hóa vào lời
b ằng những chi tiết, hình ảnh của đời sống thôn dã, thuần hậu Về hình thức, cách nói
có v ẻ bóng gió xa xôi nhưng nội dung thì rất cụ thể xác thực Chất phác mà không thô
k ệch, tình thực mà không sỗ sàng
Chàng trai đã không chọn nhầm Cô gái trong bài ca dao vừa khôn ngoan lại vừa
Trang 3t ế nhị Nhận lời ngay đấy nhưng vẫn khéo léo giữ gìn thể diện Không đến mức phá vỡ
m ọi khuôn phép ràng buộc theo kiểu “Ước gì sông rộng một gang – Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi” nhưng vẫn rất chủ động Cô gái nhắc lại một phần câu hỏi “Đan sàng (em c ũng xin vâng)” phải chăng là để: (a) Khẳng định với người đối thoại rằng mình đã hiểu được lời anh; (b) Buộc người đối thoại phải xác tín lại điều vừa nói ra; (c)
Th ực hiện kế sách trì hoãn nhằm lựa chọn câu trả lời đắc dụng nhất? Dù hướng đến một hay t ất cả những cái đích giao tiếp trên thì điều đó cũng thể hiện sự khôn khéo của cô gái này
Trong l ời cô ấy, từ “cũng” không phải là tiêu điểm thông tin nhưng lại có một thông tin hàm ẩn, thông tin bổ sung thật thú vị, sâu sắc Trước hết, “cũng” thể hiệ n sự tương tự và đây đúng là chuyện đồng điệu, đồng tâm, đồng cảm của đôi lứa yêu nhau
M ặt khác điều kiện dùng hay tiền giả định của “cũng” là tính chất lặp lại, tiếp diễn Điều này hàm ý cô gái ch ỉ là người đồng thuận với người đề xuất là chàng trai Đún g là chuy ện trâu đi tìm cọc đấy nhé! Dẫu “em” có đồng ý ngay thì miệng lưỡi thế gian cũng không c ớ gì dị nghị đặt điều
Trái v ới tiếng “xin vâng” nết na, gia giáo là một phát ngôn đáo để “Tre non đủ lá nên chăng hỡi chàng?” Nếu chàng trai hỏi “được chăng” thì cô gái thay b ằng “nên chăng” Trình tự 2 phát ngôn trong lời cô gái được sắp đặt có chủ ý: thuận tình trước rồi
m ới hỏi thêm, như thể để chàng trai khỏi thất vọng chăng? Song phải thấy rằng người con gái ấy hiểu ngay lời chàng trai và câu trả lời của cô hướng về hai tiêu điểm : Một là đồng ý kết hôn (đan sàng), hai là băn khoăn về thời điểm (tre non đủ lá)
Cu ối bài là một câu hỏi Câu trả lời bỏ trống, tạo ra một kết thúc mở Nếu chàng trai khôn ngoan, chín ch ắn lựa chọn thời điểm chín muồi để tỏ bày thì cô gái lại trả lời
th ật kín nhẽ, vừa đồng thuận lại vừa có chủ kiến riêng
3 “Trèo lên cây bưởi hái hoa …” cũng là bài ca dao có hai phần trao đáp Hai lời nhưng
l ại thống nhất trong một chủ đề chung: đôi bên cùng nuối tiếc xót xa trước một hiện
th ực đã rồi Hai phía cùng một nỗi lòng: ở chàng trai là một niềm hối tiếc muộn màng, ở
cô gái là n ỗi tức tưởi dằn lòng, vùi nén
Trong phát ngôn c ủa chàng trai, bao nhiêu tâm sự dồn vào câu cuối cùng: “Em
đã có chồng, anh tiếc lắm thay” Cấu trúc câu ca hướng tới hai nội dung thông tin “em
đã có chồng” và “anh tiếc lắm thay” Vế thứ nhất nhắc lại một thực tế khó đổi thay bởi ván đã đóng thuyền, gạo đã thành cơm Nếu nói “em có chồng rồi” thì từ tình thái “rồi”
n ằm ở phía cuối tổ hợp thông tin Cách nói đó không có hiệu lực mạnh bằng “Em đã có
ch ồng” với phó từ “đã” đặt ở phía trước tiêu điểm “có chồng” Vế thứ 2 là hệ quả, hệ
l ụy của vế thứ nhất “Tiếc lắm” đã là mức độ cao, đến “tiếc lắm thay” thì đã là mức độ
t ột cùng
Suy cho cùng, c ả hai vế đều nói về “anh” “Em đã có chồng” là cái lỡ làng của tình anh, là cái thi ệt thòi của đời anh và “anh tiếc lắm thay” là nỗi lưu luyến vấn vương
c ủa anh Vì sao, vì ai mà có nỗi lòng ấy? Ta hãy nghe chàng trai thổ lộ:
Trang 4“Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
N ụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em có ch ồng rồi anh tiếc lắm thay”
Trong m ối tương quan với mục đích phát ngôn của chàng trai là tâm sự hối tiếc thì l ời dẫn dắt ở ba câu đầu là thể hứng quen thuộc của ca dao
T ừ mối liên tưởng của các đơn vị ngôn ngữ “trèo lên- bước xuống”, “cây bưởi – vườn cà – tầm xuân”, “hái hoa – hái nụ”, “nụ - nở” thì tất cả các yếu tố này đều trở thành các tín hi ệu thẩm mĩ
Trên bình di ện hiển ngôn, cả ba sự kiện trong ba dòng thơ đầu đều là hiện tượng
b ất thường Hoa bưởi không phải hoa để trưng bày mà chỉ để cho các chị, các cô gội đầu, vậy chàng trai ấy hái cho ai Lạ lùng hơn là xuống vườn cà mà hái nụ tầm xuân
Kh ốn nỗi định hái nụ thì nụ đã thành hoa Hoa tầm xuân vốn trắng hồng thì ở đây lại
bi ếc xanh Phải chăng khu vườn trong lời ca cũng là hình ảnh vườn tình? Cảnh huống
c ũng trớ trêu như sự ngang trái của cuộc tình này!
Ở bình diện hàm ẩn, hoa bưởi, hoa cà, hoa tầm xuân cũng chính là hoa cuối mùa xuân, c ũng là cái muộn màng chẳng khác gì cái trễ tràng của chàng trai Té ra không
ph ải nói chuyện hái hoa hái nụ mà là chàng trai đang tự trách mình mải vui đâu đâu, loay hoay nơi này nơi n ọ để khi nhận ra tình yêu của mìn h đặt vào đâu thì đã muộn màng m ất rồi!
Ph ần còn lại của bài ca dao là lời cô gái:
“Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh không h ỏi những ngày còn không?”
Dòng th ơ thứ hai “Sao anh không hỏi những ngày còn không?” là hình thức nghi
v ấn nhưng nội dung là lục vấn Hai chữ “không” là tín hiệu thẩm mĩ đặc sắc Chữ
“không” trước là phó từ, chữ “không” sau là tính từ “Không” trong “còn không” là “ở không” là chưa chồng, chưa bị ràng buộc Chữ “không” này nhẹ như không mà nặng như không thể dời chuyển
“Sao anh không h ỏi những ngày còn không” vừa là lời trách cứ vừa là lời
t ự bạch: “Người ta đã có tình ý rồi, nếu anh dạm hỏi đã nên vợ nên chồng” Hiểu theo ngh ĩa hàm ẩn “Ba đồng một mớ trầu cay” là một điều kiện thuận lợi dễ dàng (mà chàng trai đã bỏ qua cơ hội)
Đến lúc này ta hiểu trước ngày cô gái có chồng, họ đã có tình ý với nhau
r ồi nhưng khốn nỗi chàng trai còn mê mải đâu đâu nên tình yêu của họ không có kết quả như mong đợi Cô gái đi lấy chồng Vì vậy cả hai cùng tiếc nuối xót xa Cô gái tiếc nuối
th ực sự khi nhắc lại cái thực tế phũ phàng: “em đã có chồng” Hoa đến thì hoa phải nở,
đó là một thực tế không ai chối bỏ được Bởi lấy chồng không phải là người mình yêu nên cô gái rơi vào tình cảnh “Như chim vào lồng như cá cắn câu” “Chim vào lồng, cá
Trang 5c ắn câu” là tình cảnh nhìn thấy nỗi đau trước mắt mà bất lực không tự giải thoát được
cho mình
Th ể thơ thay đổi, giọng điệu thay đổi: Lời cô gái như đay như nghiến, dằn
t ừng tiếng trong hai câu song thất, lặp cú pháp:
“Cá c ắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào l ồng biết thuở nào ra.”
Sau hai ti ếng “biết” là những tiếng phủ định và cũng mang nghĩa không
xác định “đâu, nào” càng thể hiện sự mịt mù bế tắc của cô gái có chồng này
4 Nhìn m ột cách toàn cục, cả hai bài ca dao đều thuộc dạng toàn bích trên cả hai
phương diện ý – lời Để đi vào thế giới nghệ thuật của chúng, chúng tôi không có sự
chia tách r ạch ròi các thao tác tiếp cận được áp dụng là đối chiếu – liên hội phong cách
h ọc, trực quan – kinh nghiệm của người bản ngữ và các lí thuyết ngữ dụng học Trong
đó, các bình diện như nhân vật giao tiếp, vai giao tiếp, tính thể diện, đích giao tiếp,
chi ến lược giao tiếp, tiêu điểm thông tin, lời thoại, tiền giả định của phát ngôn, ngữ
ngh ĩa của câu… đã thật sự là những công cụ hữu hiệu cho phép khám phá đối tượng ở
nh ững góc nhìn đáng tin cậy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguy ễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, tái bản 2006, Nxb Văn học, Hà Nội
[2] Đỗ Hữu Châu, 2001, Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 - Ngữ dụng học, Nxb GD,
HN
[3] Nguy ễn Đức Dân, 1998, Ngữ dụng học, tập 1, Nxb GD, HN
[4] M.B.Khrapchenko, 2002, Nh ững vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu
văn học, bản dịch tiếng Việt, Nxb ĐHQGHN
[5] Nguy ễn Tấn Long, Phan Canh, 1969 - 1970, Thi ca bình dân Việt Nam, tập 1, tập 2,
Nxb S ống Mới, Sài Gòn
[6] Nhi ều tác giả, 1997, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 1, Văn học dân gian, Nxb
Văn học, Hà Nội