1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÌM HIỂU CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM TẠI VIỆT NAM - Tác giả: Nguyễn Văn Huy Phần 1 doc

24 401 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 192,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết được viết khoảng năm 2001, gồm 7 phần:Nhận lại anh em, tìm lại bạn bè Thời kỳ xác định bản thể Thời kỳ mở nước và dựng nước Thời vàng son Thời kỳ xung đột Bùng lên trước khi t

Trang 2

TÌM HIỂU CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CHĂM

TẠI VIỆT NAM Tác giả: Nguyễn Văn Huy

Nguồn: www.freewebtown.com

Sưu tầm hình ảnh và thực hiện ebook: Goldfish

Ngày hoàn thành: 3/11/2007

http://www.thuvien-ebook.com

Nguyễn Văn Huy là Tiến sĩ Dân tộc học, giáo sư phụ trách khoa Các Dân Tộc Ðông Nam Á tại Ðại Học Paris 7 Xin giới thiệu Bài viết rất công phu và có sự nghiên cứu

tỉ mỉ (đúng hay sai trong lập luận nầy, cần phải có thêm các nghiên cứu khác hoặc

bổ túc của các nhà Sử Học) của ông về lịch sử cộng đồng người Chăm Nguồn tài liệu phong phú, tuy vài nhận định có vẻ chủ quan mặc dù cố gắng trung lập, nhưng đáng chú ý là thông điệp nhân bản của ông "Nhận lại anh em, tìm lại bạn bè là

Trang 3

chặng đường cần thiết" Bài viết được viết khoảng năm 2001, gồm 7 phần:

Nhận lại anh em, tìm lại bạn bè

Thời kỳ xác định bản thể

Thời kỳ mở nước và dựng nước

Thời vàng son

Thời kỳ xung đột

Bùng lên trước khi tàn lụi

Cố gắng tồn tại trong khó khăn

Bài 1: Nhận lại anh em, tìm lại bạn bè

Chăm là một trong 54 nhóm chủng tộcbất khả phân của dân tộc Việt Nam Dân sốngười Chăm hiện nay khoảng 100.000người, trong đó hơn 2/3 định cư tại PhanRang, Phan Rí, Phan Thiết và Bình Tuy; sốcòn lại sinh sống tại Châu Đốc, Tây Ninh vàSài Gòn

Cũng nên biết, trong thực tế, có khoảng400.000 người Chăm sinh sống tại khắpnơi trên thế giới, đông nhất là tại

Trang 4

Kampuchia (270.000 người), kế đến mớitới Việt Nam (100.000 người), sau là TháiLan (15.000 người) và cuối cùng là LiênBang Mã Lai, năm 1979 đã tiếp nhậnkhoảng 10.000 người Chăm đến từKampuchia Hải ngoại có khoảng 200 ngườiViệt gốc Chăm (hơn 50 gia đình), đa sốđịnh cư tại Hoa Kỳ.

Tài liệu nói về nhóm dân cư này tuy cónhiều nhưng cũng rất thiếu Đa số các tàiliệu viết về các sinh hoạt có tính văn hóa

và xã hội trong khi phần lịch sử và sinhhoạt chính trị của nhóm dân cư này hoàntoàn thiếu vắng, nếu có chăng thì nội dungcũng bị bóp méo để phù hợp với nhu cầutuyên truyền của các chế độ đương quyền.Chính vì thế mỗi khi đề cập tới cộng đồngngười Chăm, người Việt thường có mộtnhận thức rất mơ hồ, chỉ biết đại khái đó làmột sắc tộc thiểu số ở miền Trung và ChâuĐốc có nước da ngăm đen, phong tục tậpquán, tín ngưỡng và văn hóa khác với

Trang 5

người Kinh Trầm trọng hơn, phần lớnnhững người lãnh đạo đất nước cũng khôngnắm rõ nguồn gốc những cộng đồng chủngtộc đã góp phần tạo thành dân tộc ViệtNam, do đó khó có thể xây dựng một chínhsách dân tộc phù hợp với ước vọng củatừng cộng đồng Chính vì thế nội dung loạtbài viết về người Chăm này nhằm khaithông bế tắc đó Nhận lại anh em, tìm lạibạn bè là chặng đường cần thiết trước khicùng nhau xây dựng một tương lai chung.

Người Chăm và các danh xưng

Chăm là tên một nhóm dân cư, trước kia

là thần dân vương quốc Chiêm Thành(Campa, Champa, hay ChămPa) cũ, đã cómặt từ lâu đời tại miền Trung trước khingười Kinh đến đây lập nghiệp

Trước khi đi vào chi tiết, tưởng cũng nênphân biệt người Chăm và người Chămpa.Chăm là nhóm dân cư gốc Nam Đảo(malayo-polynésien) sinh sống trên nhữngvùng đất thấp dọc duyên hải miền Trung,

Trang 6

Chămpa là toàn thể các nhóm dân cư thuộcvương quốc Chiêm Thành cũ gồm cả ngườiChăm đồng bằng lẫn người Thượng (gốcNam Đảo hoặc Môn Khmer), sinh sống rảirác trên các vùng rừng núi phía Tây dãyTrường Sơn, hay Tây Nguyên.

(Hoa champa)

Champa là tên một loài hoa màu trắnghồng nhạt, hay trắng vàng nhạt, có hươngthơm ngào ngạt có thể tìm thấy tại khắp nơitrên duyên hải miền Trung Người Việt gọi làhoa sứ, tên khoa học là MicheliaChampaca Linn Không biết người Champa

đã chọn loài hoa sứ này đặt tên cho xứ sởmình từ hồi nào, nhưng chữ Champa đã

Trang 7

được tìm thấy trên một bia ký có từ thế kỷthứ 6 tại Mỹ Sơn, viết bằng chữ Phạn(sanscrit) Trước đó, trong bộ Geographicanăm 150 sau công nguyên, ClaudiusPtolémée (90-168), nhà địa lý gốc Hy Lạp

và là sứ giả của hoàng đế La Mã Aurèle Antonin tại Alexandrie (Ai Cập), đã

Marc-có lần nói tới một xứ tên Zamba trên vùngViễn Đông Sách Tân Đường thư, do ÂuDương Tu và Tổng Kỳ biên soạn thế kỷ 10,phiên âm là Chiêm Bà khi nói về HoànVương Quốc (vương quốc Lâm Ấp cũ) Vềsau Champa được người Việt biết qua tênphiên âm Hoa ngữ là Chiêm Thành (Tchan-tcheng)

Trang 8

(Thánh địa Mỹ Sơn)

Trước kia người Việt gọi cộng đồngngười Chăm là Chiêm, Chàm, Hời… Nhữngdanh xưng này được đọc theo cách viếtcủa người Trung Hoa, hay theo cách phát

âm của người miền Trung, do đó khôngphản ánh trung thực danh xưng chính xáccủa người Chăm hiện nay

- Chiêm là tên gọi những cư dân sinhsống trên lãnh thổ Chiêm Thành; danh xưngChiêm thỉnh thoảng vẫn được nhắc nhởtrong sử sách và tài liệu nghiên cứu, ngoàidân gian ít ai nói tới

- Chàm là cách đọc trại đi từ chữChampa; danh xưng Chàm hiện còn rất

Trang 9

thông dụng trong dân gian, một vài địa danhcòn giữ chữ Chàm kèm theo như Cù LaoChàm tại Quảng Nam, Tháp Chàm tại PhanRang, quận Phan Lý Chàm, xã Ma LâmChàm tại Bình Thuận Trong nước, nhữngnhà dân tộc học đã thay chữ Chàm bằngdanh xưng Chăm từ lâu; điều này đã làmhài lòng cộng đồng người Chăm tại cảThuận Hải lẫn Châu Đốc, vì là cách gọiđúng nhất theo lối phát âm từ chữ Chăm-pa.

- Danh xưng Hời rất ít được nhắc đến,người chỉ thấy chữ này xuất hiện một vàilần trong tập thơ Điêu Tàn, năm 1937, củaChế Lan Viên Hời là cách đọc trại đi từchữ Hroi (H’roi hay Hờ Roi), tên của một bộlạc sơn cước sinh sống trên vùng rừng núiphía Tây các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi

và Bình Định Người Hroi thật ra cũng làngười Chămpa, vì trước kia là thần dân củavương quốc Chiêm Thành cũ di tản lên TâyNguyên tránh loạn rồi định cư luôn tại đây,

Trang 10

họ vẫn còn giữ ngôn ngữ và một số phongtục tập quán của người Chăm đồng bằngtrong những sinh hoạt thường nhật Ngoài

ra còn phải kể thêm những nhóm BahnarChăm, Bru-Vân Kiều, Kaho, Raglai, Rhadé,Djarai, Stiêng, Churu v.v , tất cả đều làthần dân của vương quốc Chiêm Thành cũ

di tản lên cao nguyên trong những giai đoạnloạn lạc rồi ở luôn tại đây Trên khắp caonguyên, những nhóm người mới hòa nhập

và pha trộn với các nhóm người cũ tạothành những sắc dân hỗn hợp mang haidòng máu Chăm-Thượng trong những thờiđiểm khác nhau Người Chăm lai Thượnggọi là Chăm Pal, nhưng người Việt ít biếtđến tên này Vì không có truyền thống đặttên cho từng nhóm người, dân chúng gốcKinh gọi chung tất cả những cư dân sinhsống trên miền núi phía Tây là người Hroi,sau đó biến âm thành người Hời

Trang 11

Chữ Hời mang một nội dung xấu, đó lànhững nhóm man di chuyên đi cướp bóc, vìtrong quá khứ người Hroi đã nhiều lần tiến

Trang 12

công vào các làng xã người Kinh cướp bóclương thực, trong những giai đoạn khókhăn, dưới thời các chúa Nguyễn Sau nàyngười Chăm tại Thuận Hải gọi những cưdân gốc Chăm sinh sống tại các tỉnh QuảngNam, Quảng Ngãi và Bình Định là Chăm Hoihay Chăm Hroi Sử sách Việt Nam thờiNguyễn gọi chung là Mọi Đá Vách.

Ngoài ra cũng có một số người Chăm laiViệt gọi là Chăm Yuôn (Yuôn hay Yun cónghĩa là người Việt) Người Việt gọi là KinhCựu, nhưng danh xưng này rất ít người biếtđến vì người Kinh Cựu luôn tự nhận mình làngười Kinh Cũng nên biết những binh sĩhay tội đồ gốc Kinh, bị đày ra vùng biên địagiáp ranh với Chiêm Thành, đã lập gia đìnhvới những phụ nữ Chăm (mà họ cho làngười Kinh cổ xưa), từ đó mới sinh ra chữKinh Cựu

Về ngôn ngữ, người Chăm được nhiềunhà nhân chủng học xếp vào họ Nam Đảo(Malayo Polynésien), nghĩa là có nguồn gốc

Trang 13

xuất phát từ các hải đảo phía Nam vùngbiển Đông Nam Á Điều này có thể đúng khiđối chiếu văn minh, văn hóa của ngườiChăm với văn minh, văn hóa của các dântộc cùng hệ ngôn ngữ tại Đông Nam Á vàothời tạo dựng Nhưng qua những khám phákhảo cổ gần đây, văn minh và văn hóa củangười Chăm tại Việt Nam không hoàn toàn

do ngoại nhập mà có sự pha trộn yếu tốvăn minh và văn hóa của những nhóm cưdân bản địa có mặt từ trước

Trong thực tế không có bộ tộc nguyênthủy nào có tên Chăm Chăm chỉ là tên gọicủa nhiều nhóm dân cư sau này chọn sinhsống trên lãnh thổ của vương quốc Champahay Chiêm Thành cũ, gọi chung là ngườiChămpa, chứ không phải tên riêng của mộtnhóm chủng tộc Sau này cộng đồng ngườiChăm đồng bằng chấp nhận danh xưngChăm, và đồng hóa nguồn gốc Nam Đảocủa mình với nền văn minh và văn hóaChiêm Thành cũ, để phân biệt với các

Trang 14

nhóm Chămpa khác xuất phát từ nhiềunguồn gốc ngôn ngữ và chủng tộc khácnhau Có thể nói vương quốc Chiêm Thànhxưa kia là một liên bang đa chủng và đavăn hóa.

Nền văn hóa cổ Champa

Sau khi đã thống lãnh toàn bộ các khuvực có dân cư sinh sống trên vùng duyênhải miền Trung, từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ

8, các nhóm người hải đảo gốc MalayoPolynésien bắt đầu thiết đặt nền tảng vậtchất để trị vì lâu dài: xây dựng kinh thành,phổ biến lối sống định canh và tổ chức xãhội theo kiểu lãnh chúa Vì trình độ văn hóakhông cao nhưng giỏi chinh chiến, nhữngnhóm này một mặt chỉ lưu giữ một phần củanền văn minh hấp thụ qua các đạo sĩ vàthương nhân Ấn Độ (chữ Phạn và văn hóa

Ấn Độ) đến đây trao đổi hàng hóa hay tạmtrú, mặt khác vẫn duy trì một số tập tục, vănhóa bản địa cổ truyền của mình Qua những

di tích và văn hóa còn lại, người ta nhận

Trang 15

thấy tất cả đều có sự pha trộn giữa yếu tốbản địa và Ấn Độ Tuy vậy, với thời gian,văn hóa Ấn Độ dần dần trở thành yếu tốđộc tôn, lấn át văn hóa bản địa ở phía Nam

và Trung Hoa ở phía Bắc

Nhưng các đạo sĩ và thương gia Ấn Độchỉ truyền bá văn minh, văn hóa, tổ chức xãhội, kỹ thuật hàng hải, buôn bán và canhtác nông nghiệp của họ cho giới vươngquyền và các lãnh chúa địa phương màthôi, quần chúng dân gian không đượcchiếu cố tới Sự phân biệt này có nhiều lý

do, thứ nhất là quần chúng dân gian không

có trình độ văn hóa cao, thứ hai là họkhông phải là thành phần có quyền quyếtđịnh, thứ ba là sự tuân thủ các điều luậtcủa đạo Bà La Môn, đẳng cấp này khôngthể giao tiếp với đẳng cấp kia Và qua đó,những đạo sĩ Bà La Môn dần dần được cáclãnh chúa trọng vọng và giữ những vai tròcao trong triều chính để giúp họ cai trị hữuhiệu và lâu bền

Trang 16

Luật Manu của đạo Bà La Môn(Brahmanism) phân chia xã hội thành bốnđẳng cấp (castes) Đứng đầu là Brahman,tức giới đạo sĩ (phần lớn là người Ấn Độ),được cho là sinh ra từ miệng của Brahma(Phạm Thiên), nắm quyền văn hóa tư tưởng

và học thuật Thứ hai là Ksatriya (Lý ĐếLợi), tức đẳng cấp vua chúa, quí tộc, chiến

sĩ (phần lớn là người Chăm gốc Nam Đảo),được sinh ra từ hai cánh tay của Brahmanên nắm quyền chính trị và quân sự Thứ

ba là Vaisya (Phệ Xá), tức giới thương gia

và phú nông (đa số là người Chăm giàu có

và người Thượng gốc Nam Đảo), đượcsinh ra từ hai đùi của Brahma nên có quyềnlàm kinh tế và xây dựng Thứ tư là Sudra(Thủ Đà), tức đẳng cấp thợ thủ công, bầndân (đa số là các sắc dân miền núi và tùbinh), được sinh từ hai bàn chân củaBrahma chỉ để bị sai khiến và làm nô dịch

Tuy vậy, trong giai đoạn đầu, do chịuảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa và

Trang 17

Phật phái Đại Thừa, không thấy có sự phânchia đẳng cấp xã hội trong những bia ký tìmđược trên lãnh thổ Bắc Chiêm Thành.Ngược lại trên lãnh thổ Nam Chiêm Thành,đẳng cấp Sudra vẫn tiếp tục tồn tại cho tớithế kỷ 19 Ngày nay đẳng cấp Brahman chỉcòn thấy trong các dịp tế lễ của giáo dânđạo Bà La Môn (các thầy Paseh, Tapah)

và đạo Bani mà thôi (các thầy Char, PoAdhya, Po Bac), nhưng đã biến dạng rấtnhiều so với nguyên thủy

Người Chăm theo đạo Bà La Môn đượcgọi là Chăm Jăt, tức người Chăm chínhthống Đạo Bà La Môn trở thành tôn giáochính trong giai đoạn đầu, từ thế kỷ 3 (theobia Võ Cảnh ở Nha Trang) Tuy gọi là tôngiáo chính nhưng chỉ giới vương tôn quí tộcmới có quyền hành lễ và dự lễ mà thôi,quần chúng dân gian hoàn toàn bị cấm Đạo

Bà La Môn lúc ban đầu phát triển mạnh tạimiền Nam Chiêm Thành rồi phát triển ramiền Bắc từ thế kỷ thứ 4, dưới triều vua

Trang 18

Bhadravarman I (Fan-houta hay Phạm HồĐạt), người sáng lập ra triều đại Gangaraja(sông Gange, Ấn Độ) Đạo Bà Là Môn giữvai trò độc tôn trong các triều chính chođến thế kỷ 10, sau đó nhường vai trò lạicho đạo Phật Tiểu Thừa (Thevada) Dướitriều vua Indravarman II (thế kỷ 9), phápdanh Paramabuddhaloka, đạo Phật và đạo

Bà La Môn cùng nhau phát triển, nhiều tuviện và chùa được xây dựng tại ĐồngDương thờ Buddha và thần Siva

Phật giáo Tiểu Thừa tuy được du nhậpcùng lúc với đạo Bà La Môn nhưng khôngphát triển mạnh vì không thừa nhận tínhcực đoan của giai cấp cầm quyền đươngthời, do đó chỉ phát triển mạnh trong giớidân gian Phật giáo tại Champa có hai phái:phái Arya Sammitinikaya (Tiểu Thừa) vàphái Sarva Stivadanikaya (Đại Thừa), đa

số Phật tử Chăm trong giai đoạn đầu theophái Tiểu Thừa Miền Nam Chiêm Thànhkhông có dấu vết gì về Phật giáo Đại Thừa;

Trang 19

ngược lại tại miền Bắc, do ảnh hưởngTrung Hoa, Phật giáo Đại Thừa do các tu sĩTrung Hoa mang vào phát triển mạnh từ thế

kỷ thứ 6 đến thứ 9, nhất là trong giới dângian sinh sống tại châu thổ sông Hồng vàsông Mã (Cửu Chân, Nhật Nam), sau đó thìmất hẳn

Ngôn ngữ của người Chăm cũng rất khóxác định Nói người Chăm có một ngôn ngữđặc thù là không đúng Thổ dân bản địa lúcban đầu có lẽ đã trao đổi với nhau bằngngôn ngữ cổ Mã Lai, kế là thổ ngữ NamĐảo Về sau một số dân cư từ phía Namtràn lên miền Bắc và miền núi lập nghiệpgóp phần pha trộn ngữ âm Môn Khmer vàotiếng địa phương Rồi những đợt di dân từngoài biển (Java, Sumatra), những dân tộcphương Bắc (Văn Lang, Trung Hoa) vànhững nền văn minh khác (Ấn Độ, Ả Rập)liên tiếp gia nhập vào vùng đất này, ngônngữ của người Chămpa đã biến đổi, phânhóa thành nhiều hệ khác nhau (nhất là các

Trang 20

sắc dân miền núi), mặc dầu vậy yếu tố NamĐảo vẫn là mạnh nhất, ảnh hưởng và chiphối đến lối phát âm chính của ngườiChăm.

Tại miền Bắc, do ảnh hưởng của TrungHoa những bậc vương tôn có thể đã sửdụng chữ Hán trong các văn thư trao đổivới các quan lại nhà Hán tại Giao Chỉ chotới năm 192, lúc đó còn là lãnh thổ thuộcnhà Hán (quận Tượng Lâm) Nhưng đến đờicon cháu Khu Liên, người sáng lập vươngquốc Lâm Ấp đầu thế kỷ thứ 3, nhiều phái

bộ được cử sang Giao Chỉ triều cống, cácvăn thư đều viết bằng chữ Hồ (tức chữPhạn cổ) Điều này chứng tỏ người Ấn Độ(tu sĩ và thương nhân) đã vào Lâm Ấptruyền giáo và giao thương trước thế kỷthứ 2 và đã phổ biến chữ viết Những địadanh và tên các vương triều từ thế kỷ thứ 3trở đi đều mang tên Ấn Độ, kể cả tên nước(Campapura là tên một địa danh tại miềnbắc Ấn Độ) Chữ Phạn trở thành chữ quốc

Ngày đăng: 22/07/2014, 16:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm