Khác với người Hoa, tổ chức xã hội của người Ấn dựa trênnguyên tắc tản quyền và phân quyền, phùhợp với nếp sống và ước nguyện tự trị củangười địa phương nên rất được ưa chuộng.Đặc điểm c
Trang 1sinh sống ven biển miền Trung Khi ở lạichờ thuận buồm xuôi gió trở về quê cũ,những người Ấn này đã truyền cho giới quítộc địa phương văn minh và văn hóa của
họ, và đương nhiên truyền luôn cả cáchthức tổ chức xã hội Khác với người Hoa,
tổ chức xã hội của người Ấn dựa trênnguyên tắc tản quyền và phân quyền, phùhợp với nếp sống và ước nguyện tự trị củangười địa phương nên rất được ưa chuộng.Đặc điểm của người Ấn là không dùng bạolực để áp đặt văn hóa hay uy quyền chínhtrị của mình trên những xã hội khác, kémhơn, mà để các thân hào địa phương tựnguyện làm thay, sau khi hấp thụ văn minh
và văn hóa của họ
Tranh chấp văn hóa Trung Hoa và Ấn Độtrong nội bộ Lâm Ấp ngã ngũ sau khi KhuLiên qua đời, chữ Phạn cổ (sanscrit, mộtloại chữ viết xuất phát từ miền nam Ấn Độcách đây hơn 2.000 năm) trở thành chữviết chính thức của các triều vương Các
Trang 2bia ký tìm được trong giai đoạn này đềukhắc bằng chữ Phạn Quốc thư trao đổi củaLâm Ấp với Trung Hoa thời đó được viếtbằng chữ "Hồ" (chữ của nước Hồ Tôn Tinh,tức chữ Phạn) thay vì chữ Hán Văn hóa Ấn
Độ, từ phía Nam đưa lên, trở thành văn hóacủa toàn vương quốc Lâm Ấp Đạo Bà LaMôn và đạo Phật được phổ biến rộng rãitrong quần chúng, lấn át ảnh hưởng đạoKhổng và đạo Lão của văn hóa Trung Hoa
để lại trong vương quốc Cũng nên biết thờcúng ông bà là tín ngưỡng dân gian củangười bản địa, Kinh hay Chăm, do đó rấtđược kính trọng, giáo lý và nghi lễ các tôngiáo khác phải thích hợp theo nếu muốnđược ủng hộ
Về chính trị, các vị vua Lâm Ấp đều gánghép tên mình với một thần linh, thường làvới Siva (còn gọi là Isvara) để có độcquyền cai trị Uy quyền vua thể hiện qua cáilọng màu trắng mà dân gian không đượcdùng Phụ tá nhà vua là các quan lại trung
Trang 3ương và địa phương, được phân chia thành
ba hạng: đứng đầu là hai vị tôn quan(senapati và tapatica-hai tể tướng võ và
văn), kế là thuộc quan gồm ba hạng: luân
đa đinh (dandavaso bhatah-tướng chỉ huy cấm vệ), ca luân trí đế (danay pinang, quan hầu trầu) và ất tha già lan (yuvaraja-kế
vương), sau cùng là ngoại quan (quan lạiđịa phương) Quân lực Lâm Ấp khoảng từ
40 đến 50.000 người, gồm kỵ binh, tượngbinh và thủy binh,
Triều đình Trung Hoa có lẽ cũng muốnchấm dứt tình trạng tranh chấp văn hóa vàchính trị kéo dài quá lâu này nên đã chấpnhận sự ly khai một cách miễn cưỡng, họđặt tên quốc gia mới này là Lâm Ấp, thay vì
Hồ Tôn Tinh hay Tượng Lâm như trước kia,
và duy trì mối quan hệ tốt để nhận càngnhiều phẩm vật triều cống càng tốt
Về danh xưng, Lâm Ấp chỉ là sự biếnnghĩa của chữ Tượng Lâm Đối với nhàĐông Hán, danh xưng Lâm Ấp là một khinh
Trang 4miệt, vì đó chỉ là một phần đất nhỏ khôngquan trọng ở vùng cực nam để thiên triều
phải quan tâm trực tiếp Sách Thủy Kinh Chú giải thích: "Lâm Ấp là huyện Tượng Lâm, sau bỏ chữ Tượng để chỉ còn chữ Lâm" Cũng nên biết ngôn ngữ Trung Hoa
trong thời kỳ này có nhiều hạn chế trongviệc phiên âm các tên ngoại quốc: Lâm Ấp
là cách phát âm Việt hóa từ chữ Lin-yi, phiên âm từ chữ "Hindi" hay "Indi", tức
người Ấn Có người nói đó là cách phiên
âm từ chữ Phạn "Indirapura" (đất của người
Ấn Độ) Về sau người Chăm đặt tên phầnđất từ Quảng Bình đến Thừa Thiên làIndrapura (đất của Indra, thần sấm sét).Lâm Ấp cũng có thể do sự phát âm Việt hóa
từ chữ "Krom" hay "Prum" (hai tộc của
người Việt cổ) mà ra Bình dân hơn người
ta giải thích: Lâm là rừng, Ấp là thôn nhỏv.v Nói chung, cho dù diễn giải thế nàoLâm Ấp là một định chế độc lập với vươngtriều Trung Hoa tại Giao Chỉ
Trang 5Về tên gọi Khu Liên cũng thế, có rấtnhiều tranh cãi Sử sách Trung Hoa viết tên
vị vua đầu tiên của Lâm Ấp là Khu Liên, cósách viết là Khu Quỳ, Khu Đạt hay KhuVương Nhiều sử gia cho rằng Khu Liênthuộc dòng dõi của bộ tộc Dừa ở phíaBắc… Thật ra Khu Liên không là tên củangười nào cả, đó chỉ là cách gọi một cáchkính trọng một người có ngôi vị cao trongmột định chế tập thể (làng, xã, huyện…).Đối với dân chúng địa phương, "Khu" khôngphải là tên riêng mà là tước vị của một tộctrưởng (lãnh chúa), phiên âm từ chữ
"Kurung" (như các vua Hùng) của người
Việt cổ – hay chữ "Varman" của người
Chăm từ tiếng Phạn, có nghĩa là tước tộctrưởng, lãnh chúa hay vua
Trước đó, năm 137, các quan đô hộ nhàHán gọi quân phản loạn ở Tây Quyển(Quảng Bình) là "rợ Khu Liên" Như vậy KhuLiên chỉ là tên gọi chung những ngườikhông cùng văn hóa với người Hán ở phía
Trang 6nam Giao Chỉ Tên gọi này không liên quan
gì đến danh xưng Sri Mara (tên một vịvương tôn người Chăm khác cùng thời kỳ,con bà Lona Lavana ở Panduranga) tìmthấy trên một bia ký bằng đá granít (ngang
1 mét, dày 1 mét, cao 2,5 mét) ở làng VõCạnh (nay thuộc xã Vĩnh Trung), Nha Trang
Về địa lý, vương quốc Lâm Ấp ở đâu,rộng hẹp như thế nào? Còn rất nhiều điểmtối, không ai rõ Theo sử cổ Trung Hoa thìlãnh thổ vương quốc này là huyện TượngLâm thuộc quận Nhật Nam, phía nam huyện
Lô Dung (Thừa Thiên ngày nay) Đường Thư nói Lâm Ấp từ huyện Tây Quyển (Quảng Bình) trở xuống Đ ạ i Nam Nhất Thống Chí nói Tượng Lâm là Bình Định và Phú Yên Thủy Kinh Chú cho biết thủ phủ
Lâm Ấp lúc đầu không biết ở đâu, sau đượcbiết đặt tại Khu Lật (Huế, Thừa Thiên), phíaNam có sông Lô Dung (sông Hương) chảyqua Một cách tóm lược, dựa vào sử sáchxưa, lãnh thổ Lâm Ấp có thể đã trải dài từ
Trang 7Quảng Bình đến Quảng Nam.
Một số chuyên gia Champa cho rằngLâm Ấp là lãnh thổ Indrapura (đất của thầnIndra), từ mũi Hoành Sơn đến đèo Hải Vân,
do vương triều Gangaraja, tức những người
Ấn Độ đến từ sông Gange, khai sinh ra Sựkiện này cần được ghi nhận với tất cả dèdặt vì cho đến nay chưa một dấu tích bia kýnào giải thích sự kiện này
Các triều vương Lâm Ấp
1 Triều vương thứ nhất (192-366): khai sinh vương quốc
Khu Liên lên ngôi năm 192, trị vì trongnhiều năm, nhưng không biết mất năm nào
và ai là người kế vị Sử cổ Trung Hoa
(Lương thư) cho biết trong khoang thập
niên 220-230, con cháu Khu Liên có gởiphái bộ đến thống đốc Quang Đông và cácthái thú Giao Châu (Lã Đại và Lục Dận)triều cống và duy trì quan hệ ngoại giao
Sự kiện nổi bật sau thời Khu Liên là cuộcdấy binh của bà Triệu năm 248 tại quận
Trang 8Cửu Chân chống lại quân Đông Ngô (TrungHoa) Bà Triệu, còn gọi là Triệu TrinhNương, là một thiếu nữ Mường cưỡi voi ratrận làm khiếp đảm quân địch Bà Triệucũng là mẫu người lý tưởng của chế độmẫu hệ: thân hình nẩy nở (sử cổ Trung Hoaghi "vú dài ba thước" !?) và can đảm (dámđứng ra gánh vác việc nước) Có lẽ tronggiai đoạn này con cái của Khu Liên gianhập vào đội quân của bà Triệu rất đông vìcuộc khởi nghĩa này được sử Trung Hoaghi nhận là cuộc nổi dậy của nhân dân LâmẤp.
Nhà Đông Ngô phong danh tướng LụcDận tước An Nam hiệu úy, tức thứ sử, sangGiao Châu dẹp loạn Lục Dận vừa dùngmưu vừa làm áp lực chiêu dụ các bộ lạc nổiloạn; sau hơn 6 tháng cầm cự quân của BàTriệu bị cô lập và bị đánh bại phải chạy về
mi ề n Nam lánh nạn Lục Dận xua quânxuống chiếm Khu Lật (Huế), bắt theo hàngngàn thợ khéo tay mang về Giao Châu rồi
Trang 9dâng cho nhà Đông Ngô năm 260 Nhữngvùng đất bị nghĩa quân Lâm Ấp chiếm đóngđều bị lấy lại Lãnh thổ Lâm Ấp trở về vị trí
cũ, tức huyện Tượng Lâm, quân Đông Ngôkhông dám tiến xuống xa hơn
Có lẽ truyền nhân đích tôn của Khu Liên
đã chết trong cuộc khởi nghĩa này vì không
còn được nhắc tới nữa Sách Lương thư
cho biết năm 270, cháu ngoại của Khu Liên
là Phạm Hùng (Fan Hiong hay Fan Hsung)lên làm vua
Cũng nên biết "Phạm" ở đây là cách
phiên âm Hán hóa từ chữ "Po" (hay Pô,
Phò, Pha) của người Chăm, tức là ngườiđứng đầu, lãnh tụ hoặc là ngài, chứ không
phải là cách phiên âm từ chữ "varman" của
người Ấn, cũng có nghĩa là vua, vương,ngài, hay "họ Phạm" của người Việt Nam
mà ra Cũng nên biết người Lâm Ấp theochế độ mẫu hệ, chỉ có tên chứ không có họ.Dưới thời Phạm Hùng, lãnh thổ Lâm Ấpđược nới rộng tới thành Khu Túc, cạnh
Trang 10sông Gianh, phía bắc và tới Khánh Hòa(Kauthara) phía nam Phạm Hùng cũng đãchinh phục và thống nhất các tiểu vươngquốc khác nằm trong các lõm đất dọcduyên hai miền Trung: Amavarati (QuangNam), Vijaya (Quang Ngãi, Bình Định) vàmột phần lãnh thổ Aryaru (Phú Yên) Nhưngsau hơn 10 năm chinh chiến (271-282),Phạm Hùng bị quân Tây Tấn (do Đào Hoàngchỉ huy) đánh bại, năm 283 con là PhạmDật (Fan Yi) lên ngôi thay Năm 284, PhạmDật gởi một sứ bộ sang Trung Hoa cầuhòa; Lâm Ấp được thái hòa và Phạm Dật trị
vì 52 năm thì qua đời
2 Triều vương thứ hai (337-420): mở rộng vương quốc
Phạm Dật qua đời năm 336, một tểtướng cướp ngôi vua tự xưng Phạm Văn(Fan Wen) Phạm Văn không phải là ngườiChăm mà là một người gốc Hoa quê ởDương Châu, bị bán làm nô lệ cho một quancai trị huyện Tây Quyển tên Phạm Tương
Trang 11Năm 15 tuổi, vì phạm tội gian Văn phai trốntheo một thương gia người Lâm Ấp sangTrung Hoa và Ấn Độ buôn bán, nhờ đó đãhọc hỏi được kỹ thuật luyện kim và xâythành lũy của người Hoa Khi về lại Lâm Ấpnăm 321, Văn trở thành người thân tín củaPhạm Dật và được giao trọng trách xâythành, đắp lũy, dựng cung đài theo kiểuTrung Hoa, chế tạo chiến xa và vũ khí, chếbiến dụng cụ âm nhạc v.v và được thăngchức tể tướng.
Dưới thời Phạm Văn, kỹ thuật luyện sắt(rèn kiếm, đúc lao) đạt đến tột đỉnh Nhàvua áp dụng văn minh Ấn Độ thẳng vào đờisống: cải tổ lại hệ thống quan lại theo khuônmẫu Ấn Dộ, nhờ đó guồng máy tổ chứcchính quyền chạy đều và mang lại hiệu quảtốt; xây dựng thủ phủ chính trị tại Khu Lật(K’iu-sou, hay Thành Lồi, Huế), hình chữnhật, chu vi 2100 mét, tường cao 8 mét, có
16 cửa, dân chúng sống chung quanh chânthành, mỗi khi có loạn, các cửa thành đều
Trang 12đóng lại Với thế mạnh này, Phạm Văn đánhthắng hai nước Đại Kỳ Giới và Tiểu Kỳ Giới(có thể đây là hai vương quốc trên đất Làongày nay), chinh phục nhiều bộ lạc khácnhư Che Phou, Siu Lang, Khiu Tou, KanLou và Fou Tan (có thể là những bộ lạcthiểu số gốc Thái trên dãy Trường Sơn),tăng cường số phụ nữ mang về từ các lãnhthổ đánh chiếm được và tăng nhân số trongquân đội (khoảng từ 40.000 đến 50.000người).
Năm 340, Phạm Văn xin nhà Đông Tấncho sát nhập quận Nhật Nam, gồm cáchuyện Tây Quyển, Ty Canh, Chu Ngô, LôDung và một phần đất phía nam quận CửuChân huyện Hàm Hoan (Thanh Hóa) vàolãnh thổ Lâm Ấp nhưng không được toạinguyện Phạm Văn liền xua quân tiến côngvào nội địa Nhật Nam, chiếm huyện TâyQuyển, giết thứ sử Hạ Hầu Lâm, lấy mũiHoành Sơn (nam Thanh Hóa) làm biên giớiphía bắc, cho xây lại thành Khu Túc (cạnh
Trang 13sông Gianh) phòng giữ Từ đó phần lãnhthổ từ đèo Ngang trở xuống thuộc về Lâm
Ấp và cũng kể từ đó phía bắc đèo Ngang lànơi xảy ra những trận thư hùng giữa Lâm
Ấp và Giao Châu trong suốt hai thế kỷ 4 và
5 Năm 349 nhà Đông Tấn phản công, quânLâm Ấp bị đánh bại, Phạm Văn bị trọngthương và qua đời, con là Phạm Phật (FanFo) lên thay
Phạm Phật là một vị tướng tài ba, đượcnhiều sử gia cho là người mở đầu vươngtriều Gangaraja (Bắc Chiêm Thành) Vừalên ngôi, Phạm Phật tấn công quân ĐôngTấn tại Nhật Nam và vây thành Cửu Chân.Năm 351, quân Lâm Ấp bị đánh bại phai bỏchạy về phía tây tại Lãng Hồ, huyện ThọLãnh (Thanh Hóa), thành Khu Túc bị chiếm,ranh giới được thiết lập lại tại huyện TyCanh gần sông Nhật Lệ (Quang Bình) Năm
359, quân Đông Tấn chiếm huyện Thọ Lãnh
và đánh bại quân Lâm Ấp tại vịnh Ôn Cấn,chiếm thành Khu Túc; Phạm Phật xin hòa
Trang 14và gởi sứ bộ sang Trung Hoa triều cống(372 và 377) Phạm Phật mất năm 380nhường ngôi cho con là Phạm Hồ Đạt.
Phạm Hồ Đạt (Fan Houta) được nhiềuhọc gia cho là vua Dharmamaharaja, hiệuBhadravarman I, người sáng lập vươngtriều Gangaraja Dưới thời Phạm Hồ Đạt,Phật giáo tiểu thừa (Thevada) phát triểnmạnh, nhiều nhà sư đến trực tiếp từ Ấn Độsang truyền đạo Thành Khu Lật (Huế) vẫn
là trung tâm chính trị nhưng đổi tên thànhKandapurpura, nghĩa là Phật Bảo Thành (vì
là nơi có nhiều đền đài và hình tượng Phật
và Siva) Bên cạnh đó nhà vua còn cho xâydựng thêm một trung tâm tôn giáo mới tạiAmavarati, tức thánh địa Hào Quang (nay
là Mỹ Sơn, một thung lũng cách Đà Nẵng70km về phía tây) Nhiều đền thờ Bà LaMôn được xây dựng tại Mỹ Sơn để thờthần Siva và tượng Linga, tượng trưng sứcmạnh phái nam Ngôi đền đầu tiên đượcxây bằng gỗ vào cuối thế kỷ 4 mang tên
Trang 15Bradresvara, kết hợp giữa tên vuaBradravarman I và thần Isvara (hay Siva).
Kể từ thế kỷ thứ 4 trở đi lãnh tụ chính trị vàtôn giáo tại Lâm Ấp là một: thờ thần tức thờvua, vua thay mặt thần Siva cai quản muôndân Siva vừa là thần bảo hộ xứ sở vừa là
vị thần giữ đền (Dvarapala) để dân chúngđến thờ phượng và dâng lễ vật
Năm 399, Phạm Hồ Đạt mang quânchiếm quận Nhật Nam, giết thái thú KhổngNguyên, tiến công quận Cửu Đức, bắt sốngthái thú Tào Bính nhưng bị quân của thốngchế Đỗ Viện đánh bại phải rút về dưới đèoNgang Năm 413, Phạm Hồ Đạt mang bộbinh chiếm đóng Nhật Nam, ra lệnh cho thủybinh đổ bộ vào Cưu Chân đốt phá các làng
xã ven duyên Thứ sử Đỗ Tuệ Độ mangquân ra nghinh chiến, chém được con củaPhạm Hồ Đạt là Phạm Trân Trân (tiểuvương đất Giao Long) và tướng PhạmKiện, bắt làm tù binh hơn 100 người, trong
có một hoàng tử tên Na Neng, tất cả đều bị
Trang 16chém đầu Phạm Hồ Đạt trốn vào rừng sâurồi mất tích Trong khi chưa tìm được một vịvua mới, triều đình Lâm Ấp tiếp tục triềucống Trung Hoa để được yên về chính trị.
Trong thời gian từ 413 đến 420, concháu Phạm Hồ Đạt tranh giành ngôi vua,nội chiến xảy ra khắp nơi Năm 413, mộtngười con của Phạm Hồ Đạt là Địch Chớn(Ti Chen), đạo sĩ Bà La Môn, được triềuthần đưa lên ngôi vua, hiệu Gangaraja(sông Gange bên Ấn Độ) Địch Chớn làngười đam mê văn hóa Ấn Độ muốnnhường ngôi cho em là Địch Khai (Ti Kai)
để sang Ấn Độ sống những ngày cuối đời,nhưng Địch Khai sợ bị triều thần ám hại,dẫn mẹ chạy trốn vào rừng Ngôi báu đànhnhường cho Manorathavarman, cháu ĐịchChớn nhưng tể tướng Thiếu Lâm (TsangLin) chống lại vì người này không đượcsinh ra từ một người mẹ có dòng máu tinhkhiết (tức đẳng cấp Brahman), nên bịManorathavarman giết chết