THỰC TIỄN KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 2.1 Những thành tựu Về thực tiễn, sự phát triển đa dạng và đóng góp ngày càng lớn cho sự
Trang 1Vai trò hiến định của các thành phần kinh tế -
Phần 2
2 THỰC TIỄN KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
2.1 Những thành tựu
Về thực tiễn, sự phát triển đa dạng và đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các thành phần kinh tế những năm qua, đặc biệt trong năm năm 2001 - 2005 chính là thắng lợi đầy sức thuyết phục của đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần Mỗi thành phần kinh tế và loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh thích ứng với những đối tượng, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, cùng phát triển và đều góp phần đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực trong nước cũng như ngoài nước làm nên một nền kinh tế Việt Nam sống
động, có tốc độ tăng trưởng cao, xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật Riêng kinh tế Nhà nước đã, đang và sẽ tiếp tục được đổi mới và phát huy vai trò chủ
đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh
tế, bảo đảm tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta
Trang 2Một trong những đặc trưng của các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam là hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh
tế theo mục tiêu chiến lược phát triển của từng tập đoàn mà tư nhân và các thành phần kinh tế khác khó thể thực hiện được do hạn chế về năng lực tài chính hoặc kinh nghiệm quản lý Với đặc trưng này, các tập đoàn kinh tế đã có vai trò tích cực
đối với việc phát triển kinh tế đất nước Cụ thể, các tập đoàn kinh tế đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất nước, tạo nguồn ngoại tệ và nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, hạn chế nhập siêu, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Trong giai đoạn 2001 - 2005, kinh tế nhà nước luôn chiếm tỷ trọng và có tốc độ tăng trưởng cao trong cơ cấu và tốc độ tăng trưởng được tính theo thành phần kinh
tế Tốc độ tăng GDP của kinh tế nhà nước trung bình trong năm năm 2001-2005 đạt mức 7,46%, tuy có thấp hơn chút ít tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh
tế cùng kỳ (7,51%) nhưng vẫn là thành tích đáng ghi nhận
Qua bảng số liệu bên dưới cho thấy tổng thu nhập GDP từ các thành phần kinh tế
từ năm 2004-2009 cho thấy thành phần kinh tế kinh tế có sức tăng trưởng tăng dần qua các năm đển hình là năm 2009 544.942 tỷ đồng so với năm 2008 Đồng thời khi Việt Nam gia nhập WTO từ năm 2007 cho thấy VN cũng đã thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài dẩn đến nền kinh tế có vốn đầu nước có sức tăng trưởng mạnh các qua các năm điển hình là năm 2009 tăng 30.375 tỷ đồng so với
Trang 3năm 2008.Các thành phần kinh tế còn củng có sức tăng trưởng nhiều qua các năm
từ 2004-2009
TỔNG THU NHẬP GDP TỪ CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ ( 2004-2009)
+ Tuy còn những nhược điểm trong tổ chức và hoạt động nhưng không thể phủ nhận các Tập đoàn kinh tế nhà nước đã sản xuất ra một lượng hàng hóa lớn phục
vụ thị trường trong nước và xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng khá cao, có vai trò quan trọng trong việc giúp Chính phủ điều tiết, ổn định nền kinh tế Nhất là trong
thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn thì việc Nhà nước nắm vững được những ngành sản xuất thiết yếu lại càng trở nên quan trọng Từ năm 2008 đến nay, mặc
dù giá nguyên liệu trên thế giới tăng cao nhưng theo chỉ đạo của Chính phủ, các Tập đoàn KTNN vẫn đảm bảo cân đối cung - cầu và bình ổn giá cả những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống (xăng dầu, điện, đạm, khí hoá lỏng, than .v.v.), tránh gây xáo trộn cho nền kinh tế và xã hội
Trong khoảng thời gian cuối năm 2008 và năm 2009 chịu sự chi phối không nhỏ của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới, các Tập đoàn kinh tế Nhà nước của ta đã có nhiều nỗ lực góp phần đáng kể vào việc ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, cơ bản thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt nắm giữ vị trí
Trang 4then chốt, làm công cụ vật chất để Đảng – Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
VD1: Dưới sự chỉ đạo của chính phủ tập đoàn dầu khí quốc gia việt nam đã điều
tiết giá xăng dầu khi giá xăng dầu trên thế giới có sự tăng giá cao và đột biến khi giá cả hàng hóa trên thị trường đang cao Sự tác động kịp thời của tập đoàn dầu khí đã làm dịu bớt đi áp lực tăng giá cả hàng hóa khi mà xăng, dầu là một trong những loại nhiên liệu tác động trực tiếp đến giá cả của nhiều loại hàng hóa khác Việc kìm hãm giá xăng, dầu cũng là một biện pháp hữu hiệu để chống lạm phát góp phần ổn định giá cả hàng hóa làm ổn định nần kinh tế cũng như ổn định xã hội
VD2: dưới sự chỉ đạo của chính phủ các doanh nghiệp KD gạo đã bán gạo thấp
hơn giá thị trường khi mà giá gạo bị đầu cơ tăng đột biến trong thời gian trước
Ngoài ra các tập đoàn nhà nước còn là những đơn vị tiên phong trong việc đầu tư vào những vùng khó khăn, những ngành kinh tế mang tính xã hội cao nhưng mang tính kinh tế thấp…
2.2 Một số hạn chế
Trong một số lĩnh vực cụ thể, hoạt động của một số tập đoàn hiện mang tính độc quyền, chưa phù hợp với cơ chế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Một số
Trang 5doanh nghiệp chưa thoát khỏi tư duy của cơ chế bao cấp, xin cho, không dám chịu trách nhiệm, Sự tồn tại và phát triển của nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước chủ yếu là dựa vào khai thác lợi thế về độc quyền và vị trí chi phối đối với nhiều sản phẩm và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, tận dụng các ưu đãi của Nhà nước về điều kiện hoạt động, đặc biệt là sử dụng đất đai, vay vốn tín dụng Những lợi thế và ưu đãi đó làm cho nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước sinh ỷ lại, không quan tâm nâng cao trình độ công nghệ và quản lý, không coi trọng năng suất và hiệu quả; nguy hại hơn nữa là khiến cho môi trường kinh doanh của nước
ta không bảo đảm tính cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp; do
đó hạn chế động lực quan trọng nhất của kinh tế thị trường
Hiệu quả hoạt động của DN, tập đoàn kinh tế Nhà nước còn thấp,[B]các DN tỉ
lệ nợ trên vốn rất cao, không an toàn, đầu tư còn dàn trải, việc phát triển một số
DN mới không liên quan đến ngành, nghề chính của tập đoàn kinh tế Nhà nước dẫn đến phân tán nguồn vốn và chứa đựng thêm nhiều rủi ro trong kinh doanh
Trình độ công nghệ, năng suất lao động của khá nhiều tập đoàn còn thấp, việc đổi mới tổ chức, quản lý trong các tập đoàn kinh tế Nhà nước còn chậm, sức cạnh tranh còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế và chưa tương ứng với đầu tư của Nhà nước, vốn đầu tư của Nhà nước cho các Tập đoàn kinh tế Nhà nước luôn chiếm tỉ lệ cao (trên dưới một nửa, trong tổng đầu tư xã hội, nhưng tỉ lệ đóng góp vào thu nhập quốc dân (GDP) không cân xứng, chỉ ở mức 37 – 39% và tạo công ăn việc làm cho khoảng 4,4% tổng số lao động Suốt hàng chục
Trang 6năm, khu vực kinh tế nội địa, mà có lẽ chủ yếu là kinh tế Nhà nước luôn luôn nhập siêu ở mức cao, khu vực đầu tư hơn mức nó tạo ra rất nhiều trong thời gian dài Sự kém hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nước là một trong những nguyên nhân chính góp phần không nhỏ gây bất ổn kinh tế vĩ mô, tăng lạm phát
Thời gian qua, dư luận đặc biệt quan tâm tới việc đầu tư ra ngoài lĩnh vực chính của các Tập đoàn KTNN Hiện nay, chưa có thống kê tổng thể nào cho thấy các Tập đoàn KTNN đầu tư ra ngoài lĩnh vực chính lỗ lãi ra sao (Hiện nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam được coi là đầu tư nhiều ra ngoài lĩnh vực chính) Bộ Công Thương đánh giá việc mở rộng đa ngành,
đa nghề ra nhiều lĩnh vực không phải sở trường như tài chính, ngân hàng đã phần nào làm giảm năng lực và sự tập trung nguồn lực của các tập đoàn vào lĩnh vực chính
VD: Việc đầu tư thiếu trọng điểm và không hiệu quả của tập đoàn công ngiệp tàu thủy việt nam là một điển hình khi mà trong vọn viện 3 năm trời tập đoàn này đã thành lập gần 200 cty con với đủ mọi nghành nghề Chính việc mở rộng quy mô này cộng với sự quản lý yếu kém của đội ngũ lãnh đạo của tập đoàn đã làm cho tập đoàn làm ăn thua lổ 120.000 tỷ đồng
2.3 Nguyên nhân hạn chế
2.3.1 Nguyên nhân chủ quan
Trang 7+ Trong các DNNN một thực tế thấy rõ là thiếu động lực để phát triển khi nói đến kinh tế tư nhân, chúng ta đều nghĩ đến các ông chủ quên ăn, quên ngủ lo cho "túi tiền" của mình bị vơi đi, hay doanh nghiệp làm ăn thất bại, thua lỗ, dẫn tới phá sản Động cơ phát triển của kinh tế tư nhân thật rõ ràng, xuất phát từ nhu cầu cá nhân, nhu cầu thực sự của mỗi con người, còn cá nhân mang "màu áo" nhà nước, cũng là con người với những ước mơ bình thường, nhu cầu bình thường nhưng sự khác biệt về môi trường làm việc đã làm thay đổi tư duy suy nghĩ và tư duy hành động.Một suy nghĩ ai cũng biết là "cha chung không ai khóc" Các kinh nghiệm thất bại từ quản lý kinh tế nhà nước theo lối "hợp tác xã", nửa đêm không ai muốn thức dậy để xả nước ngoài ruộng lúc 2-3 giờ sáng, vì không có động lực phấn đấu làm việc! Làm cũng như không làm, "ăn đồng, chia đủ", không ai hơn ai, cá mè một lứa, thui chột
cả tư duy phát triển, làm giàu Ai có ý kiến khác lãnh đạo bị cho là "thể hiện", phá cách, phải chịu trách nhiệm trước tập thể, tốt nhất ngồi yên sẽ yên thân Vai trò làm chủ của nhà nước tại hầu hết các DNNN chưa được "luật hóa" hay cụ thể hóa rõ ràng dẫn tới buông lỏng không theo kịp các diễn biến kinh tế - xã hội, gây phá sản, thất thoát lớn tài sản công rất nhiều
+ Qua thực tiễn, mấy năm hoạt động cho thấy: trình độ cán bộ lãnh đạo, quản lý của Công ty mẹ (Vinashin) nói riêng và các DN, các Công ty, các tập đoàn kinh tế nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị một tập đoàn kinh tế lớn, đặc biệt là những người đứng đầu còn hạn chế về năng lực, không
Trang 8ít cán bộ, lãnh đạo chẳng những trình độ mọi mặt hạn chế mà còn biểu hiện thiếu trách nhiệm, tùy tiện, cá nhân, báo cáo không trung thực, cố ý làm trái
vi phạm pháp luật trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước
2.3.2 Nguyên nhân khách quan
“Sự cố” của tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin vừa qua, cũng như một số thiếu sót, khuyết điểm của một số tập đoàn kinh tế Nhà nước có liên quan
đến một số cơ quan tham mưu thuộc Chính phủ, một số địa phương và một số
cơ quan chức năng kiểm tra, kiểm soát ở Trung ương có thiếu sót, khuyết điểm trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước đối với tập đoàn, chưa sát sao giám sát, kiểm tra chặt chẽ và đánh giá đúng, kịp thời về công tác tổ chức, cán bộ và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, Từ năm 2006 – 2009 tuy đã qua 11 lần kiểm toán,
kiểm tra, thanh tra, nhưng vẫn không phát hiện được đầy đủ, kết luận đúng tình hình và những yếu kém, khuyết điểm nghiêm trọng của tập đoàn, chưa đưa ra được những biện pháp chấn chỉnh, ngăn chặn, xử lý kịp thời có hiệu quả mặc dù những biểu hiện về những khó khăn, khuyết điểm của Vinashin đã được các cơ quan trông tin đại chúng và dư luận phản ánh, cảnh báo từ rất sớm và nhiều lần
3 Đánh giá chung và đề xuất một số giải pháp
3.1 Đánh giá chung
Trang 93.1.1 Kinh tế Nhà nước có thực sự chủ đạo?
Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, vừa được Ban
chấp hành Trung ương Đảng công bố Trong đó khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”
Đây là vấn đề gây nhiều tranh luận, vì từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) thời gian qua, cụ thể câu chuyện Tập đoàn Vinashin, càng khiến các chuyên gia kinh tế, nhà hoạch định và 86 triệu người dân Việt Nam trăn trở
Chúng ta cần nhìn nhận lại tính đúng đắn và cần thiết của khẩu hiệu “kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo” trong giai đoạn mới của phát triển đất nước.Theo TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, khi trao đổi với báo chí về vai trò kinh tế Nhà nước trong bối cảnh hiện nay để góp ý cho dự thảo Văn kiện Đại hội XI đã nhận xét: “Việc xác định vai trò kinh tế Nhà nước làm chủ đạo nền
kinh tế đất nước trước đây đã gây nhiều tranh cãi Từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) thời gian qua, cụ thể nhất là câu chuyện của Vinashin lại càng gây tranh cãi nhiều hơn Đã đến thời điểm cần nhìn thẳng vào sự thật xem kinh tế Nhà nước có thực sự chủ đạo hay chỉ mới được khoác vào một cái áo rất đẹp đẽ nhưng thực chất bên trong không phải thế” Ông cũng lưu ý trên
Trang 10khắp thế giới không có một nước nào có câu này cả, ngay Trung Quốc cũng không đặt vấn đề này Vấn đề ở đây là phải xác định làm sao để nền kinh tế tăng trưởng, bền vững, có hiệu quả
Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, nghĩa là có tài sản và có năng lực tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước xã hội vì vậy doanh nghiệp, ở góc nhìn của luật chủ thể, thực sự là một con người Mà đã được nhân cách hóa, thì doanh nghiệp phải chịu sự chi phối của nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trước pháp luật, một trong những nguyên tắc tạo thành nền tảng của một hệ thống pháp lý lành mạnh, vốn được coi là điều kiện cần cho sự bảo đảm công bằng, trật tự trong xã hội có tổ chức
Chủ trương trao cho doanh nghiệp nhà nước vai trò chủ đạo trong nền kinh tế có định hướng phải tuân thủ nguyên tắc đó Điều này có nghĩa là dứt khoát không thể tạo ra, bên cạnh một khung pháp lý dùng chung cho các doanh nghiệp loại khác, một hệ thống pháp lý riêng cho doanh nghiệp nhà nước với nhiều ngoại lệ mang tính ưu đãi, đặc quyền Trên thực tế tình trạng bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp vẫn tồn tại dai dẳng Ví dụ, trong mối quan hệ với các thiết chế công và cả với các ngân hàng, thế của doanh nghiệp nhà nước vẫn tỏ ra vượt trội so với các doanh nghiệp không phải nhà nước: gọi cửa dễ hơn, giao tiếp thân quen hơn, thủ tục gọn hơn, điều kiện giao kèo thông thoáng thuận lợi hơn… Đáng nói là lợi thế
đó trong phần lớn trường hợp không phải do doanh nghiệp nhà nước tự tạo ra bằng các kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh được thực hiện trên cơ sở tuân thủ
Trang 11các luật chơi chung về cạnh tranh, các kết quả có tác dụng gầy dựng uy tín xã hội
và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Nó chủ yếu hình thành từ việc khai thác những suy nghĩ xã hội tồn tại dai dẳng như những định kiến về thành phần này, thành phần nọ trong hệ thống kinh tế của quốc gia
Cho đến bây giờ, doanh nghiệp nhà nước trong tâm trí của con người ta vẫn được hiểu là doanh nghiệp của Nhà nước, nghĩa là của một nhà đầu tư đồng thời nắm quyền lực công Thái độ ứng xử xã hội phổ biến, thôi thúc bởi lợi ích, cũng có xu hướng theo đó mà thích nghi Ngân hàng có thể chấp nhận cho doanh nghiệp vay với những điều kiện dễ dãi; các chủ thể quan hệ kinh doanh, tiêu dùng thích chọn doanh nghiệp nhà nước để đối tác Lý do chính không phải là xã hội tin tưởng vào sức sống, khả năng phát triển ổn định của bản thân doanh nghiệp nhà nước Đơn giản, trong trường hợp có rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán, thì doanh nghiệp nhà nước thường có Nhà nước như là một người bảo trợ rộng lượng sẵn sàng dang tay cứu giúp và thừa sức chi trả thay
Nhìn vào hệ thống quản lý kinh tế đang vận hành, dễ có cảm giác rằng thay vì làm như thế, Nhà nước lại nhận lấy cho mình nhiệm vụ khẳng định vị trí chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước Thế là xuất hiện những đứa con cưng được các bậc cha
mẹ có thế lực hà hơi tiếp sức một cách đầy thiên vị và được nuông chiều trong một sân chơi đầy ắp tiện nghi Không ít trong số đó đã hư hỏng và người lãnh hậu quả, rốt cuộc, là NN