Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân
Trang 1Cơ sở, nội dung chính sách kinh tế của nhà nước –
Phần 2
2.2.2 Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
- Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
+ Về mục đích: Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới, tiên tiến
Trang 2+ Về sở hữu: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức
sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
+ Về quản lý: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân
+ Về phân phối: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước
=> Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế còn ở
Trang 3trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế độ xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có những đặc trưng cụ thể như sau:
+ Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;
+ Giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân;
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2009
+ Đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo, đồng thời khuyến khích mọi người dân làm giàu chính đáng và giúp đỡ, tạo điều kiện để người khác thoát khỏi nghèo, từng bước khá giả hơn;
+ Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân;
Trang 4+ Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục,… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người;
+ Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi
xã hội;
+ Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng
=> Với những nội dung trên cho thấy, nền KTTTĐHXHCN hoạt động nhờ vào sự điều tiết của cơ chế thị trường, các quy luật khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, lưu thông tiền tệ, cạnh tranh…trên cở sở định hướng xã hội chủ nghĩa
Phần 3: đánh giá việc thực hiện các chính sách kinh tế của việt nam
3.1 Thành tựu
- Tính dân chủ, công khai trong xây dựng và thực thi pháp luật và chính sách ngày càng nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
Trang 5- Từng bước xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tạo động lực, điều kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng trong nước và ngoài nước vào phát triển kinh tế - xã hội Quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh ngày càng được tôn trọng và được và được pháp luật bảo vệ
- Cơ chế phân bổ nguồn lực quốc gia về cơ bản đã được chuyển đổi theo hướng vừa dựa vào các tín hiệu thị trường, vừa căn cứ vào mục tiêu, định hướng phát triển của Nhà nước Chế độ phân phối được đổi mới theo hướng công bằng hơn, dựa trên sự đóng góp cả về lao động, hiệu quả kinh tế, lẫn các đóng góp về vốn và các nguồn lực khác vào quá trình sản xuất, kinh doanh
- DNNN được sắp xếp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động; hợp tác xã, nông lâm trường tiếp tục được đổi mới và hỗ trợ phát triển Kinh tế tư nhân trong nước
và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được thừa nhận và khuyến khích phát triển Các đơn vị sự nghiệp đổi mới theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Các loại thị trường chức năng đã ra đời và phát triển theo hướng thông suốt, thống nhất trong cả nước và trên thế giới
- Tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải quyết việc làm được quan tâm Các chính sách xã hội, chính sách chăm sóc người có công, hỗ trợ nhóm người yếu thế, đồng bào bị thiên tai ngày càng hiệu quả hơn
Trang 6- Chức năng quản lý Nhà nước, chức năng chủ sở hữu nhà nước và chức năng kinh doanh của DNNN được phân định rõ hơn Nhà nước chuyển từ can thiệp trực tiếp sang quản lý, can thiệp gián tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua hệ thống chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, luật pháp, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác
- Kinh tế hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả Vào thời điểm 2010, chúng ta đã có thể nói đến kế hoạch phát triển kinh tế trong thời kỳ hậu khủng hoảng Trong vòng 25 năm, GDP của Việt Nam từ mức dưới 20 tỉ USD đã lên đến
85 tỉ USD, kim ngạch xuất khẩu từ 1-2 tỉ USD lên đến 64 tỉ USD, đầu tư nước ngoài từ chỗ không có gì lên đến con số khó tưởng tượng là 98 tỉ USD, trong đó vốn thực hiện trên 40 tỉ USD
+ Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã mở rộng cánh cửa của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam Riêng năm 2008, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng góp vào GDP gần 47%, trong đó có phần đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân; ở một số địa phương tỷ lệ này còn cao hơn như TP Hồ Chí Minh là 51,4%, Cần Thơ là gần 73% Trong thời gian này, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo công ăn việc làm cho trên 5 triệu lao động mới (chưa tính khu vực nông nghiệp), bình quân 800 ngàn lao động/năm, chiếm tỷ lệ 50% số lao động tăng thêm của cả nước Số lượng doanh nghiệp tư nhân đã gia tăng mạnh mẽ, ước tính đến hết năm 2009 là 460.000 doanh nghiệp, tăng 15 lần trong vòng chín năm, tuy nhiên phần lớn ở quy mô vừa và nhỏ,
số doanh nghiệp tư nhân lớn còn khá khiêm tốn
Trang 7+ Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 6 tháng đầu năm 2010 gấp 1,6 lần cùng
kỳ năm 2009 Xu hướng đó chứng tỏ nền kinh tế nước ta đang phục hồi nhanh
+ Về đầu tư phát triển: Nhờ tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án, công trình trọng điểm, vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế trong 6 tháng đầu năm
2010 ước tính đạt 390,1 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ năm 2009, bao gồm khu vực nhà nước 166,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 42,7% tổng vốn và tăng 17,8%; khu vực ngoài nhà nước 120 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,8% và tăng 9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 103,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,5% và tăng 11,8%
+ Về cân đối thu, chi ngân sách: tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm
2010 tăng 21,6 so với cùng kỳ 2009 và bằng 52,5% dự toán năm Tổng chi ngân sách nhà nước 6 tháng đấu năm ước tính tăng 21,3% so cung kỳ năm 2009 và bằng 46,9% dự toán năm
+ Về cân đối thương mại: Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2010 ước tính đạt 32,1 tỷ USD, tăng 15,7% so cùng kỳ năm 2009 Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2010 ước tính đạt 38,9 tỷ USD, tăng 29,4% So cùng kỳ năm
2009
+ Về kết quả ngăn ngừa lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm
2010 tăng 8,75% so 6 tháng đầu năm 2009 Điều này cho thấy các chính sách bình
ổn giá đã bước đầu phát huy tác dụng
Trang 83.2 Hạn chế
3.2.1 Về lý luận
- Lý luận về thể chế KTTT định hướng XHCN chưa được định hình một cách có
hệ thống Các đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa được xác định thật rõ và có được sự nhất trí cao
+ Thực tiễn cho thấy, đến nay chúng ta vẫn chưa hình thành được một khung lý thuyết vững chắc về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nên trong xây dựng, vận hành và xử lý các vấn đề của cơ chế kinh tế, nhiều khi, chưa tôn trọng đầy đủ và nhất quán những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường cũng như của định hướng XHCN Chưa xác định rõ và tạo được sự nhất trí cao về những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt về cấu trúc, quan hệ giữa các yếu tố, bộ phận hợp thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, vẫn chậm làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ giữa hai thành tố là kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự kết hợp chúng một cách hữu cơ để tạo thành một phương thức mới giải quyết các vấn đề phát triển của Việt Nam
+ Nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chậm so với thực tiễn phát triển Nhiều vấn đề đặt ra còn chưa được giải quyết, tổng kết kịp thời Do vậy, trong công tác chỉ đạo còn thiếu nhất quán, lúc mở ra lúc co lại, lúc thiên bên này, lúc lại lệch bên khác, làm chậm quá trình phát triển chung của nền kinh tế
Trang 9+ Mối quan hệ trong cơ chế: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ" chưa được giải quyết hiệu quả trên thực tế, làm giảm hiệu lực quản lý kinh tế,
xã hội Mối quan hệ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và thị trường, nhất là về mặt lợi ích kinh tế, chưa được xử lý phù hợp, chưa phát huy được tính năng động của Nhà nước cũng như vai trò thúc đẩy của thị trường, đặc biệt là vai trò lực lượng xung kích của doanh nghiệp trong hội nhập kinh tế quốc tế, ngay cả khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
+ Thể chế kinh tế thị trường, kể cả hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước, mặc dù đã dần được hình thành, song còn chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở, làm méo mó quá trình vận hành của cơ chế thị trường Hiệu lực quản lý Nhà nước còn hạn chế, nhất là trong điều hành nền kinh tế còn nặng tính hành chính; phân định chức năng chưa rõ ràng Một mặt, có xu hướng buông lỏng chức năng của Nhà nước trong điều tiết kinh tế thị trường, mặt khác, lại duy trì quá lâu sự độc quyền trong một số lĩnh vực (nhiều trường hợp độc quyền nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp)
3.2.2 Về hành lang pháp lý
- Hệ thống pháp luật còn chưa đầy đủ, đồng bộ, thiếu ổn định, chưa minh bạch, chưa tạo được hành lang pháp lý thật sự thuận lợi, an toàn cho sự vận hành thông suốt và thống nhất của nền KTTT định hướng XHCN, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Một số quy định pháp luật còn
Trang 10chồng chéo, thậm chí trái ngược nhau gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện Năng lực thực thi pháp luật nhìn chung chưa cao
- Môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh ở nước ta vừa qua có được cải thiện thêm đáng kể Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), năm 2007 môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 13 bậc so với năm 2006 (xếp thứ 91/187 nước) Nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập, chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp vẫn thuộc loại cao so với các nước khác trong khu vực Xét về tổng thể, theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong mấy năm qua bị giảm sút liên tục
- Các yếu tố thị trường và các loại thị trường chức năng hình thành và phát triển còn chậm, thiếu đồng bộ Khung pháp luật về giá, về hợp đồng, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền chưa hoàn thiện Cơ sở hạ tầng, vật chất và kỹ thuật cho các thị trường chức năng còn lạc hậu Cấu trúc thị trường chưa đồng bộ, cơ chế vận hành chưa thông suốt, chưa kết nối tốt thị trường trong nước với thị trường quốc
tế Thể chế hỗ trợ phát triển và giám sát, điều tiết thị trường còn yếu Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, gian lận thương mại, làm hàng giả, hàng nhái, kinh doanh mất vệ sinh, thiếu an toàn, bất chấp môi trường sống bị đe dọa … khá phổ biến và chậm được khắc phục
3.2.3 Về chế độ sở hữu
Trang 11- Mặc dù chế độ đa sở hữu đã được khẳng định bằng luật pháp nhưng trong nhận thức và hành vi ứng xử của các cơ quan công quyền còn nhiều điều chưa nhất quán Quản lý, sử dụng đất đai, nhất là trong giải phóng mặt bằng còn nhiều vấn
đề vướng mắc, gây bức xúc, khiếu kiện trong dân Vấn đề sở hữu trong các DNNN chưa được xác định và và xử lý đúng đắn, gây cản trở không ít cho quá trình phát triển, làm thất thoát tài sản Nhà nước DN thuộc các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước ít nhiều vẫn còn bị phân biệt đối xử trong thực tế Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, vị trí then chốt của DNNN chưa được phát huy rõ nét và chưa có tính thuyết phục cao Kinh tế tập thể đổi mới chậm và chậm phát triển Kinh tế trang trại, kinh tế hộ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong quá trình phát triển
- Tổ chức và cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp chậm được đổi mới Chưa hình thành được cơ chế hiệu quả để huy động nguồn lực của Nhà nước và các thành phần kinh tế khác phát triển mạnh mẽ Chất lượng dịch vụ y tế giáo dục còn thấp, điều kiện tiếp cận dịch vụ này còn chênh lệch khá lớn giữa các vùng khác nhau
- Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế chưa cao Cơ cấu, tổ chức, cơ chế vận hành của Bộ máy nhà nước còn nhiều bất cập Sư phân công, phân cấp, phối kết hợp giữa các cấp, các ngành, các lĩnh vực trong quản lý kinh tế chưa đủ
rõ ràng, cụ thể chưa gắn đầy đủ quyền và trách nhiệm, chưa phù hợp với điều kiện vật chất, kỹ thuật và năng lực đội ngũ cán bộ, thiếu các cơ chế giám sát, đánh giá
có hiệu quả Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, chất lượng nguồn nhân lực nhìn
Trang 12chung chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới Sự tham gia của các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong quá trình hoạch định chính sách, thực hiện và giám sát, thực hiện chính sách còn yếu Tỷ lệ tham nhũng quan liêu còn nghiêm trọng, gây bất bình trong xã hội
- Doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước, được xác định là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, song còn nhiều doanh nghiệp chưa chủ động vươn lên, đổi mới công nghệ, quản lý, nâng cao sức cạnh tranh để đứng vững trong cạnh tranh hội nhập Vẫn còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước, trong lúc sức ép cắt giảm các khoản bảo hộ của nhà nước đang rất lớn trong khung khổ của WTO Thực tế nhiều giá cả như viễn thông, hàng không, điện lực, xăng dầu còn mang tính độc quyền đã ảnh hưởng đến sức cạnh tranh chung của nền kinh tế Thực trạng đầu tư chưa theo tín hiệu của thị trường còn phổ biến, nhiều dự án đầu tư vẫn theo chỉ định cấp phát, dấu ấn của mô hình kế hoạch hóa tập trung, tệ nạn "xin - cho" vẫn còn tồn tại
3.2.4 Về phân phối
- Phân bổ nguồn lực quốc gia không ít trường hợp vẫn còn mang nhiều dấu ấn của
cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp Các lĩnh vực xã hội, đặc biệt là giáo dục, y tế, văn hóa chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức và chậm đổi mới Năng suất và hiệu quả của DNNN cũng như các đơn vị sự nghiệp công chưa tương xứng với đầu tư của nhà nước Chính sách tiền lương còn nhiều khiếm khuyết,
Trang 13chưa cho phép cải thiện đời sống căn bản của người hưởng lương, chưa tạo động
cơ để thu hút và sử dụng người tài Hệ thống thuế thiếu đồng bộ và thiếu ổn định, chưa cho phép thực hiện tốt các chức năng điều tiết và bảo đảm công bằng xã hội, thúc đẩy đầu tư, đổi mới công nghệ, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Hệ thống quản lý giám sát phân phối thu nhập ở những lĩnh vực kinh doanh độc quyền còn nhiều yếu kém
- Khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng đang có nguy
cơ dãn rộng ra Tỷ lệ các hộ cận nghèo còn ở mức cao và nguy cơ tài nghèo lớn
Hệ thống an sinh xã hội vẫn đang ở mức sơ khai, chưa đáp ứng được yêu cầu của đông đảo các tầng lớp nhân dân Mức độ bao phủ của bảo hiểm xã hội đang còn thấp, cơ chế “đóng, hưởng” chưa được vận hành tốt Nhiều vấn đề bức xúc, bất cập về trật tự an toàn xã hội và bảo vệ môi trường chưa được giải quyết tốt
Phần 4: Phương hướng và nhiệm vụ cơ bản để thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở việt nam
Trang 14sự độc lập, tự chủ trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong
đó xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm
- Chúng ta khẳng định quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp vô cùng khó khăn và phức tạp nhưng nhất định chúng ta sẽ đi tới đích Đích chủ nghĩa xã hội và mục tiêu của cách mạng Việt Nam mà chúng ta hướng tới và thực hiện bằng được là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Quá trình thực hiện mục tiêu cao cả đó bao hàm nội dung trọng yếu là từng bước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
- Cho đến giai đoạn phát triển mới hiện nay, Đảng ta hình thành đường lối kinh tế là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa đất nước ta thành một nước công nghiệp Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Phát huy cao độ nội lực của cả dân tộc gắn với tận dụng mọi nguồn lực bên ngoài
và chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi liền từng bước với cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh Việc thực hiện thắng lợi