luận văn
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình học tập cũng như khóa luận tốt nghiệp Đại học của mình trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo đặc biệt là các thầy cô trong khoa Kế toán & QTKD, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
Tôi xin được cảm ơn cô giáo hướng dẫn Th.S Dương Thị Hoa – Giảng viên khoa Kế toán & QTKD - đã dành nhiều thời gian tâm huyết, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty TNHH công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam đặc biệt là các nhân viên phòng kinh doanh, phòng kế toán, phòng hành chính nhân sự đã giúp đỡ nhiệt tình trong thời gian tôi thực tập tại Công ty
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự quan tâm, động viên, giúp đỡ nhiệt tình của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 02 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tổng quan tài tiệu 4
2.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp 4
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Khung phân tích 30
2.2.2 Thu thập số liệu 31
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 33
Trang 33.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Ishigaki Rubber
Việt Nam 33
3.1.2 Hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của Công ty 34
3.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 38
3.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty 53
3.2 Kết quả nghiên cứu 56
3.2.1 Thực trạng về tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam 56
3.2.2 Thị trường tiêu thụ 63
3.2.3 Các hình thức, phương thức tiêu thụ của Công ty 67
3.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng 73
3.3 Giải pháp đề xuất 74
3.3.1 Đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam 74
3.3.2 Đề xuất một số giải pháp 77
PHẦN 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
4.1 Kết luận 91
4.2 Kiến nghị 92
4.2.1 Kiến nghị về chính sách nhà nước: 92
4.2.2 Kiến nghị với công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam 94
4.2.3 Kiến nghị với các địa phương: 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê giá 1 số loại cao su năm 2009 43
Bảng 3.2 Tình hình lao động của công ty 50
Bảng 3.3 Bảng tình hình tài sản của công ty 51
Bảng 3.4 Một số máy móc thiết bị chủ yếu 53
Bảng 3.5 Kết quả sản xuất kinh doanh 2009-2011 55
Bảng 3.6 Cơ cấu chủng loại mủ cao su 59
Bảng 3.7 Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su 63
Bảng 3.8 Kim ngạch xuất khẩu cao su của công ty 66
Bảng 3.9 Kim ngạch xuất khẩu hàng cao su theo phưong thức của Công ty 71
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức quản lý ở : Công ty TNHH Ishigaki Rubber 35
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Thống kê diện tích và năng suất khai thác thành viên ANRPC 40
Biểu đồ 3.2 Sản lượng cao su thế giới, gồm ANRPC và các nước khác 41
Biểu đồ 3.3 Sản lượng và mức tăng trưởng tiêu thụ cao su thiên nhiên toàn cầu 42
Biểu đồ 3.4 Giá cao su RSS kỳ hạn tại sàn Tocom – Tokyo 45
Biểu đồ 3.5 Tương quan giá dầu thô và gía cao su tự nhiên’ RSS3-sàn SICOM (Singapor) 45
Biểu đồ 3.6 Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng XKCS 47
Biểu đồ 3.7 48
Biểu đồ 3.8 Cơ cấu sản phẩm cao su xuất khẩu năm 2011 59
Biểu đồ 3.9 Diễn biến giá cao su SVR3L, SVR10 và SVR20 tháng 12/2011 63
Biểu đồ 3.10: Tỷ trọng phương thức tiêu thụ trong nước 69
Biểu đồ 3.11: Tỷ trọng hai hình thức xuất khẩu 72
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ANRPC Hiệp Hội các nước sản xuất Cao su
IRSG Tổ chức khảo cứu cao su thế giới
Trang 7cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Theo cơ chế này thì các doanh nghiệp được tự tìm thị trường tiêu thụ, hoạchtoán sản xuất cũng như các vấn đề liên quan đến mở rộng thị trường Do đó nếudoanh nghiệp nào làm ăn có lãi thì sẽ đứng vững trên thị trường, và ngược lạinếu doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ sẽ tự bị đào thải khỏi thị trường.
Khi các doanh nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường, muốn tồn tại vàphát triển buộc doanh nghiệp phải có một chiến lược sản xuất kinh doanh hợp
lý, phù hợp với năng lực sản xuất của doanh nghiệp và đảm bảo tính hiệu quảcũng như ổn định trên thị trường Một trong những chiến lược phát triển mà bất
kì doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải chú trọng đó chính làchiến lược về tiêu thụ sản phẩm Nếu doanh nghiệp không xác định được vấn đềtiêu thụ sản phầm một cách đúng đắn sẽ làm ảnh hưởng đến vấn đề tồn đọnghàng hóa, ảnh hưởng đến việc xoay vòng vốn của doanh nghiệp, từ đó sẽ dẫn tới
sự không hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Công việc đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm ngày càng trở nên cấp thiếthơn, đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của các cấp lãnh đạo, phòng ban làm công táctiêu thụ của doanh nghiệp Chỉ có vậy mới có thể giúp cho doanh nghiệp đứngvững trước sự cạnh tranh gay gắt khi thực hiện hội nhập kinh tế.Trong bối cảnhnhư trên, Công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam cũng không nằm ngoài xu
Trang 8hướng đó Việc phân tích thực trạng công tác tiêu thụ sản phẩm của Công tyTNHH Ishigaki Rubber Việt Nam là cần thiết giúp cho công ty có thể đứngvững trên thị trường, đưa ra những mục tiêu mới cho doanh nghiệp Nhận thứcđược tầm quan trọng của công tác tiêu thụ, kết quả tiêu thụ trong việc nâng caohiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuất, em
mạnh dạn chọn đề tài “Tìm hiểu tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty
TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam’’làm nội dung nghiên cứu của mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1 Mục tiêu chung.
Từ thực trạng tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH Ishigaki Rubber, đưa
ra một số biện pháp hoàn thiện hơn về tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHHIshigaki Rubber Việt Nam
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về tiêu thụ sản phẩm hàng hóa củadoanh nghiệp
Phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm của Công
ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam trong thời gian qua
Đề xuất một số biện pháp về tiêu thụ sản phẩm của công ty
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu những lý luận và thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp
- Chính sách sản phẩm của công ty, của đối thủ cạnh tranh, so sánh hiệuquả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 9- Báo cáo thực tế về tình hình kinh doanh của công ty.
- Khách hàng đã và đang sử dụng sản phẩm của công ty
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi không gian: Lô A 11-2 KCN Hà Nội – Đài Tư, Số 386 đường
Nguyễn Văn Linh, Quận Long Biên, TP Hà Nội
-Phạm vi thời gian: Các số liệu được thu thập và phân tích chủ yếu từ
2009 - 2012, Thời gian nghiên cứu đề tài từ ngày 15/09/2012 đến ngày15/12/2012
1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến
Báo cáo tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH Ishigaki RubberViệt Nam
Trang 10PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tài tiệu.
2.1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp.
2.1.1.1 Một số vấn đề chung về tiêu thụ sản phẩm.
*Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm:
Trong nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sản phẩm và doanh thu tiêu thụ sảnphẩm là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp Chỉ khi nào sản phẩm, hànghóa, dịch vụ đó được tiêu thụ, có doanh thu thì các chi phí mới được bù đắp,doanh nghiệp mới có lợi nhuận, từ đó duy trì và mở rộng hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình Vậy tiêu thụ sản phẩm là gì?
Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nối trung gian giữamột bên là sản phẩm sản xuất và phân phối với một bên là tiêu dùng Trong quátrình tuần hoàn các nguồn vật chất, việc mua và bán được thực hiện Giữa sảnxuất và tiêu dùng, nó quyết định bản chất của hoạt động lưu thông và thươngmại đầu vào, thương mại đầu ra của doanh nghiệp1 Việc chuẩn bị hàng hóa sảnxuất trong lưu thông Các nghiệp vụ sản xuất ở các khâu bao gồm: phân loại, lênnhãn hiệu sản phẩm, bao gói, chuẩn bị các lô hàng để bán và vận chuyển theoyêu cầu khách hàng Để thực hiện các quy trình liên quan đến giao nhận và sảnxuất sản phẩm hàng hóa đòi hỏi phải tổ chức hợp đồng ký kết lao động trực tiếp
ở các kho hàng và tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhucầu về mặt hàng về chủng loại sản phẩm của doanh nghiệp
1 Trần Minh Đạo( 2002) Marketing căn bản
Trang 11Như vậy, tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về tổ chức kinh tế
và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường Nó
bao gồm các hoạt động: Tạo nguồn, chuẩn bị hàng hóa, tổ chức mạng lướibán hàng, xúc tiến bán hàng cho đến các dịch vụ sau bán hàng
*Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ sản phẩm :
Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất thực hiện chức năng đưa sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùngnhằm thực hiện giá trị hàng hoá của một doanh nghiệp2 Đặc điểm lớn nhất củasản phẩm ở mỗi doanh nghiệp là nó được sản xuất ra và đem đi bán nhằm thựchiện các mục tiêu hiệu quả đã định trước, đó là:
-Thứ nhất: Mục tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận là mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanhnghiệp hạch toán kinh doanh Nó là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh
lợi nhuận = doanh thu - chi phí
Vì vậy, tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp Tiêuthụ sản phẩm tốt thì thu được nhiều lợi nhuận và ngược lại sản phẩm mà khôngtiêu thụ được hoặc tiêu thụ được ít thì lợi nhuận sẽ thấp, hoặc có thể hòa vốnhoặc lỗ
Thứ hai: Mục tiêu vị thế của doanh nghiệp:
Vị thế doanh nghiệp biểu hiện ở phần trăm doanh số hoặc số lượng hànghóa được bán ra so với toàn bộ thị trường Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyếtđịnh đến vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Tiêu thụ mạnh làm tăng vị thếcủa doanh nghiệp trên thị trường
Thứ ba: Mục tiêu an toàn:
2 Đặng Đình Đào( 2002) Thương mại doanh nghiệp
Trang 12Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Sản phẩm được sản xuất
ra để bán trên thị trường và thu hồi vốn để tái sản xuất, quá trình này phải đượcdiễn ra liên tục, có hiệu quả nhằm đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp Dovậy, thị trường bảo đảm sự an toàn trong sản xuất kinh doanh
Thứ tư: Đảm bảo tái sản xuất liên tục:
Quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: Sản xuất phân phối trao đổi tiêu dùng , nó diễn ra trôi chảy Tiêu thụ sản phẩm nằm trong khâu phân phối vàtrao đổi Nó là một bộ phận hữu cơ của quá trình tái sản xuất Do đó, thị trường có
-ý nghĩa quan trọng đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục, trôi chảy
Qua tiêu thụ sản phẩm chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
và kết thúc một vòng luân chuyển vốn Có tiêu thụ sản phẩm mới có vốn để tiếnhành tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn
Qua tiêu thụ tính hữu ích của sản phẩm mới được xác định hoàn toàn Cótiêu thụ được sản phẩm mới chứng tỏ được năng lực kinh doanh của công ty
Sau quá trình tiêu thụ công ty không những thu hồi được tổng số chi phí
có liên quan đến việc chế tạo và tiêu thụ sản phẩm mà còn thực hiện được giá trịlao động thặng dư Đây là nguồn quan trọng để tích luỹ vào ngân sách vào cácquỹ của xí nghiệp nhằm mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao đời sống vật chấtcho cán bộ công nhân viên
* Tầm quan trọng của việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tăng doanh thu đối với doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng kết thúc một chu kỳ sản xuất và
mở đầu cho một chu kỳ tiếp theo Chỉ có thông qua tiêu thụ sản phẩm, vốn củadoanh nghiệp mới được quay vòng và sinh lời Với số tiền thu được sau khi bánhàng doanh nghiệp có thể trang trải các chi phí nguyên vật liệu, máy móc thiết
Trang 13bị, trả tiền lương cho công nhân… Có như vậy quá trình tái sản xuất kỳ sau mớiđược tiếp tục thực hiện một cách thường xuyên và liên tục.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm phản ánh quy mô quá trình tái sản xuất củadoanh nghiệp, phản ánh trình độ chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tổ chức công tácthanh toán Nó là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp trang trải cáckhoản chi phí về công cụ lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quátrình sản xuất kinh doanh; có tiền để thanh toán tiền lương, tiền công, tiềnthưởng cho người lao động, trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; làm nghĩa vụđối với Nhà nước như nộp các khoản thuế theo luật định
Mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sản xuất ra các sảnphẩm đem ra tiêu thụ bên ngoài thị trường đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hộichứ không phải là tiêu dùng trong doanh nghiệp Qua tiêu thụ sản phẩm doanhnghiệp mới có thể tồn tại và phát triển được
Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, thực hiện doanh thu bán hàng đầy đủ và kịpthời góp phần làm tăng tốc độ luân chuyển vốn, rút ngắn kỳ thu tiền trung bình,giảm lượng tồn kho, tăng khả năng sinh lời của đồng vốn, là điều kiện để doanhnghiệp thực hiện tái sản xuất, đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, mở rộng quy
mô sản xuất, tạo nguồn tài chính tiềm năng cho doanh nghiệp để bù đắp chi phí và
để thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước, đảm bảo tình hình tài chính của công
ty lành mạnh, vững chắc đồng thời làm tăng uy tín cho công ty trên thị trường
Tiêu thụ là khâu cuối cùng để đồng vốn quay về hình thái giá trị ban đầu.Tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng, kịp thời góp phần tiết kiệm các khoản chi phíbán hàng, chi phí kho bãi, bảo quản… góp phần giảm giá thành sản phẩm, tănglợi nhuận Ngược lại, nếu công tác tiêu thụ sản phẩm diễn ra chậm chạp, yếukém sẽ kéo dài chu kỳ sản xuất làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả và gây
ra những thiệt hại to lớn như: mất thời cơ, cơ hội kinh doanh… thậm chí làmtoàn bộ quá trình đầu tư sản xuất trở nên vô ích, lãng phí
Trang 14Sản phẩm được tiêu thụ nghĩa là doanh nghiệp đã đi đúng hướng, từngbước thực hiện được mục tiêu của mình, chứng tỏ sản phẩm sản xuất và tiêu thụ
về mặt khối lượng, chất lượng, giá trị sử dụng, giá cả đã phù hợp với nhu cầu thịtrường Từ đó, doanh nghiệp có thể thâm nhập vào thị trường, nắm bắt nhu cầu,thị hiếu của người tiêu dùng, từng bước cạnh tranh để thấy và khẳng định chínhmình, qua đó hoạch định chiến lược, phát triển sản xuất kinh doanh với nhữngbước đi sáng tạo
Tổ chức quá trình tiêu thụ sản phẩm là rất quan trọng đối với việc xâydựng, thực hiện kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để từ đó đề ra những biện pháp
có hiệu quả nhằm thực hiện kế hoạch tài chính và các kế hoạch khác Trong quátrình này tính chủ động sáng tạo của doanh nghiệp ngày một nâng cao, nó gắnvới việc tính toán thời gian, mức sản lượng cần cung ứng với số tiền bỏ ra trongkinh doanh của doanh nghiệp và sự nhạy cảm của khách hàng
Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
Thị trường sản phẩm là một khâu vô cùng quan trọng đối với bất cứ mộtdoanh nghiệp sản xuất hay một doanh nghiệp thương mại nào Có thể nói sự tồntại của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào công tác tiêu thụ sản phẩm Hoạtđộng tiêu thụ sản phẩm chi phối các khâu nghiệp vụ khác Hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp đòi hỏi phải được diễn ra liên tục và nhịp nhàng, hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh được đánh giá bởi nhiều nhân tố, trong đó có tốc độquay vòng vốn mà tốc độ quay vòng của vốn lại phụ thuộc rất lớn vào tốc độtiêu thụ của sản phẩm do đó nếu như tiêu thụ sản phẩm tốt thì làm cho số ngàytrong một vòng quay của vốn giảm đi
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò thực hiện giá trị sản phẩm khisản xuất, doanh nghiệp phải bỏ vốn đầu tư vào nguyên vật liệu, máy móc trangthiết bị, nhiên liệu để sản xuất ra sản phẩm Như vậy là vốn tiền tệ của doanhnghiệp được tồn tại dưới dạng hàng hóa Khi sản phẩm được tiêu thụ, doanh
Trang 15nghiệp được thu hồi vốn đầu tư để tái sản xuất cho chu kỳ sau và có thể mở rộngsản xuất nhờ phần lợi nhuận thu được từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Thông qua vai trò lưu thông luân chuyển hàng hóa của hoạt động tiêu thụsản phẩm ta thấy được những yếu điểm để khắc phục, nâng cao, hoàn thiện quátrình sản xuất, tạo hiệu quả cao trong sản xuất Nếu cải thiện tốt công tác tiêuthụ sản phẩm, nghĩa là giảm chi phí khâu tiêu thụ đồng nghĩa với góp phần giảmchi phí của toàn bộ sản phẩm, nhờ đó sẽ tăng được lợi nhuận cho doanh nghiệp.Việc tổ chức hợp lý hóa khoa học quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ giảm tới mứctốt nhất các loại chi phí, góp phần làm giảm giá thành tới tay người tiêu dùng,nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường
Tiêu thụ sản phẩm góp phần củng cố vị trí, thế lực doanh nghiệp, nângcao uy tín của doanh nghiệp với khách hàng thông qua sản phẩm có chất lượngtốt, giá cả phải chăng, phương thức giao dịch mua bán thuận tiện, dịch vụ bánhàng tốt Thực hiện tốt các khâu của quá trình tiêu thụ giúp cho các doanhnghiệp có thể tiêu thụ được khối lượng sản phẩm lớn và lôi cuốn thêm kháchhàng, không ngừng mở rộng thị trường
Công tác tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường không đơn thuần làviệc đem sản phẩm bán ra thị trường mà là trước khi sản phẩm được người tiêudùng chấp nhận thì cần phải có sự nỗ lực cả về mặt trí tuệ lẫn sức lao động củangười cán bộ và công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm từ việc điều tra nhucầu thị hiếu người tiêu dùng, trang thiết bị máy móc hiện đại, dây chuyền côngnghệ tiên tiến đáp ứng được năng xuất và chất lượng sản phẩm, đào tạo ngườicông nhân có tay nghề cao rồi đến việc quảng cáo chào hàng, giới thiệu sảnphẩm, vận chuyển, tổ chức kênh phân phối, tổ chức đội ngũ nhân viên phục vụkhách hàng tận tình, có trình độ hiểu biết cần thiết để đáp ứng nhu cầu củakhách hàng
Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, làthước đo đánh giá độ tin cậy của người tiêu dùng đối với người sản xuất Qua
Trang 16hoạt động tiêu thụ sản phẩm, người tiêu dùng và người sản xuất gần gũi nhauhơn, tìm ra được cách đi đáp ứng nhu cầu tốt hơn và người sản xuất có lợi nhuậncao hơn.
Tóm lại: Tiêu thụ sản phẩm có một vai trò vô cùng quan trọng Nếu thựchiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm thì sẽ tạo uy tín cho doanh nghiệp, tạo cơ sởvững chắc để củng cố, mở rộng và phát triển thị trường cả trong nước và ngoàinước Nó tạo ra sự cân đối giữa cung và cầu trên thị trường trong nước, hạn chếhàng nhập khẩu, nâng cao uy tín hàng nội địa
* Yêu cầu đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm:
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạtđộng sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp sản xuất Hoạt động tiêu thụcủa doanh nghiệp có thuận lợi, có thu được hiệu quả thì vốn của doanh nghiệpmới được quay vòng nhanh, mới có hiệu quả, hoạt động sản xuất của doanhnghiệp mới có thể diễn ra một cách liên tục và đem lại lợi nhuận cho doanhnghiệp Do vậy, đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cũng cónhững yêu cầu cụ thể sau đây:
- Hoạt động tiêu thụ sản phẩm phải được tiến hành một cách nhanh nhất,thuận lợi nhất, an toàn và đảm bảo sự ổn định về số lượng và chất lượng sản phẩm
- Hoạt động tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo được tính lâu dài của mạnglưới tiêu thụ sản phẩm
- Đảm bảo tiêu thụ nhanh chóng sản phẩm và đảm bảo thời gian thu hồivốn nhanh nhất
- Đảm bảo uy tín và chất lượng của nhà sản xuất đối với người tiêu dùngthông qua các chính sách hậu mãi và tiếp thị sản phẩm
2.1.1.2 Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
* Nghiên cứu và dự báo thị trường
Trong kinh doanh muốn kinh doanh trên lĩnh vực nào thì ta phải tìm hiểu
rõ những yếu tố văn hoá, xã hội con người ở nơi mà trong đó diễn ra hoạt động
Trang 17sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu nhu cầu thị trường thực chất
là tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu sức mua của người tiêu dùng để xác định đâu là thịtrường trọng điểm đâu là thị trường tiềm năng của công ty Việc xác định này là
vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh bất kể doanh nghiệp đóhoạt động trong lĩnh vực nào Vì vậy nghiên cứu nhu cầu thị trường là khâu đầutiên của quá trình kinh doanh, đó là việc tìm kiếm và khai thác cơ hội kinhdoanh xuất hiện trên thị trường Mục đích của việc nghiên cứu nhu cầu thịtrường là xác định khả năng bán một loại mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàngtrên thị trường Nếu ta xác định thị trường quá hẹp thì có thể làm cho công ty bỏ
lỡ thời cơ kinh doanh Còn nếu ta xác định thị trường quá rộng thì sẽ làm chocác nỗ lực và tiềm năng của công ty bị lãng phí làm cho sản xuất kinh doanhkém hiệu quả Thị trường thích hợp với doanh nghiệp là thị trường phù hợp vớimục đích và khả năng của doanh nghiệp Do vậy việc nghiên cứu thị trường có ýnghĩa rất quan trọng đối với tiêu thụ sản phẩm
* Nội dung của việc nghiên cứu nhu cầu thị trường:
Phân tích cầu:nhằm xác định nhu cầu thực sự của thị trường về hàng hoá,
xu hướng biến động từng thời kì trong từng khu vực để thấy được đặc điểm củanhu cầu ở từng khu vực Trong đó phải nghiên cứu các vấn đề sau:
+ Khách hàng mà doanh nghiệp nhằm vào
+ Khu vực tiêu thụ
+ Sản phẩm thay thế
+ Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu
Phân tích tình hình cạnh tranh trên thị trường nhằm tìm hiểu rõ về các đốithủ cạnh tranh của mình hiện tại và tương lai bởi vì nó tác động rất lớn đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty Công ty cần chú ý tới việc nghiên cứucác đối thủ cạnh tranh của mình về số lượng, khả năng cung ứng, khả năng tàichính, kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụv v Cần phải nghiên cứu kỹ phản
Trang 18ứng của các đối thủ cạnh tranh trước các biện pháp về giá, quảng cáo khuyếnmại của công ty.
Phân tích mạng lưới tiêu thụ: nhằm đáp ứng, phục vụ khách hàng mộtcách tốt nhất Bên cạnh đó công ty cần nghiên cứu tổ chức mạng lưới tiêu thụsao cho phù hợp với điều kiện của mìnhnhằm đạt hiệu quả tốt nhất
*Phương pháp thu thập thông tin:
Thông tin được lấy từ: Báo, tạp chí, ấn phẩm, báo cáo Phương pháp nàythường áp dụng để nghiên cứu khái quát về thị trường, lập danh sách những thịtrường có triển vọng mà công ty cần tập trung khai thác
Nhược điểm: của phương pháp này là khó khăn trong việc lựa chọn thôngtin từ các nguồn khác nhau, thông tin có thể bị cũ, thông tin không chính xác,không đầy đủ, độ tin cậy không cao
Ưu điểm: Dễ thực hiện tiết kiệm chi phí
Thông tin sơ cấp thu được khi sử dụng một số phương pháp như: Quansát, thực nghiệm thăm dò, phỏng vấn Sau khi thu thập các thông tin cần thiếtcông ty cần phải tiến hành xử lý thông tin để loại bỏ những thông tin khôngquan trọng, chưa chính xác, không thuyết phục Trên cơ sở đó xây dựng phương
án kinh doanh có tính khả thi Trên cơ sở các phương án đưa ra doanh nghiệptiến hành đánh giá lựa chọn và quyết định phương án có hiệu quả nhất
Ý nghĩa của việc nghiên cứu thị trường:
+ Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, công ty nâng cao khả năng thích ứngvới thị trường của các sản phẩm do mình sản xuất ra và tiến hành tổ chức tiêuthụ sản phẩm hàng hoá mà thị trường đòi hỏi
+ Doanh nghiệp có thể dự đoán hàng hoá tiêu thụ trên thị trường
+ Thông qua nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được đối thủcạnh tranh, điểm mạnh, điểm yếu của họ
*Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh:
Trang 19Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quantâm đến các đối thủ cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh là người đang chiếm giữ mộtphần thị phần và giành giật một phần khách hàng của doanh nghiệp Do vậydoanh nghiệp cần phải tìm cách để nắm bắt, phân tích các thông tin về đối thủnhư: Chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách sản phẩm v.v từ đó cócác biện pháp phù hợp.
* Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm:
+ Chính sách sản phẩm:
Để có được chiến lược sản phẩm đúng đắn bên cạnh việc tìm hiểu các nhucầu về thị trường và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phảinghiên cứu kỹ chính sách sản phẩm hợp lý thì mới nâng cao được hiệu quả sảnxuất kinh doanh, hạn chế rủi ro tốt nhất Chính sách sản phẩm là nền móng choquá trình phát triển kinh doanh Bởi vì nếu chính sách sản phẩm không đảm bảomột sự tiêu thụ chắc chắn thì những hoạt động trên có thể bị thất bại
Khi nói đến chính sách sản phẩm thì cần phải phân tích chu kỳ sống củasản phẩm: Một chu kỳ sống của sản phẩm thông thường phải trải qua bốn giaiđoạn: Thâm nhập - tăng trưởng - chín muồi - suy thoái Chu kỳ sống của bất cứsản phẩm nào cũng gắn với một thị trường nhất định Bởi vì sản phẩm có thểđang ở giai đoạn suy thoái ở thị trường này nhưng có thể đang ở giai đoạn pháttriển của thi trường khác Việc nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm giúp công
ty hành động trong lĩnh vực tiếp thị một cách hiệu quả nhằm kéo dài hơn chu kỳsống của sản phẩm, tăng lợi nhuận mà một sản phẩm đem lại cho công ty toàn
bộ đời sống của nó
- Giai đoạn thâm nhập: Sản phẩm được đưa vào thi trường nhưng tiêu thụ
rất chậm do hàng hoá được ít người biết đến Chi phí cho một đơn vị sản phẩm
là rất lớn Trong giai đoạn này doanh nghiệp thường bị lỗ Nhiệm vụ của giaiđoạn này đối với doanh nghiệp là: giữ bí mật công nghệ, thiết bị, thiết lập cáckênh phân phối, thăm dò thị trường và tăng cường quảng cáo
Trang 20-Giai đoạn tăng trưởng: Khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng nhanh do thị
trường đã chấp nhận thị trường mới Chi phí tính cho một đơn vị sản phẩm giảmnhanh Việc mở rộng hay tấn công vào những phân đoạn mới của thị trường làtương đối thuận tiện Cần phải sử dụng các nguồn lực để:
+ Cải tiến chất lượng và phát triển mẫu mã mới
+ Khai thác các đoạn thị trường mới
Tìm kiếm các kênh tiêu thụ mới
- Giai đoạn bão hoà: Đây là giai đoạn kéo dài nhất nó được đặc trưng bởi
số lượng bán ra ổn định Ở cuối giai đoạn này khối lượng hàng hoá bán ra giảmdần Trong giai đoạn này thì chi phí kinh doanh tính cho một đơn vị sản phẩmthấp nhất, lãi tính cho một đơn vị sản phẩm cao nhất do khối lượng sản phẩmbán ra lớn nhất nên tổng lợi nhuận thu được lớn nhất Khi sản lượng tiêu thụ bịchững lại và giảm xuống, doanh nghiệp cần có ngay các biện pháp, chính sách
để khai thác thị trường ở giai đoạn tiếp sau
- Giai đoạn suy thoái: Có thể thấy đặc trưng của giai đoạn này là khối
lượng sản phẩm tiêu thụ giảm rất nhanh Nếu không giảm sản lượng sản xuất thìkhối lượng sản phẩm tồn kho lớn dần dẫn tới lợi nhuận giảm nhanh Nếu tìnhtrạng này kéo dài thì doanh nghiệp có thể bị thua lỗ nặng dẫn tới phá sản Doanhnghiệp cần phải tìm những biện pháp hữu hiệu để khắc phục như: cải tiến sảnphẩm, quảng cáo, chuẩn bị sẵn những sản phẩm thay thế để đảm bảo cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục
Nghiên cứu phân tích chu kỳ sống của sản phẩm hiểu biết tỷ mỷ vấn đềnày có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà kinh doanh Vì nó giúp cho các nhàkinh doanh hiểu biết được bản chất của vấn đề phát triển sản phẩm mới từ đótìm mọi cách nâng cao lợi nhuận giảm thiểu rủi ro
+ Chính sách giá cả:
Việc quy định mức giá bán cho một sản phẩm của doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh gọi là chính sách giá Việc định giá sản phẩm là một quyết dịnh quan
Trang 21trọng đối với doanh nghiệp vì giá cả sản phẩm luôn được coi là công cụ mạnh
mẽ hữu hiệu trong sự cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Xác định giá cả cho hàng hoá là một quá trình gồm 6 bước:
+ Bước 1: Công ty xác định mục tiêu hay những mục tiêu Marketing của
mình như: đảm bảo sống sót, tăng tối đa lợi nhuận trước mắt, giành vị trí dẫnđầu về thị phần hay chất lượng sản phẩm hàng hoá
+ Bước 2: Công ty xây dựng cho mình đồ thị đường cầu thể hiện số lượng
hàng hoá chắc chán sẽ bán được trên thị trường trong một khoảng thời gian cụthể theo các mức giá khác nhau
+ Bước 3: Công ty tính toán xem tổng chi phí của mình thay đổi như thế
nào khi mức sản xuất khác nhau
+ Bước 4: Công ty nghiên cứu mức giá của các đối thủ cạnh tranh để sử
dụng chúng làm căn cứ để xác định vị trí giá cả cho hàng hoá của mình
+ Bước 5: Công ty lựa chọn cho mình một trong những phương pháp hình
thành giá sau: chi phí bình quân cộng lãi, phân tích điều kiện hoà vốn và đảmbảo lợi nhuận mục tiêu, xác định giá căn cứ vào giá trị cảm nhận của hàng hoá,xác định giá trên cơ sở giá hiện hành
+ Bước 6: Công ty quyết định giá cuối cùng cho hàng hoá có lưu ý đến
sự chấp nhận về mặt tâm lý đối với sản phẩm đó và nhất thiết phải kiểm tra xemgiá đó có phù hợp với những mục tiêu của chính sách giá cả mà công ty đang thihành không và những người phân phối, những nhà kinh doanh, các đối thủ cạnhtranh, những người cung ứng, khách hàng có chấp nhận nó hay không
+ Chính sách giao tiếp khuyếch trương:
Đây cũng là một trong những chính sách quan trọng về tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp Mỗi khi có một sản phẩm mới ra đời, doanh nghiệp cần phải
có một chính sách khuyếch trương quảng cáo cho sản phẩm một cách có hiệuquả để sản phẩm có thể đến được nhu cầu tiêu dùng của người tiêu dùng Mộtsản phẩm có thể tiêu thụ một cách có hiệu quả là sản phẩm mang lại cho người
Trang 22tiêu dùng cảm giác quen thuộc và sẽ nghĩ ngay đến sản phẩm đó khi có nhu cầu
sử dụng Chính sách giao tiếp khuyếch trương sản phẩm chính là các chính sách
về giới thiệu, quảng cáo và tiếp thị sản phẩm đến với người tiêu dùng Do vậy,khi bất kì một sản phẩm mới nào bắt đầu được tung ra thị trường thì ngoài việcxây dựng các chính sách về giá, chính sách phân phối, chính sách về sản phẩm
để có thể cạnh tranh với các sản phẩm khác và tồn tại trên thị trường thì các nhàquản trị cũng cần phải xây dựng một chính sách giao tiếp khuyếch trương, tiếpthị, quảng cáo cho sản phẩm đến được với người tiêu dùng
+ Chính sách phân phối:
Phân phối là toàn bộ các công việc để đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ từnơi sản xuất đến người tiêu dùng có nhu cầu đảm bảo về chất lượng thời gian, sốlượng, chủng loại mà người tiêu dùng mong muốn
Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ các nhà sảnxuất đến người tiêu dùng, nhờ nó mà khắc phục được những ngăn cách dài vềthời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất
Với người tiêu dùng Do vậy mỗi doanh nghiệp cần phải tìm ra kênh phânphối hiệu quả nhất cho mình
+ Các loại kênh phân phối
Kênh trực tiếp: Đây là loại kênh phân phối mà qua đó người sản xuất bán
hàng trực tiếp cho người tiêu dùng không thông qua bất kỳ một trung gian nào.Khi sử dụng loại kênh này lợi nhuận của doanh nghiệp không bị chia sẻ cho cáctrung gian khác, mặt khác doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với kháchhàng do vậy có thể nắm bắt chính xác nhu cầu của người tiêu dùng cũng như sựthay đổi nhu cầu Tuy nhiên loại kênh này chỉ thích hợp với những đoạn thịtrường nhỏ khách hàng tập trung về mặt địa lý Còn khi thị trường của doanhnghiệp trải dài trên một địa bàn rộng lớn thì việc sử dụng loại kênh này gặpnhiều khó khăn do công ty phải duy trì một lượng lớn nhân viên bán hàng
Trang 23Kênh trực tiếp
+ Kênh gián tiếp: Đây là loại kênh mà giữa người sản xuất và người tiêu
dùng xuất hiện nhiều trung gian khác nhau làm nhiệm vụ đưa hàng hoá từ ngườisản xuất đến tay người tiêu dùng Trong loại kênh này hàng hoá của doanhnghiệp có thể được tiêu thụ với tốc độ nhanh hơn, khối lượng lớn hơn, và sảnphẩm được tiêu thụ trên một địa bàn rộng lớn hơn Việc sử dụng loại kênh này
có thể làm giảm một phần lợi nhuận của doanh nghiệp do phải chia sẻ với cáctrung gian khác Đối với các trung gian doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trongviệc kiểm soát hành vi của họ trong việc tiêu thụ sản phẩm do họ là những tổchức độc lập với doanh nghiệp Các thông tin về thị trường và thông tin phản hồicủa khách hàng về sản phẩm có thể không chính xác khi về đến doanh nghiệp dophải qua nhiều cấp trung gian Hoạt động của doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởngnếu giữa người tiêu dùng và các trung gian hoặc giữa trung gian và người sảnxuất sảy ra trục trặc Khi sử dụng các trung gian trong kênh phân phối, doanhnghiệp có thể giảm mức độ mạo hiểm khi thâm nhập một thị trường mới do cáctrung gian là những người am hiểu về khu vực thị trường mà họ phụ trách và họ
đã xây dựng được một mạng lưới phân phối
Kênh gián tiếp
Trong kênh gián tiếp người ta có thể chia ra làm các loại kênh có mức độdài ngắn khác nhau dựa vào số lượng các trung gian có trong kênh:
-Kênh một cấp: Đây là loại kênh ngắn nhất trong các kênh gián tiếp trong
kênh này chỉ xuất hiện một loại trung gian trong quá trình phân phối sản phẩm,
đó có thể là người bán lẻ trong kênh tiêu dùng các nhân, có thể là người phânphối công nghiệp hoặc đại lý trong kênh tiêu dùng công nghiệp
Trang 24-Kênh hai cấp: Trong kênh có thêm người bán buôn đối với kênh tiêu
dùng cá nhân, và có cả đại lý và người phân phối công nghiệp trong kênh tiêu dùngcông nghiệp Đối với hàng hoá tiêu dùng cá nhân, kênh này thường được dùng đốivới những hàng hoá có giá trị đơn vị thấp và thường được mua thường xuyên
-Kênh ba cấp: Loại kênh này thường chỉ được sử dụng đối với những
hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cá nhân Trong kênh này xuất hiện thêm ngườiđại lý bên cạnh người bán buôn và bán lẻ, kênh này được sử dụng khi có nhiềungười sản xuất nhỏ và nhiều người bán lẻ nhỏ, một đại lý được sử dụng để giúpphối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn
+ Kênh hỗn hợp
Thực chất đây là loại kênh được tạo nên khi doanh nghiệp sử dụng nhiềuloại kênh cùng một lúc để phân phối một hoặc nhiều sản phẩm trên một khu vựcthị trường hoặc nhiều khu vực thị trường khác nhau
Sự khác nhau giữa kênh tiêu thụ hàng công nghiệp và kênh tiêu thụ hàng hoá tiêu dùng cá nhân.
Trong vấn đề tổ chức kênh phân phối khi căn cứ vào sản phẩm và đốitượng tiêu dùng có thể phân thành kênh phân phối dùng cho tiêu dùng cá nhân
và kênh phân phối dùng cho tiêu dùng công nghiệp
Kênh tiêu dùng cá nhân là loại kênh mà sản phẩm chủ yếu phục vụ chonhu cầu tiêu dùng cá nhân Kênh này có đặc điểm là số lượng người mua lớn tuynhiên khối lượng trong mỗi lần mua nhỏ và thị trường trải dài trên một khu vựcrộng lớn Do vậy người sản xuất khó có điều kiện tổ chức mạng lưới bán hàngtrực tiếp của mình do giới hạn về khả năng tài chính do vậy họ phải sử dụngnhiều trung gian trong việc tiêu thụ sản phẩm Vì vậy đối với loại hàng hoá này
Doanh nghiệp
Nhà phân phối trung gian
Người tiêu dùng
Trang 25kênh phân phối chủ yếu là những kênh dài và sử dụng nhiều trung gian trongquá trình phân phối sản phẩm Điều này làm cho sản phẩm của người sản xuất
có thể tiếp cận nhiều loại khách hàng và tạo ra sự cạnh tranh giữa các trung giantrong việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Đối với kênh tiêu dùng công nghiệp: Sản phẩm lưu thông trong kênh nàychủ yếu dùng làm đầu vào cho quá trình sản xuất khác hoặc phục vụ cho nhữnghoạt động tiêu dùng mang tính công nghiệp Khách hàng trong kênh này thườngmua với khối lượng lớn trong mỗi lần mua và họ thường đã được xác định vềmặt địa lý Do vậy kênh phân phối cho loại sản phẩm này thường là kênh ngắn.Mặt khác đây là những sản phẩm có giá trị đơn vị cao do vậy nếu sử dụng kênhdài sẽ làm tăng chi phí và có thể gặp phải rủi ro trong vận chuyển và bảo quản…
2.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm:
N
h ó m n h â n t ố k h á ch q u a n :
+ Nhu cầu của thị trường:
Thị trường là nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển sản xuất kinhdoanh của mỗi doanh nghiệp Có thể nói, thị trường chính là môi trường sốngcủa các doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại nếu tách khỏi thịtrường, hoạt động trái với các quy luật phát triển của thị trường Tuy nhiên,doanh nghiệp chỉ có thể hoạt động dựa theo quy luật phát triển của thị trường màkhông thể điều chỉnh thị trường được, do vậy thị trường tiêu thụ chính là nhân tốkhách quan điều chỉnh trực tiếp, ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp Bất kì một doanh nghiệp nào khi đầu tư vào một loại sảnphẩm đều phải xét đến nhu cầu của thị trường để có những chính sách đầu tưhợp lí cho sản phẩm
+ Đối thủ cạnh tranh :
Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải quantâm đến các đối thủ cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh là người đang chiếm giữ mộtphần thị phần và giành giật một phần khách hàng của doanh nghiệp Do vậy
Trang 26doanh nghiệp cần phải tìm cách để nắm bắt, phân tích các thông tin về đối thủnhư: Chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách sản phẩm v.v từ đó cócác biện pháp phù hợp.
+ Các điều kiện tự nhiên, địa lí :
Các điều kiện địa lí, tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vậnchuyển và tiêu thụ sản phẩm Điều kiện tự nhiên, thiên nhiên sẽ quyết định chiphí vận chuyển của hàng hoá, do đó ảnh hưởng đến giá thành cuối cùng của sảnphẩm và sức cạnh tranh của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh Đồng thời,các điều kiện tự nhiên cũng sẽ làm cho chi phí quảng cáo và tiếp thị sản phẩmđến tay người tiêu dùng tăng lên do đó sẽ làm cho quy mô và hiệu quả của hoạtđộng tiếp thị sản phẩm sẽ giảm
Nhóm nhân tố chủ quan :
Những nguyên nhân thuộc về bản thân công ty ảnh hưởng đến tình hìnhtiêu thụ bao gồm : Giá, chất lượng sản phẩm, công tác tiếp cận thị trường, tổchức tiêu thụ.v.v
+ Giá cả sản phẩm
Nếu ta cố định các nhân tố khác lại thì giá bán sản phẩm ảnh hưởng trựctiếp tới doanh thu Trong cơ chế thị trường hiện nay, giá cả được hình thành tựphát trên thị trường theo sự thỏa thuận giữa người mua và người bán Do đó,doanh nghiệp có thể sử dụng giá cả như một công cụ hữu hiệu để đẩy mạnh tiêuthụ sản phẩm và tăng doanh thu cho doanh nghiệp Hiện nay, giá cả các sảnphẩm sản xuất ra ngoài một số loại có tính chất chiến lược do Nhà nước bảo hộ
và định giá (như điện, nước, xăng, dầu…) còn lại đại bộ phận giá cả các sảnphẩm hoàn toàn phụ thuộc vào việc thỏa thuận ký kết hợp đồng với người đặthàng, tùy thuộc vào cơ chế thị trường và quan hệ cung cầu trên thị trường Do
đó, doanh nghiệp phải tự tính toán để cân nhắc và định giá sao cho giá bán bùđắp được chi phí đã bỏ ra và đồng thời có được lợi nhuận để thực hiện tái sảnxuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng Tùy thuộc vào thị trường mà doanhnghiệp sẽ rơi vào một trong ba trạng thái sau: lãi, lỗ hay hòa vốn Điều đó phản
Trang 27ánh rất thực chất cơ chế giá trong cạnh tranh, hoàn toàn khác cơ chế giá áp đặthành chính.
+ Chất lượng sản phẩm: Ngày nay, trong các doanh nghiệp sản xuất, việcsản xuất luôn được gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm.Chất lượng sản phẩm ảnh hưởng hai lần tới doanh thu tiêu thụ sản phẩm Cụ thể:Chất lượng ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm do đó ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu(sản phẩm có phẩm cấp cao giá bán sẽ cao hơn) Do đó chất lượng là giá trị đượctạo thêm Mặt khác, chất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh tranh sắc bén, dễ dàng
đè bẹp mọi đối thủ, nhờ đó khối lượng sản phẩm tiêu thụ được sẽ tăng lên
Chất lượng sản phẩm không phải hoàn toàn do người sản xuất quyết định
mà còn do người tiêu dùng kiểm nghiệm Đó là hệ thống đặc tính nội tại của sảnphẩm đã được xác định bằng những thông số có thể đo hoặc so sánh phù hợp vớiđiều kiện hiện tại và thỏa mãn nhu cầu xã hội Chất lượng sản phẩm hàng hóakhông nhất thiết được thực hiện bằng trang thiết bị máy móc nên khi xem xétvấn đề này ta cần phải lưu ý tới mối quan hệ với những đặc tính khác trong cùngmột hệ thống sản xuất ra sản phẩm, nó được hình thành từ khi thiết kế, quá trìnhchế tạo, được khẳng định qua kiểm tra kỹ thuật và đem ra sử dụng
Tóm lại, chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việctạo uy tín của doanh nghiệp với khách hàng nó là sợi dây vô hình kết nối doanhnghiệp với khách hàng tạo điều kiện cho việc tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng,nhanh chóng và thuận lợi
Công tác tổ chức tiêu thụ: Bao gồm các khâu khác nhau từ việc thiết kếmạng lưới tiêu thụ, quảng cáo khuyến mại Nếu công tác tổ chức tiêu thụ khôngtốt sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ quá trình kinh doanh Và ngược lại nếu tổchức tốt thì công ty sẽ tiêu thụ nhiều sản phẩm hơn, doanh thu tăng, vòng quayvốn lưu động tăng, giảm chi phí dự trữ bảo quản Vì vậy công ty cần lựa chọn
tổ chức tiêu thụ sao cho phù hợp với đặc tính của sản phẩm và quy mô sản xuất.Bên cạnh đó công ty còn tổ chức các hoạt động hỗ trợ như: Quảng cáo, khuyến
Trang 28mại, dịch vụ sau bán hàng, hội họp để tạo dựng lòng tin của khách hàng đối vớicông ty3.
2.1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp:
* Lượng sản phẩm tiêu thụ:
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, lượng sản phẩm tiêu thụ lànhững sản phẩm đã xuất kho thành phẩm để giao cho khách hàng và đã nhậnđược tiền Xác định lượng sản phẩm trong năm phải căn cứ vào sản lượng sảnxuất của sản phẩm, hợp đồng kinh tế ký kết với khách hàng, nhu cầu thị trường,khả năng đổi mới phương thức thanh toán và tình hình tiêu thụ sản phẩm tiêuthụ của năm trước
Lượng sản phẩm tiêu thụ kỳ kế hoạch của doanh nghiệp được xác địnhtheo công thức
Q = Q - Q - Q Trong đó:
Q : Lượng sản phẩm dự kiến tiêu thụ kỳ kế hoạch
Q: Khối lượng sản phẩm sản xuất kỳ kế hoạch
Q : Lượng sản phẩm sản xuất tồn kho đầu kỳ
Q : Lượng sản phẩm sản xuất tồn kho cuối kỳ
* Doanh thu:
Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có khoản thu nhập lớn nhất và thườngxuyên là doanh thu bán hàng hoá và dịch vụ hay còn gọi là doanh số bán hàngcủa doanh nghiệp
Điều quan trọng đối với doanh nghiệp là bán được hàng hoá, thu hút đượcnhiều khách hàng và mở rộng được thị trường Sự đa dạng hoá hàng hoá và dịch
vụ cho phép mở rộng được nhu cầu của khách hàng, thoả mãn nhu cầu nhiều vẻ
3 Đỗ Thị Minh Nhâm
Trang 29và đa dạng của khách hàng, cho phép tăng được số lượng hàng hoá và dịch vụbán ra.
Doanh thu của doanh nghiệp được xác định theo công thức:
TR= Qi x Pi
TR: Doanh thu của doanh nghiệp
Qi: Khối lượng hàng hoá, dịch vụ i
Pi: Giá cả hàng hoá dịch vụ i
Doanh thu của doanh nghiệp phụ thuộc vào khối lượng hàng hoá và dịch
vụ bán ra và phụ thuộc vào gía cả hàng hoá và dịch vụ đó Trong cơ chế thịtrường nếu khối lượng hàng hoá dịch vụ bán ra càng nhiều thì giá cả hàng hoádịch vụ sẽ hạ xuống và ngược lại theo quy luật cung cầu Vì vậy đối với mỗi loạihàng hoá dịch vụ trên mỗi thị trường cần phải tính toán doanh thu biên (MR)bằng chi phí biên (MC)
MR= MC
Từ đó mới quyết định lượng cung hàng hoá và dịch vụ Khối lượng hànghoá dịch vụ bán ra của doanh nghiệp nhiều hay ít, giá cả cao hay thấp còn phụthuộc chủ yếu vào chất lượng hàng hoá nhu cầu của khách hàng dung lượng thịtrường, địa điểm bán hàng, phương thức phân phối và bán hàng
* Lợi nhuận và mức doanh lợi:
Lợi nhuận là mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh Đây chính là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh hiệu quả quá trìnhsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Lợi nhuận là phần dôi ra ngoài những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ratrong quá trình sản xuất kinh doanh
LN= TR- TC = (P - ATC)x Q
LN: Tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
TR: Tổng doanh thu bán hàng của doanh nghiệp
TC: Tổng chi phí của doanh nghiệp
Trang 30Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều cố gắng nhằm mục đích tối đahoá lợi nhuận Các doanh nghiệp chỉ đạt được lợi nhuận tối đa khi MR= MC.
Khi xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngoài giá trịtuyệt đối lợi nhuận ta còn sử dụng chỉ tiêu mức doanh lợi Có ba cách tính mứcdoanh lợi khác nhau
- Tính trên vốn kinh doanh:
Mức doanh lợi = Tổng lợi nhuận/ vốn kinh doanh
- Tính trên doanh số bán hàng thực hiện
Mức doanh lợi = Tổng lợi nhuận/ Doanh thu
- Tính trên chi phí kinh doanh
Mức doanh lợi = Tổng lợi nhuận /Tổng chi phí kinh doanh
Ngoài ra người ta thường có tính đến mức tăng trưởng hàng năm củadoanh lợi đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Mức tăng trưởng = Doanh lợi năm kế hoạch/ Doanh lợi năm gốc
* Năng suất lao động:
Năng suất lao động là một chỉ tiêu cơ bản của một doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh Năng suất lao động cao hay thấp là một yếu tố quyết định đến giáthành sản phẩm và đặc biệt nó có ảnh hưởng hai chiều đến công tác tiêu thụ sảnphẩm Năng suất lao động cao góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, từ đó cókhả năng hạ thấp giá bán sản phẩm trên thị trường và tạo điều kiện thuận lợi chocông tác tiêu thụ sản phẩm Việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện tốt có điềukiện để kích thích sản xuất phát triển, có những biện pháp động viên thực tế đếnsản xuất nhờ đó mà năng suất lao động được nâng cao
Năng suất lao động được xác định bằng số sản phẩm sản xuất ra trong mộtđơn vị thời gian của một cá nhân hay tập thể
Năng suất lao động của cá nhân= Q/T
Q: Là số lượng sản phẩm cá nhân sản xuất trong kỳ kế hoạch
T: Thời gian kỳ kế hoạch (1 tháng, 3 tháng)
Trang 31Năng suất lao động bình quân = Q/ Tx Số người lao động.
Q: Số lượng sản phẩm của đơn vị cả một dây truyền sản xuất trong kỳ kế hoạch.T: Thời gian kỳ kế hoạch
Số người lao động: Số người lao động thực tế của đơn vị
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và vốn lưu động:
Vốn cố định là một giá trị ứng ra để đầu tư vào các tài sản cố định nhằmphục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn này sẽ thamgia vào quá trình sản xuất và tiêu hao dần theo sự hao mòn của tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định là những kết quả mà doanh nghiệp đạtđược trong việc bảo toàn vốn cố định Bảo toàn vốn cố định là bảo toàn đượcnăng lực sản xuất của tài sản cố định Để thực hiện điều này, doanh nghiệp phảithực hiện quản lý chặt chẽ không để mất mát tài sản cố định, thực hiện đúng quychế sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa, mua sắm tài sản cố định nhằm duy trì và nângcao năng lực của tài sản cố định, đồng thời doanh nghiệp cần chủ động đổi mớitài sản cố định
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động vàtài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp đượctiến hành một cách thường xuyên và liên tục Vốn lưu động tham gia toàn bộ vàoquá trình sản xuất nó được thu hồi toàn bộ sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh
Vòng quay của vốn lưu động nhanh hay chậm hay nói cách khác một chu
kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dài hay ngắn thể hiện rõ hiệu suất củaquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và trực tiếp đánh giá hiệu quảcủa công tác tiêu thụ sản phẩm
2.1.1.5 Nội dung của phương pháp phân tích tình hình tiêu thụ:
* Phân tích chung tình hình tiêu thụ:
Phân tích chung tình hình tiêu thụ là xem xét đánh giá sự biến động củakhối lượng sản phẩm tiêu thụ xét ở toàn công ty và đối với từng mặt hàng đồng
Trang 32thời xem xét mối quan hệ cân đối giữa sản xuất và tiêu thụ để thấy khái quát tìnhhình tiêu thụ và những nguyên nhân ban đầu ảnh hưởng đến tình hình đó.
Sản phẩm của công ty chỉ được xem là tiêu thụ khi công ty xuất kho sảnphẩm gửi tiêu thụ và thu được tiền hoặc được khách hàng chấp nhận thanh toán
* Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu:
Phân tích tình hình thực hiện kế hoach tiêu thụ không chỉ dừng lại ở việcđánh giá tình hình tiêu thụ về mặt khối lượng sản phẩm mà còn phải tiếp tụcphân tích tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ những mặt hàng chủ yếu Bởi vìcông ty không thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu sẽ ảnh hưởngtình hình tài chính của công ty,tình hình sản xuất, kinh doanh làm giảm uy tíncủa công ty
Nguyên tắc phân tích là: Không lấy giá trị mặt hàng tiêu thụ vượt mức bùcho những mặt hàng không hoàn thành kế hoạch tiêu thụ
Trang 33các khu vực châu Âu, Bắc Mỹ Năm 2004, ngành cao su Việt Nam phát triểnvượt bậc, vươn tới vị trí thứ 4 chỉ sau Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia về giá trịxuất khẩu Ngành công nghiệp chế biến cao su cũng được xác định là một trongnhững ngành công nghiệp quan trọng nên Nhà nước đã có quy hoạch chungphát triển diện tích trồng cây cao su và đã có nhiều cố gắng đầu tư cho khâu chếbiến nguyên liệu phục vụ xuất khẩu cũng như cho sản xuất trong nước Nhữngnăm gần đây, thị trường cao su tự nhiên thế giới phát triển rất đa dạng và đặcbiệt là thị trường thế giới có nhiều biến động về nhu cầu nhập khẩu và giá cả.Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khá cao, ngành cao su đã có những đóng gópkhông nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa nói riêng và tăng trưởng kinh tếnói chung ở Việt Nam Năm 2010 cao su tăng trưởng đột biến, cả nước xuấtkhẩu 760.000 tấn cao su và lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vượtmốc 2 tỉ USD, đạt 2,3 tỉ USD) Năm 2011 xuất khẩu 780.000 tấn, nhưng giá trịxuất khẩu lại tăng vọt lên đến 3,2 tỷ USD Với kết quả đó, xuất khẩu cao su xếp
vị trí thứ 2 trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam, sau gạo Theo
dự báo trước đó của Hiệp hội Cao su Việt Nam, mức giá trị này có thể sẽ đạt tới3,7 tỷ USD, nếu giá xuất khẩu cao su không giảm sâu trong những tháng cuốinăm 20114
Tuy nhiên, sự phát triển của ngành cao su Việt Nam vẫn còn nhiều bấtcập: chất lượng và cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chưa phù hợp với yêu cầu của thịtrường thế giới, giá xuất khẩu thấp, chưa tạo lập được thị trường ổn định Mặtkhác, cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam còn chưa hợp
lý, còn lệ thuộc quá lớn vào các thị trường châu á Các khu vực thị trường khác
có sức mua lớn, giá bán cao và ổn định hơn như EU, Bắc Mỹ chưa chiếm được
tỷ trọng cao Công nghệ và trang thiết bị lạc hậu, trình độ quản lý kinh doanhcòn hạn chế Chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với phát triển sản xuất và xuấtkhẩu cao su tự nhiên còn nhiều bất cập Việc định hướng phát triển, phân công
4 www.thitruongcaosu.net
Trang 34và phối hợp giữa trồng và khai thác mủ cao su, công nghiệp chế biến mủ vàcông nghiệp sản xuất sản phẩm còn nhiều hạn chế Những tồn tại trên đây đãgây tác động không tốt tới phát triển sản xuất và xuất khẩu cao su tự nhên theohướng bền vững Những năm trước đây Việt Nam sản xuất cao su chủ yếu đểxuất khẩu Thị trường của chúng ta chủ yếu là Liên xô cũ và các nước Đông Âuanh em Từ sau năm 1990, chúng ta đã bắt đầu xuất khẩu cao su sang TrungQuốc, Singapore và Đài Loan Thừa hưởng và phát huy những yếu tố thị trường
đó, công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam cũng hướng mục tiêu của mìnhvào những khu vực thị trường đó
2.1.2.2 Cơ chế chính sách của nhà nước trong việc phát triển ngành cao su.
Thời gian gần đây, Nhà nước đã chú trọng tạo lập và hoàn thiện môitrường pháp lý và môi trường kinh doanh quốc tế để tạo điều kiện cho sự pháttriển mạnh mẽ xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu cao su, thể hiện trêncác mặt sau:
Hệ thống pháp luật và chính sách tương đối đồng bộ và nhất quán vớicác định chế của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã tham gia
Thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu trên cơ sở ban hành hàng loạtchính sách về ưu đãi đầu tư, ưu đãi xuất khẩu cho các dự án FDI5 khả thi đủđiều kiện xuất khẩu
Chủ trương mở cửa, hợp tác và phối hợp kinh tế quốc tế, tích cực triểnkhai đàm phán kí kết các hiệp ước, hiệp định song phương và đa phương vớicác nước trong khu vực và thế giới
Nhìn chung Chính phủ các quốc gia đã dành một sự quan tâm thỏa đángđối với ngành cao su thiên nhiên, đặc biệt là đối với khu vực cao su tiểu điềnthông qua các chương trình khuyến nông, kiểm soát chất lượng cao su và tiến
5 FDI: Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 35hành các hoạt động dịch vụ hổ trợ cho khu vực tiểu điền phát triển một cách cóhiệu quả
Chính phủ các quốc gia cũng rất quan tâm đến việc khuyến khích pháttriển các hợp tác xã và hiệp hội nông dân trong các vùng cao su để làm tốt cácdịch vụ đầu vào và đầu ra cho khu vực tiểu điền
Chính phủ ở các quốc gia hàng đầu về cao su thiên nhiên cũng thành lập
một bộ phận chuyên trách để nghiên cứu và phát triển cây cao su Bộ phậnchuyên trách này có chức năng quan trọng trong việc nghiên cứu thị trường vàsản phẩm cao su tiêu thụ trên thị trường thế giới, điều hòa việc buôn bán cao
su, dự thảo luật buôn bán cao su, kiểm soát chất lượng cao su tiêu thụ trên thịtrường, làm trọng tài xử lý những tranh chấp trong buôn bán, thông báo giá cao
su hàng ngày, tổ chức các hội thảo buôn bán cho giới tiểu chủ
- Việc thành lập các hiệp hội cao su thiên nhiên: Hầu hết tại các quốc
gia hàng đầu về cao su đều có sự tồn tại của hiệp hội cao su thiên nhiên Hiệphội quy tụ các thành viên trong ngành cao su như: Các đồn điền cao su, nhữngnhà sơ chế cao su, người buôn bán cao su, các nhà xuất khẩu cao su Hiệp hội
có các chức năng: Cung cấp các dịch vụ cho hội viên; Làm trung gian hòa giảigiữa chính quyền và hội viên; Giải quyết những vướng mắc trong buôn bán,sản xuất giữa các hội viên; Giải quyết những tranh chấp nếu có giữa các hộiviên và công nhân trong các nhà máy của của hội viên đó
Ở Việt Nam hiện nay khu vực cao su tiểu điền chiếm tỷ trọng nhỏ Vìvậy, trong tương lai đến năm 2015 với chủ trương khuyến khích của chính phủ,khu vực này sẽ phải phát triển mạnh và chiếm tỷ trọng khoảng 52% diện tíchtoàn ngành Nhà nước cũng đang quan tâm đến khu vực cao su tiểu điền vớicác chương trình khuyến nông, kiểm soát chất lượng cao su và tiến hành cáchoạt động dịch vụ hổ trợ
Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã có Hiệp hội cao su Việt Nam, ViệnNghiên cứu cao su Việt Nam Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cao su, cụ thể như sau:
Trang 36- Hiệp hội Cao su Việt Nam là một tổ chức tự nguyện có mục đích làphối hợp hoạt động hiệu quả và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Hội viên, thúcđẩy ngành cao su Việt Nam phát triển theo hướng bền vững và hợp tác quốc tế,góp phần cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường của Việt Nam.
- Viện nghiên cứu cao su Việt Nam: lưu trữ nguồn gen cao su quốc gia,nghiên cứu cải tiến giống cao su, địa phương hóa cơ cấu bộ giống cao su,nghiên cứu cải tiến các biện pháp kỹ thuật đồng bộ bao gồm: điều tra, khảo sát,phân hạng đất trồng cao su, biện pháp canh tác, chăm sóc, bảo vệ
- Quỹ bảo hiểm xuất khẩu cao su: hỗ trợ cho các thành viên của Quỹtrong năm xuất khẩu cao su bị lỗ do mặt hàng mới, thị trường mới, hoặc do giácao su giảm đột ngột, gặp rủi ro trong quá trình xuất khẩu do các nguyên nhânkhách quan Quỹ còn hỗ trợ một phần lãi suất vay vốn để tạm trữ cao su chờxuất khẩu, tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, cho hội viên vay ngắn
và trung hạn để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị công nghệchế biến cao su
Những chính sách này thực sự đã tạo điều kiện thuận lợi hơn trước rấtnhiều để các doanh nghiệp trong nước nói chung và công ty TNHH IshigakiRubber Việt Nam nói riêng có những cơ hội phát triển thị trường, và đượchưởng nhiều ưu đãi trong hoạt động xuất khẩu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khung phân tích
Trang 372.2.2 Thu thập số liệu.
2.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp.
Số liệu thứ cấp của đề tài được thu thập từ các nguồn sách báo, tạp chí,các trang web trên mạng internet, các nghiên cứu có liên quan cùng các thôngtin thứ cấp được lấy từ phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng hành chính củaCông ty Các thông tin này miêu tả quá trình hình thành, phát triển và tình hìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
2.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp.
Việc thu thập số liệu sơ cấp lại có phần đòi hỏi thời gian và công sức bỏ
ra là rất nhiều Để có một số liệu chính xác cần phải dựa vào tình hình hoạt động
Trang 38thực tế của công ty, xem xét mọi hoạt động từ khâu phụ đến các bước cuối cùngtạo nên sản phẩm Do đó công việc phải đòi hỏi trực tiếp làm việc tại công ty,trực tiếp sắp xếp, phân loại để có được số liệu một cách chính xác, đầy đủ để từ
đó giúp bộ máy doanh nghiệp hoạt động một cách trơn tru và thuận tiện hơn.Qua các số liệu sơ cấp cũng phần nào giúp cho công việc sắp xếp các kế hoạchdài hạn của công ty được đúng đắn, định hướng tốt hơn trong quá trình pháttriển sau này
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu.
2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh.
- Phương pháp thống kê mô tả : sử dụng các số tương đối và tuyệt đối thuthập được để phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công ty
- Phương pháp thống kê so sánh : dựa vào các số liệu thu thập tổng hợpđược, vận dụng các số tương đối, số bình quân tính toán các chỉ tiêu liên quanđến đề tài nhằm phân tích đánh giá thực trạng và xu hướng tiêu thụ sản phẩmcủa Công ty
2.2.3.2 Phương pháp so sánh
Áp dụng phương pháp so sánh: So sánh doanh thu thực tế tính theo giábán kế hoạch(hoặc giá cố định) với doanh thu kế hoạch tính theo giá bán kếhoạch(hoặc giá cố định) về cả số tuyệt đối lẫn số tương đối
Tỷ lệ hoàn ( Khối lượng tiêu thụTT x giáTT)
thành kế hoạch =
tiêu thụ chung (Khối lượng tiêu thụKH x giá KH)
So sánh khối lượng sản phẩm tiêu thụ thực tế với kế hoạch và năm trướccủa từng loại sản phẩm , đồng thời so sánh tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tiêu thụvới tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất sản phẩm hàng hoá
Trang 39PHẦN 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu.
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam.
Tên gọi: Công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam.
Trụ sở giao dịch: : Lô A 11-2 KCN Hà Nội – Đài Tư, Số 386 đường
Nguyễn Văn Linh, Quận Long Biên, TP Hà Nội
Điện thoại : 043.8759655
Mã số thuế: 0102348607
*Quá trình hình thành công ty:
Tọa lạc trên khu đất hơn 3,000 m2 tại Khu công nghiệp Đài Tư- HàNội Công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam được thành lập từ tháng 07 năm
2007 với thế mạnh chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu cao su và sảnxuất, gia công các vật liệu cao su dùng trong ô tô, xe máy, bơm hơi, màn hìnhtinh thể lỏng, các sản phẩm điện…
Thương hiệu:
Qua thời gian hoạt Công ty TNHH Ishigaki Rubber Việt Nam khôngngừng đầu tư mới về cả chiều rộng và chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng sảnphẩm và năng lực sản xuất Đội ngũ nhân lực với hàng trăm công nhân, kỹ sư,nhân viên lành nghề, nhiều kinh nghiệm Cùng với trang thiết bị kỹ thuật hiệnđại, công ty ngày càng được nhiều khách hàng tín nhiệm
Với phương châm kinh doanh: “ Chúng ta sẽ xây dựng một công ty đáng
tự hào bằng cách đạo tạo những con người đáng tự hào khi cung cấp những sản phẩm tốt đáng để tự hào” – Ishigaki Rubber Việt Nam.
Trang 403.1.2 Hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của Công ty
+ Bảo đảm an toàn và bổ sung trên cơ sở tự tạo nguồn vốn, bảo đảm tựchủ về tài chính, sử dụng hợp lý, theo đúng chế độ, sự dụng có hiệu quả cácnguồn vốn, làm trọn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước
+ Nghiên cứu tình hình thị trường, và nâng cao vị thế của công ty trênthị trường trong nước và quốc tế
+ Mua sắm, xây dựng bổ sung và thờng xuyên cải tiến, hoàn thiện, nângcấp các phơng tiện của công ty
+ Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quản lý tài chính, tài sản, các chế độ,chính sách cán bộ và quyền lợi của ngời lao động theo cơ chế tự chủ, gắn việctrả công với hiệu quả lao động, chăm lo đời sống, chăm lo bồi dưỡng nâng caotrình độ quản lý, nghiệp vụ chuyên môn, ngoại ngữ cho các cán bộ, công nhânviên của công ty để đáp ứng đợc yêu cầu, nhiệm vụ kinh doanh ngày càng cao
+ Tổ chức quản lý, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của các đơn vị phòngban, nhân viên trong công ty nhằm phát huy cao nhất hiệu quả kinh doanh củacông ty