Các hình thức ký sinhHình thức ký sinh thường xuyên lại chia ra hai loại: - Ký sinh thường xuyên, giai đoạn: Chỉ một hay vài giai đoạn nhất định trong QT PT của KST là sống ký sinh.. Như
Trang 13 Các hình thức ký sinh
Hình thức ký sinh thường xuyên lại chia ra hai loại:
- Ký sinh thường xuyên, giai đoạn: Chỉ một hay vài giai đoạn nhất
định trong QT PT của KST là sống ký sinh Những giai đoạn khác
còn lại trong cuộc đời của chúng lại sống tự do Như vậy những KST này có giai đoạn sống ký sinh, có giai đoạn sống tự do như: Giống
giáp xác Sinergasilus, giai đoạn ấu trùng sống tự do, giai đoạn
trưởng thành ký sinh trên mang của nhiều loài cá Hoặc KST thuộc
lớp sán lá đơn chủ (Monogenea), giai đoạn ấu trùng có tiêm mao
sống tự do trong nước, giai đoạn trưởng thành sống ký sinh trên da,
mang cá
- Ký sinh thường xuyên, vĩnh viễn: trong suốt chu kỳ sống, KST đều
sống ký sinh, nó có thể ký sinh trên một vật chủ hoặc nhiều vật chủ,
nhưng không có giai đoạn sống tự do Do vậy, KST sẽ bị chết nếu
trong MT không có ký chủ
Tiên mao trùng (Trypanosoma spp.) KS trong máu cá là đại diện
cho nhóm KST có hình thức ký sinh thường xuyên, vĩnh viễn có thay đổi ật hủ
Trang 23 Các hình thức ký sinh
3.2 Căn cứ vào vị trí ký sinh
Trang 33 Các hình thức ký sinh
3.2 Căn cứ vào vị trí ký sinh
Hình thức ký sinh cấp II (siêu ký sinh)
Ngoài 2 hình thức KS trên còn có hiện tượng KS cấp hai (hay còn gọi là siêu KS), bản thân KST có thể làm vật chủ của KST khác
Sán lá đơn chủ Gyrodactylus sp KS trên cá, nhưng nguyên sinh động vật Trichodina sp lại KS trên sán lá đơn chủ đó
Như vậy sán lá đơn chủ Gyrodactylus là vật chủ của
Trichodina nhưng lại KST của cá
Tương tự như trùng mỏ neo Lernaea KS trên cá, nguyên sinh động vật Zoothamnium sp lại KS trên trùng mỏ neo Lernaea
Ấu trùng của giun tròn Spironoura babei (Hà Ký), KS trong ruột tịt của sán lá Amurotrema dombrowskajae Achmerov,
giun tròn và sán lá đều KS trong ruột của cá bỗng
(Spinibarbichthys denticulatus)
Trang 44 Nguồn gốc của sinh vật sống ký sinh
KSTcó nguồn gốc là các sinh vật sống tự do, chúng chuyển từ đời
sống tự do sang đời sống KS bằng một số con đường sau:
Do sự quen dần của mối quan hệ dinh dưỡng
- Sinh vật sống luôn có mối quan hệ chặt chẽ với MT vô sinh và
hữu sinh xung quanh nó Trong mối quan hệ đó, có thể đến một
ngày, 1 sinh vật sống tự do có thể chuyển dần sang đời sống hội sinh, rồi sang KS do sự quen dần của mối quan hệ dinh dưỡng
- Giống giun tròn Temnocephala spp bản chất là sinh vật sống tự
do trong nước, sau nhiều thế hệ, chúng ngẫu nhiên chuyển sang sống hội sinh trên bề mặt mai của 1 loài cua cho tiện di chuyển
trong nước để lấy thức ăn từ môi trường ngoài Nhưng sau nhiều thế hệ trôi qua, giun tròn xuất hiện một màng sinh học để thẩm thấu dinh dưỡng từ cua, khi quan hệ dinh dưỡng này được thiết lập, thì quan hệ dinh dưỡng giữa giun và môi trường lỏng lẻo dần và cuối cùng chấm dứt Khi đó, giun đã chuyển sang đời sống KS Phương thức sống KS này được hình thành thường do ngẫu nhiên lặp đi lặp lại nhiều lần từ KS giả rồi đến KS thật, từ hội sinh đến KS
Trang 5 Do sự quen dần của hiện tượng rơi ngẫu nhiên vào ruột của một
cơ thể khác.
- Hiện tượng này cứ lặp đi lặp lại nhiều lần đối với 1 giống, 1 loài, thì bản thân sinh vật này phải có những biến dị, thích nghi để tồn tại trong MT mới (trong ruột một sinh vật khác) để có thể duy trì nòi giống Từ vị trí ký sinh là ruột, KST này có thể chuyển sang KS ở các nội quan khác
- Tổ tiên của sinh vật KS trải qua một quá trình lâu dài để thích nghi với hoàn cảnh MT mới, về hình thái cấu tạo và đặc tính sinh lý, sinh hoá của cơ thể có sự biến đổi lớn, 1 số cơ quan trong cơ thể không cần dùng đến thì thoái hoá hoặc tiêu giảm như cơ quan cảm giác, cơ quan vận động Ngược lại, những cơ quan cần đảm bảo sự tồn tại của sinh vật trong MT mới và duy trì nòi giống thì phát triển mạnh như cơ quan bám, cơ quan sinh dục Một số đặc tính sinh học mới được hình thành và dần dần ổn định và di truyền cho đời sau Qua nhiều thế hệ, cấu tạo cơ thể càng thể hiện sự thích ghi với đời sống
KS sâu sắc hơn