1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH GIA LAI - HIỆN TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CHUYỂN DỊCH" pdf

10 397 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 278,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Băi viết năy nhằm xem xĩt, đânh giâ tổng quan về hiện trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, suy ngẫm vă góp thím một câch nhìn về phương hướng cơ bản cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông n

Trang 1

CƠ CẤU KINH TẾ NGĂNH NÔNG NGHIỆP

TỈNH GIA LAI - HIỆN TRẠNG VĂ PHƯƠNG HƯỚNG

CHUYỂN DỊCH

THE AGRICULTURAL ECONOMIC DEVELOPMENT

OF GIA LAI PROVINCE – CURRENT SITUATION AND ORIENTATION

NGUYỄN HỒNG CỬ

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đă Nẵng

TÓM TẮT

Trong sự phât triển kinh tế nói chung vă phât triển kinh tế nông nghiệp nói riíng, Gia Lai cũng như câc tỉnh khu vực Tđy Nguyín đang đứng trước một thực tế lă thiếu một sự ổn định cần thiết Một trong những nguyín nhđn rất cơ bản của tình hình trín lă sự lạc hậu về trình độ sản xuất vă sự bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp mặc dù đê bước đầu được điều chỉnh

Rõ răng lă sự lạc hậu tương đối của Gia Lai so với câc tỉnh, thănh khâc; sự bất ổn định về kinh tế, chính trị xê hội cho thấy cần phải có sự tính toân lại cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo một hướng có hiệu quả hơn Băi viết năy nhằm xem xĩt, đânh giâ tổng quan về hiện trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, suy ngẫm vă góp thím một câch nhìn về phương hướng cơ bản cho

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Gia Lai, một tỉnh mă sản xuất nông nghiệp có lợi thế vă đang lă ngănh kinh tế chủ yếu

ABSTRACT

In the economic development in general and the agricultural economic development in particular, Gia Lai as well as other provinces of Western Highlands is facing with a necessary stability One of the basic causes of such a situation is the backward level of production and the unreasonable structure agricultural economy in spite of initial adjustments Obviously, the backwardness of Gia Lai compared with other provinces, the economic, political and social instability indicate that we need to re-organize the structure of agricultural economy in an effective way This article focuses on considering and evaluating the current economic situation, and providing a view on the basic orientation for the agricultural economic change in Gia Lai, where agricultural production is an advantage and a major economic field

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý, có hiệu quả cao là một trong những nội dung trọng yếu của quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá ở nước ta Sự lạc hậu của cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng đang là một trong những cản trở lớn đối với sự phát triển của nhiều địa phương Chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHX; gắn liền với quá trình phát triển của LLSX trong nông nghiệp; sự chuyển biến của nền kinh tế trong thời kỳ CNH, HĐH; tác động của quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá tất yếu dẫn đến sự chiều chỉnh về cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nói riêng là một yêu cầu khách quan, là con đường để khai thác triệt để những lợi thế về tài nguyên, lao động, đáp ứng những nhu cầu cấp bách về an ninh lương thực, nhu cầu nguyên liệu cho CNH, góp phần tích luỹ vốn, tạo thị trường cho công nghiệp

Trang 2

và là cơ sở để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, đang là một trong những vấn đề nóng của Gia Lai và Tây Nguyên Nếu

so sánh với giai đoạn trước đây, ngành kinh tế nông nghiệp của Gia Lai đã có những thay đổi lớn lao cả về khả năng sản xuất và cơ cấu nhưng dường như sự thay đổi đó vẫn tiềm ẩn một sự thiếu bền vững và kém hiệu quả Vấn đề đặt ra là cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp hiện nay đang vận động theo xu hướng nào? Xu hướng ấy có phù hợp hay không? Cần định hướng và tiếp tục điều chỉnh như thế nào để hướng tới một cơ cấu có hiệu quả cao

1 THỰC TRẠNG CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP GIA LAI

Gia Lai là một tỉnh nằm ở phía Bắc Tây Nguyên với diện tích tự nhiên là 15.495,71km2, diện tích đất nông nghiệp là 338.203 ha, trong đó chiếm tới 33% đất đỏ bazan thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp Tổng diện tích rừng là 757.675 ha với nhiều loại lâm đặc sản Nguồn nước dồi dào với các hệ thống sông Ba, Sê San, Sêrêpôk, Biển Hồ, các công trình thuỷ điện Ialy, Ayun Hạ Nhìn chung, tài nguyên đất đai, nguồn nước, khí hậu, hệ thống động, thực vật cho phép Gia Lai có thể phát triển một nền nông nghiệp khá toàn diện Trong những năm qua, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ yếu của Gia Lai Với việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế: đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; chương trình 135, 327; chính sách định canh, định cư nông nghiệp đã có những bước phát triển mới Trình độ phát triển, năng suất, sản lượng nông nghiệp đã tăng lên đáng kể,

cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển đổi theo hướng tích cực Tuy vậy, những kết quả trên chưa đủ sức để đưa Gia Lai thoát khỏi tình trạng chậm phát triển Có thể thấy điều này ở một số chỉ tiêu so sánh sau đây:

So sánh một số chỉ tiêu của Gia Lai với mức trung bình

của khu vực Tây Nguyên và cả nước (năm 2000) [1]

Chỉ tiêu Đơn vị Gia Lai Tây Nguyên Cả

nước

1 GDP/người 1000 đ 2.765 3.196 5.736

2 Giá trị xuất

khẩu/ng

USD/

người

61,5 113,7 183

3 SL lương thực quy

thóc

Kg/ người 235,7 298 453

5 Số máy điện

thoại/100 dân

6 Số bác sĩ/ 1 vạn

dân

BS/ 1vạn dân

Để xem xét cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp trước hết chúng ta hãy xem xét cơ cấu kinh tế của tỉnh Cơ cấu kinh tế của Gia Lai nhìn chung vẫn là một cơ cấu lạc hậu, mang nặng tính chất của một nền kinh tế thuần nông So với

cơ cấu kinh tế chung của cả nước, nông nghiệp Gia Lai còn

Trang 3

chiếm tỷ lệ quá cao so với công nghiệp và dịch vụ Điều này cho thấy trước mắt và kể cả lâu dài, nông nghiệp vẫn là ngành số một của tỉnh

Cơ cấu kinh tế của tỉnh Gia Lai (1994 - 2003) [2]

Đơn vị tính: %

Cơ cấu 1994 1996 2000 2002 2003

Nông nghiệp 58,3 51,8 57,9 55,7 53,9 Công nghiệp 12,8 22,2 19,6 17,7 20,6

Bảng số liệu trên cho thấy trong 10 năm qua nông nghiệp vẫn là ngành chiếm chủ yếu Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp nhưng tốc độ tương đối chậm và còn khá xa

so với mục tiêu của tỉnh là giảm tỷ trọng của nông nghiệp xuống còn khoảng 42% vào năm 2010 Đáng chú ý là tỷ trọng của ngành công nghiệp có xu hướng tăng nhưng không ổn định trong khi đó tỷ trọng ngành dịch vụ lại giảm, điều này cho thấy rõ những ảnh hưởng của nền kinh tế tự cung, tự cấp còn khá cao

Thực trạng cơ cấu ngành nông nghiệp Gia Lai hiện nay như thế nào? Trước hết chúng ta xem xét bảng số liệu sau:

Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông nghiệp [2]

GTSX (Tr.đ) %

GTSX (Tr.đ) %

GTSX (Tr.đ) %

Toàn ngành 1.272.960 100 3.144.93

2

100 4.063.29

6

100

Nông nghiệp 1.147.473 90,14 3.035.04

9

96,50 3.926.53

6

96,63 Lâm nghiệp 123.887 9,74 108.121 3,44 133.923 3,30 Thuỷ sản 1.600 0,12 1.762 0,06 2.837 0,07

Tình hình trên cho thấy giá trị sản xuất của nông - lâm -

thuỷ sản đều tăng qua các năm, trong đó nông nghiệp tăng bình quân hàng năm khoảng 3,45%, lâm nghiệp tăng bình quân 0,02%, thuỷ sản tăng bình quân 1,10% Tốc độ tăng trưởng này là khá chậm so với mức bình quân của cả nước Tuy nhiên xét về cơ cấu, nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất cao và vẫn có xu hướng tăng lên trong khi đó tỷ trọng của lâm nghiệp và thuỷ sản có xu hướng giảm mạnh Cơ cấu này phản ánh sự lạc lậu của nông nghiệp và mất cân đối nếu so sánh với tiềm năng lâm nghiệp của Gia Lai Có nhiều nguyên nhân khách quan của tình hình trên như chính sách đóng cửa rừng, giảm sản lượng khai thác gỗ, sự biến động liên tục với biên độ cao của giá cả các mặt hàng nông sản chủ yếu nhưng cơ bản vẫn là do tăng quá nhanh diện tích trồng cà phê một cách tự phát làm cho diện tích rừng bị thu hẹp, trình độ sản xuất nông nghiệp còn yếu kém, độc canh Mặt khác, công tác điều hành chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương chưa đi sát với mục tiêu chuyển dịch, thiếu linh hoạt, còn nhiều hạn

Trang 4

chế và lúng túng Dưới đây chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích

cơ cấu của các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp

* Cơ cấu ngành nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi)

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi Trong tổng thu từ nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn là ngành chủ yếu, chăn nuôi chỉ chiếm tỷ lệ thấp

Cơ cấu giá trị trồng trọt và chăn nuôi [2]

1994 1996 2000 2002 2003 GTSX nông nghiệp

(Tr.đ)

771.282 1.147.4

73

3.033.0

49

3.509.0

39

3.926.3

56

Trồng trọt (%) 79,20 84,80 93,30 93,60 94,40 Chăn nuôi (%) 20,80 15,20 6,70 6,40 5,60

Như vậy trong 10 năm, từ 1994 đến 2003 tỷ trọng của ngành trồng trọt không ngừng tăng nhanh và tương ứng là sự giảm mạnh tỷ trọng của ngành chăn nuôi Sự biến đổi tương quan tỷ lệ trên là bất hợp lý với xu hướng phát triển tiến bộ của nông nghiệp, nhất là trong điều kiện Gia Lai là tỉnh có khả năng dồi dào về đồng cỏ, nguyên liệu và công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm Chăn nuôi rõ ràng là chưa được nhận thức là một lĩnh vực quan trọng, cần phải đầu tư phát triển thành một trong những lĩnh vực sản xuất hàng hoá chủ yếu

Trong nội bộ ngành trồng trọt, trong thời gian qua, diện

tích, sản lượng và giá trị sản xuất đều tăng nhanh Chỉ riêng diện tích cây trồng đã tăng từ 157.448 ha năm 1994 lên 338.203

ha năm 2003, gấp 2,15 lần Cơ cấu cây trồng đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực: diện tích cây hàng năm từ 75,9% năm 1994 đã giảm xuống 54,5% năm 2003, trong khi đó diện tích cây lâu năm cùng thời kỳ đã tăng từ 24,1% lên 45,5%.[3]

Trong cơ cấu cây trồng hàng năm, diện tích ngô, sắn, lúa

nước đều tăng nhanh, gần gấp đôi thời kỳ 1994, chiếm 38% diện tích gieo trồng Cần thấy rõ rằng, Gia Lai không có thế mạnh về trồng lúa do đó chỉ nên nên tập trung vào ngô lai, sắn, chỉ duy trì trồng lúa nước ở nhưng nơi có điều kiện thuận lợi, có khả năng thuỷ lợi tốt, đồng thời giảm và tiến tới xoá bỏ diện tích trồng lúa cạn, năng suất thấp và bấp bênh Từ 1995 tới nay bình quân mỗi năm đã giảm khoảng 1.625 ha lúa cạn Cùng với việc đưa các giống cây trồng mới, áp dụng kỹ thuật mới vào canh tác, năng suất, sản lượng cây trồng đã tăng lên đáng kể (ví dụ lúa năng suất tăng 31%, sản lượng tăng 59%; ngô lai năng suất tăng 136%, sản lượng tăng 753% so với năm 1995[3] Kết quả trên góp phần quan trọng cho việc đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ, tăng nguồn nông sản hàng hoá và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

Cây công nghiệp ngắn ngày của Gia Lai trước đây vẫn tập trung chủ yếu là mía với diện tích canh tác khoảng 15.543 ha, tăng gấp 4,3 lần năm 1994 Gần đây, tỉnh đã đưa thêm một số loại cây trồng mới như bông, dứa Cayen nhằm đa dạng hoá cây trồng, thay thế các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế

Trang 5

thấp sang các loại cây trồng có hiệu quả cao hơn Đây là một hướng đi đúng tuy nhiên do giá cả chưa ổn định, thiếu biện pháp cần thiết để thúc đẩy nên kết quả còn hạn chế Diện tích bông mới chỉ đạt hơn 5000 ha, dứa 180 ha

Trong cơ cấu cây trồng lâu năm, cà phê là cây công nghiệp

có giá trị hàng hoá lớn, có lợi thế so sánh của tỉnh Diện tích cà phê năm 1994 mới chỉ là 8.295 ha đã tăng lên 81.037 ha năm 2000, gấp gần 10 lần, chiếm tới 24% diện tích gieo trồng [4] Tuy nhiên phần lớn diện tích nói trên lại là trồng cà phê vối (95%) vì vậy hiệu quả kinh tế không cao Trong nhiều năm liền, giá cà phê giảm mạnh, thị trường không ổn định nên việc trồng mới giảm Diện tích cà phê bắt đầu thu hẹp dần, năm 2003 giảm xuống còn 77.531 ha Giá cả thấp đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thu hồi vốn để tăng đầu

tư thâm canh Tình hình trên buộc Gia Lai phải tính đến việc tính toán diện tích cà phê hợp lý, kìm hãm việc gia tăng diện tích tự phát Chuyển đổi cây trồng đối với diện tích cà phê kém hiệu quả, giảm bớt diện tích cà phê vối để tăng diện tích cà phê chè Quá trình chuyển đổi này là phù hợp để phá thế độc canh cây cà phê, dần tiến tới một cơ cấu cây trồng đa dạng hoá, gắn với kinh tế thị trường

Cao su là cây thích nghi với đất đai, khí hậu phía Tây của tỉnh, là cây có giá trị kinh tế khá cao, nhất là trong vài năm gần đây Năm 2003, diện tích cao su của tỉnh đạt 57.307 ha, gấp gần 3 lần năm 1994, chiếm 17% diện tích gieo trồng Năng suất tương đối cao từ 15 - 17 tạ mủ khô/ ha/ năm Đây là cây có thể đầu tư phát triển thêm

Cây tiêu cũng là một trong những thế mạnh của Gia Lai Từ 1994 đến 2003, diện tích tiêu đã tăng từ 99 ha lên 2.507,6

ha, gấp hơn 2,5 lần Năng suất tăng từ 8 tạ/ ha lên 27 tạ/ ha, gấp 3,8 lần [6] Đây là loại cây thích hợp với quy mô vườn hộ gia đình

Cây điều khá thích hợp với vùng Đông Nam của tỉnh như các huyện Krông Pa, Kông Chro Từ 1994 đến 2003 diện tích điều đã tăng từ 5.906 ha lên 12.324 ha[6] Việc hình thành các vườn điều trước đây phần lớn mang tính tự phát, không chú ý tới giống nên năng suất thấp cần phải từng bước cải tạo, đưa vào các giống mới có năng suất và hiệu quả cao hơn

Ngành chăn nuôi là ngành có tiềm năng to lớn của Gia Lai

nhưng tỷ trọng liên tục giảm (gần 4 lần so với năm 1994) So với năm 1994, cơ cấu ngành chăn nuôi chuyển dịch theo xu hướng giảm dần chăn nuôi gia súc, tăng chăn nuôi gia cầm: đàn trâu giảm 24,6 %, ngựa giảm 28%, dê cừu giảm 23%, đàn bò tăng 16,3%, đàn lợn tăng 32%, gia cầm tăng 73,2% Xu hướng biến đổi nói trên là do tác động của cơ giới hoá nông nghiệp và vận tải làm cho nhu cầu về sức kéo giảm Ngược lại nhu cầu thực phẩm của thị trường ngày càng tăng dẫn đến sự gia tăng của đàn bò, lợn, gia cầm Sự điều chỉnh này là phù hợp, tuy nhiên điều đáng nói ở đây là Gia Lai hoàn toàn có thể phát triển tốt về chăn nuôi đại gia súc nhất là bò Hiện nay, chăn nuôi bò đạt hiệu quả kinh tế khá cao, tốn ít lao động nhưng tốc độ tăng trưởng khá chậm Điều này phản ánh

Trang 6

sự khó khăn về vốn đầu tư vì giá của một con bò trưởng thành khá cao, từ 3 - 5 tr đồng/ con Chăn nuôi bò hiện nay vẫn chủ yếu là ở các hộ gia đình và các trang trại Gắn liền với quá trình trên, tỉnh đã chú trọng tới việc hỗ trợ đầu tư cho các chương trình áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào chăn nuôi như nạc hoá đàn lợn, sinh hoá đàn bò nhưng kết quả còn hạn chế

* Cơ cấu nội bộ ngành lâm nghiệp: đang có xu hướng

chuyển từ khai thác sang khoanh nuôi, nuôi trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Kết quả của sự chuyển hướng này đã nâng độ che phủ của rừng từ 47,7% năm 1994 lên 48,5% năm 2000 và 49% năm 2003 [4]

Cơ cấu giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp [4],[2]

1994 2000 2002 2003

Tỷ trọng lâm nghiêp trong

GDP(%)

5,78 3,67 1,6 1,4 Giá trị sản xuất lâm

nghiệp (Tr đ)

85.208 108.121 110.368 133.923

Cơ cấu (%):

- Khai thác lâm sinh

- Khai thác lâm sản

100 86,3 13,7

100 73,0 27,0

100 69,8 30,2

100 62,2 37,8 Các số liệu trên cho thấy mặc dù giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng dần qua các năm nhưng tỷ trọng của lâm nghiệp ngày càng giảm So với tiềm năng và nguồn lực sử dụng (đất lâm nghiệp chiếm tới 53,6% diện tích đất tự nhiên) thì kết quả trên là yếu kém Tuy vậy sự tiến bộ ở đây là tỷ trọng giá trị khai thác lâm sinh có xu hướng giảm và khai thác lâm sản có xu hướng tăng Đây là hướng phát triển lâm nghiệp đúng đắn theo con đường kết hợp giữa hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái

* Ngành Thuỷ sản chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong nông

nghiệp của Gia Lai với diện tích nuôi trồng hiện tại khoảng

109 ha, sản lượng hàng năm khoảng 95 tấn, tạo ra giá trị khoảng 2.800 tr đồng Với địa hình đồi thấp và nhiều suối, Gia Lai có thể cải tạo tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản để ít nhất đáp ứng được nhu cầu trong tỉnh

Từ bức tranh tổng thể về cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp Gia Lai có thể rút ra những nhận xét tổng quát sau:

- Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp hiện tại của tỉnh vẫn là một cơ cấu lạc hậu, thuần nông, thiếu cân đối giữa công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ; giữa nông nghiệp - lâm nghiệp; giữa trồng trọt và chăn nuôi

- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đã theo xu hướng tích cực trong nội bộ ngành trồng trọt và chăn nuôi, trong cơ cấu cây trồng nhưng còn chậm và thiếu vững chắc Đáng lo ngại là tỷ trọng của ngành chăn nuôi còn quá thấp và có xu hướng giảm Thế mạnh về cây công nghiệp, lâm nghiệp chưa được khai thác để tạo ra một cơ cấu nông nghiệp hợp lý và có hiệu quả cao

Trang 7

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn mang tính tự phát, thiếu hẳn một quy hoạch bài bản, khá lúng túng, nặng về đối phó tình thế ngắn hạn, mang tính chủ quan, chưa gắn với cơ chế thị trường

- Các điều kiện cơ bản cho việc chuyển sang một cơ cấu nông nghiệp hiện đại còn hạn chế đó là tình trạng thiếu vốn đầu tư, sự nghèo nàn của cơ sở vật chất kỹ thuật, dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, hệ thống dịch vụ, công nghiệp chế biến phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp phát triển kém, thị trường không ổn định và tác động của những chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu chưa đủ mức

2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GIA LAI

Nhận thức được tầm quan trọng của của việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH, HĐH, Nghị quyết Đại hội

Đảng lần thứ IX khẳng định cần phải: “Phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá’’

[5, tr 92] Đối với khu vực Tây Nguyên, Nghị quyết cũng chỉ

rõ: “Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước cả về kinh tế xã hội và quốc phòng - an ninh, có lợi thế để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp sản xuất hàng hoá lớn kết hợp với công nghiệp chế biến, phát triển công nghiệp năng lượng và công nghiệp khai thác khoáng sản” do vậy cần ‘’Có chiến lược và quy hoạch xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng, an ninh, tiến tới thành vùng kinh tế động lực” Trên cơ sở đó phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tây Nguyên là “Phát triển nhanh theo hướng thâm canh là chính đối với các cây công nghiệp gắn với thị trường xuất khẩu (cà phê, cao su, chè, bông ), chăn nuôi đại gia súc, trồng và bảo vệ rừng, cây dược liệu, cây đặc sản và công nghiệp chế biến nông, lâm sản” [5, tr 186]

Vậy phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Gia Lai hiện nay là gì? Từ sự phân tích hiện trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, dựa trên những kết quả khảo sát về các điều kiện tự nhiên xã hội của Gia Lai và định hướng phát triển Tây Nguyên của Đảng và Nhà nước có thể đề xuất phương hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp như sau:

Phương hướng chung của sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Gia Lai là nhanh chóng thoát khỏi nền nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng nặng nề của lối sản xuất tự cung tự cấp sang một nền kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn phát triển toàn diện gắn với công nghiệp chế biến nhằm nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp Mục

tiêu của tỉnh là:

- Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp là 9% (giai đoạn

2001 - 2005), 8,1% (giai đoạn 2006 - 2010);

Trang 8

- Giảm tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP xuống còn 49,5% năm 2005, 42% năm 2010 Tỷ trọng lao động trong nông nghiệp 67,7% năm 2005, 63,5% năm 2010

- GDP bình quân/ người đạt 4.202.000 đ năm 2005, 6.385.000 đ năm 2010 [6]

- Đối với trồng trọt: Tiếp tục điều chỉnh giảm tỷ trọng của trồng trọt Bố trí lại cơ cấu cây trồng thích hợp với điều kiện tự nhiên, với nhu cầu thị trường Tập trung ưu tiên phát triển cây công nghiệp, cân đối giữa diện tích trồng cây công nghiệp ngắn ngày và lâu năm, tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau khi có sự biến động của nhu cầu thị trường Trước mắt cần giảm bớt diện tích cà phê, nhất là những nơi kém hiệu quả, tăng diện tích cao su, bông Duy trì diện tích cây lương thực ở mức đảm bảo nhu cầu cần thiết, cụ thể là sản lượng lương thực quy thóc 350.000 tấn năm 2005, 400.000 tấn năm

2010 [1]

- Đối với chăn nuôi cần phát triển mạnh chăn nuôi, tăng nhanh tỷ trọng của chăn nuôi trong nông nghiệp Phấn đấu đến

2010 đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hoá quan trọng Phát triển mạnh chăn nuôi đại gia súc với phương thức lấy hộ làm đơn vị sản xuất chính, có sự hợp tác giúp đỡ của các hiệp hội, doanh nghiệp và Nhà nước Chăn nuôi gia cầm chỉ duy trì ở mức đáp ứng nhu cầu nội tỉnh

- Đối với lâm nghiệp: Gắn phát triển lâm nghiệp với định canh, định cư, xây dựng xã hội nghề rừng Phấn đấu đến năm 2005 phủ xanh toàn bộ đất trống, tỷ lệ rừng che phủ 52% năm 2005 và 58,7% năm 2010.[1] Trước mắt chỉ chú trọng tăng giá trị sản xuất và tỷ trọng của lâm nghiệp chủ yếu dựa vào khai thác lâm sản Dần dần đưa lâm nghiệp thành một trong hai ngành sản xuất nông nghiệp chủ yếu của tỉnh

- Đối với Gia Lai việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp còn phải nhằm mục tiêu quan trọng là nhanh chóng xoá đói, giảm nghèo; nâng cao thu nhập và mức sống của nhân dân; tạo

ra sự ổn định lâu dài về chính trị xã hội vốn là vấn đề khá phức tạp của khu vực Tây Nguyên Phấn đấu đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%

Thực hiện phương hướng và các mục tiêu của chuyển dịch

cơ cấu nông nghiệp nói trên là vấn đề hết sức khó khăn trong điều kiện cụ thể của Gia Lai, cần phải đề ra và thực hiện hàng loạt các biện pháp:

- Khẩn trương rà soát, điều chỉnh và xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển nông nghiệp Khắc phục tình trạng quy hoạch chạy theo thực tiễn Cần đổi mới tư duy quy hoạch dựa trên các dự báo dài hạn, có lộ trình cho từng giai đoạn và hướng vào những thứ mà ‘’thị trường cần’’ trên cơ sở khai thác được hiệu quả những thứ mình có

- Nâng cao khả năng vốn đầu tư để đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phục vụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở phát triển kinh tế nhiều thành phần, triệt để khai thác các nguồn vốn đầu tư từ dân cư; mở rộng

Trang 9

các hình thức tín dụng; Điều chỉnh thời hạn vay vốn linh hoạt phù hợp với chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi; Phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn vốn ưu đãi; tích cực tìm kiếm đối tác đầu tư nước ngoài tập trung vào các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp

- Đối với chính sách đất đai, cần khẩn trương hoàn thành việc giao đất, giao rừng và cấp GCN quyền sử dụng đất lâu dài theo luật định với đầy đủ 5 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho Trong quy hoạch, sử dụng đất nông nghiệp cần chú trọng tới xu hướng tích tụ và tập trung đất đai để đi lên sản xuất lớn nhưng đồng thời phải có chính sách hỗ trợ để hạn chế sự mất đất canh tác của nông dân dưới tác động phân hoá của cơ chế thị trường

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đồng thời là quá trình ứng dụng các thành tựu mới của khoa học công nghệ vào sản xuất Điều đó đòi hỏi phải phát triển nguồn nhân lực tương xứng Trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu là những cản trở lớn cho quá trình chuyển dịch Chính vì vậy cần đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo, mở rộng các hình thức liên kết đào tạo, phát triển hệ thống các trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp, từng bước nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của dân cư Đây là công việc rất khó khăn nhất là với đối với đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư

- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, triển khai đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào nông nghiệp, từng bước cải tạo căn bản giống cây trồng, vật nuôi, tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản trên thị trường Nâng cao năng lực tiếp thu, ứng dụng khoa học công nghệ cho nông dân thông qua đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao công nghệ từng bước phát triển nông nghiệp theo hướng “sạch”

- Phát triển mạnh mẽ thị trường tiêu thụ nông sản, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển các trung tâm giao dịch thương mại để hỗ trợ tiêu thụ cho nông dân, tạo

ra thị trường ổn định Đối với nông nghiệp Gia Lai, thị trường nước ngoài giữ vai trò rất quan trọng cho việc tiêu thụ nhiều mặt hàng nông sản, trong đó tỉnh giữ vai trò là đầu mối quan trọng trong việc tìm kiếm, duy trì và phát triển thị trường nước ngoài Bên cạnh đó cần phải có một hệ thống cung cấp thông tin nhanh chóng để kịp thời hướng dẫn nông dân điều chỉnh sản xuất khi có biến động trên thị trường

- Phát triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp, tập trung vào cung ứng giống, phân bón, thuỷ lợi, tiêu thụ, dịch vụ khoa học kỹ thuật Từng bước hình thành và phát triển hệ thống bảo hiểm nông nghiệp

- Đầu tư có trọng điểm để dần cải tạo, nâng cấp và xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn làm cơ sở cho việc hình thành các vùng chuyên canh sản xuất quy mô lớn

Trang 10

và phát triển hệ thống công nghiệp chế biến, nâng dần tỷ lệ hàng nông sản xuất khẩu đã qua chế biến

- Phát huy vai trò chủ đạo của các nông trường, lâm trường quốc doanh trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đi đôi với khuyến khích phát triển kinh tế hộ, trang trại và sự tham gia của các thành phần kinh tế vào quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

KẾT LUẬN

Trong giai đoạn những năm trước mắt của quá trình CNH, HĐH ở nước ta, chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa to lớn đối với tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội Trong khuôn khổ của một bài báo và nguồn tư liệu có hạn, bài viết mới chỉ đề cập những vấn đề chung, chưa có điều kiện đi sâu vào những vấn đề cụ thể của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông nghiệp của Gia Lai Hy vọng rằng nó góp thêm một cách nhìn mới, tổng quan về một quá trình đang diễn ra trong thực tiễn Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bản thân nó là một quá trình khách quan nhưng đồng thời cũng phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố chủ quan như nhận thức và hành động của con người trong thực tiễn Gắn liền với thực hiện các mục tiêu và phương hướng chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông nghiệp được nêu ở phần trên cần đổi mới và tăng cường khả năng điều hành chỉ đạo của tỉnh và các cấp chính quyền địa phương đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, coi đó là một trong những biện pháp hàng đầu hiện nay để khai thác tiềm năng nông nghiệp, phát triển kinh tế vững chắc, nhanh chóng thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, từng bước đưa Gia Lai thành một tỉnh giàu có, văn minh, hiện đại

TĂI LIỆU THAM KHẢO

[1] Quy hoạch tổng thể KT-XH tỉnh Gia Lai đến năm 2010, UBND tỉnh Gia Lai (3/2002)

[2] Niín giâm thống kí Gia Lai từ năm 1994 đến 2003, Cục thống kí Gia Lai

[3] Niín giâm thống kí Gia Lai từ năm 1994 đín 2003 vă tính toân của tâc giả

[4] Bâo câo tình hình SXNN vă phât triển nông thôn giai đoạn 1996-2000, Cục TK Gia

Lai

[5] Văn kiện Đại hội đại biểu toăn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, 2001

[6] Chương trình hănh động của UBNN tỉnh về việc đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp

nông thôn giai đoạn 2002-2010, UBND tỉnh Gia Lai (2/2002)

[7] Giâo trình Kinh tế Chính trị, NXB Chính trị Quốc gia, 2002

[8] Nguyễn Thế Nhê, Giâo trình Kinh tế Nông nghiệp, NXB Thống kí, Hă Nội, 2002.

Ngày đăng: 22/07/2014, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  số  liệu  trên  cho  thấy  trong  10  năm  qua  nông  nghiệp  vẫn là ngành chiếm chủ yếu - Báo cáo nghiên cứu khoa học: "CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH GIA LAI - HIỆN TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CHUYỂN DỊCH" pdf
ng số liệu trên cho thấy trong 10 năm qua nông nghiệp vẫn là ngành chiếm chủ yếu (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm