Mạnh tử thường là người phát triển quan điểm Khổng tử và làm rõ hơn khái niệm dân trong hoàn cảnh mới.. Với ý nghĩa này, “Luận ngữ” và “Mạnh tử” muốn khẳng định địa vị xã hội của người
Trang 1QUAN NIỆM VỀ PHẠM TRÙ “DĐN” TRONG TÂC PHẨM
“LUẬN NGỮ” VĂ “MẠNH TỬ”
A VIEW ON THE CATEGORY OF “PEOPLE”
IN ‘LUAN NGU” AND “MANH TU”
TRẦN QUANG ÂNH
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đă Nẵng
NGUYỄN THỊ THƯ
Trường Cao đẳng Thể dục Thể thao TW3 Đă Nẵng
TÓM TẮT
Phạm trù “dđn” trong tâc phẩm “Luận ngữ” vă “Mạnh tử” theo chúng tôi có câc vấn đề cơ bản sau đđy:
- Thứ nhất, “dđn” lă những người bị điều khiển
- Thứ hai, “dđn” lă những người không có địa vị gì trong xê hội
- Thứ ba, “dđn” lă người đối lập với vua
- Thứ tư, “dđn” lă tất cả những người sống trín trâi đất
ABSTRACT
The category of “people” in “Luan ngu” and “Manh tu”, in our point of view, has the following basic:
- Firstly, “people” are persons who are commanded (controled)
- Secondly, “people” are persons who have not any positions in the society
- Thirdly, “ people” are persons who are the opposite of the “king”
- Fourthly, “people” are all persons who are living in the world
1 “Luận ngữ” và “Mạnh tử” là những tác phẩm kinh
điển cơ bản nhất của Nho học, ra đời trong bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội nhất định của thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc Nội dung tư tưởng của “Luận ngữ” và
“Mạnh tử” đều thấm đượm ý thức đạo đức và xoay quanh vấn đề con người, vấn đề dân Dân trở thành đối tượng được chú ý trong đường lối trị nước của Nho học, nhằm củng cố địa vị thống trị của các triều đại phong kiến Vậy dân là ai, là tầng lớp nào trong xã hội theo quan niệm của Khổng Mạnh?
2 Khái niệm dân trong các tác phẩm của Khổng Mạnh
là khái niệm có ngoại diên rộng, nội hàm đa nghĩa phức tạp Tùy theo sự thay đổi của hoàn cảnh mà nội dung khái niệm dân được Khổng Mạnh nêu ra mỗi lúc một khác Giữa Khổng tử và Mạnh tử quan niệm về dân cũng có sự khác nhau Mạnh tử thường là người phát triển quan điểm Khổng tử và làm rõ hơn khái niệm dân trong hoàn cảnh mới Tần số xuất hiện phạm trù dân trong
“Luận ngữ” và “Mạnh tử” cũng chênh lệch nhau rất
nhiều Từ “dân” xuất hiện trong cả hai tác phẩm khoảng
215 lần, thì riêng “Mạnh tử” đã chiếm 176 lần Điều đó cũng phần nào phản ánh tư tưởng phạm trù “dân” của Khổng tử và Mạnh tử có nhiều ý nghĩa, nhưng theo
Trang 2chúng tôi có thể khái quát thành một số nội hàm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, trong tư tưởng Khổng Mạnh thì dân là những
người bị sai khiến, bị điều khiển Với ý nghĩa này,
“Luận ngữ” và “Mạnh tử” muốn khẳng định địa vị xã hội của người dân là những người nô lệ, bị trị, họ chịu quyền sai khiến của tầng lớp thống trị Do vậy dân với
ý nghĩa là người bị sai khiến, bị điều khiển không bao hàm giai cấp thống trị, mà họ đối lập với giai cấp thống trị Với ý nghĩa này khái niệm dân có nhiều cách gọi khác nhau trong các tác phẩm “Luận ngữ” và
“Mạnh tử”
Người bị sai khiến có khi được Khổng Mạnh gọi là
kẻ “tiểu nhân”, tức là hạng người nhỏ mọn, tầm
thường đối lập với người quân tử “Tiểu nhân” được Khổng Mạnh nhắc đến trên ba mươi lần, trong đó “Luận ngữ” chiếm khoảng hai mươi lần Đây là tỷ lệ cao nhất
so với các cách gọi khác nhằm chỉ dân là người bị điều khiển Trong nhãn quan của các nhà Nho học, dân với tên gọi là kẻ tiểu nhân có vai trò không đáng kể
so với sức mạnh to lớn của người quân tử “Đức hạnh của người quân tử (người trị dân) như gió, mà đức hạnh của dân như cỏ Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống” (1)
“Tiểu nhân” với tư cách là người bị trị không bao hàm
“nho tiểu nhân”, tức là những kẻ sĩ thiếu tư cách đạo đức, tuy họ có tri thức, có tài nghệ Muốn trở thành
“nho quân tử”, phải có đủ cả hai tiêu chí đó, bởi vậy Khổng tử bảo Tử Hạ: “Anh nên làm nhà nho quân tử, không nên làm nhà nho tiểu nhân” (2)
Người bị sai khiến có khi Khổng tử gọi là kẻ “hạ
ngu” “Hạ ngu” là tầng lớp ngu dân, là người ngu dưới
đáy xã hội, họ là những người bất tiếu, đối lập với bậc thượng trí vi diệu và những người hiền Sử dụng khái niệm “hạ ngu” để chỉ người dân, chúng ta có cảm nhận Khổng tử thiếu tôn trọng và có ý khinh miệt tầng lớp dân đen nô lệ trong xã hội Trung Hoa thuở trước Thương thay những kẻ “hạ ngu”, “khốn nhi bất học”, dẫu có học chăng nữa cũng không thể cải hóa được, còn bậc thượng trí sinh ra không cần học cũng đã biết Bởi vậy, trong quan niệm của Khổng tử thì “chỉ
Người bị sai khiến có khi Mạnh tử gọi là kẻ “lao
lực”, tức là những người lao động chân tay sản xuất ra
hầu hết của cải để duy trì sự tồn tại xã hội Kẻ
“lao lực” thực chất là tầng lớp công nông thương, thuộc tứ dân bách tính tầm thường, trong đó chủ yếu là nông dân của xã hội Trung Hoa thuở ấy Trong quan niệm của Mạnh tử thì xã hội bao giờ cũng “có người làm việc bằng tâm trí; có kẻ làm việc bằng tay chân Người làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng; kẻ làm việc
Trang 3bằng tay chân thì chịu quyền điều khiển Kẻ chịu quyền điều khiển có phận sự cung cấp cho người bề trên; nhà cai trị dân chúng được dân chúng phụng dưỡng Đó là lẽ thông thường trong thiên hạ vậy.” (4) Đây là sự đúc kết thực tiễn lịch sử thông qua lăng kính chủ quan của Mạnh tử, là sự phân công lao động trong xã hội thuở trước Quan hệ giữa lao tâm và lao lực ở đây không phải là quan hệ tương tác giữa hai loại lao động trong xã hội, mà là quan hệ giữa thống trị và bị trị, Mạnh tử xem quan hệ đó là lẽ đương nhiên Tất nhiên thuở ấy Mạnh tử chưa thể thấy được nguyên nhân kinh tế sâu xa đã tạo nên sự đối lập giữa “lao tâm” và “lao lực”, mà ông chỉ dừng lại khái quát một cách trực quan, xem “đó là lẽ thông thường trong thiên hạ vậy” Sự phân biệt rạch ròi giữa “lao tâm” và “lao lực”, sự phân định địa vị của hai loại người đó, thể hiện tư tưởng xem thường người “lao lực”, người lao động chân tay, người đã tạo ra của cải để nuôi thiên hạ
Người bị sai khiến có lúc Khổng Mạnh gọi là kẻ
“thứ nhân”, “thứ dân”, “hạ dân”, “dã dân” Đây là những
người tôi, những người dân thường trong dân gian, họ là những người lao động bình thường Cách gọi này ít nhiều có sự phân biệt đẳng cấp trong tư tưởng Khổng Mạnh, nhưng cũng phản ánh đúng địa vị của người dân trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, do vậy dễ chấp nhận được Dân theo các tên gọi này xuất hiện trên hai mươi lần trong các tác phẩm “Luận ngữ” và “Mạnh tử”, nhưng chủ yếu là trong tác phẩm “Mạnh tử” Điều đó chứng tỏ rằng quan niệm của Mạnh tử về dân có xu hướng tiến bộ hơn Khổng tử
Đáng chú ý hơn là người bị sai khiến có khi được
Mạnh tử gọi là kẻ ”lê dân” (dân đen), “xích tử” (con
đỏ) Trong “Thượng Mạnh tử” có nói: “Bực quốc trưởng, nhà cầm quyền lo liệu cho dân, cũng như mẹ giữ gìn con
nhiều thể hiện sự thương cảm và tư tưởng nhân đạo của Mạnh tử đối với người dân đen cơ cực ở đáy cùng xã hội
Tóm lại khái niệm dân với tư cách là người bị sai khiến dẫu được gọi là kẻ “tiểu nhân”, “hạ ngu”, “hạ dân”, “lao lực”, “xích tử”, “lê dân” đều có chung một điểm: họ đều là người có địa vị kinh tế, chính trị, xã hội thấp hèn trong sự đối lập với người quân tử, bậc thượng trí, người lao tâm Dân là người bị sai khiến, bị điều khiển, bị trị, cho nên khái niệm dân theo ý nghĩa này không bao hàm giai cấp thống trị mà loại trừ giai cấp thống trị
Thứ hai, dân không chỉ là người bị sai khiến mà còn
là những người không làm quan, không có địa vị gì trong
bộ máy thống trị Khái niệm dân ở đây mở rộng hơn so
Trang 4với khái niệm dân là người bị sai khiến Theo ý nghĩa này thì khái niệm dân không bao chứa vua và quan ở trong xã hội đương thời
Như vậy, dân là những người không làm quan bao gồm
cả những hào dân có địa vị kinh tế xã hội như quí tộc,
phong kiến, nhưng không có địa vị gì trong bộ máy thống trị Cuộc đời của họ có thể đã từng làm quan, hoặc chưa có cơ hội làm quan Lúc đắc chí thì họ ra làm quan ban bố ân trạch cho dân, khi không đắc chí thì họ từ quan hoàn dân Mạnh tử từng nói: “Cần làm quan lâu thì làm quan lâu, cần ra đi gấp thì ra đi gấp Đó là hạnh của đức Khổng tử vậy” (6) Như vậy cuộc đời của các bậc thánh Khổng - Mạnh có nhiều lúc không làm quan phiêu bạt đó đây, những lúc như vậy Khổng Mạnh làm một người dân bình thường
Dân không chỉ là những hào dân không làm quan mà còn
là những dật dân ẩn sĩ, từ bỏ công danh phú quý mà
làm một người dân bình thường Đó là: “Bá Di, Thúc Tề, Ngu Trọng, Di Dật, Chu Trương, Liễu Hạ Huệ, Thiếu Liên” Những người ẩn sĩ tuy làm một người dân bình thường nhưng họ không nản chí mà vẫn “tu thiện lấy mình”, vẫn “bền chí tu thân”, vẫn “đem thân mai một với đạo lý”, chờ khi gặp “cơn hiển đạt” thì đem thân “mình giúp cho thiên hạ đều trở nên lương thiện”
Mạnh tử còn nêu một số nguyên nhân khiến những người làm quan lui về ở ẩn Một là do xã hội loạn lạc nên họ từ quan hoàn dân “Trong khi thiên hạ vô đạo, tức là khi chốn chốn đều phải rối rắm loạn lạc, người quân tử nên ẩn dật” (7) Hai là do chẳng đắc chí làm quan nên lui về ở ẩn, nhưng vẫn bền chí tu thân làm cho danh tiếng mình tỏ rạng với đời
Điều ít ai ngờ tới đó là: dân với ý nghĩa là những người không làm quan không chỉ có những hào dân, dật dân, những hiền nhân quân tử, những bậc thánh như Khổng
- Mạnh mà ngay cả những bậc Thiên tử cũng đã có
những lúc làm một người dân bình thường Đó là những lúc “ông Thuấn khi còn cày ruộng trong núi Lịch, thường
ăn cơm khô với rau” (8) ông Vũ mất tám năm đào vét sông lạch, để trị nạn đại hồng thủy cho dân
Như vậy với ý nghĩa dân là những người không làm quan, không có địa vị gì trong bộ máy thống trị, bao gồm nhiều giai cấp khác nhau, có địa vị kinh tế xã hội khác nhau, nhưng họ hợp thành mặt đối lập với vua và quan trong bộ máy thống trị thời Khổng Mạnh Điều đó cũng được Quang Đạm khẳng định trong tác phẩm “Nho giáo xưa và nay”: “Dân thông thường là chỉ những người không có địa vị gì, công vụ gì trong bộ máy thống trị”
Thứ ba, dân còn là thần dân trăm họ đối lập với
nhà vua Nội hàm quan niệm này mở rộng hơn hai quan
niệm trên Theo ý nghĩa này thì dân bao gồm cả thần và
Trang 5dân, quan và dân, là trăm họ, là cả thiên hạ đối lập với vua, chỉ có vua là không nằm trong phạm trù dân
Dân với ý nghĩa là thần dân thường được Khổng Mạnh
gọi là “bá tính” và “thiên hạ”, tức là là tất cả
muôn dân, trăm họ sống trong cõi trời đất này Tần số xuất hiện từ “bá tính” đặc biệt là từ “thiên hạ“ trong “Mạnh tử” nhiều hơn hẳn “Luận ngữ” Chẳng hạn chỉ riêng từ “thiên hạ” thôi, trong cả hai tác phẩm nhắc đến trên 160 lần, thì tác phẩm “Mạnh tử” đã chiếm gần
150 lần Phải chăng thời kỳ Xuân Thu - thời kỳ Khổng tử sống - hàng trăm nước dưới quyền thiên tử nhà Chu nổi lên đánh nhau cũng mới chỉ nhằm mục đích tranh hùng mà thôi Đến thời Chiến Quốc - thời Mạnh tử sống - Đất Tàu còn lại bảy nước hùng, diễn ra cuộc chiến tranh tàn khốc để dành quyền bá chủ thiên hạ Mục đích “bình thiên hạ” được đặt ra cấp bách trong thời Chiến Quốc, do vậy từ “thiên hạ” được Mạnh tử thường nhắc đến nhiều trong tác phẩm của mình
Dân với ý nghĩa là thần dân trăm họ có lúc được
Khổng Mạnh gọi là “chúng”, “dân chúng” và Mạnh tử gọi là “quốc nhân” (dân chúng toàn quốc), “dân trong
bốn biển” Đặc biệt lần đầu tiên trong lịch sử, Mạnh
tử đã sử dụng từ “nhân dân” để chỉ dân là thần dân
trăm họ Mạnh tử viết: “Chư hầu chi bảo tam: Thổ địa, nhân dân, chính sự” (9) Điều đó có nghĩa là trong phép trị nước, vua chư hầu nên quí ba việc: thổ địa, nhân dân và chính sự
Khái niệm dân bao gồm cả thần dân trăm họ còn được
thể hiện trong luận điểm bất hủ của Mạnh tử: “dân vi
quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Theo Quang Đạm thì
trong thần dân bách tính đó, Mạnh tử chú ý nhiều đến giới nho sĩ, những “hiền nhân”, “quân tử”, những con người Mạnh Kha gọi là “tiên tri” và “tiên giác” mà tiêu biểu là những con người như: Khổng Khâu, Mạnh Kha Chúng tôi cũng nhất trí với quan điểm này của Quang Đạm Dân với ý nghĩa là thần dân trăm họ được thể hiện và thường xuất hiện trong những hoàn cảnh nhất định:
Một là lúc vua chúa đã hết vai trò lịch sử, đi ngược lại quyền lợi của thần dân Lúc này bá tính hợp thành lực lượng đông đảo, tạo thành sức mạnh to lớn, đại diện cho xu thế phát triển của lịch sử phế bỏ kẻ tàn tặc Trường hợp trăm họ ủng hộ Thành Thang diệt vua Kiệt bạo ngược và Võ Vương trừ vua Trụ hung tàn là một minh chứng lịch sử
Hai là lúc có một bậc hiền nhân tài đức đại diện cho quyền lợi dân chúng đứng ra cứu dân trong cơn nước lửa được cả thần dân thiên hạ ủng hộ Mạnh tử nói: vua Thành Thang khi khởi cuộc chinh phục, trước hết đánh lấy nước Cát Ngài đương chinh phục miền Đông thì
Trang 6dân chúng miền Tây phiền trách Lúc ngài chinh phục miền Nam thì dân chúng miền Bắc phiền trách Họ trách rằng: sao ngài chẳng đến sớm nước ta? Thiên hạ mong ngài đến như trời hạn mong mưa vậy (10)
Thứ tư, dân trong quan niệm của Khổng Mạnh không chỉ
là những người bị sai khiến, những người không làm
quan, là thần dân trăm họ, mà dân còn là người nói
chung Quan niệm này có nội hàm rộng nhất và chung
nhất so với các quan niệm trên, bởi vì dân theo ý nghĩa này bao hàm tất cả mọi người sống trong thiên hạ Trong “Nho giáo xưa và nay” Quang Đạm cũng từng nói:
“Dân cũng thường có nghĩa là bất kỳ người nào sinh ra trên đời”
Tần số xuất hiện khái niệm dân với ý nghĩa là người nói chung rất ít Trong “Luận ngữ” chúng tôi chưa tìm thấy, còn trong “Mạnh tử” cũng có đề cập đến ở một mức độ hạn chế “Thượng Mạnh tử” có nói ”Tự hữu sanh dân dĩ lai, Vị hữu thạnh vi Khổng tử giả” (11), nghĩa là từ khi có con người đến nay, chưa có ai bằng đức Khổng tử “Tư hữu sinh dân dĩ lai” được “Thượng Mạnh tử” nhắc đến ít nhất là ba lần “Thượng Mạnh tử” còn nói tiếp “Thiên giáng hạ dân”, tức là trời sanh ra dân ở cõi này “Hạ Mạnh tử” cũng nhắc lại:
“Thiên chi sanh thử dân giả” (12) Như vậy, theo Mạnh tử thì dân là người được sinh ra trên đời này, là người nói chung sống trong thiên hạ
3 Tóm lại khái niệm dân bao gồm nhiều ý nghĩa khác
nhau, gồm nhiều giai cấp giai tầng khác nhau về địa vị kinh tế, xã hội, nghề nghiệp, chiếm hầu hết tỉ trọng trong dân cư, đối lập với giai cấp thống trị Phạm trù dân bao hàm nhiều ý nghĩa bởi vì:
Một là: dân không bao gồm tập đoàn thống trị thi hành chính sách chống lại dân Trong suốt thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, tập đoàn thống trị chống lại dân thường thay đổi theo hoàn cảnh Điều đó qui định nội hàm khái niệm dân cũng thay đổi theo
Hai là: bất kỳ phạm trù nào, khái niệm nào, cũng không “nhất thành bất biến”, mà luôn luôn được bổ sung, thay đổi, hoàn thiện dần Khái niệm dân cũng nằm trong qui luật đó
Dân bao gồm nhiều ý nghĩa như đã trình bày, nhưng trong đó dân với ý nghĩa là người bị sai khiến, người
bị điều khiển được Khổng Mạnh nhắc tới nhiều nhất và cũng là quan niệm cơ bản nhất của hai ông Cũng chính trong ý nghĩa này, những hạn chế khi quan niệm về người dân và những mâu thuâ”n nội tại trong tư tưởng Khổng Mạnh được thể hiện rõ nét nhất Dẫu sao trong nhãn quan của Khổng Mạnh thì dân vẫn là lực lượng đông đảo nhất, có vai trò nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc ở
Trang 7Trung Hoa Đã 25 thế kỷ trôi qua, Nho học có lúc suy lúc thịnh, nhưng quan niệm về “dân” trong các tác phẩm
“Luận ngữ” và “Mạnh tử” vẫn còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Ở Việt Nam, trong thời đại ngày nay quan niệm về
“dân” được nâng lên trên một tầm cao mới với một nhãn quan chính trị mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta Đại đoàn kết toàn dân, đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nông, trí thức, do Đảng lãnh đạo là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh và động lực chủ yếu; là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1)
Luận ngữ Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu Nhà xuất bản Văn học 1995 Tr 205
(2)
Nguyễn Hiến Lê Sđd tr 110
(3)
Nguyễn Hiến Lê Sđd tr 283
(4)
Tứ thơ Thượng Mạnh tử Dịch giả Đoàn Trung Còn In tại nhà in Tứ Đức Tòng Thơ Sài Gòn 1950 tr 167
(5)
Tứ thơ Thượng Mạnh tử Sđd tr 177
(6)
Tứ thơ Thượng Mạnh tử Sđd tr 95
(7)
Tứ thơ Hạ Mạnh tử Dịch giả Đoàn trung Còn In tại nhà
in Tứ Đức Tòng Thơ Sài Gòn 1950 tr 251
(8)
Tứ thơ Hạ Mạnh tử Sđd tr 259
(9)
Tứ thơ Hạ Mạnh tử Sđd tr 270
(10)
Tứ thơ Thượng Mạnh tử Sđd tr 67
(11)
Tứ thơ Thượng Mạnh tử Sđd tr 98
(12)
Tứ thơ Hạ Mạnh tử Sđd tr 102