Muốn vậy ngành cần phải tỡm ra những giải phỏp sao cho làm ra sản phẩm cú mẫu mó đẹp, chất lượng cao, giỏ thành hạ, phự hợp với nhu cầu của thị trường, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của
Trang 1NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA SẢN PHẨM DỆT-MAY ĐÀ NẴNG
TRƯỚC SỨC ẫP CỦA QUÁ TRèNH HỘI NHẬP
COMPETITIVE ABILITY OF DANANG TEXTILE PRODUCTS
UNDER PRESSURE OF ECONOMIC INTEGRATION
NINH THỊ THU THUỶ
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
TểM TẮT
Hội nhập kinh tế là quỏ trỡnh tham gia vào một sõn chơi chung cạnh tranh bỡnh đẳng Để giữ được vị thế là một ngành xuất khẩu chủ lực của thành phố Đà Nẵng, đũi hỏi ngành dệt - may phải cú đủ sức mạnh khi tham gia vào cuộc chơi đú Muốn vậy ngành cần phải tỡm ra những giải phỏp sao cho làm ra sản phẩm cú mẫu mó đẹp, chất lượng cao, giỏ thành hạ, phự hợp với nhu cầu của thị trường, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm của cỏc đối thủ mạnh hơn
ABSTRACT
Economic integration is the process of taking part in an equal competitive playground In order
to keep the present status of a major export brand of Danang city, the textile industry needs to have enough ability to join it To do this, the textile should look for solutions to manufacture products which have beautiful model, good appearance, low price, and which are suitable for
the market demand to compete with the counterparts of stronger competitors
1 Đặt vấn đề
Hội nhập kinh tế đang là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế Thế giới Đó
là cơ hội để các ngành, các quốc gia khai thác và phát huy có hiệu quả những lợi thế so sánh của mình về lao động, tài nguyên, công nghệ Nhưng cùng với quá trình này, các quốc gia sẽ phải mở cửa hơn, thương mại trở nên tự do hơn theo nguyên tắc cạnh tranh công bằng, không phân biệt đối xử, không chấp nhận những ngoại lệ Vì vậy muốn tham gia và đứng vững trong cuộc chơi này đòi hỏi các doanh nghiệp dệt - may Đà Nẵng phải có sức cạnh tranh cao, phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá cả thấp, tạo được uy tín trên thị trường để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao hơn, đa dạng hơn của khách hàng tiêu dùng ở cả thị trường nội địa cũng như thị trường nước ngoài
Sau năm 2005, lộ trình cắt giảm thuế theo cam kết gia nhập khu vực mậu dich tự do ASEAN (CEPT/AFTA) được thực hiện, hàng rào bảo hộ bị gỡ bỏ, các sản phẩm có thuế suất nhập khẩu cao như: Vải nguyên liệu, vải lụa, vải len, dệt kim (Thuế 40%), quần áo, hàng may mặc khăn, rèm, màn (Thuế 50%) sẽ đưa vào danh mục giảm thuế 5 % vào năm 2006 Khi đó
sự cạnh tranh về giá cả hàng dệt may giữa các nước sẽ càng mạnh mẽ hơn, hàng dệt - may Đà Nẵng sẽ phải cạnh tranh gay gắt với hàng hoá các nước ASEAN tại các thị trường xuất khẩu
và ngay tại thị trường nội địa cũng phải đối phó với hàng nhập từ các nước trong khu vực vốn
có công suất, sản lượng lớn hơn, chủng loại phong phú, chất lượng cao hơn
Đồng thời sau năm 2005 hàng dệt - may Việt Nam sẽ phải cạnh tranh rất gay gắt với hàng dệt - may Trung Quốc ở cả 3 thị trường lớn là EU, Nhật Bản và Mỹ Trên cả 3 thị trường này, Trung Quốc đều đang dẫn đầu về xuất khẩu các mặt hàng cùng loại Trong khi Trung Quốc được hưởng nhiều ưu đãi hơn so với Việt Nam về thuế, về hạn ngạch vì là thành viên của
Trang 2WTO, cho nên đây sẽ là cuộc cạnh tranh khốc liệt và không cân sức Vì vậy không còn con
đường nào khác là phải tự cải tiến để vươn lên, phải nâng cao năng lực cạnh tranh, đó là vấn đề sống còn đối với ngành dệt - may Đà Nẵng
2 Đánh giá về năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt - may Đà Nẵng
a Về giá cả
yếu tố giá thường được xem là lợi thế của ngành dệt - may Đà Nẵng do chi phí về nhân công rẻ hơn so với hai đầu đất nước và với nước ngoài Nhưng hiện nay giá thành sản phẩm dệt - may Đà Nẵng còn đang cao hơn các nước ASEAN từ 10 - 15%, cao hơn Trung Quốc 20% Đó là do các nguyên nhân sau:
- Mặc dù chi phí tiền lương thấp nhưng năng suất lao động trong ngành lại rất thấp (chỉ bằng 2/3 so với mức bình quân của các nước ASEAN), đã làm cho giá thành sản phẩm cao
Máy móc thiết bị lạc hậu, chưa đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp (chỉ đạt khoảng 40 -70%) nhất là khâu dệt, nên chi phí cố định trên sản phẩm lớn
- Chi phí vận chuyển tại Đà Nẵng cao hơn hai đầu đất nước, do sản lượng sản xuất thấp, thời gian chờ đợi để nhận hàng lâu
- Nguyên phụ liệu cho may xuất khẩu còn phải nhập khẩu nên chưa chủ động trong sản xuất, đồng thời chi phí cao
b Chất lượng sản phẩm
- Sản phẩm dệt như vải, sợi của các doanh nghiệp dệt tiêu thụ 100% ở thị trường nội
địa, chỉ xuất khẩu được mặt hàng khăn bông và một lượng nhỏ vải tơ tằm của các doanh nghiệp địa phương do tính chất độc đáo Điều đó chứng tỏ chất lượng sản phẩm dệt còn rất yếu kém, mới chỉ sản xuất được những sản phẩm sợi, vải cấp thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường nội địa và càng khó đáp ứng cho ngành may xuất khẩu Vì vậy cần có sự đầu tư, cải tiến rất sâu rộng từ nguồn nguyên liệu, máy móc thiết bị đến khâu sản xuất mới có thể tạo
ra sản phẩm dệt đủ sức cạnh tranh về chất lượng trong tương lai
- Sản phẩm may: So với lĩnh vực sợi và dệt, ngành may có thiết bị hiện đại hơn, tốc độ
đổi mới nhanh hơn, nên khả năng cạnh tranh cao hơn, sản lượng xuất khẩu chiếm đến 85% chỉ
có 15% là tiêu thụ trong nước Từ những sản phẩm đơn giản trước đây như áo sơ mi, quần áo bảo hộ lao động, vỏ chăn, áo gối, đến nay các đơn vị đã vươn lên sản xuất được những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao hơn như: Jacket, quần áo thể thao, quần áo trượt tuyết, hàng thêu
đã xuất khẩu được sang các thị trường lớn như Nhật Bản, Đài Loan, Châu âu 1
Tuy nhiên sản phẩm may xuất khẩu cũng mới đang đứng ở đầu thấp của thị trường, chủ yếu phục vụ cho
đối tượng bình dân Trong tương lai khi nhu cầu của khách hàng khắt khe hơn, khi sản phẩm của các đối thủ cải tiến hơn về chất lượng thì sản phẩm dệt may Đà Nẵng cần phải có một bước tiến lớn về chất lượng mới có thể giữ được thị trường
c Về chủng loại, mẫu mã sản phẩm
Mặc dù sản phẩm có sự cải tiến đáng kể về kiểu dáng, mẫu mã, nhưng nhìn chung cơ cấu sản phẩm dệt cũng như may còn rất đơn điệu, sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, hàm lượng
kỹ thuật chưa cao, chưa có sản phẩm đặc thù để chiếm lĩnh thị trường
Trang 3Sản phẩm sản xuất chủ yếu của ngành dệt-may Đà Nẵng
Sản phẩm ĐVT 1998 1999 2000 2001 2002 2003 1-Sợi toàn bộ Tấn 1.537 1.968 2.461 2.398 3.233 3.880 2-Vải các loại 1000 m 4.967 4.738 5.637 4.854 6.515 8.845 3-Khăn bông 1000 cái 10.139 10.812 10 816 7.320 7.620 8.147 4-Thảm len m 2
7.705 8.064 5.190 2.840 2.186 3.205 5-Quần áo may sẵn 1000 sp 15.728 17.012 18.108 22.500 30.307 28.516 6-Màn tuyun Tấn 163 317 374 457
(Nguồn: Sở công nghiệp TP Đà Nẵng)
Trong lĩnh vực dệt, sản phẩm chủ yếu gồm có sợi, vải lụa, khăn bông và thảm len các loại Đối với mặt hàng vải, đa số là các loại vải giản đơn, vải khổ hẹp, chất lượng thấp, chủng loại, mẫu mã còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành may và các ngành khác
Sản phẩm may của các công ty nói chung mẫu mã chủng loại chưa phong phú còn có
sự chồng chéo, trùng lặp nhau nhất là sản phẩm quần áo may sẵn: Quần kaki, áo sơ mi nam,
áo thun Mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc của sản phẩm cũng có sự lặp lại, không đa dạng, không hấp dẫn bằng sản phẩm các đối thủ như Việt Tiến, Nhà Bè, Dệt Hà Nội hoặc của Trung Quốc Hoạt động nghiên cứu thời trang chưa có gì nên khâu thiết kế sản phẩm còn yếu, tính sáng tạo
về mẫu mã chưa cao, sản phẩm chưa đa dạng
d Vấn đề thương hiệu sản phẩm
Hiện nay các doanh nghiệp dệt - may Đà Nẵng chưa có thương hiệu nào đủ mạnh, có
uy tín trên thị trường đủ để cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước cũng như nước ngoài Với những cái tên như: HACHIBA của công ty dệt may 29/3; HOTEXCO của Công ty dệt may Hoà Thọ ; DATEXCO của Công ty dệt Đà Nẵng hay Vinatex Đà Nẵng của Công ty sản xuất-xuất nhập khẩu dệt may tại Đà Nẵng thì chỉ được sử dụng để tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa mà cũng chưa được mấy khách hàng biết đến và nhớ tới ngay cả khách hàng tại
Đà Nẵng Còn khi may gia công xuất khẩu, sản phẩm lại được gắn thương hiệu của nước ngoài Điều đó chứng tỏ các doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng còn nhỏ bé, chưa khẳng định
được uy tín trên thị trường
3 Một số biện pháp tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt-may Đà Nẵng
a Hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất trong ngành dệt - may
Tổ chức sản xuất là cái gốc, là cơ sở để tổ chức lao động, tổ chức quản lý, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và sử dụng các yếu tố sản xuất một cách có hiệu quả Hiện tại các doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng có qui mô vừa và nhỏ, trình độ chuyên môn hoá còn thấp lại
tổ chức sản xuất khép kín nên nguồn vốn còn ít, hoạt động đầu tư bị dàn trải, công tác nghiên cứu, thâm nhập và tạo uy tín trên thị trường vì thế cũng khó thực hiện Vì vậy nên có sự tổ chức xắp xếp lại hoạt động sản xuất theo hướng chuyên môn hoá cao hơn, mỗi doanh nghiệp cần đi chuyên sâu làm chủ một vài công nghệ để tạo ra những mặt hàng có chất lượng cao
Đồng thời tăng cường sự liên kết hợp tác giữa các khâu sợi - dệt - may nhằm tận dụng hơn nữa các nguồn lực tại chỗ để chủ động trong sản xuất và tiết kiệm chi phí
Ngành dệt cần cải tiến để hợp lý hoá qui trình sản xuất, rút ngắn thời gian của một chu
kỳ sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất và năng lực quản lý để vươn lên dệt được những mặt hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế, cung cấp vải cho ngành may
Trang 4Trong ngành may cần sắp xếp lại các đơn vị may xuất khẩu, giảm bớt tỷ lệ may gia công thuần tuý sang gia công theo phương thức "mua đứt bán đoạn", tiến tới xuất khẩu thành phẩm, và sử dụng vải trong nước để sản xuất nhằm gia tăng giá trị sản phẩm Tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp may để tận dụng và bổ sung ưu thế của nhau nhằm khai thác tối đa thị trường
b Bảo đảm cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu đầu vào, phụ liệu cho sản xuất theo hướng tăng cường sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước để giảm giá thành sản phẩm
Sử dụng nguyên phụ liệu sản xuất tại chỗ là cách tốt nhất để giảm chi phí mua bán, vận chuyển lại chủ động được việc sản xuất Muốn vậy sản phẩm sợi phải đáp ứng được yêu cầu của ngành dệt, và dệt phải đáp ứng được yêu cầu của ngành may bằng cách tạo lập mối quan
hệ thống nhất, gắn bó giữa các khâu sợi - dệt và may
Phụ liệu cho sản phẩm may có thể chiếm tới 25-34% giá thành vì vậy nên xây dựng các cơ sở vệ tinh sản xuất nguyên phụ liệu may trong nước với công nghệ tiên tiến để sản xuất các sản phẩm phù hợp với yêu cầu may xuất khẩu để từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hoá
c Tăng cường đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ
Để làm ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, biện pháp hết sức quan trọng là phải đẩy mạnh đầu tư xây dựng nhà xưởng hiện đại, đổi mới thiết bị, công nghệ theo hướng tiếp cận với công nghệ cao đặc biệt là lĩnh vực dệt
Tập trung đầu tư đổi mới ở các khâu quyết định như: sản xuất sợi tổng hợp, sản xuất vải chất lượng cao, hoá chất, thuốc nhuộm, phụ liệu cho ngành may, thiết kế mẫu cho sản phẩm, chuẩn hoá sản phẩm, đầu tư xử lý môi trường
d Chú trọng công tác đào tạo, nâng cao trình độ của đội ngũ lao động
Lao động là nguồn lực quan trọng quyết định sức cạnh tranh, chất lượng nguồn lao
động có ảnh hưởng đến năng suất lao động, cơ cấu sản xuất, quản lý, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ Khi nền kinh tế thế giới đang chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức thì ngành dệt-may cũng rất cần những người lao động có kỹ năng, có trình độ chuyên môn cao để đáp ứng công nghệ sản xuất hiện đại
Do đó cần đẩy mạnh việc nâng cao trình độ nguồn lao động như:
- Phát triển hệ thống đào tạo đa dạng, nâng cao chất lượng đào tạo, tiếp cận những chương trình đào tạo mới nhất từ các nước phát triển
- Có chính sách tiền lương, tiền thưởng khuyến khích việc nâng cao trình độ, cải tiến
kỹ thuật nhằm tăng năng suất, đồng thời thu hút lực lượng cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn, công nhân có tay nghề cao Ngoài ra cần xây dựng chính sách để thu hút những chuyên gia đầu ngành: Sợi, dệt, nhuộm để tăng cường cho những khâu đang còn yếu hiện nay, nếu cần
có thể thuê chuyên gia nước ngoài
-Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ thiết kế thời trang
e Đẩy mạnh áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng như ISO 9000, ISO 14000, SA
8000, OH SAS 18 000 để vượt qua rào cản kỹ thuật khắt khe của các thị trường cụ thể là phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng và tiêu chuẩn về môi trường
g Đa dạng hoá chủng loại, mẫu mã sản phẩm
Trang 5Sản phẩm dệt - may là sản phẩm có chu kỳ sống rất ngắn, nó phụ thuộc nhiều vào tập quán, sở thích của mỗi lứa tuổi, thành phần dân cư và mỗi nền văn hoá khác nhau Đồng thời
nó sẽ thay đổi nhanh chóng khi thu nhập, thị hiếu và xu hướng thời trang của khách hàng thay
đổi Muốn đững vững trên thị trường đòi hỏi các nhà sản xuất phải thường xuyên nghiên cứu
để cải tiến sản phẩm về cơ cấu, mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc
h Tạo lập thương hiệu có uy tín cho sản phẩm
Thương hiệu có ý nghĩa quan trọng tác động rất lớn đến sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, nó là tài sản vô hình, tạo ra uy tín, sự tin tưởng của khách hàng đối với sản phẩm Để có một thương hiệu mạnh thì không nên xây dựng thương hiệu theo từng doanh nghiệp như cách làm hiện nay vì như vậy rất tốn kém mà các doanh nghiệp nhỏ sẽ không đủ khả năng tài chính để thực hiện đồng thời người tiêu dùng lại rất khó nhớ trước hàng loạt cái tên na ná nhau Các doanh nghiệp cần có sự liên kết lại để xây dựng một thương hiệu chung cho sản phẩm dệt may Đà Nẵng Đồng thời cần phải tạo uy tín, sự tin tưởng của khách hàng vào thương hiệu bằng việc bảo đảm chất lượng sản phẩm ổn định, thường xuyên cải tiến, để sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn, ngày càng thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Sở cụng nghiệp thành phố Đà Nẵng, Bỏo cỏo qui hoạch phỏt triển ngành dệt - may
Thành phố Đà Nẵng thời kỳ 2001-2010, 2002
[2] Lờ Thị Võn Anh, Đổi mới chớnh sỏch nhằm thỳc đẩy xuất khẩu hàng hoỏ của Việt
Nam trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003
[3] Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Chiến lược Phỏt triển, Tổ chức phỏt triển cụng nghiệp
Liờn hợp quốc, Tổng quan về cạnh tranh cụng nghiệp Việt Nam, Nxb Chớnh trị Quốc
gia, Hà Nội, 1999
[4] Cụng ty Cổ phần Thụng tin Kinh tế Đối ngoại, Dệt may Việt Nam - Cơ hội và thỏch
thức, Nxb Chớnh trị Quốc gia, Hà Nội, 2003
[5] Viện Nghiờn cứu và Đào tạo về quản lý, Tạo dựng và quản trị thương hiệu, danh tiếng
- lợi nhuận, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003