1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "MỘT VÀI LƯU Ý VỀ LUẬT PHÁP KHI XÁC LẬP QUAN HỆ ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT, MAY VỚI HOA KỲ" docx

5 339 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 344,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT VÀI LƯU í VỀ LUẬT PHÁP KHI XÁC LẬP QUAN HỆ ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT, MAY VỚI HOA KỲ SOME POINTS RELATED TO THE LAW IN ESTABLISHING CONTRACT RELATIONSHIPS FOR EXPORTING TEXTILE AND G

Trang 1

MỘT VÀI LƯU í VỀ LUẬT PHÁP KHI XÁC LẬP

QUAN HỆ ĐỒNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT, MAY

VỚI HOA KỲ

SOME POINTS RELATED TO THE LAW IN ESTABLISHING CONTRACT RELATIONSHIPS FOR EXPORTING TEXTILE AND GARMENT

COMMODITIES WITH THE UNITED STATES OF AMERICA

TRẦN THỊ NGUYỆT

Trường Đại học Kinh tế Quốc dõn

TểM TẮT

Bài viết này nhằm làm sỏng tỏ cỏc nội dung phỏp lý - chớnh là những quy định bắt buộc phớa Hoa Kỳ đối với hàng dệt, may từ cỏc nước Chõu Á núi chung và Việt Nam xuất khẩu vào nước này Trờn cơ sở phõn tớch cỏc cơ hội kinh doanh, tiềm năng và lợi thế của hàng dệt may Việt Nam, cú đỏnh giỏ, rỳt kinh nghiệm từ thực tiễn và giới thiệu khỏi quỏt về luật phỏp cũng như hệ thống cỏc cơ quan quản lý xuất nhập khẩu của Hoa kỳ, chỳng tụi hy vọng gúp một vài

ý kiến thiết thực thỳc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng dệt, may bằng việc xỏc lập và thực thi cỏc hợp đồng thương mại quốc tế chuẩn xỏc, khụng bị vụ hiệu, khụng bị trả lại hàng hay bị kiện như thực tiễn đỏng buồn vừa qua

ABSTRACT

This paper aims at clarifying the legal contents, the US stipulations obligatory for textile and garment commodities exported to the USA from Asian countries including Vietnam On the basis of the analysis of business opportunities, potential, advantages of the Vietnamese textile and garment commodities together with the assessment, practical experience and general introduction to the US law and import, export management bodies, we wish to contribute some practical ideas for promoting the export of textile and garment commodities by accurately establishing and implementing international business contracts to avoid the risk of contract invalidation, returned commodities or proceedings like the undesirable realities in the past

Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu hàng dệt, may Hằng năm, nước này nhập khẩu khoảng 60 tỷ USD Kim ngạch xuất khẩu loại hàng này của Việt Nam vào Hoa Kỳ tăng lên, chứng tỏ hàng dệt may của Việt Nam đã, đang được thị trường Hoa Kỳ chấp nhận và

có nhiều hứa hẹn Tuy vậy, nó vốn còn quá nhỏ bé so với tổng kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan, Trung Quốc lục địa, Hồng Kông (Họ đã chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này) Để tránh rủi ro pháp lý không đáng có khi ký kết các hợp

đồng xuất khẩu hàng dệt may, chúng tôi muốn trao đổi với quý vị một số thông tin quan trọng thuộc về kỹ năng thực tiễn nghề nghiệp có liên quan tới tìm hiểu, chấp nhận và thi hành pháp luật nước nhập khẩu (Hoa Kỳ), hy vọng giảm thiểu sự lúng túng, vướng mắc khi dự định đưa hàng dệt, may Việt Nam tới Hoa Kỳ bằng các hợp đồng thương mại quốc tế

1 Vài nét về tình hình môi trường pháp lý đặc trưng của Hoa Kỳ trong thương mại quốc

tế hàng hoá

Hơn ở đâu hết, Mỹ là quốc gia có hệ thống pháp luật phức tạp nhưng chặt chẽ và khe khắt vào loại hàng đầu thế giới Ngoài hệ thống pháp luật toàn liên bang thì mỗi bang lại có luật lệ riêng nên không thể chủ quan áp dụng hay suy diễn giống nhau từ vùng thị trường này sang vùng thị trường khác Và cũng do tính chất nghiêm ngặt của pháp luật Mỹ nên những ai quen lối kinh doanh chộp giật, luồn lách sẽ không thể tồn tại dù chỉ một hợp đồng nhỏ Trước khi đàm phán, hãy tìm hiểu kỹ các công cụ chính sách thương mại, nắm chắc các đạo luật về

Trang 2

bảo vệ môi trường, luật chống độc quyền, luật chống phá giá, luật thuế bù giá, luật về trách nhiệm sản phẩm, luật về nhãn hiệu hàng hoá và phát minh sáng chế, các luật về trừng phạt và trả đũa trong thương mại quốc tế, và đặc biệt là các sắc thuế

Về chính sách đãi ngộ thương mại và các biện pháp phi thuế quan ở Hoa Kỳ:

 Việt Nam hiện chưa phải là quốc gia thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên chưa được Mỹ cho hưởng quy chế tối huệ quốc (MNF) hay quy chế về quan hệ buôn bán bình thường (NTR) như thể họ đã dành cho số đông các bạn hàng của mình (mức thuế 25%) Vì vậy, hàng hoá Việt Nam, trong đó có hàng dệt may khi xuất khẩu vào đây phải chịu mức thuế nhập khẩu rất cao, nếu không nói là cao nhất, đó là 68,9% đối với hàng may mặc, 55,1% đối với hàng dệt Thuế cao đã, đang và sẽ làm giảm đáng kể tính cạnh tranh của hàng hoá (cùng loại) Trong khi đó quy chế tối huệ quốc sẽ khiến cho mức 68,9% là mức hiện hành xuống còn 13,4% và mức 55,1% xuống còn có 10,3% Nhưng đó là việc của quốc gia ở tầm vĩ mô, nhưng đó không phải là điều bất biến Chúng ta hãy kiên nhẫn chờ đợi đến ngày thay đổi theo chiều tích cực Mặc dù vậy, theo chúng tôi, tuy hàng dệt may của Việt Nam có thể được hưởng mức thuế suất theo quy chế tối huệ quốc hay quy chế buôn bán bình thường là 25% vẫn không có nghĩa là đã hết khó khăn Mỹ vẫn có thể hạn chế hàng hoá Việt Nam bằng việc sử dụng vô số các công cụ phi thuế quan Việc áp dụng chế độ cấp hạn ngạch là một ví dụ

cụ thể Thực tiễn đã cho thấy hàng may mặc xuất khẩu của Campuchia vào Mỹ đã gia tăng nhanh chóng nhờ được hưởng quy chế buôn bán bình thường nhưng việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ở Campuchia đã gặp phải không ít khó khăn do phía Mỹ hiện đang áp dụng chế độ hạn ngạch

Bên cạnh hạn ngạch, các rào cản phi thuế quan khác cũng được Mỹ sử dụng một cách hữu hiệu và triệt để như:

 Dùng thuế chống bán phá giá (Antidumping duty);

 Trợ cấp xuất khẩu (Export subsidy);

 áp dụng thuế bù trừ (Countervailing duty);

 Đưa ra các điều khoản bảo vệ (Safeguards);

 Dùng hệ thống cấp phép nhập khẩu;

 Dùng giá tính thuế (Customs valuation);

 áp dụng thủ tục hải quan và lãnh sự;

 Đưa ra các yêu cầu về kỹ thuật, vệ sinh, bao bì, nhãn hiệu

 Còn đối với hệ thống thuế quan cũng không kém phần phức tạp nhưng lại rất cụ thể và chi tiết Phạm vi bài viết này không thể mô tả hết được Tựu chung, Hoa Kỳ đã, đang áp dụng

ba loại biểu thuế suất Một là hệ thống thuế quan theo quy chế buôn bán tự do (NTR) áp dụng cho những quốc gia là thành viên của WTO Hai là hệ thống thuế quan theo hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập áp dụng cho các nước đang phát triển được Hoa Kỳ cho phép Ba là hệ thống thuế quan cho các quốc gia có quan hệ không thân thiện với Mỹ Ngoài ra, biểu thuế nhập khẩu của Mỹ còn chịu sự chi phối của các hiệp định song phương và đa phương khác

2 Những qui định pháp lý của Hoa Kỳ liên quan tới xuất khẩu hàng hoá dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ

2.1 Quy định về xuất xứ hàng hoá

Trong trường hợp sản phẩm được sản xuất hoặc gia công từ một quốc gia duy nhất thì trên bao bì của sản phẩm đó phải ghi rõ:

 Số và nhãn mác đăng ký;

 Tên quốc gia sản xuất hay gia công;

 Thành phần cấu tạo và phẩm chất (chỉ tiêu xác định phẩm chất, phương pháp xác định phẩm chất);

 Ngày, tháng, năm sản xuất;

Trang 3

 Ngày, tháng, năm xuất khẩu (hàng hoá đó)

Trong trường hợp sản phẩm được hình thành từ nhiều quốc gia, các thông tin yêu cầu bắt buộc là:

 Số và nhãn mác đăng ký;

 Xác nhận việc sản xuất hay gia công;

 Tên quốc gia gia công hoặc sản xuất;

 Ngày xuất khẩu;

 Nguyên liệu sử dụng

Đối với các sản phẩm dệt may không chịu sự kiểm soát của Điều 204 FFA (Flamable Fabric Act) thì phải làm đúng các quy định bắt buộc sau:

 Ghi rõ số và nhãn mác đăng ký;

 Miêu tả thành phần cấu tạo và phẩm chất;

 Ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ của hàng hoá đó

2.2 Quy định về nhãn mác hàng hoá

Hoa Kỳ có hai bộ luật quy định về nhãn mác hàng hoá, đó là:

 TFPIA (TextileFiber Product Identification Act) và

 WPLA (Wool Products Labelling Act) Hai bộ luật này được áp dụng cho hầu hết các sản phẩm dệt may vào Mỹ, trong đó có Việt Nam Các quy định cụ thể như sau:

 Trên nhãn mác phải có sự phân biệt cụ thể tỉ trọng các loại sợi trong sản phẩm

đó Những loại sợi nào có tỉ trọng lớn hơn 5% thì phải được ghi rõ tỷ trọng của từng loại và phải đề là "Other fibers" ở cuối Các loại sợi có tỷ trọng nhỏ hơn hoặc bằng 5% sẽ phải ghi là

"Other fibers"

 Thương hiệu của sản phẩm phải được đăng ký tại cơ quan sáng chế Hoa Kỳ (USPO-US Patent Office) Tên của nhà sản xuất, số hiệu phái đăng ký tại FTC- Hội đồng Thương mại liên bang (Federal Trade Commission) Những thành viên tham gia phân phối và buôn bán sản phẩm cũng được đăng ký tại đây

 Các yêu cầu ghi tên quốc gia sản xuất hay gia công sản phẩm được quy định trong điều luật về chứng thực sản phẩm dệt TPIA (Textile Products Identification Act) Những lô hàng nhập vào Hoa Kỳ có trị giá từ 500 USD trở lên phải tuân thủ những điều kiện sau:

 Phải liệt kê tên các loại sợi cấu thành sản phẩm (ghi tên các loại sợi có tỉ trọng

từ 5% trở lên),

 Phải ghi rõ tỷ trọng các loại sợi cấu thành,

 Ghi tên quốc gia đăng ký theo FTC- Hội đồng Thương mại liên bang hoặc ghi theo hướng dẫn của TFPIA,

 Ghi tên quốc gia sản xuất hoặc gia công sản phẩm đó

Riêng đối với sản phẩm len dạ thì có quy định riêng trong WPLA Theo đó, các sản phẩm len dạ phải được ghi rõ:

 Tỉ trọng các loại sợi và len cụ thể cho len, len tái sinh, sợi có tỉ trọng trên 5%

và tổng tỉ trọng của các loại sợi còn lại;

 Trọng lượng tối đa của sản phẩm và tên quốc gia sản xuất hay gia công sản phẩm

2.3 Quy định về thuế và hạn ngạch của pháp luật Hoa Kỳ áp dụng cho hàng dệt may Việt Nam

 Các loại thuế:

Các loại thuế đánh vào hàng dệt may nhập khẩu (từ Việt Nam) được quy định trong bảng thuế HTS - Harmonizied Tariff System) của Mỹ HTS phân loại hàng hoá thành mã 6 chữ

số Bảng thuế suất nhập khẩu của Hoa Kỳ gồm hai cột thuế suất:

Trang 4

 Cột 1 áp dụng đối với các nước đã được hướng MFN - tối huệ quốc Cột này gồm 2 mục (cột nhỏ); một là cột mức thuế suất phổ thông áp dụng với các nước hưởng MFN đơn thuần, còn một nữa là cột thuế suất ưu đãi hơn được áp dụng đối với các nước vừa hưởng MFN vừa hưởng GSP - chế đội ưu đãi thuế quan phổ cập Hy vọng rằng trong tương lai (không xa) hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sẽ được áp dụng thuế suất ở cột này

 Cột 2 - là cột thuế suất áp dụng đối với các nước chưa hưởng MFN, trong đó có hàng dệt may Việt Nam Mức thuế suất ở cột này rất cao, cao hơn rất nhiều so với cột

1, bởi vì ngoài lý do phân biệt đối xử thường thấy thì còn bởi một lý do lịch sử nữa,

đó là nó vốn được quy định từ năm 1930 trong một đạo luật thuế nhập khẩu Smooth - Hawley rất hà khắc nhằm bảo hộ ở mức rất cao hoạt động sản xuất trong nước Đã hơn 70 năm trôi qua, nó vẫn còn giá trị hiệu lực cho dù thương mại quốc tế đã nhiều thay đổi

 Về hạn ngạch:

ở Hoa Kỳ khi đã có thoả thuận song phương bằng các hiệp định về hàng dệt may thì không dùng hạn ngạch Tuy nhiên, Chính phủ Hoa Kỳ vẫn bảo lưu quyền đơn phương áp đặt hạn ngạch trong những trường hợp nhất định Có các kiểu hạn ngạch sau đây:

 Hạn ngạch tuyệt đối (Absolute Quota) dùng để cho phép một lượng cụ thể nhất

định được nhập khẩu vào Mỹ trong một khoảng thời gian nhất định Mỹ áp dụng loại hạn ngạch này tuỳ theo từng quốc gia Trong trường hợp hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ quá hạn ngạch thì phần vượt quá sẽ được lưu tại kho ngoại quan và chờ

đợi việc gia hạn hạn ngạch trong thời gian tới hoặc phải được huỷ bỏ trước sự chứng kiến của hải quan nước Mỹ Thực tế, do không biết hoặc biết mà vẫn làm, một số lô hàng xuất khẩu của Việt Nam đã bị rơi vào hai tình trạng trên gây tổn thất rất lớn cho người xuất khẩu Việt Nam Vì vậy, các doanh nghiệp phải hết sức lưu ý Hãy tìm cách đưa phần hàng vượt quá đó về nước cho dù có tốn kém trước khi có quyết định lưu kho ngoại quan hoặc bị tiêu huỷ, vừa để vớt vát ít nhiều, vừa là giữ thể diện, uy tín cho doanh nghiệp (phía Việt Nam) Thông thường các hiệp định thương mại hàng hoá có xu hướng mở rộng tối đa hạn ngạch cho nên việc tích cực đàm phán quốc gia

để xác lập các hiệp định song phương về hàng hoá này là một hướng đi tất yếu và

đúng đắn từ phía nhà chức trách Việt Nam Rất tiếc Việt Nam hiện chưa làm được việc này

 Kiểu hạn ngạch – thuế (Tariff quota) là một dạng hạn ngạch dễ chịu hơn đối với hàng dệt may Việt Nam Đó là dạng áp dụng một mức thuế "ưu đãi hơn" cho một

số lượng cụ thể nhất định các sản phẩm dệt may Việt Nam vào Mỹ Dễ chịu là ở chỗ trong thời gian có hiệu lực của hạn ngạch loại này, Mỹ không giới hạn lượng hạng nhập khẩu nhưng khi vượt quá lượng cho phép trong hạn ngạch tuyệt đối thì phần vượt quá này sẽ phải chịu "mức thuế cao hơn" "Mức thuế cao hơn" này giống như giọt nước làm tràn ly, có thể sẽ khiến cho (đôi khi) người xuất khẩu không thể tìm kiếm được lợi ích khi phân phối lượng hàng này ở thị trường nhập khẩu bởi giá bị đội lên rất cao Vì thế, đỡ rủi ro nhất vẫn là đừng bao giờ chuẩn bị hàng dệt may xuất khẩu thừa hạn ngạch

 Giấy phép nhập khẩu hàng dệt (Visa liciense) là việc người xuất khẩu hàng vào

Mỹ phải xác nhận trên hoá đơn hay trên giấy phép xuất khẩu về hàng hoá của mình Loại giấy này được sử dụng để hạn chế việc nhập hàng hoá vào Mỹ mà không xác

định rõ sở hữu hay nguồn gốc Visa có thể áp dụng cho hàng hoá có hạn ngạch hoặc không có hạn ngạch, tuỳ vào nước xuất khẩu là nước nào mà hàng hoá có hạn ngạch

có bị áp dụng đồng thời với Visa hay không Đối với Việt Nam, có visa cũng chưa phải là điều kiện đủ để hàng Việt Nam vào Mỹ Trong trường hợp hết hạn ngạch thì mặc dù hàng Việt Nam có Visa vẫn phải chờ tới khi hạn ngạch được mở tiếp Đối với

Trang 5

Mỹ, không làm liều, suy diễn tù mù hay làm ăn kiểu luồn lách được bởi vì họ có ELVIS (Electronic Visa Information System) - là hệ thống quản lý Visa bằng điện tử của dịch vụ hải quan Mỹ đối với các sản phẩm dệt may cụ thể, nhất định từ Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Đào, Luật Kinh doanh quốc tế, Nhà xuất bản

Đồng Nai, 2000

[2] Trần Chớ Thành, Tổ chức và nghiệp vụ kimh doanh thương mại quốc tế, Nhà xuất bản

Thống kờ, 1994

[3] Cụng ước quốc tế của Liờn Hợp Quốc về mua bỏn quốc tế hàng hoỏ, Viờn, 1980 [4] Tập quỏn quốc tế về thương mại quốc tế hàng hoỏ

[5] Một số nguồn luật của Hoa Kỳ: + OTXA - US Department of Commerce Office of

Textile and Apparel

Ngày đăng: 22/07/2014, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm