1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học: "CHUẨN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA SINH VIÊN HỆ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGOẠI NGỮ" pdf

6 841 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 278,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUẨN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGễN NGỮ CỦA SINH VIấN HỆ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGOẠI NGỮ BUILDING STANDARDS FOR EVALUATING AND ASSESSING THE ABILITY OF BACHELORS OF FOREIGN LANGUAGES TRẦN

Trang 1

CHUẨN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGễN NGỮ CỦA SINH VIấN HỆ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN NGOẠI NGỮ

BUILDING STANDARDS FOR EVALUATING AND ASSESSING THE

ABILITY OF BACHELORS OF FOREIGN LANGUAGES

TRẦN HỮU PHÚC

Đại học Đà Nẵng

TểM TẮT

Xõy dựng chuẩn đỏnh giỏ và xỏc định cụng cụ đo năng lực sử dụng ngụn ngữ đối với sinh viờn ngoại ngữ là một vấn đề khoa học Chuẩn đỏnh giỏ khụng chỉ là cụng cụ để kiểm tra năng lực sử dụng ngụn ngữ của người học mà cũn để kiểm chứng mức độ phự hợp của chương trỡnh đào tạo với mục tiờu đào tạo, nội dung, thời lượng và đối tượng người học Qua

đú, quỏ trỡnh dạy và học ngoại ngữ, năng lực sử dụng ngụn ngữ cú thể được điều chỉnh Bài viết trỡnh bày cơ sở xỏc định chuẩn đỏnh giỏ, cỏc vấn đề cần xem xột về chuẩn trong đào tạo cử nhõn ngoại ngữ; những mục tiờu cụ thể khi tiến hành xõy dựng cụng cụ đo với tư cỏch

là bài kiểm tra, đỏnh giỏ Qua đú, tỏc giả mong muốn trao đổi những vấn đề quan tõm về chuẩn cũng như những nghiờn cứu đề xuất trong cụng tỏc dạy - học và chất lượng đào tạo cử nhõn ngoại ngữ

ABSTRACT

Constructing the evaluation standards and defining the instruments to assess the language competence of students of foreign languages are scientific matters Evaluation standards are not only tools to test learner’s ability to use a language, but also to assess the appropriateness

of the training program with its objectives, contents, duration and the types of learners Based these standards, the process of foreign language learning and teaching, as well as the students’ language competence can be adjusted

This paper presents the basis for defining evaluation standards, the issues concerning standards to be considered in training Bachelors of foreign languages; the specific objectives

in carrying out the assessment tools as tests and evaluations As the result of this, the author would like to exchange matters of concern on standards as well as his study and suggestions

on teaching - learning and the training quality of Bachelors of foreign languages.

1 Đặt vấn đề

Tìm hiểu về chuẩn đánh giá chương trình đào tạo và xác định công cụ đo năng lực sử dụng ngoại ngữ của sinh viên là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác đào tạo Cho dù người nghiên cứu những vấn đề này là giáo viên đang thực hiện bài giảng, biên soạn giáo trình; hay những nhà quản lý đang xây dựng chương trình, nghiên cứu quá trình đào tạo, cơ sở của vấn

đề vẫn là chuẩn đánh giá và xác định công cụ đo Chuẩn đánh giá và công cụ đo ở đây được

xác định trên cơ sở chương trình, nội dung đào tạo cùng với mục tiêu đào tạo, đối tượng người học và dự kiến về mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của sản phẩm được đào tạo

Từ việc xác định chuẩn của chương trình đào tạo, công cụ đo sẽ được thiết lập nhằm

đánh giá khả năng lĩnh hội của người học cũng như hiệu quả của chương trình đào tạo Kết quả từ công cụ đo không chỉ để đánh giá người học, mà còn là chuẩn trong phạm vi điều chỉnh chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo và cả chuẩn nghề nghiệp của giáo viên

2 Cơ sở xác định chuẩn đánh giá và công cụ đo trong đào tạo cử nhân ngoại ngữ

2.1 Chuẩn đánh giá

Chuẩn đánh giá năng lực ngôn ngữ và các kỹ năng giao tiếp của người học được xác

định và thiết lập trên cơ sở chương trình đào tạo, mục tiêu của khoá học, đối tượng được đào

Trang 2

tạo, nhằm mục đích trang bị cho họ lượng kiến thức ở cấp độ và thời lượng tương ứng, phục vụ nhu cầu thực tế của xã hội

Khi xác định được cơ sở của các vấn đề nêu trên, người hoạch định chương trình sẽ dễ dàng phác hoạ được kết quả đầu ra của chương trình đào tạo, xác định được thời lượng, tài liệu, chiến lược và phương pháp thực hiện bài giảng Sau cùng là tiến hành xây dựng nội dung

và hình thức kiểm tra đánh giá kết quả của sinh viên sau mỗi học phần, môn học cũng như

đánh giá lại quá trình giảng dạy của giáo viên Như vậy chuẩn đánh giá được hiểu theo nghĩa các mức chuẩn cho việc xây dựng công cụ đo năng lực của người học, bao gồm năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực hiểu và phân tích văn hoá ngôn ngữ, các tình huống ứng xử trong giao tiếp đối với ngôn ngữ được học Chuẩn ở đây còn được hiểu ở phạm

vi rộng là thước đo soi lại tính chuẩn xác, mức độ phù hợp của nội dung, chương trình và hiệu quả của phương pháp đào tạo

2.2 Công cụ đo

Trên cơ sở các chuẩn đánh giá, công cụ đo được thiết lập với tư cách là những bài kiểm tra, đánh giá (Tests and Assessment) Nhìn từ góc độ kết quả đào tạo, chuẩn của một chương trình sẽ được thẩm định thông qua kết quả đánh giá Chính từ lập luận này, có thể thấy rằng một bài kiểm tra đạt chuẩn không bao giờ thoát ly khỏi chương trình môn học, mục tiêu khoá học, giáo trình, đề cương bài giảng hay chiến lược giảng dạy

Từ cơ sơ lập luận trên, việc xây dựng công cụ đo (bài kiểm tra) đương nhiên phải xuất phát từ nội dung giảng dạy, các hoạt động cụ thể trong giao tiếp của lớp học, cấp độ và mục tiêu của chương trình đào tạo Một bài kiểm tra tốt là một bài kiểm tra đánh giá được các thang bậc tiếp thu của người học trên cơ sở các thang chuẩn của hệ thống đánh giá đã được lập

ra

2.3 Hệ thống các thang bậc chuẩn đánh giá thông qua công cụ đo (Tests)

Những nghiên cứu về hệ thống chuẩn đánh giá của Châu Âu, Mỹ hay Uẽc cho thấy kết quả đánh giá đều được phân thành các thang bậc, qua đó người học có thể xác định lại lượng kiến thức đã lĩnh hội và khả năng sử dụng của mình Công cụ đo chuẩn là công cụ đưa ra được các thang bậc đánh giá khả năng sử dụng ngoại ngữ của người học theo 5 bậc từ thấp đến cao:

còn hạn chế, bước đầu biết sử dụng, có thể sử dụng độc lập, có năng lực lĩnh hội tốt, sử dụng thành thạo

Đối với việc xác định chuẩn đánh giá và công cụ đo trong đào tạo ngoại ngữ, có thể xem hệ thống đánh giá của chương trình IELTS là mẫu điển hình cho việc xây dựng công cụ

đo Trên thực tế có nhiều đề thi được mô phỏng theo qui trình và loại hình đánh giá này Theo chuẩn đánh giá của IELTS, năng lực sử dụng tiếng Anh được đánh giá chính xác thông qua 9 thang bậc chuẩn, đánh giá 4 kỹ năng ngôn ngữ cũng như kiến thức ngữ pháp và từ vựng trong

ngữ cảnh ứng dụng ngôn ngữ Chín thang điểm (9/10) đánh giá đó là:

1 Không có khả năng sử dụng (non-user)

2 Sử dụng gián đoạn (intermittent user)

3 Sử dụng ở mức cực kỳ hạn chế (extremely limited user)

4 Sử dụng ở mức hạn chế (limited user)

5 Sử dụng ở mức khiêm tốn (modest user)

6 Sử dụng ở mức hiểu biết (competent user)

8 Sử dụng rất tốt (very good user)

9 Sử dụng ở mức chuyên gia (expert user)

Trang 3

3 Xây dựng công cụ đo với tư cách là bài kiểm tra, đánh giá

3.1 Xác định các giai đoạn và qui trình lập một bài kiểm tra (Test)

Mục tiêu chung nhất của tất cả các dạng bài kiểm tra năng lực sử dụng ngoại ngữ là xác định rõ điểm mạnh và điểm yếu về năng lực sử dụng các vấn đề đã được lĩnh hội của sinh viên Có trường hợp từ một bài kiểm tra, giáo viên nhận ra một sinh viên phát âm tốt và nói rất trôi chảy nhưng lại đạt kết quả thấp trong một bài đọc hiểu Hay ở một bài kiểm tra khác, giáo viên có thể nhận ra việc đưa nhiều từ chuyên môn sâu vào bài đọc hiểu có thể dẫn đến kết quả

đọc hiểu của sinh viên không cao Từ thực tế này, giáo viên có thể xác định lại các bước cần thiết và những điều chỉnh phù hợp để ra đề và đánh giá đúng năng lực ngôn ngữ của sinh viên

đối với những kỹ năng cụ thể

Shohamy, A Practical Handbook in Language Testing for the Second Language Teacher, 1985 nhận định “một trong những thuộc tính chủ yếu của một bài kiểm tra hay, đó là

sự thể hiện chính xác năng lực ngôn ngữ mà chúng ta muốn kiểm tra ”

Việc kiểm tra năng lực sử dụng ngôn ngữ được thực hiện trên cơ sở mục tiêu và nội dung của bài học Bài kiểm tra phải thực sự là mẫu nội dung chuẩn mực, hiển thị tiêu biểu các vấn đề đã được trình bày, lý giải và sử dụng trong suốt quá trình day-học Các bước tiến hành lập một bài kiểm tra bao gồm:

1 Xác định mục đích của bài kiểm tra (determine the purpose of the test)

2 Làm rõ mục tiêu của bài kiểm tra (specify the objectives of the test)

3 Xác định phạm vi, nội dung của bài kiểm tra (define the content area of the test)

4 Xác định dung lượng liên quan đối với các phần khác nhau của bài kiểm tra (determine the relative weights of the different parts of the test)

5 Xác định phương pháp và qui trình kiểm tra để đi đến mục tiêu và nội dung của bài kiểm tra (determine what testing methods and procedures to use in order to tap the objectives and content)

Trong chương trình đào tạo cử nhân ngoại ngữ, cần thống nhất một mô hình chuẩn trong xây dựng bài kiểm tra Nhiều giáo viên khác nhau, với các hướng tiếp cận khác nhau thường xây dựng bài kiểm tra theo các quan điểm khác nhau do vậy kết quả đánh giá sẽ không

đồng bộ Chẳng hạn 2 giáo viên cùng ra đề bài viết yêu cầu sinh viên viết một lá thư than phiền đến nhà sản xuất về sản phẩm kém chất lượng Mỗi giáo viên có mỗi thang điểm đánh giá khác nhau về bài viết của sinh viên

Teacher No 1

Objectives

Content

Using language accurately

(Grammar)

Using lexiccal items correctly in context

Communicating the message

Teacher No 2

Objectives

Content

Using language accurately (Grammar)

Using lexiccal items correctly

in context

Communicating the message

Using appropriate language

Trang 4

Như vậy, xuất phát từ hướng tiếp cận khác nhau, giáo viên lựa chọn cách đánh giá và mục tiêu đánh giá khác nhau Giáo viên thứ nhất giảng dạy theo hướng cấu trúc (structured approach), trong khi giáo viên thứ hai quan tâm nhiều đến hướng giao tiếp (communicative approach) Trong trường hợp khác, một giáo viên chuyên dạy kỹ năng viết thường yêu cầu khá cao về bố cục ý tưởng được trình bày khi đánh giá bài thi nói của sinh viên

3.2 Các dạng bài kiểm tra phổ biến trong đánh giá các kỹ năng thực hành ngôn ngữ

Nội dung kiểm tra phải được xây dựng trên cơ sở lượng kiến thức đã được giáo viên truyền đạt nhằm đánh giá mức độ lĩnh hội và khả năng sử dụng của người học Tuỳ điều kiện

và mục tiêu chương trình để giáo viên có thể quyết định các dạng bài kiểm tra khác nhau Tất nhiên bài kiểm tra không nhất thiết lúc nào cũng là dạng câu hỏi tự luận Qui trình và kỹ thuật kiểm tra trong đào tạo cử nhân ngoại ngữ thường được thực hiện dưới các thể loại phổ biến như: trình bày theo vai (role playing), viết báo cáo (reporting), thông tin phản hồi (reacting), viết tóm tắt (writing a summary), tranh luận (debating)

Thực tế cho thấy trong rất nhiều trường hợp, giáo viên tập trung quá nhiều đến kỹ thuật kiểm tra mà xem nhẹ việc nên kiểm tra những nội dung gì Điều này dẫn đến kết quả kiểm tra chưa thật sự đánh giá hết, đánh giá chính xác khả năng lĩnh hội và phát triển vấn đề của sinh viên

Mặt khác, những sinh viên thường xuyên tiếp cận nhiều kiểu loại bài kiểm tra khác nhau thường tự tin và có kết quả kiểm tra cao hơn so với những sinh viên chưa quen thuộc với một số thể loại bài kiểm tra Điều này cũng đòi hỏi ở giáo viên kỹ thuật ra bài kiểm tra dưới nhiều dạng thức khác nhau Các thể loại kiểm tra phổ biến trong đào tạo cử nhân ngoại ngữ bao gồm: thực hiện theo vai, bài tập điền từ, trả lời tự luận, viết tóm tắt, xác định câu đúng / sai, trắc nghiệm

3.3 Những thuộc tính thiết yếu cần xem xét khi tiến hành xây dựng bài kiểm tra

Kết quả quá trình giảng dạy của giáo viên và kiến thức bài học mà sinh viên lĩnh hội

được thể hiện qua chất lượng của bài kiểm tra Tuỳ theo mục tiêu của chương trình cũng như

sự mong đợi về kiến thức và kỹ năng đầu ra của người học để lựa chọn các thể loại kiểm tra

đánh giá chính xác Tuy nhiên, dù bất kỳ thể loại kiểm tra nào, công cụ đo cũng phải dựa trên cơ sở nội dung chương trình bài giảng, mục tiêu đào tạo, đối tượng người học Để xây dựng bài kiểm tra đánh giá chuẩn, các thuộc tính thiết yếu sau đây cần phải được xem xét một cách

kỹ lưỡng:

- Tính hiệu lực của bài kiểm tra (Test validity)

- Độ khó của bài kiểm tra (Test difficulty)

- Độ tin cậy bài kiểm tra (Test reliability)

- Khả năng ứng dụng của bài kiểm tra (Test applicability)

- Mức độ phù hợp của bài kiểm tra (Test relevance)

Language knowledge

Trang 5

- Khả năng quản lý, sử dụng lại bài kiểm tra (Test replicability)

- Phân tích kết quả bài kiểm tra (Test interpretability)

- Tính kinh tế của bài kiểm tra (Test economy)

- Tính công hiệu của bài kiểm tra (Test availability)

* Source: Language Testing and Assessment, SEAMEO

Regional Language Centre, 2 nd

edition, 1996

3.4 Mục tiêu cơ bản của bài kiểm tra

Mọi khoá học đều kết thúc bằng công tác kiểm tra, đánh giá Trong đào tạo ngoại ngữ, bài kiểm tra phải được thực hiện rất tỉ mỉ và chi tiết Khi thiết lập bài kiểm tra, ngoàI những nội dung câu hỏi, cơ sở chuẩn để đánh giá, một vấn đề khác hết sức quan trọng đó là mục tiêu của bài kiểm tra Những mục tiêu cơ bản nhất của bài kiểm tra đánh giá trong đào tạo cử nhân ngoại ngữ là:

1 Đánh giá đúng lượng kiến thức người học đã lĩnh hội được trong chương trình đào tạo; trong mối tương quan với nội dung chương trình, giáo trình, bài giảng mà người học đã tiếp thu

2 Đánh giá đúng hiệu quả sử dụng ngôn ngữ trong chương trình học; trong mối tương quan với nhu cầu ứng dụng vào công việc trong tương lai của người học Chẳng hạn, bài kiểm tra đối với hệ đào tạo biên phiên dịch cần tập trung quan tâm nhiều hơn đến kỹ năng diễn đạt, cách hành văn, cách thể hiện trong việc cung cấp thông tin

3 Kết quả bài kiểm tra phản ánh đúng năng lực sử dụng ngôn ngữ của người học; giúp

họ tìm được điểm mạnh, điểm yếu trong hiểu biết và ứng dụng ngôn ngữ được học; có khả năng lý giải những lỗi đã mắc phải, đồng thời biết tạo ra biện pháp khắc phục và xử lý tình huống đặt ra

4 Phân loại và sắp xếp đối tượng người học sau khi kiểm tra theo nhóm năng lực tương ứng nhau, nhằm tạo động cơ tích cực trong giờ học và trong thực hành nhóm giao tiếp

5 Bài kiểm tra là công cụ đo năng lực tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ ở nhiều hướng tiếp cận khác nhau (structural or communicative approach)

6 Bài kiểm tra phải đánh giá được hiệu quả của chương trình đào tạo Công cụ này nên thực hiện thí điểm trên các lớp mẫu, lớp chất lượng cao Loại hình lớp này có cùng mục tiêu

đào tạo nhưng có thể áp dụng những phương pháp và giáo trình khác nhau để đạt được mục tiêu đó

4 Kết luận và đề xuất

Làm chủ quá trình đào tạo, làm chủ hoạt động giảng dạy và xác định chuẩn đánh giá dạy-học là chìa khoá của sự thành công trong đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng như mong muốn của bản thân người học Để đạt được kết quả này, việc xác định rõ chuẩn đánh giá để xây dựng công cụ đo là điều kiện tiên quyết trong đào tạo cử nhân ngoại ngữ Chuẩn đánh giá được xây dựng không chỉ nhằm ở mục tiêu, chương trình và nội dung đào tạo mà còn nhằm cả ở giáo trình, phương pháp, kỹ năng ứng dụng công nghệ vào giảng dạy và

kể cả mục tiêu xây dựng bộ chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên ngoại ngữ

Bài viết chủ yếu tập trung trình bày những vấn đề liên quan đến chuẩn và xây dựng công cụ đo trong đào tạo cử nhân ngoại ngữ Thiết nghĩ để việc xây dựng chuẩn đánh giá đạt

được hiệu quả cao, cần phải có sự phối hợp tốt trong việc xây dựng chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên

Trang 6

Tác giả bài viết đề xuất việc xây dựng bộ chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên ngoại ngữ

Từ bộ chuẩn này, giáo viên có thể tìm hiểu và so sánh các chuẩn về phẩm chất, năng lực ngôn ngữ, phương pháp giảng dạy, ứng dụng phương tiện công nghệ trong trình bày bài giảng, nguồn tài liệu tác nghiệp chuyên môn

Một khi những mức chuẩn nghề nghiệp định ra đã đạt được, chắc chắn sẽ góp phần

đáng kể cho việc thực hiện chuẩn đánh giá và xây dựng công cụ đo trong đào tạo ngoại ngữ một cách hiệu quả Kết quả đánh giá chắc chắn sẽ đồng bộ hơn, chính xác hơn; giúp người học nhận thức được năng lực và lượng kiến thức về ngoại ngữ mình đang học để có thể điều chỉnh quá trình học hiệu quả hơn

Công tác xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đo trong đào tạo cử nhân ngoại ngữ sẽ là

động lực thúc đẩy việc nâng cao chất lượng đào tạo Chuẩn đánh giá sẽ góp phần từng bước cải thiện nội dung và phương pháp theo nhu cầu của tình hình mới; góp phần đào tạo cử nhân ngoại ngữ có trình độ và năng lực phù hợp với nhu cầu hội nhập, giao lưu, hợp tác về nhiều mặt trong xu hướng thế giới hiện tại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Backman, L 1991, Fundamental Cosiderations in Language Testing, OUP

[2] Richard, C 2001, Curriculum Development in Language Teaching, CUP

[3] Sohohamy, E 1985, A Practical Handbook in Language Testing for Second Language

Teachers, Tel Aviv University

[4] Widdowson, HG 1978, Testing Language as Communication, OUP

[5] Language Testing and Assessment in EFL, 1996 SEAMEO Regional Language Centre

Singapore

Ngày đăng: 22/07/2014, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w