1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam

96 437 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển Quỹ Đầu Tư Chứng Khoán Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Vân Anh
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 831,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính như trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ hưởng lợi … phục vụ cho mục tiêu huy động vốn và phù hợp với đặc thù hoạt động củ

Trang 1

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1.1 CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN

Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của thị trường tài

chính đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Hoạt

động của thị trường tài chính có những tác động tích cực, hiệu ứng trực tiếp

tới hiệu quả đầu tư của các cá nhân, của doanh nghiệp, hành vi của người tiêu

dùng, và tới động thái chung của toàn bộ nền kinh tế

Thị trường tài chính bao gồm nhiều bộ phận, trong đó thị trường chứng

khoán (TTCK) là một bộ phận đặc biệt quan trọng Ra đời từ rất sớm, TTCK

dần phát triển và trở thành một bộ phận không thể thiếu của một thị trường

tài chính phát triển

Trong nền kinh tế hiện đại, TTCK được xem là đặc trưng cơ bản, là

biểu tượng của toàn nền kinh tế Mọi động thái hay thay đổi nhỏ của các chủ

thể tham gia trên thị trường đều được thể hiện trên TTCK Người ta có thể đo

lường và dự tính sự phát triển của nền kinh tế qua các diễn biến trên TTCK

Đề cập đến TTCK và hoạt động của các chủ thể tham gia trên thị

trường, trước hết cần đề cập đến các giao dịch của thị trường đó Để TTCK

thực sự phát huy được vai trò của mình, trở thành một kênh huy động vốn

hiệu quả thì sự tham gia của các chủ thể ­ đặc biệt là các Quỹ đầu tư chứng

khoán ­ là vô cùng cần thiết

1.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán

Trang 2

Hiện nay, tồn tại rất nhiều cách hiểu khác nhau về TTCK

Quan điểm thứ nhất cho rằng TTCK và thị trường vốn là một và chỉ là

tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm : Thị trường tư bản Thị trường

vốn biểu hiện nội dung, bản chất bên trong của quá trình mua bán chứng

khoán, còn TTCK là biểu hiện bên ngoài, là các giao dịch vốn cụ thể

Quan điểm thứ hai, của đa số các nhà kinh tế, lại cho rằng: “ TTCK

được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không đồng nhất với thị trường vốn”

Theo quan điểm này, TTCK và thị trường vốn là hai thị trường khác nhau

nhưng có quan hệ qua lại với nhau

Cũng có những giai đoạn trong lịch sử TTCK, tại đa số các Sở giao

dịch chứng khoán người ta chủ yếu giao dịch, mua bán các phiếu cổ phần do

các công ty phát hành ra để huy động vốn, và do đó người ta cho rằng: “

TTCK là thị trường cổ phiếu”

Có thể thấy rằng các quan điểm trên được đưa ra dựa trên điều kiện

thực tiễn của lịch sử nên đều đúng trong những giai đoạn nhất định Tổng hợp

và kế thừa các quan điểm trên đồng thời phù hợp với sự phát triền chung của

TTCK hiện nay, có thể hiểu:

“Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi các

loại chứng khoán; là nơi cung và cầu chứng khoán gặp nhau”

Hàng hoá trên TTCK là các loại chứng khoán Giá cả trao đổi là thị giá

chứng khoán Các giao dịch, mua bán, trao đổi về chứng khoán giữa các nhà

đầu tư, các nhà đầu cơ, kinh doanh chứng khoán và các công ty với sự hỗ trợ

của các trung gian tài chính có thể diễn ra trên thị trường sơ cấp, hay thị

trường thứ cấp; tại thị trường giao dịch tập trung (Sở giao dịch chứng khoán)

hay TTCK phi tập trung (thị trường giao dịch qua quầy – Over The Counter

Market), trên thị trường giao ngay (Spot market) hay thị trường kỳ hạn

(Future market) Các quan hệ mua bán, giao dịch, trao đổi này làm thay đổi

Trang 3

chủ sở hữu của chứng khoán, về thực chất chính là quá trình vận động tư bản

từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh

Với các cách hiểu như trên, có thể xác định TTCK là một bộ phận của

thị trường tài chính, xong vị trí của nó trong thị trường vốn và thị trường tiền

tệ lại khác nhau do các quan điểm không đồng nhất Một quan điểm phổ biến

ở các TTCK phát triển và ở Việt Nam hiện nay là : TTCK là bộ phận quan

trọng nhất, là đặc trưng của thị trường vốn

SƠ ĐỒ 1: CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

Tóm lại, TTCK là một thị trường khác biệt với các thị trường hàng hoá

thông thường khác vì hàng hoá trên thị trường này là một loại hàng hoá đặc

biệt : quyền sở hữu về tư bản Vì vậy, có thể nói : bản chất của TTCK là thị

trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu về vốn đầu tư, mà ở đó giá cả

của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu

tư TTCK chính là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông

hàng hóa

Giao dịch trên thị trường chứng khoán là việc các nhà đầu tư đặt lệnh,

tham gia mua, bán, trao đổi hay chuyển nhượng chứng khoán Dựa trên thời

gian thanh toán và tính chất giao dịch, các giao dịch chứng khoán có thể được

THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ THỊ TRƯỜNG VỐN

Thị trường chứng khoán

Trang 4

phân loại thành giao dịch thông thường, giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ

hạn, giao dịch tương lai và giao dịch quyền chọn

a. Giao dịch thông thường: là các giao dịch phổ biến trên thị trường chứng

khoán Sau khi giao dịch chứng khoán diễn ra là quá trình xử lý các giao

dịch theo một thời gian xác định, thông thường có chu kỳ thanh toán là

T+3 Việc rút ngắn chu kỳ thanh toán có ý nghĩa quan trọng trong việc thu

hút nhà đầu tư đồng thời, khi chu kỳ thanh toán càng ngắn thì rủi ro thanh

toán càng giảm đi

b. Giao dịch đặc biệt: là các giao dịch có tính chất đặc biệt, như: giao dịch cổ

phiếu mới niêm yết, giao dịch trong trường hợp tách, gộp cổ phiếu, giao

dịch lô lớn, giao dịch lô lẻ, giao dịch không hưởng cổ tức, giao dịch ký

quỹ (giao dịch bảo chứng ); bán khống

c. Giao dịch giao ngay: là các loại giao dịch được thanh toán ngay trong

ngày giao dịch (ngày T) Loại giao dịch này hầu như không có rủi ro thanh

toán vì quá trình thanh toán được thực hiện ngay sau khi giao dịch diễn ra

Loại giao dịch này thường được áp dụng ở các thị trường có hệ thống

thanh toán tiên tiến và chủ yếu với các loại trái phiếu

d. Giao dịch kỳ hạn: là loại giao dịch được thanh toán vào một ngày xác định

trong tương lai hoặc theo sự thoả thuận giữa hai bên mua và bán Tuy

nhiên, loại hình giao dịch này hiện nay hầu như không được thực hiện

e. Giao dịch tương lai: là loại giao dịch giống như các hợp đồng kỳ hạn,

nhưng nó khác hợp đồng kỳ hạn ở một số điểm, như: được tiêu chuẩn hoá

bởi các luật lệ của Sở giao dịch chứng khoán, được quy định rõ về nội

dung mua bán và được mua bán trên Sở giao dịch chứng khoán

f. Giao dịch quyền chọn: là các giao dịch quyền chọn mua hoặc quyền chọn

bán một loại chứng khoán nhất định với giá và thời gian được xác định

trước

Trang 5

Các giao dịch trên thị trường chứng khoán rất đa dạng và phức tạp vì

với từng hệ thống giao dịch lại có nhiều loại giao dịch khác nhau (như đã nói

ở trên), đồng thời dựa trên các nguyên tắc khớp lệnh khác nhau với rất nhiều

các loại lệnh và định chuẩn lệnh nên không phải tất cả các nhà đầu tư đều

hiểu và sử dụng thành thạo các công cụ của thị trường chứng khoán Thông

thường, chỉ những người có chuyên môn về lĩnh vực phân tích, đầu tư chứng

khoán mới sử dụng những công cụ này một cách triệt để Những người này

thường làm ở các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, trong đó Quỹ đầu tư chứng

khoán là một tổ chức đầu tư đặc biệt vì Quỹ vừa là tổ chức phát hành vừa là

tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán

Hơn nữa, các giao dịch chứng khoán không tự mình diễn ra mà được

thực hiện giữa những người cần vốn và người có vốn tạm thời nhàn rỗi, giữa

những người có nhu cầu mua chứng khoán và người muốn bán chứng khoán

Những người này chính là các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán

Có thể nói rằng, sự tham gia của các chủ thể trên TTCK chính là điều

kiện cần để phát triển TTCK Có rất nhiều cá nhân và tổ chức tham gia

TTCK, tuy nhiên có thể chia thành 3 nhóm chủ thể sau : chủ thể phát hành,

chủ thể đầu tư và các tổ chức có liên quan đến hoạt động của thị trường

Chủ thể phát hành chính là tổ chức cung cấp hàng hoá cho TTCK

Chủ thể có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và

các tổ chức khác như : Quỹ đầu tư chứng khoán, ngân hàng thương mại, các

công ty tài chính trong đó: Chính phủ và chính quyền địa phương có thể phát

hành Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công trình, trái phiếu địa phương, tín

phiếu kho bạc nhà nước Công ty là các chủ thể phát hành các cổ phiếu và

trái phiếu công ty Còn các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ

tài chính như trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ hưởng lợi … phục vụ cho mục

tiêu huy động vốn và phù hợp với đặc thù hoạt động của các tổ chức này theo

Trang 6

luật định của từng nước.

Chủ thể đầu tư là những người có tiền thực hiện việc mua bán các

chứng khoán trên thị trường để tìm kiếm lợi nhuận Họ là những người tạo ra

cầu về chứng khoán trên thị trường Có hai loại chủ thể đầu tư là: nhà đầu tư

cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức

Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân hay các hộ gia đình riêng lẻ, có

nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi tham gia đầu tư trên TTCK nhằm thu lợi nhuận

Mà lợi nhuận thì luôn gắn liền với rủi ro Thực tế cho thấy, mức độ chấp nhận

rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn.Vì thế các nhà đầu tư luôn phải

lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng và mức độ chấp nhận rủi

ro của chính mình

Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán

chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các nhà đầu tư có tổ chức bao

gồm: các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại, các công ty bảo

hiểm, quỹ hưu trí và các Quỹ đầu tư chứng khoán Đầu tư thông qua các tổ

chức này có ưu điểm là có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư với chi phí ở

mức thấp và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia đầu tư

có kinh nghiệm và chuyên môn cao

Bên cạnh chủ thể phát hành và chủ thể đầu tư, một chủ thể khác không

kém phần quan trọng góp phần giúp cho TTCK ổn định và phát triển đó chính

là các tổ chức có liên quan đến thị trường Các tổ chức này bao gồm: Cơ

quan quản lý và giám sát hoạt động của TTCK Tại Việt Nam, cơ quan này có

tên gọi là Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (SSC – State of Securities

Commision) Sở giao dịch chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng

khoán, tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, các tổ chức hỗ trợ,

các công ty định mức tín nhiệm

Có thể thấy rằng, trong các chủ thể trên, Quỹ đầu tư chứng khoán là

một chủ thể đặc biệt vì nó vừa là chủ thể phát hành, vừa là chủ thể đầu tư

Trang 7

Quỹ đầu tư chứng khoán là tổ chức tài chính phát hành cổ phiếu hoặc các

chứng chỉ đầu tư nhằm thu hút, tập hợp tiền để đầu tư vào các loại tài sản tài

chính, mà chủ yếu là các chứng khoán trên thị trường Quỹ đầu tư chứng

khoán là một chủ thể quan trọng vì nó vừa tạo cung đồng thời tạo cầu cho thị

trường, góp phần không nhỏ vào việc ổn định và phát triển TTCK

1.2 QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

1.2.1 Sự hình thành và phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán

Trước khi nghiên cứu cụ thể về Quỹ đầu tư chứng khoán, ta hãy nhìn

lại sự hình thành và phát triển của các Quỹ này

Quỹ đầu tư, một bộ phận không thể thiếu trên thị trường tài chính nói

chung, TTCK nói riêng tại các quốc gia có nền tài chính phát triển là một phát

minh của người Châu Âu thế kỷ 19 Các quỹ đầu tư ban đầu được thành lập

theo kiểu tín thác đầu tư ( Investment Trust) Quỹ tín thác đầu tiên do vua

William I của Hà Lan thành lập tại Brusels ­ Bỉ Quỹ này được lập ta để tạo

điều kiện cho Hà Lan có thể đưa tiền đầu tư ra nước ngoài dưới dạng các

khoản vay của chính phủ Tuy nhiên, hoạt động đầu tư tín dụng chỉ thực sự

phát triển ở Anh Cuộc cách mạng công nghiệp đã đưa nước này thành một

quốc gia thịnh vượng, có các nguồn vốn lớn dành cho đầu tư trong khi các

nước láng giềng châu Âu và châu Mỹ lại đang rất cần vốn Vì vậy, các nước

thiếu vốn đã phát hành rất nhiều công cụ nợ với lãi suất hấp dẫn nhằm thu hút

vốn cho quá trình đầu tư ra nước ngoài, nhưng việc đầu tư này rất khó khăn

do việc thiếu các thông tin và kiến thức về môi trường đầu tư bên ngoài

Trước tình hình này, một số nhà đầu tư đã lập ra quỹ đầu tư và thuê các

chuyên gia hiểu biết về môi trường nước ngoài đứng ra quản lý Đây chính là

hình thái ban đầu của các quỹ đầu tư phổ biến hiện nay

Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 19, các quỹ tín thác kiểu Hà Lan

được lập ra ở Anh và Scotland Hiệp hội tài chính Luân đôn ( London

Financial Association ) và Tập đoàn tài chính quốc tê ( International Financial

Trang 8

Society ) thành lập năm 1963 được coi là những quỹ tín thác đầu tiên của

Anh Tiếp sau đó là Quỹ tín thác đầu tư Thuộc địa và Ngoại quốc ( The

Foreign and Colonial Investment Trust) thành lập năm 1868 ở Luân đôn, Quỹ

đầu tư Canada và Anh (Britist and Canadian Fund) thành lập năm 1880 Các

thương gia của Anh và Scotland ngày đó muốn tìm kiếm nhiều lợi nhuận hơn

nên đã đem các khoản tiền đầu tư của mình ra nước ngoài, đặc biệt là đầu tư

vào các chứng khoán của Mỹ với tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhiều Từ năm

1900 đến 1914, một lượng tiền khổng lồ của Anh đã đổ vào Mỹ , chủ yếu là

vào lĩnh vực đường sắt và năng lượng

Các quỹ tín thác của Anh chính là hình mẫu cho các quỹ tín thác được

thành lập tại Mỹ sau này Quỹ tín thác bất động sản cá nhân Boston ( The

Boston Personal Property Trust), một quỹ đóng đầu tiên được thành lập ở Mỹ

vào năm 1893 Quỹ đầu tư chứng khoán ngành đường sắt và năng lượng (

The Railway and Light Securities Fund) là quỹ đóng đầu tiên của Mỹ áp dụng

các quỹ cho vay làm đòn bẩy để thâu tóm chứng khoán đã ra đời năm 1904

Đến những năm 1920, mô hình quỹ tín thác đầu tư bùng nổ và đến năm 1929,

ở Mỹ đã có hơn 700 quỹ đầu tư khác nhau Cho đến nay, người ta vẫn có thể

tìm thấy một số quỹ đầu tư lâu đời nhất còn đang hoạt động như General

American Investors hình thành từ hai công ty đầu tư là Lehman Brother và

Lazard Frères thành lập ngày 25 tháng 1 năm 1927

Sự bùng phát các quỹ đầu tư đã bị ngăn lại bởi cuộc Đại suy thoái 1929

– 1933 Mãi cho đến sau đại chiến thế giới II, các quý mới được khôi phục và

bắt đầu phát triển thành một ngành kinh doanh giàu mạnh như hiện nay.Sau

thế chiến II, giá cổ phiếu tăng mạnh đồng thời người Mỹ không ngừng đầu tư

vào thị trường cổ phiếu Hơn nữa, chính phủ Mỹ cũng dần hoàn thiện hệ

thống luật khung pháp lý về quỹ làm cho các quỹ đầu tư chứng khoán hoạt

động lành mạnh hơn Hai dự luật làm cơ sở căn bản nhất cho hoạt động chứng

khoán là Luật chứng khoán ban hành năm 1933 và Luật về Sở giao dịch

Trang 9

chứng khoán năm 1934 Cũng ngay sau đó, Uỷ ban chứng khoán Mỹ

(Securities Exchange Committee ­ SEC) đã bắt đầu nghiên cứu và rút ra

những bài học kinh nghiệm từ cuộc Đại suy thoái, soạn thảo và cho ra đời

Luật công ty đầu tư ( Investment Company Act) năm 1940 Từ đó trở đi, các

quỹ bắt đầu ra đời hoặc được tái lập nhằm đáp ứng các quy định của luật này

Đến năm 1995, luật này lại được sửa đổi và hoàn thiện nhằm đảm bảo an toàn

hơn nữa cho các nhà đầu tư, đồng thời cho phép các quỹ được áp dụng các

nghiệp vụ đầu tư mới nhất Theo Viện công ty đầu tư (Investment Company

Institute – ICI), tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đã tăng từ 448 triệu USD

năm 1940 lên 1065 tỷ USD vào năm 1990 Chỉ tính trong thập kỷ 1980, tài

sản của các quỹ đã tăng lên 10 lần Điều này có được là do các chuyên gia

quản lý quy đầu tư đã không ngừng cải tiến và nâng cao dịch vụ cũng như tạo

ra các dịch vụ mới đáp ứng được nhu cầu của đông đảo các nhà đầu tư

Ở châu Á, ngay từ năm 1937 ở Nhật Bản đã xuất hiện một số quỹ

tương tự như quỹ đầu tư Đó là một tổ chức do một số nhà đầu tư thành lập

nên để lợi dụng các dịch vụ đầu tư do công ty chứng khoán cung cấp Đây

chính là mầm mống đầu tiên cho sự xuất hiện các quỹ đầu tư ở Nhật Bản sau

này Năm 1941, một mô hình mới được xây dựng ở Nhật Bản đáp ứng tiêu

chuẩn cho quỹ đầu tư chứng khoán Trong năm tiếp đó, 6 công ty chứng

khoán đã thành lập các quỹ đầu tư chứng khoán riêng và mỗi công ty chứng

khoán này đều có một công ty thực hiện việc bảo quản và giám sát tài sản của

mình Hoạt động của các quỹ này đặt dưới sự điều chỉnh của các luật là Luật

Tín thác (Trust Law), và Luật kinh doanh tín thác ( Trust Business Law)

Tính đến tháng 4 năm 1996, Nhật Bản đã có 16 công ty quản lý trực thuộc

công ty chứng khoán trong nước, 9 công ty quản lý trực thuộc công ty tư vấn

đầu tư trong nước , 11 công ty quản lý trực thuộc công ty nước ngoài được

phép hoạt động theo Luật tín thác đầu tư chứng khoán với số vốn của các

công ty thường từ 100 triệu yên đến 15 tỷ yên

Trang 10

Không chỉ có ở các nước có nền tài chính phát triển lâu đời như Anh,

Mỹ, Nhật Bản…quỹ đầu tư chứng khoán còn giữ một vị trí quan trọng trên

các TTCK mới nổi.Việc phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở các TTCK mới

nổi bắt nguồn từ nhu cầu của những nền kinh tế còn yếu kém nhiều mặt, đòi

hỏi phải cải thiện khả năng thanh toán và trợ giúp phát triển cơ sở hạ tầng

Điều này hơi khác biệt so với nguồn gốc hình thành quỹ đầu tư ở các TTCK

phát triển, nơi mà quỹ đầu tư hình thành trên một TTCK phát triển cao, quỹ

đầu tư là một phương thức đầu tư hiện đại, làm tăng hiệu quả hoạt động của

TTCK Tuy vậy, các quỹ đầu tư này cũng đã đạt được một số thành công nhất

định Theo Công ty tài chính quốc tế ( International Financial Corporation –

IFC) tính đến tháng 12 năm 1998 có hơn 1800 quỹ đầu tư đang hoạt động tại

các TTCK mới nổi, với lượng vốn khoảng 300 tỷ USD, trong đó, riêng ở

Đông Nam Á, lượng vốn đã tăng từ 100 triệu USD vào năm 1985 lên khoảng

5 tỷ USD vào cuối năm 1998

Tóm lại, hoạt động của các quỹ đầu tư phát triển không ngừng, mở

rộng trên tất cả các TTCK thế giới Nắm trong tay một lượng vốn khổng lồ,

các quỹ đầu tư ngày càng chứng tỏ vai trò của mình ­ một định chế tài chính

trung gian quan trọng đáp ứng nhu cầu của người đầu tư và người nhận đầu tư

cũng như của cả nền kinh tế Thực tế đã chứng tỏ vai trò tích cực của quỹ đầu

tư trong TTCK Tổng giá trị tài sản của các quỹ đầu tư ngày càng tăng lên

Đến năm 1999, tổng tài sản của các quỹ mở đạt 6846,3 tỷ USD trong đó có

những quỹ khổng lồ nắm trong tay hàng chục tỷ USD như Magelan của

Fidelity ( 64 tỷ USD), Investment Company of American ( 40 tỷ USD), Janus

Growth Fund (20 tỷ USD)

Việt Nam ngay từ TTCK ra đời đến nay, Nghị định 48 ngày 11/7/1998

về Chứng khoán và TTCK và Nghị định 144 ngày 28/11/2003 thay thế Nghị

định 48/1998/NĐ – CP cũng coi mô hình quỹ đầu tư chứng khoán là một bộ

phận không thể thi Quyết định số 05/1998/ QĐ – UBCK ngày 13 tháng 10

Trang 11

năm 1998 về Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư và Công ty quản

lý quỹ cũng nêu rõ những quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư

chứng khoán nhằm phát triển quỹ đầu tư chơ TTCK Việt Nam

Vậy, quỹ đầu tư chứng khoán là gì? Dưới đây, ta sẽ tìm hiểu về Quỹ

đầu tư chứng khoán ­ một định chế tài chính trung gian quan trọng của

TTCK

Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu đầu tư, Quỹ đầu tư chứng khoán được

hình thành nhằm cung cấp cho các nhà đầu tư cá nhân những danh mục đầu

tư trọn gói, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ tham gia TTCK Đầu tư

vào TTCK là đầu tư vào các chứng khoán, là đầu tư vào tương lai của tổ chức

phát hành, hay đầu tư vào khả năng sinh lãi, vào tiềm năng và sự phát triển

bền vững của công ty Tuy nhiên, các công ty lại luôn phải đối mặt với hàng

loạt rủi ro nảy sinh từ hoạt động kinh doanh của mình Cho nên nếu đầu tư hết

số tiền của mình vào một công ty mà mình cho là có tiềm năng phát triển thì

mức độ rủi ro rất cao vì khi công ty mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản,

bạn có thể mất toàn bộ số tiền đã đầu tư Do vậy, các nhà đầu tư muốn giảm

thiểu rủi ro chỉ có thể thông qua việc đa dạng hoá danh mục đầu tư Ban đầu

trên TTCK, các cá nhân có vốn nhỏ, các cá nhân giàu có và các tổ chức đều

tham gia thị trường Song cùng với một mức thu nhập như nhau, mức độ rủi

ro tiềm tàng của thu nhập đối với các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ bao giờ cũng

cao hơn nhiều so với những nhà đầu tư giàu có và các tổ chức bởi vì với số

vốn lớn gấp nhiều lần số vốn của các cá nhân nhỏ, các nhà đầu tư giàu có và

các tổ chức có được lợi thế về quy mô vốn nên đa dạng hoá được danh mục

đầu tư, dẫn tới có thể giảm thiểu rủi ro về thu nhập Vì lẽ đó, cần có những tổ

chức đứng ra tập hợp nguồn vốn của các cá nhân nhỏ lẻ tạo thành một khoản

vốn lớn để đầu tư một cách chuyên nghiệp trên TTCK Quỹ đầu tư chứng

khoán ra đời Quỹ đầu tư chứng khoán hình thành đã giúp tăng khả năng tham

Trang 12

gia của các cá nhân trên TTCK Ngay bản thân các cá nhân giàu có, ngoài

việc đầu tư trực tiếp trên thị trường, cũng có thể tham gia đầu tư thông qua

Quỹ nhằm tận dụng những lợi thế về sự chuyên nghiệp trong phân tích và đầu

tư của các Quỹ

Thứ hai, đầu tư thông qua Quỹ đầu tư chứng khoán sẽ hạn chế rủi ro

và đa dạng hoá đầu tư Có thể thấy rằng, đầu tư vào TTCK mang tính rủi ro

cao Rủi ro trong đầu tư chứng khoán được hiểu là sự biến động của thu nhập

trên đầu tư Theo các thuyết trước đây, rủi ro là những yếu tố làm giảm mức

sinh lời so với dự tính ban đầu Tuy nhiên, theo quan niệm hiện nay, rủi ro là

sự dao động của mức sinh lời, kể cả dao động tăng hay giảm so với mức sinh

lời dự kiến Do vậy, những tài sản mang lại thu nhập ổn định được coi là có

rủi ro thấp, ngược lại, những tài sản có thu nhập biến động thất thường qua

các năm được coi là có mức rủi ro cao Người ta dùng độ lệch chuẩn để đo

lường mức độ rủi ro của tài sản Các số liệu lịch sử TTCK Mỹ trong vòng hơn

70 năm từ 1926 đến 1998 cho thấy ngoài tín phiếu kho bạc là tài sản phi rủi ro

thì tất cả các loại chứng khoán trên thị trường, kể cả trái phiếu Chính phủ dài

hạn ( mức bù đắp rủi ro là 1,9%) đều có rủi ro ở các mức độ khác nhau Tài

sản có độ rủi ro cao nhất là cổ phiếu của các công ty nhỏ, tiếp theo là cổ phiếu

của các công ty lớn, trái phiếu công ty lớn, và thấp nhất là trái phiếu chính

phủ dài hạn

Nhằm hạn chế rủi ro khi đầu tư vào TTCK, các lý thuyết kinh tế hiện

đại đã đưa ra các phân tích mức độ rủi ro, và tìm cách quản lý rủi ro Theo lý

thuyết đầu tư hiện đại, dao động của giá và thu nhập từ chứng khoán là các

yếu tố cấu thành rủi ro Rủi ro của mỗi loại chứng khoán luôn bao gồm hai bộ

phận là rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Rủi ro hệ thống hay rủi ro đặc

thù, rủi ro chung là những rủi ro có tính chất phổ biến, nằm ngoài sự kiểm

soát của công ty, có ảnh hưởng và gây tác động đến toàn bộ thị trường và các

loại chứng khoán trên thị trường Rủi ro này không thể tránh khỏi khi đầu tư

Trang 13

vào TTCK Ngược lại, rủi ro phi hệ thống hay còn gọi là rủi ro có thể đa dạng

hoá là những rủi ro do các yếu tố nội tại gây ra, và chỉ gây tác động đến một

chứng khoán, một nhóm chứng khoán hay một ngành nhất định Lý thuyết

đầu tư hiện đại đã khẳng định rủi ro này có thể được loại trừ bằng cách đa

dạng hoá đầu tư theo danh mục

Bảng 1 cho thấy độ lệch chuẩn của thu nhập chuyển động cùng chiều

với số cổ phiếu trrong danh mục Khi số tài sản của danh mục tăng lên đến

một mức độ nào đó thì rủi ro của danh mục tiến đến bằng rủi ro hệ thống

Nghĩa là trên thị trường chỉ có rủi ro hệ thống được đền bù bằng mức độ thu

nhập cao, còn rủi ro phi hệ thống đã được loại trừ bằng việc đa dạng hoá

Điều đó cũng có nghĩa, nếu một nhà đầu tư chỉ có một số vốn nhỏ, anh ta sẽ

không thể đa dạng hoá hoàn toàn danh mục đầu tư, và sẽ phải chịu rủi ro cao

hơn so với mức thu nhập có được từ đầu tư

Bảng 1: Quy mô danh mục đầu tư và độ lệch tiêu chuẩn của thu nhập

trên danh mục đầu tư vào cổ phiếu của công ty lớn

Trang 14

1000 19,21 0,3901

Nguồn : Fundamentals of Corporate Finance, Irwin McGraw – Hill, The

United States of American, tr 394

Như vậy, có thể thấy rằng: đầu tư vào TTCK sẽ luôn có rủi ro song rủi

ro này có thể kiểm soát và bù đắp được bằng cách đa dạng hoá danh mục và

thông qua thu nhập Đa dạng hoá đóng vai trò quan trọng trong việc loại trừ

rủi ro phi hệ thống, và thu nhập chính là phần bù đắp cho rủi ro hệ thống mà

nhà đầu tư phải gánh chịu Vậy, ngoài những nhà đầu tư có vốn đủ lớn để có

thể đa dạng hoá danh mục đầu tư, các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ làm thế nào

để thực hiện được điều này? Các Quỹ đầu tư chứng khoán sẽ giúp họ làm

được điều đó

Thứ ba, đối với những TTCK mới phát triển, sự xuất hiện các Quỹ đầu

tư chứng khoán sẽ góp phần hoàn thiện cấu trúc và hoạt động của TTCK Khi

TTCK mới phát triển, một mặt, hàng hoá trên thị trường chưa nhiều, mặt

khác, mức độ hiểu biết của đông đảo quần chúng về TTCK chưa cao dẫn đến

tâm lý e ngại đầu tư làm cho các giao dịch trên thị trường còn manh mún, nhỏ

bé và chưa có tính chuyên nghiệp cao Quỹ đầu tư là một chủ thể tham gia

trên thị trường vừa đóng vai trò là nhà phát hành, vừa là nhà đầu tư có tổ chức

sẽ góp phần làm tăng và đa dạng hoá các loại hàng hoá trên thị trường đồng

thời với trình độ đầu tư chuyên nghiệp, Quỹ sẽ giúp các nhà đầu tư nhỏ lẻ có

thể yên tâm tham gia thị trường với mức chi phí và rủi ro thấp Từ đó, góp

phần thúc đẩy thị trường hoạt động sôi động và hiệu quả hơn

Như vậy, thông qua việc quản lý chuyên nghiệp nhằm đem lại cho nhà

đầu tư mức thu nhập hợp lý và giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hoá danh mục

đầu tư, Quỹ đầu tư đã đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư đồng thời đóng góp

một phần quan trọng vào sự phát triển của TTCK

Trang 15

1.2.1.2.1. Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán

Quỹ đầu tư chứng khoán(dưới đây gọi tắt là quỹ) là loại Quỹ đầu tư mà

người ta sử dụng số tiền có được để đầu tư vào TTCK Bản thân từ “ Quỹ đầu

tư” cũng đã thể hiện một tập hợp các khoản tiền được góp lại để phục vụ đầu

tư vào một cái gì đó, mà ở đây, Quỹ đầu tư chứng khoán là nhằm mục đích

đầu tư chủ yếu vào các loại chứng khoán

“Quỹ đầu tư” – cách gọi tắt của Quỹ đầu tư tập thể ­ là một phần quan

trọng của bất kỳ một TTCK nào, có rất nhiều cách hiểu khác nhau

Các Quỹ đầu tư tại Mỹ được định nghĩa là các tổ chức tài chính phi

ngân hàng thu nhận tiền tư một số lượng lớn các nhà đầu tư và tiền hành đầu

tư số vốn đó các tài sản tài chính có tính thanh khoản dưới dạng tiền tệ và các

công cụ của thị trường tài chính

Quỹ đầu tư tại Nhật được coi là một sản phẩm được hình thành nhằm

đầu tư số tiền tập hợp được từ một số lớn các nhà đầu tư vào chứng khoán (cổ

phiếu và trái phiếu ), tập trung dưới sự quản lý của những người không phải

là nhà đầu tư và phân phối lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư cho các

nhà đầu tư theo tỷ lệ vốn mà họ đóng góp vào Quỹ

Còn theo định nghĩa của Trung Quốc, Quỹ đầu tư tập thể là phương

pháp đầu tư tập thể vào chứng khoán, chủ yếu bằng việc thu hút vốn của

người đầu tư thông qua phát hành các đơn vị quỹ Vốn được uỷ thác cho các

tổ chức giám sát quỹ và được những người điều hành quỹ quản lý và đầu tư

vào các công cụ tài chính như cổ phiếu và trái phiếu

Từ các định nghĩa trên, có thể rút ra khái niệm chung nhất, thể hiện bản

chất hoạt động của Quỹ đầu tư tập thể :” Quỹ đầu tư tập thể là một phương

tiện đầu tư tập thể, là một tập hợp tiền của các nhà đầu tư có cùng mục

đích, được uỷ thác cho các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp tiến hành

đầu tư để đạt được những mục tiêu của những người tham gia góp vốn”

Trang 16

Như vậy, Quỹ đầu tư chứng khoán chính là một định chế tài chính

trung gian, tập hợp các nhà đầu tư riêng lẻ cùng đóng góp vốn vào Quỹ

chung, và Quỹ này được các nhà đầu tư chuyên nghiệp đại diện cho các nhà

đầu tư sử dụng để đầu tư vào chứng khoán theo chính sách đầu tư của Quỹ

Việt Nam, theo quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng

khoán và Công ty quản lý quỹ ban hành kèm theo Quyết định số 05/ 1998/QĐ

– UBCK ngày 13 tháng 10 năm 1998 của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước thì

“ Quỹ đầu tư chứng khoán (gọi tắt là Quỹ) là quỹ hình thành từ vốn góp

của người đầu tư, được uỷ thác cho công ty quản lý quản lý và đầu tư

vào chứng khoán tối thiểu là 60% giá trị tài sản của quỹ”

Có thể thấy rõ là đầu tư thông qua Quỹ đầu tư là hình thức nhà đầu tư

không trực tiếp mang số tiền của mình mua chứng khoán, mà họ cùng góp

tiền vào quỹ tạo thành một số tiền lớn để đầu tư tập thể Những người đầu tư

vào quỹ có thể là thể nhân hay pháp nhân, nhưng phần lớn là những nhà đầu

tư riêng lẻ, ít am hiểu và không chuyên nghiệp về TTCK Do vậy hoạt động

của quỹ đầu tư mang tính xã hội hoá rất cao

Những người đóng tiền vào quỹ chấp nhận các rủi ro cũng như được

hưởng các lợi ích mà quỹ mang lại tương ứng với tỷ lệ vốn góp Do vậy, ưu

thế của quỹ là không bị hạn chế bởi vốn của một chủ thể và rủi ro cũng được

chia sẻ cho nhiều người Rủi ro này của quỹ phụ thuộc vào các loại hình tài

sản đầu tư mà quỹ lựa chọn

Một nét đặc trưng tạo nên sự khác biệt giữa Quỹ với các chủ thể tham

gia thị trường là ở chỗ: Quỹ vừa là tổ chức phát hành chứng khoán, lại vừa là

tổ chức kinh doanh chứng khoán Qua việc phát hành (cổ phiếu hay chứng chỉ

Quỹ đầu tư) quỹ thu được số tiền khá lớn rồi đầu tư số tiền này vào các loại

chứng khoán Lợi nhuận thu được từ việc đầu tư sẽ chia cho các nhà đầu tư

nắm giữ cổ phần của quỹ Nói chung, quỹ chủ yếu thu lợi từ hoạt động đầu tư

chứ không phải nhằm thu lãi hàng tháng

Trang 17

Quỹ được quản lý bởi các công ty quản lý quỹ ­ một tổ chức đầu tư

chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao về phân tích và đầu tư chứng

khoán Tài sản của quỹ được bảo quản và giám sát bởi các tổ chức có nghiệp

vụ chuyên môn, thường là các ngân hàng

Tóm lại, trên TTCK có sự tham gia của rất nhiều loại trung gian tài

chính khác nhau như ngân hàng, các công ty tài chính, công ty chứng khoán,

các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư và phát triển đô thị…nhưng các tổ chức này đều

không thực sự huy động vốn một cách rộng rãi từ các cá nhân và tổ chức trên

thị trường đồng thời phát hành ra chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu, hay nói cách

khác các quỹ này không tạo ra cung cầu trên TTCK Chỉ các quỹ đầu tư

chứng khoán mới thực sự huy động vốn từ công chúng đầu tư và dành đa số

vốn huy động được đầu tư vào các loại chứng khoán Do đó, cần thiết phải

phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán nhằm tăng cường sự hoạt động và phát

triển của TTCK

Kể từ khi quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên xuất hiện cho đến nay, đã

có rất nhiều loại hình quỹ đầu tư ra đời và đi vào hoạt động Các quỹ này

được được phân loại theo một số tiêu thức như tính chất và cách thức huy

động vốn, thông qua mục tiêu đầu tư, dựa vào các chủ thể tham gia, hay qua

mô hình quản lý của quỹ

a Phân loại theo chủ thể tham gia

Căn cứ vào chủ thể tham gia, người ta chia thành quỹ đầu tư chứng

khoán tư nhân và quỹ đầu tư chứng khoán tập thể

Quỹ đầu tư chứng khoán tư nhân là loại hình quỹ đầu tư chứng

khoán do một số tổ chức và cá nhân góp vốn rồi thuê công ty quản lý quỹ

nhằm mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất nhưng vẫn đảm bảo

quản lý chặt chẽ vốn đầu tư

Trang 18

Do việc huy động vốn của quỹ chỉ hạn chế trong một số tổ chức và cá

nhân nên họ có thể đầu tư vào những dự án dài hạn, tiềm năng tăng trưởng

cao và mức độ rủi ro lớn Các quỹ này thường đầu tư vào những chứng khoán

của những công ty chưa niêm yết hay góp cổ phần vào công ty trách nhiệm

hữu hạn Khi những công ty này phát triển đến một mức độ nhất định, họ có

thể thu hồi vốn bằng cách bán lại phần vốn góp hoặc những chứng khoán mà

mình đang nắm giữ

Quỹ đầu tư chứng khoán tập thể là những quỹ đầu tư chứng khoán

mà chứng chỉ góp vốn được mua bán rộng rãi trên thị trường Ở loại hình này,

do số lượng người góp vốn rất nhiều và phần lớn là các cá nhân, những người

không có kiến thức chuyên sau về đầu tư nên luật pháp 1 tư

b Phân loại theo cách thức huy động vốn

Theo cách thức huy động vốn, quỹ đầu tư chứng khoán được chia

thành quỹ đầu tư chứng khoán đóng (closed – end fund) và quỹ đầu tư chứng

khoán mở (open – end fund)

Quỹ đầu tư chứng khoán đóng ( còn gọi là Quỹ đóng ) là quỹ đầu tư

chứng khoán có số lượng cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ đầu tư phát hành cố

định; số lượng chứng chỉ quỹ không thay đổi trong suốt thời gian hoạt động

của quỹ Quỹ đầu tư chứng khoán đóng mang tính chất giống như một công

ty cổ phần thông thường, người đầu tư không thể bán lại chứng chỉ quỹ cho

quỹ trước thời hạn kết thúc hay giải thể hoạt động của quỹ

Sau khi phát hành chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiểu của quỹ, các nhà đầu tư

có thể mua bán chứng chỉ quỹ đầu tư trên thị trường cấp hai Các cổ đông có

thể mua cổ phần từ các cổ đông cũ của quỹ một cách trực tiếp hoặc thông

qua môi giới và phải trả hoa hồng Giá cổ phần sẽ dao động tuỳ thuộc vào

tình hình hoạt động của quỹ, cung cầu trên thị trường, và thị hiếu của công

chúng Khi muốn thu hồi vốn, nhà đầu tư có thể bán cổ phiếu hay chứng chỉ

quỹ ra thị trường theo giá thị trường hay giá thoả thuận Cổ phiếu của quỹ

Trang 19

được giao dịch trờn thị trường thứ cấp nờn lượng tiền mặt của quỹ đúng

khụng bị tỏc động từ những hoạt động mua bỏn, rỳt vốn hàng ngày Với đặc

điểm này, quỹ đầu tư đúng giỳp người quản lý trỏnh được cỏc nguy cơ đe doạ

từ việc rỳt vốn của cỏc nhà đầu tư

Tuy nhiên, quỹ đầu tư dạng đóng có một nhược điểm cơ bản là hầu như

chúng thường giao dịch với giá chiết khấu tức là thị giá thấp hơn giá trị tài sản

ròng của quỹ Hiện tượng giá chiết khấu của quỹ dạng đóng được coi là một

điều gì đó tương đối bí ẩn bởi vì hiện nay vần chưa có một sự giải thích nào

mang tính thuyết phục hoàn toàn về sự tồn tại đó mặc dù đã có nhiều công

trình nghiên cứu về vấn đề này Không một phương trình toán học nào có thể

giải thích chính xác mức chiết khấu cũng như mức trên giá trị của một quỹ

Có một số nguyên nhân có thể đưa ra xem xét để giúp cho việc giải thích sự

chênh lệch giữa mức chiết khấu và mức trên giá trị giữa các quỹ khác nhau

cũng như của các quỹ trong các điều kiện thị trường khác nhau như: quỹ đầu

tư dạng đóng được coi là rủi ro hơn so với các quỹ mở vì người đầu tư không

thể bán lại cổ phiếu hay chứng chỉ đầu tư tại mức giá trị tài sản ròng, quỹ hoạt

động kém hiệu quả, chi phí cao, mức độ đa dạng hoá của các quỹ ít

Quỹ đầu tư chứng khoỏn mở (Quỹ mở) là quỹ đầu tư chứng khoỏn

liờn tục phỏt hành chứng chỉ quỹ ra cụng chỳng và thực hiện việc mua lại cỏc

cổ phiếu/ chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư cú nhu cầu thu hồi vốn Quỹ mở là

dạng quỹ phổ biến nhất hiện nay của cỏc quỹ đầu tư trờn thế giới Đặc điểm

quan trọng đối với quỹ đầu tư dạng mở là giỏ của chứng chỉ quỹ luụn gắn trực

tiếp với giỏ trị tài sản rũng của quỹ Quỹ cho phộp cỏc nhà đầu tư bỏn lại

chứng chỉ quỹ bất cứ lỳc nào trong một thời hạn nhất định theo giỏ trị tài sản

rũng (Net Asset Value) chứ khụng theo giỏ thị trường Cỏc giao dịch, mua

bỏn được thực hiện trực tiếp giữa nhà đầu tư với quỹ hoặc với cỏc đại lý được

ủy quyền của quỹ chứ khụng qua sở giao dịch

Khỏc với cỏc quỹ đầu tư chứng khoỏn đúng, quỹ dạng mở cú cơ cấu

vốn luụn biến động do cỏc lượng tiền vào ra liờn tục từ việc chào bỏn mới và

việc mua lại chứng chỉ quỹ Vỡ vậy, cỏc nhà điều hành quỹ luụn phải lựa chọn

danh mục với cỏc sản phẩm cú tớnh thanh khoản cao để ứng đối cỏc thay đổi

Trang 20

liên tục về nguồn vốn Nếu thời kỳ thị trường lên cao có nhiều nhà đầu tư đổ

tiền vào quỹ thì các nhà quản lý quỹ sẽ phải dành một khoản đáng kể để đầu

tư vào các chứng khoán có mức lợi tức không lấy gì làm hấp dẫn chỉ cần có

tính thanh khoản cao Đặc điểm này tuy bất lợi đối với các nhà quản lý của

quỹ mở lại nhưng lại là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, là ưu điểm của

quỹ trong việc thu hút công chúng đầu tư vào quỹ Trong rất nhiều trường

hợp, tính thanh khoản của chứng chỉ quỹ còn cao hơn cả cổ phiếu thường

khác Một khối lượng tiền lớn được đầu tư hoặc để mua lại chứng chỉ của nhà

đầu tư tại mức NAV tính hàng ngày cộng thêm chi phí bán hoặc giảm trừ chi

phí mua lại Hơn nữa, vốn có thể được di chuyển linh hoạt và hiệu quả giữa

các quỹ có mục tiêu đầu tư khác nhau với chi phí rất nhỏ Tuy vậy, không

phải quỹ dạng mở mua lại chứng chỉ quỹ từ các nhà đầu tư vào bất cứ lúc

nào, mà bao giờ quỹ cũng quy định một thời gian tối thiểu để thực hiện việc

mua lại Thời gian dài ngắn phụ thuộc vào quy định của từng TTCK cũng như

tùy thuộc mục tiêu hoạt động của từng quỹ Trong điều kiện thị trường có

nhiều biến động, thời gian thực hiện mua lại càng dài thì rủi ro của nhà đầu tư

càng lớn

Từ đây, có thể thấy quỹ đầu tư chứng khoán đóng và quỹ đầu tư chứng

khoản mở có nhiều điểm khác biệt nhau:

cổ phiếu thường/chứng chỉ quỹ,

cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu

cổ phiếu thường/chứng chỉ quỹ

Trang 21

Mua trực tiếp tại quỹ thông qua công ty quản lý quỹ hoặc thông qua các đại lý được quỹ ủy quyền

Ít chịu áp lực đầu tư khi nhận thấy chưa

nên đầu tư

Không cần phải bán tài sản để trả lại vốn

cho người đầu tư khi thị trường đi xuống

Có khả năng huy động, mở rộng quy mô vốn nên rất linh hoạt trong việc lựa chọn các dự án đầu tư

Nhược

điểm

Hoạt động khá phức tạp so với hiểu biết

chung của người đầu tư

Khó huy động vốn vì hoàn toàn phụ thuộc

vào uy tín của nhà phát hành

Chịu áp lực lớn từ ciệc rút vốn từ công chúng

c Căn cứ vào mục tiêu đầu tư

Quỹ đầu tư chứng khoán có nhiều mục tiêu đa dạng và các chính sách

đầu tư khác nhau Tuy nhiên, các quỹ thường đầu tư vì những mục tiêu cơ

bản sau

­ Thu nhập vừa phải –An toàn

Trang 22

­ Thu nhập khá – Rủi ro tương đối

­ Thu nhập cao – Rủi ro cao

Căn cứ các mục tiêu trên, quỹ có thể được phân làm 3 loại:

Quỹ tăng trưởng ( Growth fund) : Là những quỹ nhằm đến chứng

khoán của các công ty làm ăn tốt, có tốc độ phát triển và tăng trưởng nhanh

Thông thường là các công ty công nghệ cao, công ty phần mềm Mục tiêu khi

đầu tư vào các công ty này là sự tăng giá của cổ phiếu chứ không phải là thu

nhập từ cổ tức

Quỹ tăng trưởng – thu nhập (Growth – income fund): đầu tư chủ

yếu vào các chứng khoán có giá cao đồng thời có mức lợi tức ổn định như các

cổ phiếu thường Những quỹ này mong muốn đạt được cả hai yếu tố là vốn

trong dài hạn và dòng thu nhập ổn định trong ngắn hạn

Quỹ thu nhập ( Income fund): mục tiêu của những quỹ này là thu

nhập ổn định Do vậy, các quỹ này thường đầu tư vào các chứng khoán có thu

nhập ổn định như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty và cổ phiếu ưu đãi

b Căn cứ vào đối tượng đầu tư

Quỹ đầu tư chứng khoán còn được phân loại căn cứ vào đặc trưng của

chứng khoán mà nó sở hữu chủ yếu như:

­ Quỹ đầu tư cổ phiếu

­ Quỹ đầu tư trái phiếu

­ Quỹ thị trường tiền tệ

­ Quỹ đầu tư hỗn hợp

Quỹ đầu tư cổ phiếu: là quỹ mà phần lớn tài sản của nó là cổ phiếu,

còn phần còn lại là đầu tư vào các công cụ có tính an toàn hơn như các loại

trái phiếu cổ tức thường được trả mỗi năm một lần, vào thời điểm kết toán tài

khoản, từ cổ tức mà quỹ thu được và các khoản thu nhập khác của quỹ Khi

Trang 23

hết thời hạn hoạt động, toàn bộ tài sản của quỹ sẽ được thanh toán và hoàn trả

cho người đầu tư

Các quỹ đầu tư cổ phiếu có thể có các loại hình cụ thể :

Quỹ đầu tư lựa chọn vốn(Capital Selection Fund): Quỹ này lựa chọn

theo quy mô vốn của công ty để đầu tư vào cổ phiếu, bao gồm:

1 Quỹ cổ phiếu hạng nhỏ (Small – cap stock fund): quỹ này luôn tìm

mua cổ phiếu của các công ty có quy mô nhỏ Cổ phiếu của những công ty

này có độ rủi ro cao và ít khi được trả cổ tức Tuy nhiên, các quỹ này đầu tư

vì mục tiêu lâu dài là sự mở rộng và tăng trưởng của những công ty này trong

tương lai

2 Quỹ cổ phiếu hạng trung ( middle – cap stock fund): là các quỹ

hướng vào cổ phiếu của các công ty có lượng cổ phần trung bình nhưng có

tiềm năng tăng trưởng cao và mức độ biến động giá cổ phiếu của các công ty

này hơn của các công ty có quy mô nhỏ

3 Quỹ cổ phiếu hạng lớn ( large – cap stock fund): là các quỹ có

nguồn vốn lớn, luôn tìm mua cổ phần của các công ty có quy mô lớn như

IBM, UNILEVER với giá cổ phiếu tương đối ổn định và lợi tức cao

Quỹ đầu tư lựa chọn ngành(Industrial Selection Fund): là những quỹ

đầu tư chứng khoán chỉ chọn một số ngành nhất định như viễn thông, công

nghệ thông tin, công nghệ sinh học để đầu tư Việc chỉ đầu tư vào một số

ngành nhất định dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro cao hơn nhưng đồng thời

cũng mang lại lợi nhuận cao Các quỹ đầu tư theo chiến lược chọn ngành

thường phải có các chuyên gia phân tích giỏi, dự đoán tình hình chính xác và

biết nắm thời cơ

Quỹ đầu tư chỉ số(Index Fund): là quỹ sở hữu tất cả các chứng khoán

có trong danh mục của một loại chỉ số nào đó và phân chia tỷ trọng nắm giữ

các loại chứng khoán tương đồng với chỉ số cổ phiếu đó Ví dụ quỹ chỉ số S

Trang 24

& P 500

Quỹ quyền chọn (Option Fund) Các quỹ này tập trung vào mục tiêu lợi

nhuận cao bằng cách đầu tư chủ yếu vào các cổ phiếu thường có trả cổ tức mà

có thể giao dịch bằng quyền chọn trên sở giao dịch chứng khoán Lợi nhuận

của quỹ thu được tư cổ tức, phí hoa hồng khi viết quyền chọn, chênh lệch khi

bán cổ phiếu của danh mục đầu tư hay khi kết thúc hợp đồng quyền chọn

Quỹ đầu tư trái phiếu chuyển đổi ( Convertible Bond Fund): là những

quỹ tập trung vốn vào mua cổ phần thông qua việc chuyển đổỉ trái phiếu khi

đầu tư vào loại chứng khoán này, các chuyên gia phân tích phải tính được

lượng tiền chuyển đổi dang cổ phiếu là bao nhiêu phần trăm so với lượng vốn

bỏ ra

Quỹ đầu tư trái phiếu: là những quỹ không ưa mạo hiểm và mong đợi

khoản thu nhập cố định Vì vậy, phần lớn tài sản của quỹ dạng này được đầu

tư vào trái phiếu là chủ yếu Phần còn lại thì đầu tư vào các chứng khoán

khác Khoản trái tức nhận được có thể được nhận về hoặc được đưa vào một

quỹ khác gọi là quỹ tái đầu tư lãi

Quỹ trái phiếu cũng có rất nhiều loại hinh khác nhau:

1 Quỹ trái phiếu công ty (Copration Bond Fund): là một loại hình quỹ

thu nhập Quỹ này muốn có thu nhập ổn định nên phần lớn danh mục đầu tư

của quỹ sẽ là trái phiếu các tổng công ty lớn, trái phiếu Chính phủ hoặc trái

phiếu công trình

2 Quỹ trái phiếu Chính phủ( Government Bond Fund): chủ yếu đầu

tư vàp trái phiếu Chính phủ

3 Quỹ trái phiếu địa phương (Municipal Bond Fund): quỹ này tập

trung đầu tư vào các trái phiếu do nhà nước hoặc địa phương phát hành nhằm

huy động vốn cho xây dựng các công trình cấp Nhà nước hoặc cấp địa

phương như xây dựng đường xá, cầu cống, bệnh viện, trường học Lợi thế

Trang 25

của quỹ này là rủi ro của các trái phiếu loại này hầu như không có vì đều

được nhà nước hoặc địa phương đảm bảo, đồng thời các khoản thu nhập từ

các trái phiếu này thường không phải chịu lãi

4 Quỹ trái phiếu quốc tế (Global Bond Fund): thường được đầu tư vào

các trái phiếu của chính phủ hoặc trái phiếu công ty nước ngoài

Quỹ đầu tư hỗn hợp: là quỹ có cơ cấu vốn cho cả cổ phiếu, trái

phiếu, và các chứng khoán phái sinh sao cho trong danh mục vừa có những

chứng khoán có tính an toàn cao, vừa có những chứng khoán có mức sinh lợi

cao Quỹ đầu tư hốn hợp còn phân loại cụ thể thành:

1 Quỹ đầu tư phân bổ : là quỹ phân bổ vốn vào cả cổ phiếu, trái phiếu

và các công cụ của thị trường tiền tệ

2 Quỹ đầu tư cân đối: là quỹ đầu tư vào nhiều loại cổ phiếu để đồng

thời thoả mãn các mục tiêu sau: bảo toàn vốn đầu tư ban đầu, mang lại thu

nhập hiện tại ổn định, và có khả năng tăng trưởng lâu dài cả vốn và lãi Quỹ

này thường có chiến lược phân bổ tài sản dựa trên phần trăm theo tỷ lệ đã

định sẵn

3 Quỹ đầu tư linh hoạt: là quỹ đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, các

công cụ phái sinh và các công cụ của thị trường tiên tệ mang lại thu nhập cao

Tỷ trọng đầu tư vào từng loại tài sản có thể thay đổi dựa theo các điều kiện cụ

thể của thị trường

Quỹ thị trường tiền tệ (Money Market Fund): Là loại quỹ đầu tư vào

các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ Thời hạn của các công cụ

trong danh mục trung bình là khoảng 90 ngày đến một năm Đây là những

công cụ khá an toàn, ổn định như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi của

các ngân hàng, thương phiếu Do đó, quỹ tiền tệ thường ít biến động hơn các

quỹ khác, nó thích hợp cho mục tiêu đầu tư ngắn hạn, lại có thu nhập ổn định

Để bảo vệ khoản vốn ban đầu của người đầu tư, quỹ tiền tệ phải đáp

Trang 26

ứng những điều kiện về khả năng hoàn trả, thời gian đáo hạn và mức độ đa

dạng hoá Theo quy định của Mỹ thì các quỹ tiền tệ phải đầu tư ít nhất 95%

tài sản vào các chứng khoán kho bạc Mỹ và những chứng khoán của các tổ

chức tư nhân có mức độ tín nhiệm cao, được công nhận bởi ít nhất 2 trong 5

cơ quan giám định hệ số tín nhiệm ở Mỹ

Về quy mô đầu tư, quỹ đầu tư phổ biến nhất là các quỹ cổ phiếu, tiếp

theo là các quỹ tiền tệ, rồi đến các quỹ trái phiếu, quỹ đầu tư hốn hợp Theo

ICI – Viện công ty đầu tư, đến cuối năm 2000, trong tổng số 6,97 ngàn tỷ

đôla đầu tư thông qua quỹ tương hỗ, có tới 3,96 ngàn tỷ đôla đầu tư qua các

quỹ cổ phiếu, 1,85 tỷ đôla đầu tư vào các quỹ tiền tệ, 808 tỷ đôla đầu tư vào

quỹ trái phiếu, và 350 tỷ đôla đầu tư vào các quỹ hốn hợp

Ngoài ra, người ta còn phân loại quỹ theo vùng lãnh thổ đầu tư Theo

cách phân loại của Mỹ thì có các quỹ :

Quỹ chứng khoán quốc tế hay còn gọi là quỹ nước ngoài Các quỹ này

chuyên đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu của nước ngoài Bằng việc mở rộng

đầu tư ra nước ngoài các quỹ này có thể cân bằng rủi ro bằng cách nắm giữ

chứng khoán của cả các nước phát triển, nhưng tăng trưởng chậm và của các

nước có nền kinh tê biến động nhiều nhưng có chiều hướng đi lên

Quỹ chứng khoán toàn cầu hay còn gọi là quỹ thế giới là các quỹ kinh

doanh trên cả thị trường Mỹ và thị trường nước ngoài Tài sản của quỹ này

thường được điều chuyển vòng quanh thế giới tuỳ thuộc vùng nào đem lại

nhiều nguồn lợi nhất

Các quỹ khu vực tập trung vào các vùng địa lý cụ thể có sự phát triển

cao Ví dụ : đầu tư vào chứng khoán của các nước thuộc Châu Âu, hay Vành

đai Thái Bình Dương Cũng như các quỹ lớn, các quỹ này đầu tư vào nhiều

quốc gia của cùng một vùng địa lý để hạn chế rủi ro

Qũy đầu tư chứng khoán quốc gia: là các quỹ tập trung vốn đầu tư

Trang 27

riêng vào một quốc gia có sự phát triển cao, phù hợp quy mô và mục tiêu của

quỹ điều này rất quan trọng vì có nhiều quốc gia thường hạn chế sự tham gia

của các nhà đầu tư riêng lẻ không phải là công dân nước họ Hầu hết các quỹ

này đều là quỹ đóng

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng đầu tư, các hình

thức quỹ được phát triển theo hướng đa dạng hoá các mục tiêu đầu tư Quá

trình này tạo nên các “gia đình quỹ” (fund families) Các gia đình quỹ này có

cùng tên gọi nhưng theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu Ví dụ : một quỹ chỉ

đầu tư ở một quốc gia, được tổ chức theo hình thức quỹ đóng với mục tiêu là

bảo toàn vốn, có nhập ổn định, và tăng trưởng trong tương lai

1.2.2 Tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán

1.2.2.1.1. Mô hình công ty

Tổ chức hoạt động: Theo mô hình này, quỹ là một pháp nhân đầy đủ,

được thành lập và tổ chức như một công ty cổ phần theo pháp luật của từng

nước và cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồng quản trị quỹ Các

nhà đầu tư góp vốn vào quỹ thông qua việc mua cổ phiếu của quỹ được niêm

yết trên Sở giao dịch chứng khoán, trở thành cổ đông của quỹ và bầu ra hội

đồng quản trị quỹ Theo quy định của Anh, các công ty tín thác đầu tư có thể

phát hành cổ phiếu thường, hoặc cổ phiếu ưu đãi Còn theo luật của Mỹ thì

các công ty tín thác chỉ được phát hành cổ phiếu thường

Tham gia vào hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, bao gồm nhà đầu

tư, hội đồng quản trị, tổ chức quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản Ở một số

nước còn có sự tham gia của các đại lý chuyển nhượng, và các nhà bảo lãnh

phát hành hay tổ chức sáng lập, bảo trợ cho việc thành lập quỹ

Nhà đầu tư: là người sở hữu cổ phiếu và trở thành cổ đông của quỹ

Các cổ đông của quỹ được quyền yêu cầu về lợi tức của cổ phần nắm giữ qua

Trang 28

các thời kỳ và được trả lại tiền gốc khi quỹ hết thời hạn hoạt động, đồng thời

được quyền biểu quyết để bầu ra Hội đồng quản trị và thông qua các vấn đề

cơ bản của quỹ

Hội đồng quản trị Quỹ: do các cổ đông bầu ra, và đại diện cho các cổ

đông lựa chọn công ty quản lý quỹ và tổ chức bảo quản đồng thời giám sát

hoạt động của hai tổ chức này Hội đồng quản trị chính là người được các cổ

đông của quỹ uỷ thác bảo vệ quyền lợi của những người tham gia đầu tư vào

quỹ

Những người điều hành trong Hội đồng quản trị được chia thành:

­ Người điều hành có quyền lợi (Interested Dỉectors) là những người điều

hành quỹ và có quyền lợi gắn trực tiếp với quyền lợi của quỹ Họ có thể là

nhà tư vấn được thuê hoặc của tổ chức bảo lãnh phát hành cho quỹ

­ Người điều hành độc lập ( Independent Dỉectors) nằm trong số những nhà

đầu tư thông thường Họ không có quan hệ với quỹ dưới hình thức là tổ chức

sáng lập, công ty tư vấn, tổ chức bảo lãnh của quỹ Hiện nay, theo Luật công

ty đầu tư của nhiều nước, thông thường ít nhất 40% trong thành phần Hội

đồng quản trị không phải là người của chi nhánh, công ty tư vấn, tổ chức bảo

lãnh phát hành, phân phối hoạt động theo một hợp đồng nào đó với quỹ

Người quản lý quỹ : Là một người hoặc một nhóm người có kinh

nghiệm trong việc đầu tư chuyên nghiệp, được giao quản lý công việc hàng

ngày của quỹ Thông thường họ cũng chính là những người lập ra công ty đó

Người quản lý còn đóng vai trò là nhà tư vấn, thực hiện đầu tư theo danh mục

đầu tư của quỹ Trong mô hình này, người quản lý quỹ do Hội đồng quản trị

của quỹ lựa chọn và họ được hưởng một tỷ lệ phí nhất định từ hoạt động quản

lý đó

Tổ chức bảo quản thường là các ngân hàng được quỹ lựa chọn để lưu

giữ và bảo quản các tài sản cho quỹ do ngân hàng có cơ sở vvật chất kỹ thuật

Trang 29

cho việc giữ và bảo quản tài sản, đồng thời tạo cơ sở thuận lợi cho việc thu,

chi, thanh toán giữa ngân hàng với các bên có quan hệ kinh doanh với quỹ

Ngân hàng bảo quản không thực hiện chức năng kinh doanh, tư vấn mà chỉ

chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn và theo dõi những biến động tài sản của quỹ

Ngân hàng bảo quản thường giữ luôn vai trò là đại lý chuyền nhượng cho

quỹ, huỷ các cổ phần cũ và phát hành cổ phần mới Ngân hàng cũng giữ danh

sách cổ đông để gửi báo cáo, giấy uỷ quyền hoặc thực hiện phân phối cho các

cổ đông với những hoạt động đó, ngân hàng bảo quản sẽ nhận được khoản

phí nhất định, gọi là phí bảo quản

Cơ chế tổ chức hoạt động của các quỹ theo mô hình công ty tại các thị

trường đều có những nét chung Tuy nhiên, việc huy động vốn lập quỹ có một

số điểm khác biệt Tại Mỹ, quỹ đầu tư chứng khoán dạng công ty chỉ được

phát hành cổ phiếu thường, trong khi tại Anh, các quỹ này còn được phát

hành quyền Việc huy động vốn lập quỹ do các tổ chức bảo trợ lập quỹ kiêm

chức năng bảo lãnh phát hành cho quỹ hoặc do chính tổ chức sáng lập có

chức năng bảo lãnh phát hành thực hiện Các tổ chức này sẽ lập Bản cáo

bạch, đưa ra mục tiêu và chính sách đầu tư của quỹ, các mức chi phí liên quan

tới các chủ thể hoạt động cho quỹ Trong khi chào bán, tổ chức bảo lãnh có

thể thuê thêm các tổ hợp chào bán chứng khoán giúp phân phối cổ phần của

quỹ Các tổ hợp chào bán này cũng có thể nhận được khoản phí từ phí bảo

lãnh phát hành

Tham gia vào các hoạt động hàng ngày của quỹ chỉ có Hội đồng quản

trị, Tổ chức quản lý đầu tư và ngân hàng bảo quản Mỗi chủ thể này được

phân quyền hạn và nhiệm vụ một cách rõ ràng Cụ thể:

­ Hội đồng quản trị có quyền điều hành mọi hoạt động liên quan đến quỹ,

giám sát hoạt động của Tổ chức quản lý và Ngân hàng bảo quản Đề ra các

chính sách đầu tư và các chính sách khác cho quỹ

Trang 30

­ Tổ chức quản lý quỹ có quyền quản lý, nghiên cứu thị trường, tìm kiếm

các cơ hội đầu tư và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý Xây dựng danh mục

đầu tư theo những mục tiêu quỹ đề ra

­ Ngân hàng bảo quản : thực hiện nhiệm vụ bảo quản tài sản cho quỹ và

thực hiện các yêu cầu đầu tư do Tổ chức quản lý quỹ yêu cầu

Có sự tách biệt quyền hạn của các chủ thể là do:

Thứ nhất, do trình độ chuyên môn và hiệu quả hoạt động Không phải

tất cả thành viên Hội đồng quản trị đều là những nhà đầu tư chuyên nghiệp,

thông thạo nghiệp vụ đầu tư và kinh doanh chứng khoán Việc có riêng một

bộ phận chuyên nghiên cứu, phân tích và theo đuổi các mục tiêu đầu tư sẽ

làm cho hoạt động của quỹ trở nên hiệu quả hơn Đồng thời, để đảm bảo an

toàn cho tài sản, cũng cần có một tổ chức chuyên nghiệp có đủ các điều kiện

bảo quản an toàn và quản lý một cách khoa học, có hệ thống đồng thời có thể

tiến hành việc thu, chi, thanh toán với các đối tác Do vậy cần phải có một

ngân hàng để thực hiện công việc này

Thứ hai, là do cần phải bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư Hầu hết các tổ

chức kinh doanh đều phải có một khoản vốn tự có nhất định Trong quá trình

hoạt động, khoản vốn tự có này luôn được giữ lại ở một mức nhất định nhằm

đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp Ngay cả ngân hàng là tổ

chức kinh doanh tiền tệ cũng chỉ được huy động vốn tối đa 15 – 20 lần vốn tự

có Tuy vậy, quỹ đầu tư chứng khoán khi thành lập lại hoàn toàn không có

vốn Nó chỉ thực sự hoạt động khi huy động được vốn từ các nhà đầu tư Vì

vậy, nó hoạt động hoàn toàn trên vốn của người khác Nếu không có sự tách

biệt về quyền năng thì quyền lợi của nhà đầu tư không được đảm bảo

Ngoài các tổ chức kể trên, Hội đồng quản trị của quỹ còn có thể thuê thêm một tổ chức chuyên quản trị hành chính Tổ chức này sẽ cung cấp

trụ sở làm việc, các trang thiết bị văn phòng, thiết bị thông tin; uỷ nhiệm chi

trả lương, thưởng cho Hội đồng quản trị; giám sát việc lập các báo cáo định

Trang 31

kỳ cho các cổ đông Tổ chức quản trị hành chính này cũng được nhận một tỷ

lệ phí nhất định khi thực hiện các dịch vụ trên

Mô hình quỹ đầu tư dạng công ty hiện nay được áp dụng rộng rãi tại

các nước có TTCK đã hình thành và phát triển từ rất sớm, như TTCK Anh,

Mỹ

Sơ đồ : Cơ chế hoạt động của Quỹ đầu tư dạng công ty

Tổ chức hoạt động: theo mô hình này, Quỹ đầu tư không phải là một

pháp nhân, nên không có khả năng tự mình thực hiện các hoạt động kinh

doanh và tự chịu trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật Quỹ chỉ

là một lượng tiền nhất định được hình thành từ vốn góp của công chúng đầu

Ngân hàng bảo quản

tài sản

Tổ chức quản lý đầu tư

Giao việc quản trị hành chính

Uỷ quyền lưu ký tài sản của quỹ

Uỷ quyền quản lý tài sản của quỹ

Công ty đầu

tư chứng khoán

Trang 32

tư theo sự gọi vốn của công ty quản lý quỹ Bản chất của Quỹ tín thác là dựa

trên quan hệ tín thác tài sản và hợp đồng tín thác được coi là một chứng từ

pháp lý cơ bản để điều chỉnh hoạt động của các bên tham gia

Các bên tham gia vào hoạt động của quỹ bao gồm: Công ty quản lý

quỹ giữ vai trò là người tín thác, tổ chức giám sát và bảo quản tài sản giữ vai

trò là người nhận tín thác và các nhà đầu tư là người hưởng lợi

Không giống mô hình Quỹ đầu tư chứng khoán dạng công ty, Quỹ đầu

tư chứng khoán dạng hợp đồng ( dạng tín thác) do chính công ty quản lý quỹ

đứng ra huy động vốn thành lập quỹ Sau khi huy động xong, vốn và tài sản

của quỹ được giao cho tổ chức nhận tín thác, thường là ngân hàng, thực hiện

việc thu, chi cho hoạt động đầu tư Công ty quản lý quỹ bắt đầu thực hiện

việc đầu tư của quỹ theo những chính sách và mục tiêu đã đề ra trong bản cáo

bạch huy động vốn ban đầu cũng như cam kết trong hợp đồng tín thác

Người nhận tín thác được lựa chọn thường là các ngân hàng hoặc các tổ

chức có chức năng quản lý tài sản tín thác theo quy định của pháp luật về tín

thác tài sản Khi tham gia vào hoạt động của quỹ đầu tư, bên cạnh vai trò bảo

quản vốn và các tài sản của quỹ, tổ chức giám sát bảo quản còn làm nhiệm vụ

quan trọng là giám sát hoạt động đầu tư mà công ty quản lý quỹ thực hiện để

đảm bảo việc tuân thủ các mục tiêu và chính sách đầu tư đã đề ra

Người đầu tư hay những người thụ hưởng là người được hưởng lợi

nhuận phát sinh từ việc góp vốn vào quỹ Tổng số vốn quỹ dự kiến huy động

sẽ được chia thành các đơn vị tín thác Việc góp vốn của các nhà đầu tư được

thể hiện bằng việc họ mua các chứng chỉ đầu tư do công ty quản lý quỹ thay

mặt quỹ phát hành trong đó xác nhận số đơn vị tương ứng với số vốn góp của

họ Tham gia vào quỹ tín thác, người đầu tư không được ra quyết định đầu tư

trực tiếp đối với tài sản của mình Nói cách khác, quỹ đầu tư chứng khoán mô

hình tín thác không có Hội đồng quản trị nên nhà đầu tư không thực hiện

Trang 33

được việc quản lý trực tiếp đối với phần vốn đã góp mà chỉ nhận được phần

lãi dựa trên kết quả kinh doanh của quỹ

Do đầu tư vào quỹ tín thác nhà đầu tư chỉ là người hưởng lợi từ hoạt

động kinh doanh mà không được quyền biểu quyết các vấn đề khác cũng như

không được tham gia vào các chiến lược đầu tư của quỹ nên việc bảo vệ

quyền lợi cho nhà đầu tư là rất cần thiết Để đảm bảo quỹ vận hành hiệu quả,

hạn chế tối đa sự câu kết giữa công ty quản lý và ngân hàng giám sát ­ bảo

quản, cơ quan quản lý nhà nước thường ban hành các chế định pháp luật

nhằm tách biệt các quyền đối với tài sản của quỹ, cụ thể là quyền sở hữu và

quyền quản lý Do công ty quản lý quỹ có quyền định đoạt đối với tài sản

không do mình sở hữu nên rất dễ có cơ hội đầu tư tự phát theo đuổi mục tiêu

lợi nhuận mà không tính đến rủi ro có thể xảy ra Hơn nữa, công ty quản lý

quỹ lại được toàn quyền đề ra các chính sách và các quyết định đầu tư nên

việc tách biệt quyền quản lý với quyền sở hữu là đặc biệt cần thiết Vì vậy, tổ

chức bảo quản ngoài việc có trách nhiệm giữ và bảo quản tài sản cho quỹ còn

có nhiệm vụ giám sát đối với các hoạt động của công ty quản lý quỹ Như

vậy, cơ cấu tổ chức của quỹ theo mô hình tín thác gọn nhẹ và linh hoạt hơn so

với quỹ theo mô hình công ty mà vẫn đảm bảo được tính an toàn cho tài sản

và tính hiệu quả trong đầu tư Việc phân bổ quyền hạn này được thể hiện theo

mô hình sau:

Sơ đồ : Phân bổ quyền hạn trong Quỹ đầu tư

Trang 34

Quyền đề ra chính sách

Quyền giám sát

Quyền giữ tài sản

Nếu trong mô hình công ty, quỹ chỉ bao gồm một vài cổ đông, có quy

mô và số vốn nhỏ thì trong mô hình tín thác, quỹ có cơ cấu vốn lớn hơn rất

nhiều Việc cơ quan quản lý quỹ và tổ chức bảo quản không có quan hệ lợi

ích nào cũng như không tồn tại quan hệ sở hữu chéo nào, hoạt động độc lập

với nhau, cùng vì quyền lợi của quỹ là cơ sở quan trọng để các Quỹ đầu tư

phát triển

Sơ đồ : Cơ chế hoạt động của Quỹ đầu tư dạng hợp đồng

Trang 35

Đại lý được

uỷ quyền

Hợp đồng tín thác

Phân bổ

LN và thanh toán các khoản tiền mua lại CCĐT

Chỉ dẫn đầu tư

Uỷ quyền phân bổ

LN và thanh toán các khoản mua lại CCĐT

Phân bổ LN

và thanh toán các khoản tiền mua lại CCĐT

Tiền mua CCĐT

Thanh toán các khoản tiền mua lại CCĐT Phân bổ LN và thanh toán các khoản tiền mua lại CCĐT

Thanh toán tiền mua CCĐT

Hoạt động của một quỹ đầu tư bao gồm hai hoạt động chính là huy

động vốn và đầu tư bằng số vốn huy động được

1.2.2.2.1. Huy động vốn:

Các quỹ đầu tư chứng khoán hình thành vốn bằng việc phát hành cổ

phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư thu hút vốn từ công chúng

Đối với các quỹ đầu tư dạng công ty, quỹ phát hành cổ phiếu, giống

như công ty cổ phần, để hình thành nên quỹ Các cổ đông của quỹ cũng nhận

được các cổ phiếu xác nhận số cổ phần của mình tại quỹ

Đối với các quỹ đầu tư dạng hợp đồng, lượng vốn hình thành nên quỹ

được chia thành các đơn vị quỹ Quỹ đầu tư sẽ phát hành chứng chỉ đầu tư

tương ứng xác nhận số đơn vị tương ứng với số vốn người đầu tư góp vào

Trang 36

quỹ Cũng như cổ phiếu phổ thông khác, chứng chỉ quỹ cũng được phát hành

dưới hình thức ghi danh hoặc vô danh và có thể giao dịch, chuyển nhượng

như cổ phiếu, tuy quyền và nghĩa vụ của người hưởng lợi (người nắm giữ

chứng chỉ quỹ) trong mô hình quỹ dạng hợp đồng có một số điểm khác so với

cổ đông trong mô hình quỹ dạng công ty

Để huy động được vốn, các công ty đầu tư hay các công ty quản lý quỹ

có thể chào bán theo nhiều hình thức khác nhau, như chào bán qua tổ hợp và

chào bán trực tiếp Chào bán qua tổ hợp thường được thực hiện đối với mô

hình công ty, trong đó các tổ hợp chào bán bao gồm các tổ chức bảo lãnh và

các đại lý của mình Tổ chức bảo lãnh đóng vai trò như nhà bán buôn, và các

đại lý của họ là nhà bán lẻ Bên cạnh đó, các quỹ đầu tư dạng hợp đồng cũng

áp dụng cách thức này khi huy động khối lượng vốn lớn Chào bán trực tiếp

thường thấy ở các quỹ đầu tư dạng hợp đồng, trong đó, công ty quản lý quỹ tự

đứng ra chào bán chứng chỉ đầu tư đến các cá nhân hoặc bán thông qua mạng

lưới của tổ chức bảo quản

Nếu không huy động được vốn thì không thể thành lập quỹ Do vậy,

các công ty quản lý quỹ phải thuyết phục người đầu tư bỏ vốn vào quỹ thay vì

đầu tư vào nơi khác Đối với quỹ trong nước, quỹ và những nhà quản lý của

quỹ phải nắm bắt được lượng tiền trong nước đang được đầu tư vào đâu và

các nhà đầu tư mong muốn gì Còn đối với các quỹ đầu tư nước ngoài, cần

xem xét mức độ quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường

nội địa, mức độ hấp dẫn họ của các điều kiện về kinh tế, chính trị,

Nói tóm lại, phải nắm bắt được nhu cầu của nhà đầu tư cũng như có các

phương thức chào bán thích hợp thì hoạt động huy động vốn của quỹ mới

thực sự có hiệu quả, đáp ứng đủ quy mô vốn cho đầu tư như quỹ mong muốn

1.2.2.2.2. Hoạt động đầu tư:

a Quy trình đầu tư

Đối với bất cứ quỹ đầu tư chứng khoán nào, trong quá trình đầu tư,

hoạt động quan trọng nhất của quỹ là thực hiện và quản lý đầu tư Quy trình

đầu tư này được mô tả theo sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ : Quy trình đầu tư của quỹ

Nghiªn cøu ®Çu t­

Trang 37

Từ sơ đồ cho thấy: nghiờn cứu đầu tư và phõn tớch rủi ro, lợi nhuận

chớnh là cỏc bước nhằm xõy dựng phương ỏn lập quỹ đầu tư và cũng là cơ sở,

tạo nờn đầu vào cho hoạt động đầu tư của quỹ

Tuỳ thuộc vào mục đớch đầu tư mà cỏc quỹ đưa ra cỏc mục tiờu đầu tư

khỏc nhau dựa trờn nhu cầu của cỏc nhà đầu tư Thụng thường, mục tiờu đầu

tư phải cụ thể hoỏ được mức lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro tương ứng của quỹ

Bất cứ quỹ nào cũng mong muốn đạt được một số mục tiờu ban đầu như sau:

thu nhập nhằm nhanh chúng cú nguồn chi trả cổ tức, lói vốn tức là gia tăng

giỏ trị của cỏc khoản đầu tư, hoặc cả thu nhập và lói vốn Cú thể thấy rằng,

mục tiờu của quỹ thường được thể hiện thụng qua chớnh tờn gọi của quỹ Vớ

dụ: quỹ tăng trưởng cú mục tiờu là tăng trưởng vốn trong dài hạn, quỹ thu

nhập hướng đến mục tiờu thu nhập, quỹ tăng trưởng – thu nhập lại mong

muốn cú ngay thu nhập để trả cổ tức, và tăng trưởng vốn trong tương lai

Tuy nhiên, đối với một quỹ đầu tư chứng khoán thì việc phân chia tài

sản và lựa chọn chứng khoán nhằm xây dựng một danh mục đầu tư hợp lý, đạt

Đầu vào

Đầu ra

Trang 38

được các mục tiêu, chiến lược mà quỹ đề ra luôn là vấn đề quan trọng nhất v�

được các nhà quản lý của quỹ đặt lên hàng đầu

Phõn bổ tài sản nghĩa là phân chia tiền của quỹ vào”các rổ”đầu tư, mỗi

rổ nhằm đạt được mục tiêu cụ thể riêng biệt hoặc toàn bộ các yêu cầu sinh lời

từ danh mục đầu tư Phân bổ tài sản được thực hiện trong từng thời kỳ phù hợp

với quan điểm và phán đoán đầu tư của người quản lý quỹ Nó liên quan tới

quyết định sẽ đầu tư bao nhiêu tiền vốn của quỹ vào từng loại tài sản - cổ

phiếu, trái phiếu, bất động sản, tiền mặt, hoặc từng lĩnh vực đầu tư - ngành

công nghiệp, ngành công nghệ cao Khi chia số tiền của quỹ vào từng loại tài

sản khác nhau, người quản lý đầu tư có thể tính toán cân đối giữa giá trị của

danh mục đầu tư cũng như mức độ sinh lời của từng loại chứng khoán cấu

thành

Việc phân bổ tài sản sẽ góp phần quan trọng vào tối ưu hoá danh mục

đầu tư và tối ưu hoá mức sinh lời từ các khoản đầu tư và cũng là phương thức

cơ bản nhất để kiểm soát rủi ro đầu tư Đối với các quỹ có mức độ rủi ro cao,

việc phân bổ tài sản sẽ được tập trung vào các loại sản phẩm đầu tư có độ rủi

ro cao, chẳng hạn cổ phiếu, để có thể đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng cao

hơn Những quỹ với các đối tượng khách hàng là những người đầu tư bảo thủ

sẽ phân bổ một tỷ trọng lớn vốn đầu tư vào trái phiếu hoặc các công cụ tương

đương với tiền

Lựa chọn chứng khoỏn là bước tiếp theo của việc tiến hành phân bổ tài

sản Việc lựa chọn chứng khoán cho danh mục đầu tư là việc quyết định sẽ

đầu tư thế nào vào từng loại chứng khoán cụ thể trong từng loại tài sản đã

được phân bổ với tỷ trọng vốn của quỹ là bao nhiêu Ví dụ, nếu đầu tư vào cổ

phiếu thì sẽ lựa chọn loại cổ phiếu của công ty nào để đầu tư, trong trái phiếu

sẽ đầu tư loại trái phiếu cụ thể nào, trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu công

ty nào

Phân bổ tài sản và lựa chọn chứng khoán trong danh mục đầu tư là hai

quyết định cơ bản trong việc thực hiện mục tiêu đầu tư Các quyết định này là

liên tục, có nghĩa là chúng không bao giờ kết thúc, thể hiện toàn bộ quy trình

quản lý tài sản của quỹ Quy trình này quyết định nguồn của các yếu tố tạo

nên tổng thu nhập của danh mục đầu tư Việc đa dạng hoá thông qua các loại

tài sản được đầu tư khác nhau có thể tăng khả năng chắc chắn để đạt được

mức sinh lời đầu tư đặt ra

Trang 39

Chớnh sỏch đầu tư là sự kết hợp giữa phõn bổ tài sản và lựa chọn chứng

khoỏn của quỹ Chớnh sỏch đầu tư được phõn chia thành hai phương thức cơ

bản: đầu tư chủ động và đầu tư thụ động Bất cứ một quỹ hay cụng ty quản lý

quỹ nào cũng phải xem xột và cõn nhắc xem danh mục đầu tư của mỡnh cần

được quản lý chủ động và thụ động ở mức độ nào

Quản lý danh mục đầu tư thụ động được dựa trên dự đoán tin tưởng

rằng giá chứng khoán luôn gần với mức trung bình trên thị trường Thay vì

dành thời gian và các nguồn khác nhằm”đánh bại thị trường”, ví dụ như tìm

mua các loại chứng khoán với giá cả không có mức chuẩn trên thị trường và

không có những đặc điểm rủi ro-khoản sinh lời hấp dẫn, người đầu tư (tổ chức

quản lý quỹ) giả thiết rằng họ sẽ có thể bù đắp với rủi ro mà họ mong muốn

và lựa chọn một danh mục đầu tư phù hợp với mức độ rủi ro họ đưa ra

Trái ngược với các chiến lược đầu tư thụ động, phương thức quản lý

đầu tư chủ động đưa ra khả năng của bản thân quỹ có thể ”khôn hơn” các đối

thủ cạnh tranh khác trên thị trường và có thể xác định loại chứng khoán cụ thể

nào trong từng loại tài sản phân bổ có thể”sáng giá”trong tương lai gần Việc

lựa chọn chứng khoán chủ động đối với các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như

quỹ đầu tư thường yêu cầu hai lớp: phân tích chứng khoán và lựa chọn danh

mục đầu tư Phân tích chứng khoán được tiến hành chuyên sâu theo từng

ngành cũng như từng công ty cụ thể và việc chuẩn bị các đánh giá về các

khoảng trống của thị trường Người quản lý danh mục đầu tư xem xét chọn

lọc thông qua báo cáo của nhiều nhà phân tích và sử dụng các dự đoán về điều

kiện thị trường để đưa ra các quyết định phân bổ tài sản và sử dụng các

khuyến nghị của các nhà phân tích chứng khoán để lựa chọn loại chứng khoán

cụ thể trong từng loại tài sản được phân bổ

Vậy, phương thức quản lý nào, chủ động hay bị động, sẽ tốt hơn?

Dường như phương thức chủ động có lợi thế hơn bởi vì việc quản lý chủ động

rất cần thiết để đạt được hoạt động đầu tư với hiệu quả cao Tuy nhiên,

phương thức quản lý chủ động cũng có những bất lợi Nó thường tạo các chi

phí đáng kể khi phải tiến hành các hoạt động phân tích thị trường và chứng

khoán và cũng tạo ra các chi phí giao dịch nhiều hơn từ vòng quay giao dịch

nhanh hơn của các chứng khoán trong danh mục đầu tư

Trang 40

1.3 CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Có thể thấy rằng quỹ đầu tư là một chủ thể quan trọng trên TTCK và

việc phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán là rất cần thiết do những lợi ích

mà quỹ mang lại cho thị trường và cho toàn nền kinh tế Tuy nhiên, quỹ đầu

tư chứng khoán chỉ thực sự phát huy lợi thế của nó trong những điều kiện

nhất định, đó là:

1.3.1 Môi trường kinh tế

1.3.1.1. Sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế

Sự phát triển của nền kinh tế là cơ sở cho mọi sự phát triển và mở rộng

hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đó Kinh tế phát triển sẽ làm nảy

sinh các nhu cầu nhằm đáp ứng và theo kịp với sự tăng trưởng đó Quỹ đầu tư

chứng khoán cũng là một trong những nhu cầu cho sự tăng trưởng đó của nền

kinh tế

Nhu cầu về vốn cho một nền kinh tế đang phát triển là rất lớn Nhu cầu

này xuất phát từ việc phải có những nguồn vốn lớn, trung và dài hạn nhằm

đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng và các ngành trọng điểm của nền kinh tế

Đặc biệt, đến một thời điểm nhất định, nhu cầu này trở nên cấp thiết đối với

mọi ngành, nghề để tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng

quy mô hoạt động thì việc vay vốn qua ngân hàng là không phù hợp và đòi

hỏi phải có một kênh huy động vốn khác Đó là việc huy động vốn thông qua

TTCK nói chung và qua các quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng

Hơn thế nữa, khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân

không chỉ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn có phần tích luỹ Khi đó, cần

phát triển TTCK và quỹ đầu tư chứng khoán để giúp những cá nhân có các

khoản tiền tích luỹ chuyển các khoản tiết kiệm này thành đầu tư

Quỹ đầu tư là một định chế đầu tư chuyên nghiệp, vì vậy, chỉ khi nền

kinh tế phát triển đến một mức nhất định, nhu cầu vốn của nền kinh tế trở nên

Ngày đăng: 22/07/2014, 12:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS.TS Nguyễn Văn Nam, PGS.TS Vương Trọng Nghĩa(2002), “ Thị trường chứng khoán” – Giáo trình khoa Ngân hàng – Tài chính, ĐH Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán
Tác giả: GS.TS Nguyễn Văn Nam, PGS.TS Vương Trọng Nghĩa
Năm: 2002
8. Charles Murphy and Ian Tanner (1997), Vietnam Fund – An overview, Bear Stearns, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Fund – An overview
Tác giả: Charles Murphy and Ian Tanner
Năm: 1997
9. Mark St Giles Ekaterina Alexeeva and Sally Buxton, Managing Collective Investment Funds, Wiley, England Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managing Collective Investment Funds
10.Stephan A.Ross, Randolph W. Westerfield and Bradford D. Jordan (2000), Fundamentals of Corporate Finance, Irwin Mc Graw – Hill, The United State of American Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamentals of Corporate Finance
Tác giả: Stephan A.Ross, Randolph W. Westerfield and Bradford D. Jordan
Năm: 2000
11.SG Country Funds(2000), Vietnamese Fund Review –Time to buy?, SG, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnamese Fund Review –Time to buy
Tác giả: SG Country Funds
Năm: 2000
12.UBCKNN, Quỹ tăng trưởng Hàn Quốc -Hợp đồng tín thác, Vụ quản lý Kinh doanh chứng khoán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ tăng trưởng Hàn Quốc -Hợp đồng tín thác
13.UBCKNN, Quỹ đầu tư mạo hiểm và bài học của công ty quản lý vốn dài hạn, Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỹ đầu tư mạo hiểm và bài học của công ty quản lý vốn dài hạn
2. Chính phủ (2003), Nghị định 144/2003/ NĐ- CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về Chứng khoán và Thị trường chứng khoán Khác
3. UBCKNN(1998), Quy chế về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ ban hành kèm theo Quyết định số 05/1998/QĐ – UBCN3 ngày 13/10/2998 của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước Khác
4. Chính phủ (2003), Quyết định 163/2003/ QĐ- TTg ngày 05/08/2003 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2010 Khác
5. Chính phủ (2003), Quyết định 146/2003/QĐ-TTg ngày 17/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam Khác
6. Bộ Tài chính (2003), Thông tư 121/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 hướng dẫn thi hành Quyết định 146/2003/QĐ – TTg ban hành ngày 17/7/2003 Khác
7. UBCKNN (2003), Báo cáo tổng kết ba năm hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam Khác
14.Tạp chí Đầu tư chứng khoán các số 207, 208, 209, 210, 220, 221, 222, 227, 228 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ 1: CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
SƠ ĐỒ 1 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH (Trang 3)
Bảng 1  cho thấy độ lệch chuẩn của thu nhập chuyển động cùng chiều  với số cổ phiếu trrong danh mục - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
Bảng 1 cho thấy độ lệch chuẩn của thu nhập chuyển động cùng chiều với số cổ phiếu trrong danh mục (Trang 13)
Bảng   : So sánh quỹ dạng đóng và quỹ dạng mở Tiêu chí so - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
ng : So sánh quỹ dạng đóng và quỹ dạng mở Tiêu chí so (Trang 20)
Bảng    : So sánh ưu nhược điểm của từng quỹ: - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
ng : So sánh ưu nhược điểm của từng quỹ: (Trang 21)
Sơ đồ  : Cơ chế hoạt động của Quỹ đầu tư dạng công ty - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
ch ế hoạt động của Quỹ đầu tư dạng công ty (Trang 31)
Sơ đồ    : Cơ chế hoạt động của Quỹ đầu tư dạng hợp đồng - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
ch ế hoạt động của Quỹ đầu tư dạng hợp đồng (Trang 34)
Sơ đồ : Tổng tài sản của VEIL vào ngày 31/07/2003 - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
ng tài sản của VEIL vào ngày 31/07/2003 (Trang 53)
Bảng   : Danh mục đầu tư của Quỹ Beta Vietnam Fund Ltd ( 31/3/2000) Công ty Ngành, lĩnh vực % công ty % trong - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
ng : Danh mục đầu tư của Quỹ Beta Vietnam Fund Ltd ( 31/3/2000) Công ty Ngành, lĩnh vực % công ty % trong (Trang 57)
Bảng   : Danh mục đầu tư của Quỹ Vietnam Frontier Fund (30/6/2000) - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
ng : Danh mục đầu tư của Quỹ Vietnam Frontier Fund (30/6/2000) (Trang 59)
Bảng 10 : Danh mục đầu tư của Quỹ Vietnam Fund Ltd (31/3/2000) - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
Bảng 10 Danh mục đầu tư của Quỹ Vietnam Fund Ltd (31/3/2000) (Trang 61)
Sơ đồ trên cho thấy: VF1 là một quỹ cân đối nên sẽ nắm giữ 50% là  giành cho các chứng khoán mang tính hạt nhân, tức là đảm bảo 3 điều kiện: - phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở việt nam
Sơ đồ tr ên cho thấy: VF1 là một quỹ cân đối nên sẽ nắm giữ 50% là giành cho các chứng khoán mang tính hạt nhân, tức là đảm bảo 3 điều kiện: (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w