Một trong những nguyên nhân gây ra thực trạng này là do các chính quyền các cấp chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, sự hiểu biết về thành quả đóng góp của khu
Trang 1***********
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DI CƯ TỰ DO
TRONG CƠ SỞ SẢN XUẤT NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM VĂN QUYẾT
HỌC VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN ĐỨC TUYẾN
HÀ NỘI - 2006
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
II - ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT
VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DI CƯ TỰ DO 11
1.3.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là
1.3.2 Lý thuyết về cung và cầu của David Begg và cộng sự 26 1.3.3 Lý thuyết chọn lựa hợp lý của Coleman, Friendman và
1.3.4 Lý thuyết trao đổi của Adam Smith, David Ricardo, John
1.3.5 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề việc làm của
lao động tự do trong các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ 32
Trang 3cứu 36
2.1.1 Một vài nét khái quát về tình hình việc làm cho người lao
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội quận Hoàng Mai 41
2.2 Đặc điểm việc làm của các cơ sở sản xuất nhỏ ở quận Hoàng Mai 43 2.3 Việc làm với yêu cầu về học vấn và trình độ tay nghề 44 2.4.Khả năng thu hút lao động của các cơ sở sản xuất nhỏ 51
2.7 Môi trường tự nhiên nơi làm việc và tai nạn lao động 67
CHƯƠNG 3 CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LAO
3.2 Quan hệ giữa những người lao động trong nơi làm việc 95
-
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau hai mươi năm kể từ khi Đảng tiến hành đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành
quả đáng khích lệ: Kinh tế phát triển ổn định và kéo dài, đang là một nước có cơ cấu kinh tế dựa
trên nông nghiệp là chính, với số người dân sống ở vùng nông thôn khoảng 70%, chúng ta đã, đang
chuyển dần cơ cấu kinh tế sang công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Giai đoạn đầu đổi mới, phát triển nông nghiệp là ưu tiên hàng đầu Giai đoạn sau các chính
sách tập trung vào phát triển công nghiệp, khuyến khích sự thành lập các doanh nghiệp, tạo việc
làm, thu hút nguồn lao động đang dư thừa của đất nước
Với đà phát triển kinh tế, để tiến hành công nghiệp hoá thành công, hiện đại hoá đất nước, để
giảm mạnh tỷ lệ người nghèo và tăng tính hiệu quả của nền kinh tế đất nước, Đảng ta đã phát động
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 với mục đích chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lý,
làm cho “Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16-17%, công nghiệp 40-41%, dịch vụ 42-43% Tỷ
lệ lao động nông nghiệp còn 50%”
Những sự biến động trên tác động mạnh mẽ đến đời sống người dân cả nước, đồng thời làm
biến đổi cơ cấu công nghiệp/nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta Sự tăng lên của tỷ lệ công
nghiệp và giảm xuống của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân làm cho một bộ phận dân
chúng không có việc làm ở nông thôn phải di cư lao động từ khu vực nông thôn sang đô thị
Điều quan trọng hơn, nhận thức về kinh doanh, kinh tế được đổi mới, các thành phần kinh tế
đã chứng tỏ được tầm quan trọng trong thực tế Khu vực kinh tế tư nhân, phi chính thức được công
nhận và được đánh giá vì có những đóng góp phù hợp với chính sách phát triển của quốc gia
Tuy đã có nhiều sự chú ý, nhưng sự đánh giá của nhà nước về khu vực kinh tế này vẫn thấp
hơn với tầm cỡ phát triển của chúng nên các chính sách chưa phát huy hiệu quả tối đa Trong các cơ
sở sản xuất nhỏ, quan hệ của giới chủ và người lao động có nhiều vấn đề khúc mắc
Một trong những nguyên nhân gây ra thực trạng này là do các chính quyền các cấp chưa đánh
giá đúng mức tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, sự hiểu biết về thành quả đóng góp của khu
vực kinh tế này trong việc giải quyết việc làm cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo
cho người dân còn chưa được thấu đáo Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động
còn chưa được bình đẳng và thiếu sự giám sát của pháp luật, mà người thường bị thiệt thòi là người
lao động do họ không có đủ hiểu biết, kiến thức pháp luật và vị thế thấp kém
Để những vấn đề trên có thể được giải quyết một cách thấu đáo, đồng thời có thể nâng cao
được đời sống của người lao động di cư, giải quyết sự căng thẳng trong các quan hệ của họ, chúng
ta cần phải hiểu rõ được tình trạng việc làm, lao động của người lao động di cư tự do làm việc ở khu
vực kinh tế này
Với những lý do như vậy, luận văn sẽ cố gắng làm rõ thực trạng việc làm của người lao
động di cư làm việc ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ thuộc quận Hoàng Mai - Hà Nội, phát hiện
những vấn đề chưa hợp lý từ đó góp phần đưa ra những kiến nghị cần thiết về mặt chính sách để
phát triển mặt mạnh, giảm bớt những khó khăn, vướng mắc của người lao động di cư và sử người
dụng lao động, từng bước nâng cao đời sống cho nhóm người lao động di cư làm việc ở khu vực
này Qua trường hợp nghiên cứu quận Hoàng Mai, luận văn cũng hy vọng sẽ góp phần làm rõ hơn
thực trạng việc làm của nhóm người di cư vào Hà Nội nói chung, hoặc có thể giúp đỡ giải thích một
số vấn đề ở tầm cỡ lớn hơn
II - ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tình trạng việc làm và thu nhập của nhóm người lao động di cư tự do trong các cơ sở sản
xuất nhỏ
Khách thể nghiên cứu
Người lao động di cư hiện đang làm việc trong các cơ sở sản xuất nhỏ
Trang 5Người chủ cơ sở sản xuất nhỏ đang sử dụng lao động di cư
Người quản lý chính quyền nơi địa bàn nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành ở quận Hoàng Mai
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2006
III - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài cố gắng làm rõ những điều sau:
1 Khả năng tìm kiếm việc làm và đặc trưng việc làm của người lao động di cư tự do trong các
cơ sở sản xuất nhỏ
2 Mức độ ổn định của việc làm và thời gian làm việc của người lao động di cư trong các cơ sở
sản xuất nhỏ
3 Tiền công và các phúc lợi mà người lao động di cư được hưởng
4 Mối quan hệ xã hội của người lao động di cư trong các cơ sở sản xuất nhỏ
IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sẽ được tiến hành dựa trên phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
1 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp phân tích tài liệu
Sưu tầm, phân tích các kết quả nghiên cứu về tình trạng việc làm của người lao động trong
các cơ sở sản xuất nhỏ ở Hà Nội, các số liệu thống kê có liên quan ở trên các sách đã in, báo cáo
điều tra, báo chí và internet
Phương pháp điều tra bảng hỏi
Luận văn đã tiến hành khảo sát 210 bảng hỏi Mục đích bảng hỏi là đưa ra các số liệu định
lượng để đánh giá thực trạng của những người lao động di cư tự do làm trong các cơ sở sản xuất
nhỏ, tìm hiểu các số liệu về tiền lương, về thời gian làm việc và các số liệu về điều kiện sống, làm
việc của nhóm người này
Phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu là để làm rõ thêm hiện trạng của người lao động di cư; lý giải
những lý do, nguồn gốc của vấn đề mà bảng hỏi phát hiện mà không lý giải nổi nếu chỉ tiến hành
phân tích định lượng; đồng thời nội dung phỏng vấn sâu cũng đi sâu phát hiện những vấn đề về tâm
tư, nguyện vọng của các cá nhân mà bảng hỏi không bao quát nổi Chính vì thế, để phù hợp với mục
tiêu nghiên cứu và phù hợp với những kiến thức, tâm tư của từng trường hợp cụ thể, nội dung
phỏng vấn đối với từng cá nhân có những hướng khác nhau:
Đối với người lao động di cư: nội dung phỏng vấn chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu thời gian tìm
kiếm việc làm; ai, bằng cách nào mà người lao động di cư tìm được việc; nhu cầu đào tạo nâng cao
trình độ tay nghề, sự di chuyển trong việc làm; quan hệ của họ đối với chủ thuê lao động, đối với
những người cùng làm; những vấn đề liên quan đến môi trường xã hội và môi trường tự nhiên nơi
làm việc; tâm tư và suy nghĩ của họ đối với công việc và tương lai của chính họ
Đối với chủ cơ sở sản xuất: nội dung tập trung vào đánh giá khả năng cung cấp nguồn việc
cho người lao động, yêu cầu về nguồn nhân lực; những ảnh hưởng của chính sách nhà nước đến cơ
sở sản xuất cũng như đến người lao động; các phúc lợi, những chế độ ưu đãi mà cơ sở có thể tạo ra;
đồng thời xem xét quan điểm về quan hệ hàng ngày giữa những người lao động di cư trong cơ sở
Trang 6Đối với cán bộ quản lý của chính quyền địa phương: đánh giá về việc chấp hành quy định
pháp luật của nhà nước, quan hệ giữa người lao động di cư và người chủ sử dụng lao động; việc ăn,
ở, vấn đề môi trường, thực hiện an toàn lao động của người lao động di cư làm ở các cơ sở đó
Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được tiến hành khi các nghiên cứu viên đến điều tra tại địa bàn nghiên
cứu
2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu cho điều tra bảng hỏi
Luận văn tiến hành điều tra 210 bảng hỏi người lao động di cư (110 nam; 100 nữ) Lượng
mẫu được dựa trên số liệu thống kê quận Hoàng Mai có 701 cơ sở sản xuất, trong số này 49,5% là
cơ sở có từ 1-9 người làm thuê, đồng thời trừ đi số người lao động là người dân đã cư trú ở Hà Nội
và số cơ sở không sản xuất, mà chỉ dịch vụ, kinh doanh, văn phòng đại diện (chưa có số liệu điều
tra); do vậy số mẫu ước chừng từ trên 10%
Loại hình công việc của cơ sở sản xuất gồm 8 loại, được lựa chọn dựa theo quan sát thực tế
thấy xuất hiện phổ biến ở quận Hoàng Mai Địa điểm điều tra được chọn lựa theo hình thức ngẫu
nhiên theo cụm, nghĩa là người điều tra chọn ngẫu nhiên một cơ sở sản xuất nhỏ rồi phỏng vấn tất
cả các đối tượng (phù hợp với tiêu chí của luận văn) trong cơ sở sản xuất đó để đảm bảo tính khách
quan của đối tượng Những người được chọn đã có thời gian làm ở cơ sở sản xuất đang nghiên cứu
ít nhất là 1 tháng trở lên để họ có thể nói rõ về các vấn đề đang gặp phải
Chọn mẫu cho phỏng vấn sâu
Lượng mẫu phỏng vấn sâu là 10 người, gồm có 5 người lao động di cư (có 3 nam và 2 nữ, lựa
chọn những người đã có thời gian làm việc từ 6 tháng trở lên ở trong các cơ sở có ngành nghề sản
xuất hoạt động khác nhau), 3 chủ thuê lao động (2 nam 1 nữ, có đã từng kinh doanh trên 1 năm,
kinh doanh ngành nghề khác nhau), 2 cán bộ chính quyền (1 công an phường và 1 tổ trưởng dân
phố)
V- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1 Các cơ sở sản xuất nhỏ hiện nay ở quận Hoàng Mai có khả năng cung cấp nhiều việc làm phù
hợp với trình độ học vấn, tay nghề và các đặc điểm của người di cư tự do Người lao động di
cư dễ dàng tìm được việc làm trong khu vực kinh tế này
3 Công việc của người lao động di cư khá ổn định, nhưng họ vẫn mong muốn đi tìm việc ở nơi
khác, làm nghề nghiệp khác
4 Mức thu nhập của nhóm lao động này khá ổn định, nhưng các quyền lợi khác của họ còn chưa
được đảm bảo
5 Quan hệ giữa người lao động di cư và người thuê lao động khá tốt đẹp, người lao động vẫn
nhận được sự trợ giúp về kinh tế từ phía người thuê lao động
VI- SƠ ĐỒ LÝ THUYẾT
Khả năng cung cấp việc
làm của các cơ sở sản xuất
Nhu cầu tìm việc làm của người lao động di cư
Điều kiện kinh tế-xã
hội
(đổi mới)
Trang 7
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT
VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DI CƯ TỰ DO
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập của tác giả Trịnh Thị Hoa Mai
Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới : Thực trạng và những vấn đề của Đinh
Thị Thơm (chủ biên
Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu
Dịch vụ giúp việc gia đình và tác động của nó tới gia đình (Nghiên cứu trường hợp ở
phương Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ của Lê Việt Nga
Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới của
tác giả Bùi Thị Thanh Hà
Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ của Phạm Thị Thu Hằng
Lao động nữ di cư tự do nông thôn-thành thị của Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc
Ngoài những tài liệu đã được giới thiệu trên, ngoài ra cũng có một số lượng đáng kể nghiên
cứu về vấn đề doanh nghiệp vừa và nhỏ, nghề nghiệp trong khu vực nhỏ và thư nhân nhưng hầu
như là nghiên cứu về mặt luật pháp, chính sách, đưa ra những phương hướng phát triển một cách lý
thuyết Một số quyển khác thì hầu như là đưa các số liệu thống kê trên bình diện khu vực lớn, chúng
có tác dụng chỉ phương hướng phát triển của thành phần kinh tế là doanh nghiệp tư nhân nhưng
chưa đi sâu vào quan hệ giữa chủ và thợ, về những trở ngại và thuận lợi của người lao động, về nhu
cầu thuê lao động và sự cung cấp lao động
Một số tài liệu nghiên cứu vấn đề di dân, người di cư nhưng chủ yếu chúng nói về những
chính sách di cư của quốc gia, nghiên cứu những luồng di cư lớn và một số sách cung cấp những số
Thực trạng việc làm của người di cư trong các cơ
sở sản xuất vừa và nhỏ
Thời gian tìm việc, làm việc
Mức
độ ổn định của việc làm
Tiền công
và phúc lợi
Khả năng thay đổi việc làm
Môi trườn
g lao động
và tai nạn
lđ
Đặc
điểm
việc
làm
Trang 8liệu vĩ mô về di cư nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề việc làm của người lao động di cư
đến làm việc trong các cơ sở sản xuất nhỏ; mà đây là khu vực kinh tế khá quan trọng, ở đó còn có
nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ về luật pháp, về các chính sách cũng như sự hiểu biết còn hạn chế, đồng
thời là nơi tập trung nhiều người di cư tự do - nhóm được coi là yếu thế trên thị trường lao động
hiện nay
1.2 Hệ khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm Việc làm
1.2.2 Khái niệm Di cư
1.2.3 Khái niệm Di cư tự do
1.2.4 Khái niệm Cơ sở sản xuất nhỏ
1.3 Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài
1.3.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cở sở phương pháp
luận của đề tài
1.3.2 Lý thuyết về cung và cầu của David Begg và cộng sự
1.3.3 Lý thuyết chọn lựa hợp lý của Coleman, Friendman và Hechter
1.3.4 Lý thuyết trao đổi của Adam Smith, David Ricardo, John Stuart Mell, Jeremy
1.3.5 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề việc làm của lao động tự do trong
các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ
Tóm lại, quan điểm của Đảng là phát triển kinh tế nhiều thành phần Các chính sách hiện nay
đang là khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân, chú trọng phát triển khu vực kinh
tế vừa và nhỏ vì nơi này tạo ra được nhiều việc làm và việc làm với giá rẻ để tạo môi trường thu hút
sức lao động dư thừa; đồng thời tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người sử dụng lao động và
người lao động để từng bước nâng cao đời sống của người lao động, và đang chuẩn bị nâng cao
trình độ của người sử dụng lao động cũng như người lao động để đáp ứng nhu cầu hội nhập vào
kinh tế thế giới
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM TRONG CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT NHỎ 2.1 Vài nét khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Một vài nét khái quát về tình hình việc làm cho người lao động di cư vào Hà Nội
Qua nghiên cứu các tài liệu đã công bố, chúng ta có thể phác hoạ tình hình việc làm của nhóm
lao động này ở Việt Nam hiện nay như sau:
Chính sách hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn làm cho lao động nông nghiệp không còn vất
vả như trước Cộng với sự thu hẹp ruộng đất do chính sách chuyển đổi kinh tế sang công nghiệp
hoá, lực lượng lao động trong nông nghiệp dần dần trở lên dư thừa, một số người đã rời bỏ nông
thôn di cư lên các thành phố lớn Các chính sách kinh tế đã bắt đầu chú ý đến tạo ra việc làm ở các
đô thị lớn, trong đó Thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm thu hút lao động
lớn nhất của cả nước
Phần lớn những người di cư là để tìm việc, và họ tìm việc làm có tính đơn giản, chủ yếu sử
dụng sức lực cơ bắp, tính chất tay nghề thấp, và không đòi hỏi trình độ học vấn cao Có thể nói, lực
lượng lao động di cư vào thành phố phần lớn trình độ văn hoá và trình độ tay nghề thấp, không cạnh
tranh nổi với người đang ở Hà Nội về trình độ học vấn và vốn xã hội nên đã chấp nhận tất cả những
công việc mà người dân sở tại không muốn làm
Trang 9Trong các thành phần kinh tế thu hút nhiều việc làm, thành phần kinh tế tư nhân đã chứng tỏ
là một nguồn thu hút rõ rệt Sau một thời gian ngắn ra đời, thành phần kinh tế này đã phát huy tác
dụng trong thu hút lao động di cư dư thừa từ nông nghiệp có trình độ học vấn và tay nghề thấp
Đặc điểm của thành phần kinh tế này thích hợp tốt với mô hình nhân lực lao động
Không những nhỏ về nhân lực lao động, việc huy động vốn của các doanh nghiệp này
cũng không lớn, đây là một trong những ưu thế thành phần kinh tế này trong bối cảnh
nền kinh tế Việt Nam còn lạc hậu và không có điều kiện đầu tư lớn
Đây chính là một trong những ưu điểm lớn của khu vực kinh tế này trong việc thu hút việc
làm người lao động, nhất là lao động di cư từ nông thôn
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội quận Hoàng Mai
Quận Hoàng Mai là một quận mới của thành phố Do mô hình kinh tế đang chuyển đổi từ
nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị hoá nhanh, nên quận có nhiều đặc điểm thuận lợi cho phát
triển các cơ sở sản xuất nhỏ, đồng thời là nơi thu hút nhiều người dân di cư từ nông thôn đến làm
việc Do vậy, việc nghiên cứu người di cư làm ở các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ ở đây rất thuận tiện,
và qua nghiên cứu thực trạng người di cư ở đây, chúng ta có thể khái quát lên tình hình người di cư
ở những địa bàn có tốc độ đô thị hoá nhanh
2.2 Đặc điểm việc làm của các cơ sở sản xuất nhỏ ở quận Hoàng Mai
Có thể thấy nhiều cơ sở sản xuất, dịch vụ, kinh doanh đang phục vụ các mặt hàng liên quan
đến xây dựng, như là các cửa hàng vôi, cát, xi măng, sắt thép, nhôm kính, đồ dùng gia đình dọc
theo các con đường giao thông để phục vụ cho sự đô thị hoá của quận
Ngoài các ngành nghề phục vụ lĩch vực xây dựng, nhiều ngành nghề cần đến số đông lao
động cũng được thấy ở đây, như ngành may mặc quần áo, giầy da, làm tiểu thủ công nghiệp
Một số cơ sở sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm, đóng bàn ghế, giường tủ, tiểu công
nghiệp vẫn còn tồn tại
Nghề thủ công nghiệp sau một thời gian tưởng như bị xoá sổ nay đã có dấu hiệu phục hồi trở
lại
Ngoài ra, quận còn có nhiều hộ, hợp tác xã còn sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là sản xuất các
loại rau phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của thành phố
Qua quan sát và phỏng vấn có thể thấy rằng người dân địa phương sống ở quận Hoàng Mai
thường không chú trọng tìm việc làm ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ, hoặc họ chỉ làm tạm thời trong
thời gian tìm kiếm việc làm ở nơi khác
2.3 Yêu cầu về học vấn và trình độ tay nghề của việc làm
Đánh giá chính xác về yêu cầu về học vấn và tay nghề của những cơ sở sản xuất nhỏ rất khó
Tuy nhiên, chúng ta có thể đánh giá yêu cầu trình độ học vấn, nghề nghiệp của người lao động di cư
qua những ý kiến của người chủ cơ sở sản xuất trong các cuộc phỏng vấn sâu Nội dung các cuộc
phỏng vấn cho thấy những yêu cầu khác biệt đối với trình độ tay nghề của người lao động di cư
Có thể nhận định rằng: các cơ sở sản xuất nhỏ cũng có nhiều loại hình kinh doanh, do vậy đòi
hỏi về trình độ nghề nghiệp của người lao động khác nhau: có những cơ sở thiên về sức khoẻ, sự
khéo tay, chăm chỉ; một số cơ sở khác lại thiên về những kỹ năng, kỹ thuật nghề nghiệp hơn
Nhưng hầu như các người chủ thuê lao động di cư ở các cơ sở nhỏ đều nói rằng những người
không có tay nghề cũng có thể làm được việc, ngay cả những cơ sở cần trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao, vì họ cho biết vẫn có việc đơn giản cho những người chưa biết nghề (trừ những cửa hàng
may quần áo)
Chúng ta còn có thể đánh giá về yêu cầu học vấn và trình độ tay nghề thông qua khảo sát trình
độ học vấn và tay nghề của những người đang làm việc tại cơ sở đó
Trang 10Qua các số liệu điều tra đã thu thập được thì trình độ học vấn của người lao động di cư tự do
tương đối thấp Nếu so sánh với những nhóm lao động ổn định khác, có thể thấy rằng những người
lao động di cư ở các cơ sở sản xuất nhỏ có trình độ học vấn thấp nhất
Nhìn chung nhu cầu lao động ở nước ta giai đoạn này chưa phát triển về chất lượng, nhất là
việc làm ở khu vực cơ sở sản xuất nhỏ vẫn chỉ cần sức lực của cơ bắp mà không cần chú ý đến trình
độ học vấn
Lý giải về trình độ học vấn thấp của các cơ sở sản xuất này, anh công nhân làm trong cơ sở
sản xuất cửa sắt, mái tôn nói: “nếu bọn em mà học hành hết 12 thì đã đi thi vào làm ở các cơ sở liên
doanh rồi, làm ở đây làm gì”
Khi so sánh trình độ học vấn giữa nam và nữ của người lao động di cư làm ở các cơ sở nhỏ,
chúng ta thấy số năm học trung bình của nữ cao hơn nam (10,4 năm so với 10,1 năm)
Tuy rằng trình độ học vấn của nhóm lao động ở các cơ sở sản xuất nhỏ bị đánh giá là thấp
nhất, nhưng so với nam giới, phụ nữ đã biết được những lợi ích của việc học hành, họ đã bước đầu
trang bị cho mình một tiềm năng (học vấn) để làm ưu thế trong việc tiếp cận thị trường lao động
Về trình độ tay nghề, 99% số người được hỏi trả lời rằng họ có dành thời gian để học nghề,
nhưng phần lớn người dạy nghề lại là ở cơ sở sản xuất (65,2%)
Tuy nhiên, việc đào tạo nghề tại cơ sở sản xuất không thể tạo ra được một lao động có chuyên
môn kỹ thuật cao, người lao động sẽ bị bất lợi trong một thị trường lao động rộng lớn hơn; đồng
thời người chủ cơ sở sản xuất cũng khó mà phát triển cơ sở của mình lên một quy mô lớn hơn khi
mà những người thợ của họ chủ yếu được đào tạo theo kiểu truyền thụ kinh nghiệm này
Nếu tình trạng này mà phát triển thêm, đồng thời cộng với thực tế là người di cư làm việc ở
các cơ sở sản xuất nhỏ chiếm phần lớn lực lượng lao động ở những vùng đô thị đang phát triển, thì
là lực lượng lao động không được đào tạo cơ bản ở khu vực này sẽ tăng, đây là chiều hướng xấu đối
với chiến lược phát triển nguồn nhân lực của nước ta
Đặc biệt, nếu tham chiếu biến học nghề với biến giới tính, ta thấy một tình trạng đặc biệt: 3/4
số người được đào tạo ở trung tâm học nghề là lao động nữ
Thời gian học nghề của nam và nữ cũng là một chỉ số chênh lệch lớn Trung bình người lao
động di cư làm việc ở các cơ sở sản xuất nhỏ phải dành 185,2 ngày để học nghề; nhưng nam giới
trung bình chỉ học nghề trong 119,1 ngày, còn nữ giới thì phải dành 258,0 ngày để học nghề
Việc học nghề có thể ảnh hưởng nhiều đến loại công việc của nam và nữ đang làm Trong khu
vực cơ sở sản xuất nhỏ, việc phân nghề theo giới tính rất rõ ràng Một số nghề chỉ có hoàn toàn nam
giới, số khác chỉ có hoàn toàn nữ giới
Cũng qua việc phân tích công việc của nam và nữ đảm nhận ta thấy nổi lên một vấn đề là
việc phân công lao động theo giới truyền thống rất rõ ràng, rất tiếc là sự phân công này lại phù hợp
với điều kiện sản xuất của cơ sở sản xuất nhỏ Việc phá bỏ sự phân công lao động truyền thống ở
khu vực kinh tế này trong giai đoạn hiện nay xem ra khó mà thành công được vì hình thức lao động
của họ thô sơ, ít áp dụng máy móc, vẫn chủ yếu sử dụng cơ bắp con người; vì thế phụ nữ do những
đặc điểm cơ bản của giới tính không thể làm nổi những công việc của nam giới
2.4 Khả năng thu hút lao động của các cơ sở sản xuất nhỏ
Nhiều số liệu nghiên cứu đã cho thấy khả năng thu hút việc làm của khu vực kinh tế vừa và
nhỏ ngày càng mạnh, trở thành một thành phần kinh tế ngày càng quan trọng
Theo kết quả điều tra chọn mẫu của chúng tôi, người được hỏi ra Hà Nội sớm nhất là vào năm
1987, đây cũng là những năm bắt đầu chính sách đổi mới của đất nước Tuy nhiên, giai đoạn
1987-1998 lượng lao động ra Hà Nội rất ít, mỗi năm chỉ có vài người, cả 13 năm mới chỉ chiếm 12,9% số
người được điều tra; trong khi đó chỉ trong thời gian từ 2000-2006 (7 năm) số người ra Hà Nội
chiếm đến 87,6% số người được điều tra