Cảm nhận được xúc cảm của tác gia trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một "mùa xuân nho nhỏ” dâng hiến cho cuộc đời.. Hình ảnh người cầm súng hành quân
Trang 1việc bê bối, nhiều cán bộ dưới quyền hư hỏng thì thấy xấu hổ là đương nhiên, chính đáng Đứng đầu một địa phương nổi tiếng "địa linh nhân kiệt" mà để xảy ra nhiều tệ nạn làm hoen ố thanh danh cả một vùng đất thì không xấu hổ sao được? Thành Thái là một ông vua phong kiến cũng tự sỉ trong cảnh nước mất, vua chỉ làm vì:
Võ võ văn văn y cẩm bào Trâm vi thiên tử độc gian lao Tam bôi hoàng tửu quần lê huyết Nhất trần thanh trà bách tính cao (Quan võ quan văn xênh xang áo cẩm bào Ta là thiên tử ở ngôi cao mà lòng riêng đau đáu Ba chén rượu khác gì máu lê dân Mỗi chén trà đều là mồ hôi trăm họ)
Người có sỉ tâm cao không làm gì xấu hổ lây đến gia đình, họ hàng, làng mạc, quê
hương, đất nước; không làm ô danh những gì thân thuộc gần gũi với mình, nói chung là luôn giữ mình để không làm xấu hổ lây đến người khác, nhưng lại thường xấu hổ thay cho
kẻ khác Khi một cộng đồng có điều xấu hổ, điều nhục thì người có sỉ tâm cao có thé thấy trước điều xấu hổ, điều nhục đó và cũng xấu hổ lây, cũng nhục như hoặc hơn những người khác Người như vậy thường là tinh hoa, là bậc tiên giác Tu phan, tự sỉ của cả cộng đồng, của cả dân tộc
Trong cảnh nước mất nhà tan, chí sĩ Phan Bội Châu đau đớn kêu lên: "Giang sơn tử hỉ sinh đồ nhuế" (Non nước chết rồi, sống cũng thừa)
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc năm 1925 viết "Bản án chế độ thực dân Pháp", xót xa thấy
nước nhà đủ tài nguyên và lao động mà so sánh với thanh niên nước ngoài thì "chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức Bởi thế công nghiệp và thương nghiệp của chúng ta là một con số không Thế mà thanh niên của chúng ta đang làm gì? Nói ra thì buồn, buồn lắm: họ không làm gì cả Những thanh niên không có phương tiện thì không dám rời quê
nhà; những người có phương tiện thì lại chìm ngập trong sự biếng nhác; còn những kẻ đã
xuất dương thì chỉ nghĩ đến việc thoả mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi" Và, nhà cách mạng kêu than: "Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên sớm già của Người không sớm hồi sinh”
Nhà văn hoá Hoàng Đạo Thuý những năm 1942 - 1943 thấy "ta có thể tự hào là
người Nam, nhưng lúc này nên ngẫm nghĩ mà tự sĩ" Sau khi liệt kê nhiều cái hay và cũng lắm cái dở của người Việt, ông kết luận: "Phần hỏng cơ hồ lấn phần được Xem kĩ hai tấm
số trên này thì đức công có nhiều, đức tư có ít, khi thường thì tình thường thắng, khi biến thì những đức tính mạnh mẽ di truyền vẫn phát ra được Cái cốt vẫn có, nếu chịu chữa chạy,
bỏ những cái ham muốn một lúc thì có thé trông mong được"
Tóm lại, con người ta không thể không biết xấu hổ
Ấy vậy mà hiện nay có những người không biết xấu hổ
Trang 2Có những đứa con bạc đãi bố mẹ chẳng chút bận tâm, ân hận Có những anh chị em ruột chém giết nhau để tranh đoạt gia tài mà coi là bình thường Cha mẹ nêu gương xấu cho con, thậm chí xô đẩy con vào vòng tội lỗi Trong thé thao, có những vận động viên đội tuyển trẻ quốc ăn gian tuổi, có trường hợp vừa khai bớt tuổi vừa thay tên đổi họ để đi thị đấu! Mại dâm thành nghề, "gái gọi" nhơn nhơn xe đưa xe đón, đĩ cao cấp có tán có tàn,
vùng quê nọ con gái lên phố bán trinh! Có nhà giáo đánh mất tư cách và địa vị cao quý của người thầy vì mấy đồng tiền Không ít cán bộ, công nhân viên nhà nước tự cho là tháo vát, khôn ngoan khi "làm láo báo cáo hay", ăn cắp thì giờ, xà xẻo của công càng nhiều càng
tốt! Có trường hợp cảnh sát giao thông chặn xe trên đường, rượt tàu trên sông đòi tiền mãi
lộ Nhân viên xe lửa bao hành khách đi "vé chui" lấy tiền đút túi Không thiếu những người
có được một chân trong biên chế nhà nước là nghĩ ngay đến chuyện "làm nghề nào ăn nghề ấy", bắt quyền hành đẻ ra tiền bạc, lo "vinh thân phì gia", kèn cựa tranh giành địa vị, thậm chí lên mặt "quan cách mạng” hống hách hành dân Báo chí ngày nào cũng đăng vai
ba, dăm bảy vụ lừa đảo, nơi này cướp không bao nhiêu đất đai, công trình kia sập đổ vì ăn bớt nguyên liệu, làm dối làm ấu, thông đồng với nhau moi tiền nhà nước, sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi! Và có những người, khi đã phải ra toà vì không tròn trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, vì tham ô, ăn hối lộ vẫn nhâng nhâng quan dạng, mặt trơ trán bóng? Bọn họ đều đã đánh mất sự xấu hổ, không còn biết xấu hổ với những người xung quanh cũng như với chính mình Tuy số lượng những kẻ này không nhiều, nhưng tác hại do
họ gây ra lại rất lớn, nhất là về uy tín chính trị của đất nước, trật tự an toàn và đạo đức xã hội Họ là những mắng tối làm hoen ố bức tranh toàn cảnh tươi đẹp của xã hội ta
Không biết xấu hổ đến mức phạm pháp tất sẽ bị pháp luật xét xử và trừng trị; nhưng
dù đến mức hay chưa đến mức ra trước pháp đình, vấn đề mất sỉ tâm, mất cảm giác xấu
hổ vẫn còn đó
Phải chăng do bức bách về đời sống, nhắm mắt đưa chân?
Phải chăng do đua đòi, lâu dân quen thói?
Phải chăng vì lợi ích vật chất thiển cận làm mờ tối lương tâm?
Phải chăng vì thấy mình xuất chúng, mục hạ vô nhân?
Phải chăng vì thấy chung quanh đều thế cả, "đâu chỉ mình tôi”?
Hàng trăm lí do, nhưng tóm lại là bởi họ chỉ vụ lợi trước mắt, chỉ còn biết có mình Chủ nghĩa cá nhân đã làm dày da mặt để họ có thể phớt lờ cả kỉ cương phép nước lẫn chuẩn mực đạo đức xã hội, trở nên chai lì trước búa rìu dư luận Đồng tiền làm loá mắt khiến họ không còn phân biệt nổi đúng — sai, phải - quấy, quên mất mình là con người, dần dần tha hoá, thậm chí vênh vang với sự tha hoá ấy! Ở họ không còn ranh giới thiện ác Đánh mất
sự xấu hổ cũng có nghĩa là đánh mất mình Con người ta không chỉ có đời sống vật chất
Trang 3mà còn có đời sống tinh thần, mất đi sự trong trắng của tâm hồn, lương tâm và danh dự, mất đi cảm giác xấu hổ là mất đi những cơ sở tinh thần của cuộc sống, những giá trị vĩnh cửu của con người Cho nên, đã là con người xin chớ đánh mất cảm giác xấu hổ của mình
(Lược trích bài Biết xấu hổ với nhân cách con người
của PGS Lê Xuân Vũ, trong tạp chí Cộng sản, số 738, 8-2005)
TIẾT 115
TẬP LÀM VĂN Trả bài tập làm văn số 5 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
A Kết quả cồn dat
- Ôn tập tổng hợp các kiến thức đã học về văn nghị luận
— Sửa các lỗi về bố cục, liên kết, dùng từ ngữ, đặt câu, hành văn
— Hoàn thiện quy trình viết bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong
— Chi ra những biểu hiện xa đề, lạc đề hoặc lạc ý
— Chi ra những biểu hiện mất cân đối về bố cục hoặc chưa đảm bảo tính liên kết, hay các lõi diễn đạt
— Chi ra những biểu hiện sao chép hoặc thiếu tính sáng tạo
+ Kết quả về mặt điểm số:
- Điểm khá, giỏi: tính ra %
- Điểm trung bình: —-— %
- Điểm yếu,kém: ——-— %
Trang 4Hoạt động 2
ĐỌC - BÌNH
+ GV cho Hồ đọc, nhận xét, so sánh:
— Hai bài thuộc loại kha, gioi
— Hai bài thuộc loại trung bình
— Hai bài thuộc loại yếu, kém
Hoạt động 3 TRẢ BÀI
GV trả bài và yêu cầu HS trao đổi bài cho nhau để cùng rút kinh nghiệm
Hoạt động 4
NHẮC NHỞ, DẶN DÒ
+ GV nhấn mạnh: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội là một kiểu bài thông dụng mà bất kì ai cũng có lúc phải dùng đến (dưới dạng nói hoặc viết); vì vậy về nhà các em tập viết nốt những đề còn lại trong SGK
Trang 5MÙA XUÂN NHO NHỎ
Thanh Hải
A Kết quả cần dat
1 Cảm nhận được xúc cảm của tác gia trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một "mùa xuân nho nhỏ” dâng hiến cho cuộc đời Từ đó mở ra những suy nghĩ về ý nghĩa, giá trị của cuộc sống của cá nhân là sống có ích, sống để cống hiến cho cuộc đời, cho nhân dân và Tổ quốc
2 Tích hợp với phần Văn ở bài Viếng lăng Bác, với phần Tập làm văn ở
bài Nghị luận về một nhân vat trong tac phẩm tự sự
3 Rèn kĩ năng đọc — cảm thụ, phân tích hình ảnh thơ trong mạch vận động của tứ thơ
4 Chuẩn bị của thầy - trò:
- Chân dung Thanh Hải;
- Sưu tầm một số tranh ảnh về mùa xuân đất nước: mùa xuân trên sông Hương, mùa xuân trên cánh đồng đang cấy lúa xuân, mùa xuân hành quân thời chống MI
B Thiét ké bai day — hoc
Hoat dong 1
TO CHUC KIEM TRA BAI CU (Hình thức: vấn đáp)
1 Đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ Con cò Em thích câu thơ nào nhất?
Vì sao? Phát biểu cảm hứng chủ đạo của bài thơ
2 Hình ảnh con cò trong ca dao được vận dụng sáng tạo như thế nào trong bài thơ, trong từng đoạn thơ?
3 Từ hình ảnh con cò, nhà thơ đã khái quát lên quy luật mang tính triết lí nào về lòng mẹ?
4 Có ý kiến cho rằng đây là một bài hát ru kiểu mới cũng như bài Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Diém Em nghĩ sao?
Trang 6_ Hoat dong 2 DAN VAO BAI MOI
1 GV dựa vào chú thích (%), giới thiệu ngắn về Thanh Hải (Phạm Bá Ngoãn; 1930 — 1980) và hoàn cảnh sáng tác bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (1980)
2 Từ thi đề mùa xuân, giới thiệu bài thơ, hướng vào mùa xuân nho nhỏ so
với Mùa xuân chín (Hàn Mặc Từ), Mùa xuân xanh (Nguyễn Bính), Mùa xuân
mới (Tố Hữu)
3 Gần ba mươi năm qua, mỗi khi tết đến, xuân về, chúng ta thường được nghe bài ca Mùa xuân nho nhỏ của nhạc sĩ Trần Hoàn phổ thơ Thanh Hải Hôm nay, thêm một lần, trước khi học bài thơ, nghe lại bài hát này (Mở băng hoặc đĩa) Nhà thơ muốn nói cùng người đọc điều gì, khi một mùa xuân mới đang về, khi chính bản thân ông thì lại sắp vĩnh biệt mùa xuân?
_ Hoat dong 3 HUONG DAN DOC, HIEU KHAI QUAT
a Mùa xuân trong thiên nhiên: 6 câu đầu
b Mùa xuân đất nước: I0 câu tiếp (mùa xuân lớn)
c Nghĩ suy và ước nguyện của nhà thơ trước mùa xuân đất nước: 8 câu tiếp (mùa xuân nho nhỏ)
d Lời ca quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứ Huế: 4 câu cuối
_ Hoạt động 4
HƯỚNG DẪN ĐỌC - HIẾU CHI TIẾT
1 Hình ảnh mùa xuân lớn (mùa xuân của thiên nhiên và đất nưóc)
+ HS đọc diễn cảm 4 câu thơ đầu
+ GV hỏi: Tác giả đã phác hoạ hình ảnh thiên nhiên mùa xuân như thế nào? Cấu tạo ngữ pháp của 2 câu thơ đầu có gì đặc biệt? Ý nghĩa biểu hiện của
từ mọc và hoà sắc xanh — tím biếc trong việc miêu tả mùa xuân? Em hiểu giọt long lanh là giọt gì? Tiếng chim chiền chiện gợi cảm nhận điều gì về mùa
xuân?
Trang 7+ HS lần lượt trả lời từng câu hỏi
- Giữa dòng sông xanh mọc một bông hoa tím biếc
- Giữa dòng sông xanh một bông hoa tím biếc mọc
- Giữa dòng sông xanh tím biếc một bông hoa mọc
sẽ thấy câu của tác gia hay hon cả
Mot bong hoa tim biéc / moc giữa dòng sông xanh
từ từ, lồ lộ mọc lên, vươn lên, xoè nở trên mặt nước xanh sông xuân
Tác giả không tả cụ thể, gọi tên cụ thể đó là bông hoa gì, mọc trên dòng sông nào, là một dụng ý khác Người đọc có thể căn cứ vào quê hương và hoàn cảnh sáng tác của bài thơ (11 — 1980), khi tác giả đang bệnh nặng mà đoán rằng đó là dòng sông Hương xứ Huế Nhưng dòng sông nào, loài hoa gi không quan trọng, bởi điều tác giả muốn gợi ra nơi người đọc là cái linh hồn của cảnh
vật, đặc biệt hơn là cái hài hoà tự nhiên của màu sắc Hoa tím biếc trên dòng
sông xanh Đó là vẻ đẹp dịu nhẹ, thanh mát, của thiên nhiên ban tặng con người, một không gian rộng thoáng, trên một dòng thời gian chảy trôi thể hiện quy luật tuần hoàn của tự nhiên, cái đẹp muôn thuở của thiên nhiên mùa xuân Tiếng chim chiên chiện hót ríu ran trong bầu trời xuân càng làm cho không khí trở nên vul tươi, rộn ràng, ấm áp và náo nức
Chién chién cung cao hot Lúa cũng vừa sậm hot
(Trần Hữu Thung)
Ôi tiếng hót mê say con chìm chiên chiện Trên đồng lúa chiêm xuân, chao mình bay liệng
(Tố Hữu)
Trang 8Giot long lanh khong ro la giot gi Giot suong s6m? Giot mua xuân? Giot long lanh là giọt nước trong suốt phản chiếu ánh bình minh Tôi hứng từng giọt long lanh ấy trong lòng bàn tay là muốn thâu nhận cả vẻ đẹp mới mẻ, tinh khiết, trong sáng của thiên nhiên, đất trời hào phóng ban tặng con người Liên
hệ với hai câu trên, có thể hiểu là giọt long lanh âm thanh tiếng chim chiền chiện đang hót vang trời Tiếng chim long lanh, âm thanh long lanh là sự chuyển đổi cảm giác, là tưởng tượng phong phú của nhà thơ trong niềm vui hân hoan được kích thích từ buổi sáng mùa xuân tuyệt vời trên quê hương
+ HS đọc tiếp 6 câu
+ GV nêu vấn đề thảo luận: Nhà thơ mở rộng cái nhìn, tả mùa xuân như thế nao? Tai sao gọi đó là "mùa xuân lớn"? Hình ảnh người ra đồng, người cầm súng gợi cho ta nhớ lại hình ảnh những mùa xuân nào của đất nước? Theo em, hình ảnh quen mà mới trong đoạn thơ này là gì? Thể hiện trong điệp từ nào? Phân tích ý nghĩa thẩm mĩ của hình ảnh đó Cảm xúc của tác giả trong khổ thơ
có gì biến đổi so với khổ trên?
+ HS có thể thảo luận nhóm, có thể lần lượt trả lời
s Định hướng:
- Từ thiên nhiên mùa xuân, tác g1ả mở rộng tả mùa xuân của đất nước, con người Việt Nam Hình ảnh người cầm súng hành quân trên đường xuân, hình ảnh người ra đồng nhổ mạ cấy lúa gợi nhớ hoàn ảnh đất nước ta những năm 80 với hai nhiệm vụ cơ bản (sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc và sản xuất xây dựng), gợi nhớ đến không khí khẩn trương, hào hùng của đất nước nhân dân Việt Nam những năm đánh MI
- Điệp từ /óc (chồi non, cây non, cành non xanh mướt, mềm mại) không mới khi tả mùa xuân (mùa xuân cây cối đâm chồi nảy lộc, mùa xuân đi hái lộc ) nhưng ở đây hình ảnh lộc non lại gắn liền với người cầm súng (giắt đầy trên lưng làm nguy trang khi hành quân chiến đấu hay luyện tập chiến đấu), người ra đồng (trải dài nương mạ) Mùa xuân đất trời đọng lại trong hình ảnh lộc non, theo con người Việt Nam Chính họ đã góp phần đem lại mùa xuân bình yên trên đất nước
- Sức sống mùa xuân đất nước - mùa xuân lớn còn được cảm nhận bằng nhịp điệu hối hả, khẩn trương, náo nức; trong những từ tả cảm xúc trực tiếp: hối
ha, xôn xao; trong so sánh đẹp ki vi: Dat nước như vì sao
2 Tâm niêm của tác giả
+ HS đọc diễn cảm 8 câu tiếp, chú ý điệp từ /z, điệp ngữ £a làm với giọng đọc phù hợp
Trang 9+ GV hỏi: Vì sao đang từ cách xưng hô tdi, tác giả chuyển sang xưng ía CIữa hai cách xưng hô này có gì khác nhau?
+ GV hỏi: Em hiểu như thế nào về những hình ảnh con chim hót, bản hoà
ca và một nối trâm xao xuyến?
+ HS trình bày cách hiểu của mình
s Định hướng:
Tâm niệm tự nguyện dâng hiến tất cả tâm sức của mình cho nhân dân, cho đất nước được tác giả thể hiện bằng những hình ảnh giản dị và cảm động, rất khiêm nhường Đó là con chim hót cho rộn ràng mùa xuân, đó là một cành hoa nhỏ lặng lẽ toả hương làm mát mắt cho đời và đặc biệt là xin góp vào bản hoà
ca, bản đồng ca của cả đất nước đang hăng hái xây dựng và sẵn sàng chiến đấu một nốt trầm thôi (nốt nhạc với cao độ thấp hay dùng ở bè đệm làm nổi bật giai điệu chính, thường có những nốt nhạc với cao độ trung, cao) Hình ảnh một nốt trầm xao xuyến là một sáng tạo hay thể hiện sự hoà nhập và lắng sâu dù rất khiêm tốn
Liên hệ mở rộng thơ Tố Hữu:
Néu la con chim, chiéc ld Thi con chim phai hét, chiéc la phai xanh
Lế nào vay mà không có trả Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?
Nhưng cách nói của Tố Hữu có phần khô, không được tự nhiên như cách nói cua Thanh Hai — tha thiết nhỏ nhẹ như điều tâm thành qua những hình tượng đơn sơ mà chất nặng suy tư và xúc cảm:
Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lế dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc
Trang 10Hinh anh miia xudn nho nho — mua xuan cua tai hoa và sáng tạo, mùa xuân nghệ thuật thi ca tất cả xin hoàn toàn kính dâng cho cuộc đời, cho nhân dân
và đất nước suốt cả cuộc đời Đó là tâm niệm đau đáu của nhà thơ đang năm trên giường bệnh, đang sống những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời mình như là lời để lại trước lúc ra đi vẫn một mực chỉ nghĩ đến cuộc đời, đến hoà nhập và dâng hiến bình dị, thân thương Nhưng dâng hiến, hoà nhập mà không làm mất đi vẻ đẹp riêng của mỗi người, dù chỉ làm một nốt trầm trong bản hoà
ca nhưng là một "nốt trầm xao xuyến” lòng người
+ GV hỏi: Bài thơ được kết thúc như thế nào? Cách gieo vần, phối âm trong 4 câu cuối có gì đáng chú ý? Nhắc đến những câu dân ca Nam ai, Nam bình, nhịp phách tiền là có dụng ý gì?
+ HS suy nghĩ, cảm nhận, phân tích và phát biểu
Đó là âm thanh mùa xuân đất nước muôn đời vẫn trẻ trung, vấn vít, xao xuyến lòng người Tác giả sống mãi với cuộc đời với Huế quê hương trong tiếng
"phách tiền" âm vang ấy
- Hoạt động 5 HUONG DAN TONG KET VA LUYEN TAP
1 Nhận xét khái quát những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ
(Gợi ý:
+ Thể thơ 5 tiếng gần với cách điệu dân ca miền Trung, xứ Huế với cách gieo van liền vần chân tạo thành mạch liền giữa các dòng thơ, khổ thơ
+ Hình ảnh vừa giản dị vừa tả thực vừa nâng lên tầm biểu tượng, khái quát
(con chim, cành hoa, mùa xuân; thậm chí dòng sông xanh ngoài liên tưởng đến
dòng sông Hương thơ mộng chảy ngang cố đô Huế còn gợi liên tưởng đến dòng sông xuân, dòng thời g1an cuộc đời.)
+ Mach cảm xúc, mạch ý tạo thành tứ thơ tự nhiên mà chặt chẽ, lô gích: mùa xuân thiên nhiên —- mùa xuân đất nước —- mùa xuân dâng hiến của mỗi người; mùa xuân lớn — mùa xuân nhỏ — mùa xuân hài hoà bất tuyệt, bất tận
Trang 11+ Giọng điệu có sự biến đổi phù hợp với mạch cảm xúc và sự vận động trong thống nhất của tứ thơ: vui, say mê — trầm lắng, trang nghiêm, như lời tam
sự, tâm tình — sôi nổi, tha thiết
2 Em hiểu làm mùa xuân nho nhỏ là làm gì?
(Gợi ý: Là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ và khiêm nhường như mùa xuân nho nhỏ góp vào mùa xuân lớn của nhân dân và đất nước và thời đại
Đó không chỉ là nguyện ước cuối cùng mà là nguyện ước suốt đời của Thanh Hải và cũng là của mỗi người chúng ta
3 HS đọc lại nội dung Ghi nhớ
4 Nghe lại băng bài hát phổ thơ, vừa nghe vừa học thuộc lòng lời thơ và Ø1a1 điệu
5, Viét mot đoạn lời bình một khổ, hoặc một câu thơ mà em thích nhất
6 Soạn bài “Viếng lăng Bác"
7 Đọc tham khảo:
1 NỐT TRẦM XAO XUYẾN
Nguyễn Trí Thanh Hải là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn chương cách mạng miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước Sinh ra, sống, chiến đấu gắn bó với miền Thừa Thiên - Huế, những bài thơ Mổ anh hoa nở, A Vầu không chết, Tám năm nay mới gặp nhau, Cháu nhớ Bác Hồ của Thanh Hải được nhiều người đọc yêu thích Mùa xuân nho nhỏ được dư
luận đánh giá cao, phản ánh tâm hồn lạc quan, cái nhìn tươi trẻ của người Việt Nam trong giai đoạn đầu dựng xây đất nước thống nhất
Viết vào tháng 11 - 1980, khi đất nước đang chồng chất khó khăn: chiến tranh biên giới, nền kinh tế chưa ra khỏi tình trạng bao cấp song công cuộc lao động xây dựng và
sẵn sàng chiến đấu vẫn khẩn trương và rộn ràng khắp mọi miền Bai tho phan anh tam
trạng chung của nhân dân Việt Nam: vui, phóng khoáng bay bổng nhưng không phải
không còn những trăn trở
Mùa xuân nho nhỏ giàu nhạc điệu Thể thơ 5 chữ cùng cách gieo vần biến hoá diễn tả niềm vui có phần nhí nhánh, yêu đời cả mùa xuân nho nhỏ kia Nhạc điệu ngôn từ lại được nâng lên chất nhạc, chất thơ của những hình tượng đẹp trong bài Sự hoà quyện giữa thơ
và nhạc diễn ra trong từng dòng, từng câu, trong cả bài
Khổ thơ đầu có chim và hoa, chim hót vang lừng, hoa tím biếc, có trời và sông, trời rộng, sông xanh Không gian phóng khoáng và bay bổng nhưng đằm thắm, dịu dàng, tươi
mát — không gian Huế Không gian càng đậm chất trữ tình hơn nhờ cách dùng đúng chỗ
những từ ngữ Huế Một từ ơi đặt ở đầu câu, một từ chí đi sau từ hót đã đưa thẳng cách nói dịu ngọt, êm ái, thân thương của người Huế vào nhạc điệu thơ mà gợi thương, gợi nhớ
Trang 12Tiếng chim hót giữa trời xanh như vô tình nay lại được hình ảnh hoá bằng từng giọt
long lanh rơi - một sáng tạo gợi cảm Một động tác hứng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà
thơ đối với vẻ đẹp, chất nhạc của trời với sông, chim và hoa, đồng thời thể hiện sự đồng cảm của tâm hồn trước thiên nhiên và cuộc đời
Chất nhạc hoà thơ trong Mùa xuân nho nhỏ cất lên từ chính cuộc sống vất vả và gian lao đang hối hả đi lên phía trước của cả nước, của đồng bào còn mang đầy thương tích của hai cuộc chiến tranh, đang phải đối phó với giặc ngoài nhưng vẫn hăng say, hăm hở xây dựng cơ đồ
Một đặc sắc khác của bài thơ là sự diễn tả nhân vật trữ tình một cách thoải mái, dung
dị và biến đổi Nhân vật ấy lúc đầu xuất hiện như một nhà thơ đang hoà mình vào thiên nhiên Từ fói thốt ra thật chân tình, tha thiết, dịu nhẹ, khiêm nhường biết bao Cùng với sự vận động của tứ thơ, cách biểu hiện của nhân vật trữ tình cũng thay đổi Chuyển từ cảnh xuân đất trời, của thiên nhiên sang mùa xuân cuộc sống cách mạng của nhân dân, đất nước thì nhân vật trữ tình lại thành fa làm, ta nhập Ta là nhà thơ và cũng là tất cả mọi người Sự chuyển đổi nhân vật trữ tình không hề gây ra cảm giác gượng gạo, giả dối mà hào hứng, thoải mái và tự nhiên, không gợn chút lên gân mà rất đáng yêu, đáng mến
Trong hai khổ thơ cuối, mùa xuân trở thành mùa xuân lí tưởng, của tiếng lòng cao cả Đây là tiếng hát của người muốn cống hiến hết sức mình cho cuộc sống cách mạng, cho nhân dân và đất nước không biết đến tuổi tác, coi đó là niềm vui và lẽ sống Nhân vật trữ tinh không còn là fôi hay là fa mà đã biến thành mùa xuân nho nhỏ Công việc lặng lẽ dâng cho đời dù ở lứa tuổi nào đi chăng nữa đâu có còn của riêng ail Nó là khát vọng sống của
cả một thời đại, của tôi và của bạn, của cả thế hệ chúng ta Chính sự chuyển đổi như vậy của nhân vật trữ tình đã làm cho 2 khổ thơ cuối tuy vẫn bằng giọng nhỏ nhẹ nhưng lại mang sức khái quát lớn có ý nghĩa triết lí
Mùa xuân nho nhỏ là một bài thơ hay vì đã nói được những tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của cả một thời dai.”
2 TIẾNG HÁT MÙA XUÂN CUỐI CÙNG
Vũ Nho
Gợi hứng cho tứ thơ mùa xuân là một bông hoa tím biếc mọc giữa dòng sông xanh Từ
khi mọc lên cho tới lúc xoè cánh phô màu tím biếc, hình như ta được chứng kiến sự hình thành của một bông hoa - tín hiệu của mùa xuân Rồi tín hiệu màu sắc được phụ hoạ thêm
bởi tín hiệu âm thanh vang trời của tiếng chim chiền chiện Âm thanh đặc biệt mang một
mảnh hồn của đất đai vườn tược (Xuân Diệu) như được ngưng đọng thành từng giọt long
lanh Đó là giọt âm thanh? Giọt mưa xuân? Khó phân biệt rạch ròi, màu tím biếc, âm thanh
náo nức rộn ràng và những giọt mưa âm thanh long lanh báo hiệu xuân về Xuân của đất
Trang 13trời, của thiên nhiên đã đến Khi ấy, xuân của đất trời và xuân của con người hoà nhau thành hối hả, thành xôn xao Mùa xuân của hoa lá, cỏ cây, của màu xanh non và đặc biệt
là của lộc nõn, lộc biếc Mùa xuân của những con người vất vả gian lao nhưng cũng là vinh quang nhất vì họ đang làm ra mùa xuân
Chắc không phải ngẫu nhiên nhà thơ chọn người cầm súng và người ra đồng Vấn đề không phải vì họ vất vả nhất mà họ chính là người đại diện cho hai nhiệm vụ quan trọng và
cơ bản nhất của đất nước lúc bấy giờ: sản xuất và chiến đấu, xây dựng và bảo vệ tổ quốc;
họ là đại diện cho tiền tuyến và hậu phương Những người chiến đấu tay súng, tay cày làm
nên bản đại hợp xướng mùa xuân đất nước - mùa xuân của nhân dân, dân tộc và thời dai Những độc đáo nhất là hình ảnh mùa xuân nho nhỏ, mùa xuân riêng giữa ba hình ảnh chín, xanh, của mùa xuân trong thi ca
Sự chuyển dịch từ fôi sang fa cũng hoàn toàn không ngẫu nhiên Từ fa vừa số ít vừa
số nhiều, vừa nói được cái riêng biệt, cụ thể vừa nói được cái khái quát chung Đây là tâm
sự, cũng là quan niệm và phương châm sống của nhà thơ - của những con người chân chính Đây là ước vọng của một con người từ tuổi thanh niên đến khi tuổi già tóc bạc, sắp
từ giã cuộc đời Nói chuyện mình và cũng là nói cho tất cả mọi người cứ tự nhiên như thế vì
trước hết nhà thơ muốn làm một nốt trầm, làm mùa xuân nho nhỏ khiêm nhường và cao thượng của nhân loại vô danh
Song, trong khổ thơ cuối cùng, dù nhà thơ vẫn xưng ía, nhưng từ ta da mang mau sac
riêng, tâm sự riêng Biết được chẳng bao lâu anh đã qua đời, anh viết trong khi đang ốm
nặng, ta càng quý tiếng hát của anh
Phải yêu đời lắm, lạc quan lắm mới có rhể hát được như anh Nốt trâm xao xuyến trong bài ca mùa xuân nho nhỏ đậm đà vị dân ca xứ Huế nước non ngàn dặm sẽ sống mãi cùng lời thơ của anh, trong âm vang của nhịp phách tiền đất Huế yêu thương `
3 MỘT BÀI THƠ HAY
Ngô Thị Bích Hường
Từ những rung động mãnh liệt trước mùa xuân, cuộc đời của chính nhà thơ và sắc
xuân tươi dịu xứ Huế mà làm nên Mùa xuân nho nhỏ
Bố cục mạch lạc: ba khổ đầu là bức tranh mùa xuân của đất nước và dân tộc Bầu trời xuân mở ra mênh mang Sắc xanh hiền hoà thanh bình của dòng sông điểm xuyết nét
chấm phá bông hoa tím biếc giữa dòng sông trong xanh Từ mọc mở đầu khiến cho cảnh
xuân như muốn vươn dậy Đất trời vào xuân bừng lên thanh bình, tươi tắn và trong trẻo
vô ngần
Trang 14Vút lên tiếng chim chiền chiện vui tươi, náo nức Tiếng chim như hơi thở, như sức sống mùa xuân - những thanh âm trong tréo làm xao xuyến lòng nhà thơ
Câu thơ thoáng chút ngỡ ngàng rồi sung sướng tột cùng trước thanh âm ríu ran mời
gọi của đàn chim mùa xuân Bầu trời, mặt đất, dòng sông, bông hoa đều rạo rực, xao động trong những làn âm thanh tươi vui cùng tấu lên những bản tình ca đẹp đế về mùa xuân và tình yêu Thanh Hải dang rộng cánh tay, mở rộng tâm hồn đón nhận hương sắc mùa xuân Tiếng chim hót không tan loãng mà lắng lại thành từng giọt long lanh, đọng dấu ấn mùa xuân, trong thăm sâu lòng người Giọt tiếng chim, giọt xuân nồng nàn ngọt ngào, long lanh của đất trời ban phát cho vạn vật Bức tranh thể hiện những nét đặc trưng của mùa
xuân xứ Huế
Mùa xuân đất nước ấm áp, đầy sinh lực và mới mẻ tinh khôi Mùa xuân trên trận địa
và mùa xuân trên cánh đồng Mùa xuân được làm nên bởi những con người Việt Nam bình
dị mà vĩ đại Hối hả và xôn xao, khí thế và quyết tâm, ào ạt, mãnh liệt dệt sắc màu toàn thắng cho mùa xuân toàn thắng của dân tộc
Bốn nghìn năm lịch sử Việt Nam là những chuỗi dài đau thương và mất mát, anh dũng kiên cường, vượt lên khổ nhục người sáng những tấm lòng son sắt, thuỷ chung Đắm say
trong mùa xuân của thiên nhiên và đất nước, tạm quên đi đau đớn bệnh tật hiểm nghèo, lời
thơ sáng lên bản lĩnh tình yêu cuộc sống, tâm nguyện hiến dâng và hi sinh cao cả
Ước nguyện khiêm nhường, thiết tha, kín đáo không chỉ là của tôi - cái tôi cá nhân mà của cái fa rộng lớn, của người dân Huế, của dân Việt mình
Những câu cuối trầm hẳn lại trong ngẫm ngợi, song vẫn cháy bỏng nhiệt huyết
khát vọng
Như con ong chăm chỉ dâng mật cho đời, nhà thơ thầm lặng đi giữa cuộc đời chắp nhặt những tinh tuý nhất để tạo nên mùa xuân nho nhỏ vẻ nguyên sơ Nhà thơ hoà lòng
mình vào mùa xuân, lắng nghe, ngắm nhìn cuộc sống bằng cả tâm hồn trong sáng, cao
đẹp và thanh khiết của người nghệ sĩ
Nhịp phách tiên đất Huế trầm ấm khép lại bài thơ mở ra một chân trời cảm xúc
Thoáng chút day dứt, ngậm ngùi song cũng thật thân thiết, máu thịt - nước non ngàn dặm
đời thêm phong phú Viết tháng 11— 1980, nếu biết đó là thời điểm nhà thơ đang ốm nặng, chỉ mấy tuần lễ sau, ngày 15- 12 - 1980, nhà thơ qua đời, thì bài thơ còn đáng quý biết
Trang 15bao Trước khi đi xa, nhà thơ đã để lại cho đời những lời thơ thật nhân hậu, tha thiết, thanh thản, khong hề gợn một nét buồn u ám của bệnh tật, của cuộc đời sắp tắt Giữa mùa thu đời mình, nhà thơ vẫn nghĩ tới một mùa xuân bất tuyệt
Bài thơ 6 khổ chia làm 2 phần đều đặn Ba khổ đầu là mùa xuân của đất trời và đất nước
Mở đầu bài thơ, nhà thơ gợi lên một hình ảnh mùa xuân rất Huế Dòng sông xanh và
bông hoa tím biếc rất dễ gợi nghĩ đến dòng sông Hương trong xanh và màu tím Huế rất
đẹp Một tiếng chim vui hót vang trời long lanh như hạt ngọc Bài thơ viết tháng 11 dương
lich, nghĩa là tháng 10 âm lịch ® Trị Thiên vụ tháng tám âm lịch vừa thu hoạch, vụ mùa gặt hái mới hay có tiếng chim hót vang đồng Nhưng bài thơ không giản đơn thông báo về
sự vật, mà thể hiện cảm xúc và lòng yêu thương, yêu đời, niềm vui mùa gặt Như thả hồn
theo tiếng chim, lắng nghe từng giọt tiếng hót trong sáng long lanh tới mức như đọng thành từng giọt rơi xuống, hữu tình và hữu hình, như có thể dùng tay mà hứng Và phải là thi sĩ
tình yêu mới có thể đưa tay hứng lấy từng giọt tình yêu như thế
Cảm giác mùa xuân lộc non tràn ngập tâm hồn tác giả
Nhìn thấy lộc non trên cành lá nguy trang giắt quanh lưng người chiến sĩ, thấy mùa
xuân trải dài trên nương mạ của người nông dân Cái cảm giác mùa xuân đến sớm ấy khiến nhà thơ thấy được sự giục giã của đất trời mà thực ra là cái hối hã của chính lòng mình
Cũng trong cảm giác ấy, nhà thơ thấy Tổ quốc mình càng thêm dep dé và mạnh mẽ trong gian lao, thử thách
Những câu thơ năm tiếng gióng giả, giục giã như tiếng trống ngũ liên lại càng tăng thêm cái cảm giác hối hả, xôn xao của cuộc đời
Phần thứ hai viết về mùa xuân nho nhỏ của chính nhà thơ trước sự gợi hứng của mùa xuân cuộc đời Từ tiếng chim hót và cành hoa của đất trời, tác giả muốn tiếp nối ta làm con chim hot
Một nốt trầm xao xuyến
Lời thơ ngân nga thành lời ca Doan dau xưng tôi kín đáo, lặng lẽ Đến đoạn này, chuyển giọng xưng fa - ta cũng là cái tôi ca hát, vang vọng Nhưng ông nhận ra tiếng
mình trong bản hoà ca chung Một nốt trầm, không cao giọng, không ồn ào, to tát, nhưng
Xao Xuyến, rung động cả tâm hồn
Lời thơ chuyển sang tổng kết cuộc đời: dù ở tuổi hai mươi, khi nhà thơ mới tham gia cách mạng, bắt đầu công bố những bài thơ dầu Dù là khi tóc bạc, trong thời điểm hiện tại, vẫn lặng lẽ hiến dâng cho đời Bài thơ có thể xem là quà tặng cuối cùng của tác giả Khổ thơ cuối cùng nghe như lời từ biệt Câu ca Nam bình :
Nước non nghìn dặm
Ra di Cai tinh chi
Trang 16Đó là lời từ biệt của người xa qué, xa vời, mối tình sâu thắm chẳng nói nên lời Nhà thơ
Thanh Hải xin hát câu Nam ai, Nam bình, nhưng khác cái buồn ngày xưa, lời thơ của ông thật chân tình, ấm áp Chữ mình mới ấm áp làm saol Là ngàn dặm vẫn là mình, vẫn là tình,
đi đâu cũng không ra ngoài chữ mình, chữ tình Nhịp phách tiền đất Huế có gắn thêm cọc tiền đồng, khi gõ càng thêm giòn giã, vang xa Nhà thơ đã hát khúc ca cuối cùng để đi vào vĩnh viễn
Bài thơ thật vui và giản dị Từ cảm nhận mùa xuân đất nước, muốn hiến dâng mùa xuân nho nhỏ của mình cho mùa xuân vô tận Một bài thơ yêu đời, trong tréo va da diét nhất mực
Bài thơ không chỉ hay về ý mà còn hay về nhạc điệu Câu thơ năm tiếng xen kẽ nhịp 2/3, 3/2 linh hoạt Nó không đều đều 3/2 như hát giặm, cũng không đều đặn 2/3 như thơ ngũ ngôn cổ điển, mà tạo nhịp tung tay, nhí nhảnh Chẳng hạn:
Mọc giữa dòng/ sông xanh Một bông hoa/ tím biếc Ơi/ con chim chiên chiện/
Hot chi/ ma vang troi Tung giof/ long lanh rơi Tôi đưa tay/ tôi hứng Không chỉ ngắt nhịp đa dạng, nhà thơ còn chú ý tới những vần trắc cuối năm khổ tho, tạo âm vang giòn giã, như thể nhịp phách tiền:
Tôi đưa tay tôi hứng
Cứ đi lên phía trước Một nốt trâm xao xuyến
Dù là khi tóc bạc Nhịp phách tiền đất Huế Thử hiệu quả, ta thay vần trắc bằng vần bằng, tuy ý tứ không thay đổi lắm nhưng nhạc điệu gióng giả mất hết:
Tôi đưa tay tôi hứng
Từng giọt long lanh rơi
Cứ đi lên phía trước Đất nước như vì sao Một nốt trâm xao xuyến
Ta nhập vào hoa ca Nước non ngàn dặm mình Nhịp phách tiền đất Huế Nước non ngàn dam tinh
Bài thơ có nhịp đi hành khúc Mùa xuân nho nhỏ là hành khúc mùa xuân, đặc biệt là
hành khúc mùa xuân ở cuối mùa thu của cuộc đời người nghệ sĩ cách mạng muốn hoà nhập vào mùa xuân bất tận của đất nước °
Trang 175 CON Gi CHO QUE HUONG
Viễn Phương Nửa mái đâu chớm bạc
Còn gì cho quê hương
Thân xin làm chiếc lá
Thân xin làm hạt sương
Con chim chién chién
Bay vut, vut cao
Long day yéu mén
Khuc hat ngot ngao
Canh dap troi xanh
Cao hoai, cao voi
Tiéng hot long lanh
Nhu canh surong choi
Chim oi, chim noi
Chuyén chi, chuyén chi?
Lòng vui bối rối
Đời lên đến thì
Tiếng ngọc trong veo
Chim gieo từng chuỗi
Lòng chim vui nhiều
Hát không biết mỗi
Chim bay bay, chim sa
Lúa tròn bung sữa
Đồng quê chan chứa
Những lời chim ca
Bay cao Cao vút
Chim biến mất rồi
Chỉ còn tiếng hót
Làm xanh da trời
Trang 18Con chim chién chién Hồn xanh quê nhà Sáng nay lại hót Tưng bừng lòng ta
(1964, trong tập Hai bàn tay em, NXB Van hoc, Hà Nội, 1967) BAI CA MUA XUAN 61
(Trich)
Tố Hữu Ôj tiếng hót mê say con chim chiền chiện,
Trên đồng lúa chiêm xuân nó chao mình bay liệng
Xuân ơi xuân vui tới mông mênh Biển vui dâng sóng trắng đầu ghềnh Thơ đã hát mát trong lời chúc:
Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh!”
0 Thơ chúc tết xuân 1961 của Chủ tịch Hồ Chí Minh
(Trong tập Gió lộng, NXB Văn học, Hà Nội, 1962)
Tiết 117 VĂN HỌC
VIENG LANG BAC
Vién Phuong
A Két qua cGn dat
1 Kiến thức: Giúp HS cảm nhận được niềm xúc động thiêng liêng, tấm lòng tha thiết thành kính và tự hào vừa đau xót của tác giả từ miền Nam ra viếng thăm lăng Bác; đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: giọng điệu trang trọng tha thiết, phù hợp với tâm trạng và cảm xúc, những hình ảnh ẩn dụ có giá trị súc tích và gợi cảm Lời thơ dung dị và cô đúc, giàu cảm xúc mà lắng đọng
2 Tích hợp với phần Văn ở các bài thơ văn viết về Bác, với phần Tập làm văn Ở bài Nehị luận về nhân vật văn học
Trang 193 Rèn kĩ năng đọc - hiểu thơ trữ tình, phân tích các hình ảnh ẩn dụ, giọng điệu trong thơ
4 Chuẩn bị: Ảnh chân dung Viễn Phương: tập thơ Như mây mùa xuân (1978), tranh ảnh về lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
B Thiét ké bai day — hoc
A 1 Mùa xuân nho nhỏ; 2 Mùa xuân đất nước;
3 Mùa xuân thiên nhiên
B 1 Mùa xuân đất nước; 2 Mùa xuân con người;
3 Mùa xuân nho nhỏ
C 1 Mùa xuân xứ Huế; 2 Mùa xuân con người;
3 Mùa xuân đất nước; 4 Mùa xuân của nhà thơ
D 1 Mùa xuân thiên nhiên; 2 Mùa xuân nhân dân và đất nước;
3 Mùa xuân nho nhỏ của nhà thơ
2 Đọc thuộc lòng và diễn cảm toàn bài thơ Mùa xuân nho nhỏ VÀ sao nói
bài thơ thật dịu dàng và cảm động?
3 Đọc bài thơ, em hình dung ra hoàn cảnh đất nước ta trong thời điểm bài
thơ ra đời như thế nào? Vì sao bài thơ được phổ nhạc và trở thành một bài ca hay về mùa xuân?
4 Em hiểu như thế nào về hình ảnh rmàa xuân nho nhở?
_ Hoạt động Z DẦN VÀO BÀI MỚI
1 GV nói theo chú thích (%), tr 59, kết hợp với cho HŠ xem chân dung
tác giả, tập thơ Như mây mùa xuân
2 Đề tài Bác Hồ đã trở thành phổ biến đối với thơ ca Việt Nam hiện đại
Tố Hữu nhiều lần viết về Bác rất hay từ trong kháng chiến chống Pháp đã đến thăm nhà Bác, khi Bác qua đời lại dắt em vào cõi Bác xưa để theo chân Bác Minh Huệ dựng lại một đêm Bác không ngủ ở chiến trường Việt Bắc cách đây hơn nửa thế kỉ Chế Van Viên viết Hoa trước lăng Người, Thanh Hứa từ miền Nam viết Cháu nhớ Bác Hồ Còn Viễn Phương xúc động kể lại lần đầu từ Nam
Bộ ra viếng lang Cha gia dan tộc
3 Mở băng tiếng (hình) bài hát Viếng lăng Bác; Dân Huyền phổ nhạc GV nói lời dẫn ngắn gọn
Trang 20—_ Hoạt động 3 HUONG DAN ĐỌC - HIẾU KHÁI QUÁT
1 Đọc: Giọng thành kính, xúc động, chậm rãi, càng ngày càng dâng cao,
có đoạn lắng sâu, đoạn cuối tha thiết
+ Khổ 2: Cảnh đoàn người xếp hàng viếng lăng Bác
+ Khổ 3: Cảnh bên trong lăng, xúc động của nhà thơ khi đứng trước Bác + Khổ 4: Ước nguyện khi về miền Nam
- Mạch thơ vận động kết hợp giữa việc tả cảnh từ bên ngoài vào trong lăng viếng Bác đến lúc ra về với diễn biến tâm trạng của người con miền Nam — nhà thơ
- Bố cục đơn giản, tự nhiên, hợp lí
_ Hoạt động 4
HUGNG DAN DOC - HIEU CHI TIẾT
Có thể phân tích theo những cách khác nhau Chẳng hạn, theo từng khổ thơ hoặc cảm xúc chủ đạo Ở đây chọn cách trên
1 Khổ 1
+ HS đọc diễn cảm khổ thơ
+ GV hỏi: Câu đầu cho ta biết điều gì? Giải thích nghĩa từ viếng, thăm Tại sao ở nhan đề, tác giả dùng viếne, ở câu đầu lại dùng /hZm?? Nhận xét cách xưng hô của tác gia
+ HS suy nghi, tra 106i
¢ Dinh huoéng:
- Câu đầu trước hết mang tính tự sự, thong báo, kể chuyện giản dị như câu văn xuôi, như lời nói thường Nhưng không chỉ có thế Trong câu thơ mộc mạc chân tình ấy đã hàm chứa xúc động, bồi hồi của người con từ miền Nam, từ
mảnh đất nơi Bác ra đi nay Bác chưa về, mảnh đất luôn luôn làm cho trái tim
Bác thương nhớ, mong chờ có một ngày được vào thăm, ra thăm lăng Bác, thăm thủ đô Hà Nội
- Viếng là đến chia buồn với thân nhân người đã chết
- Thăm là đến gặp gỡ, chuyện trò với người đang sống
Trang 21- Trén nhan dé ding viéng theo đúng nghĩa den, trang trong, khang định một sự thật, Bác đã qua đời
- Trong câu thơ đầu dùng /hăm là ngụ ý nói giảm, Bác như vẫn còn sống mãi trong lòng nhân dân miền Nam, gợi sự thân mật, gần gũi
- Cách xưng hô con, Bác mang đậm phong cách miền Nam, cũng gợi thêm
sự thân mật, gần gũi, cảm động
+ GV hỏi tiếp: Hình ảnh đầu tiên tác gia quan sát và cảm nhận là gi? Hinh ảnh hàng tre trong sương sớm gợi lên điều gì? Hình ảnh này có hoàn toàn giống hình ảnh "hàng tre xanh xanh Việt Nam” ở câu 3? Thành ngữ nào được
sử dụng trong câu 4? Ý nghĩa? Biện pháp tu từ về từ nào đã được sử dụng? Đọc những câu thơ, văn đã học nói về cây tre Việt Nam
+ HS lần lượt trả lời từng câu hỏi
s Định hướng:
- Hình ảnh đầu tiên tác giả cảm nhận là hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương sớm hai bên lăng Bác Trước hết, đây là hình ảnh thực Hình ảnh hàng tre quen thuộc bỗng trở nên mờ ảo, dài rộng hơn, bát ngát hơn trong làn sương buổi sớm
- Nhưng từ đó, nhà thơ suy nghĩ và liên tưởng, mở rộng và khái quát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng
thì hình ảnh hàng tre đã là một ẩn dụ, một biều tượng cho con người, cho dân tộc Việt Nam bất khuất kiên cường Thành ngit bdo tép mua sa nham chi những khó khăn gian khổ, những vinh quang và cay đắng mà nhân dân ta đã vượt qua trong trường kì dựng nước và giữ nước Đứng thẳng hàng là tình thần đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục, tất cả vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ
— Tre anh hùng của một dân tộc anh hùng Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất Cây tre Việt Nam Cây tre xanh nhũn nhặn, thuỷ chung, can đảm Cây tre mang những đức tính của người hiền, là tượng trưng cao quý cho dân tộc Việt Nam
(Thép Mới — Cây tre Việt Nam (Neg# văn 6)
Tre xanh, xanh tự bao giờ?
Tự nghìn xưa đã có bờ tre xanh Thân gây guộc, lá mong mạnh
Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi!
Trang 22Từ hình ảnh cây tre nghĩ tới đất nước và con người Việt Nam, tới Bác Hồ là suy nghĩ rất tự nhiên, lôgích: Cây tre - Việt Nam — Hồ Chí Minh đã trở thành những biểu tượng quen thuộc đối với nhân dân thế giới
2 Khổ 2
+ HS đọc diễn cảm khổ thơ
+ GV hỏi: Trong hai câu đầu, chú ý tới 2 hình ảnh "mặt trời" Phân tích sự khác nhau giữa hai hình ảnh đó Những biện pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng ở đây? Tác dụng của chúng?
+ HS tìm kiếm, phát hiện, phân tích, phát biểu
s Định hướng:
- Khổ thơ thứ hai sử dụng khá nhiều biện pháp tu từ từ vựng đem lại hiệu
quả nghệ thuật rất độc đáo Trước hết là nhân hoá: mặt trời trên lăng "đi, thấy" Tiếp theo là ẩn dụ: mặt trời trong lăng rất đỏ Mặt trời trên lăng là vật thể tự nhiên đã được nhân hoá như người chứng kiến vĩnh viễn hiện tượng kì diệu này, mặt trời kì diệu khác "Mặt trời trong lăng rất đỏ" ngầm chỉ Bác Hồ đang nằm trong lăng Phía đầu Người là lá cờ đỏ sao vàng rộng lớn bằng đá hoa cương ốp vào tường Thật ra so sánh Bác Hồ với mặt trời đã được các nhà thơ
sử dụng từ lâu (Hồ Chí Minh — ánh thái dương tod sáng đời đời - Lưu Hữu Phước: Người rực rố một mặt trời cách mạng - Mà đế quốc là loài đơi hốt hoảng — Đêm tàn bay chập choang đưới chân Người (Tố Hữu — Sáng tháng năm))
Nhưng so sánh ngầm Bác Hồ nằm trong lăng với mặt trời rất đỏ trong cái nhìn chiêm ngưỡng hằng ngày của mặt trời tự nhiên là một sáng tạo mới mẻ và độc đáo của Viễn Phương Cùng với từ láy ngày ngày đã góp phần vĩnh viễn hoá, bất tử hoá hình tượng Bác Hồ trong lòng mọi người, giữa thiên nhiên vũ trụ, mặt khác ngợi ca sự vĩ đại, công lao trời biển, sinh thành của Người đối với nhân dân và các thế hệ con người Việt Nam
+ GV hỏi tiếp: Hình ảnh tiếp theo gây ấn tượng là hình ảnh øì? Hình ảnh dòng người đi "trong thương nhớ” và dòng người “kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân” đẹp và hay ở chỗ nào?
+ HS liên tưởng, suy nghĩ, phát biểu
s Định hướng:
- Từ láy nsày ngày ở đầu câu 3 được dùng như điệp từ (nhắc lại ở câu 1) thể hiện cái hiện tượng đã trở thành quy luật bình thường, đều đặn diễn tiến trong cuộc sống của nhân dân Việt Nam: xếp hàng vào lăng viếng Bác
- Hình ảnh dòng người xếp hàng từ từ, chậm chậm, thành kính vào lăng viếng Bác, kết thành vòng tròn như tràng hoa, đi trong thương nhớ, dâng bảy mươi chín mùa xuân cuộc đời của Bác là những ẩn dụ mới mẻ, sâu sắc và xúc động
Trang 23Tố Hữu viết Theo chân Bác:
XIn nhớ từ đây, nhớ lại ngày Bác Hồ từ giã cối Hôm nay Bảy mươi chín tuổi xuân trong sáng Vào cuộc trường sinh nhẹ cánh bay
- Khổ 2, nhập vào dòng người xếp hang vào lăng lúc mặt trời lên, nắng lên
— Khổ 3, trong lăng, quan sát và cảm nhận, suy nghĩ
+ GV hỏi: Hình ảnh Bác nằm yên nghỉ trong lăng được nhà thơ cảm nhận như thế nào? Có gì mâu thuẫn trong câu 3 và 4?
Ở trên nhà thơ sử dụng hình ảnh ẩn dụ "mặt trời" để chỉ Bác, ở đây lại sử dụng hình ảnh "vâng trăng” và tiếp theo là "trời xanh" Vậy, có gì khác nhau giữa các hình ảnh ẩn dụ, so sánh ấy? Lí giải
+ HS lí giải, so sánh, phân tích
s Định hướng:
- Hình ảnh Bác nằm yên nghỉ đời đời trong lăng yên tnh, trang nghiêm được so sánh với hình ảnh "vầng trăng sáng trong, dịu hiền" là rất phù hợp và rất hay Trong phòng, sáng dịu ánh đèn nê ông rất giống với ánh trăng Trung tâm của vầng sáng là nơi Bác đang nằm trên đài sen hồng Có cảm giác như vị Cha già dân tộc đang năm nghỉ ngơi một chút sau những giờ làm việc miệt mài Hình ảnh so sánh này rõ ràng rất phù hợp với thực tế và tính cách hiền hậu, dịu dàng như người ông, người cha, người Bác kính yêu của toàn thể đồng bào, của
bè bạn năm châu đồng thời cũng không mâu thuẫn với hình ảnh mặt trời, khi nhà thơ muốn nhấn mạnh sự vĩ đại và công lao biển trời của Bác đối với nước, với dân
- Hình ảnh "trời xanh" tượng trưng cho sự vĩnh hằng, vô tận của tên tuổi và
sự nghiệp của Hồ Chí Minh Người đã hoá thiên nhiên, hoá sông núi, đã vào cuộc trường sinh nhẹ cánh bay Lí trí mỗi chúng ta đều biết rõ điều này Nhưng
sao trái tim ta, khi bước vào đây vẫn nhói lên đau xót, tiếc thương? Vì đó là
Trang 24tinh cảm; đó là sự thật Bác đã đi xa rồi! Đó là mâu thuẫn giữa li tri va tinh cam của mỗi chúng ta Mâu thuẫn càng chứng tỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và thiêng liêng nhưng cũng gần gũi thân thiết đối với môi con người Việt Nam đến như thế nào
4 Khổ 4
+ HS đọc diễn cảm
+ GV hỏi: Uớc nguyện của nhà thơ khi sắp về Nam là gì? Nguyện vọng hoá thân đó nói lên điều gì? Điệp ngữ muốn làm có tác dung gi?
Hình ảnh cây tre ở đây có gì khác với hình ảnh cây tre ở khổ đầu?
+ HS thảo luận, trao đổi trong nhóm và phát biểu
s Định hướng:
- Ra khỏi lăng, nghĩ đến ngày mai sẽ về lại miền Nam, sẽ xa Bác, xa Hà Nội, tình cảm xúc động của nhà thơ bỗng nổi sóng, dâng trào, không thể kìm nén dòng nước mắt tràn đầy Từ đó bật ra nguyện vọng mãnh liệt thể hiện trong điệp ngữ muốn làm muốn làm muốn làm con chữn hót quanh lăng Bác, bông hoa tod hương đâu đây, cây tre trung hiếu chốn này Tất cả nguyện ước đều hướng về Bác, muốn gần Bác mãi mãi, muốn làm Bác vui, muốn canh giấc ngủ của Bác, Bác Hồ ơi! (Hải Như)
- Hình ảnh cây tre lại xuất hiện — hình ảnh ẩn dụ — bổ sung thêm nghĩa fruns hiếu (trung với nước, với Đảng, hiếu với dân), nhập vào hàng tre bát ngát bên lăng Bác
- Hoạt động 5
HƯỚNG DẪN TỒNG KẾT VÀ LUYỆN TẬP
1 Có thể phát biểu ngắn gọn chủ đề tư tưởng của bài thơ như thế nào? Đây
có phải chỉ là tình cảm riêng của Viễn Phương hay còn 1a tinh cam cua ai? (Gợi ý: Bài thơ thể hiện niềm xúc động tràn đầy và lớn lao, tình cảm thành kính, sâu sắc và cảm động của tác giả — cũng là của đồng bào miền Nam khi viếng lăng Bác.)
2 Bài thơ có những đặc sắc gì về nghệ thuật?
(Gợi ý:
+ Giọng điệu phù hợp: Vừa trang nghiêm, trang trọng vừa tha thiết sâu lắng, vừa xúc động tự hào, vừa đau xót tiếc thương Đó là tình cảm và suy nghĩ chân thành của tác giả phản ánh tâm trạng của nhiều người, đặc biệt là của đồng bào miền Nam khi vào lăng viếng Bác
+ Thể thơ 8 chữ, nhịp thơ chậm rãi, thành kính, trang nghiêm, khổ cuối nhanh hơn, thể hiện mong muốn lúc chia tay
Trang 25+ Hình ảnh sáng tạo: từ hình ảnh thực nâng lên thành hình anh so sánh, ẩn
dụ tượng trưng vừa quen thuộc vừa mới lạ: hàng tre, mặt trời, dòng nguoi, tràng hoa, vắng trăng, trời xanh
3 HS đọc và ghi nhớ nội dung Gh¡ nhớ SGŒK
4 HS đọc thuộc lòng và diễn cảm bài thơ
5, Mở băng các bài hát: Viếng Lăng bác (Dân Huyền phổ nhạc), Vầng trăng Ba Đình (Thơ Phạm Ngọc Cảnh — Trăng Lên; Thuận Yến phổ nhạc)
6 Soạn bài Sang thu
7 Đọc tham khảo
1 THĂM NƠI BÁC Ở
Tố Hữu Anh dắt em vào cõi Bác xưa
Đường xoài hoa trắng, nắng đu đưa
€ó hồ nước lăng, sôi tăm cá
Có bưởi, cam thơm, mát bóng dừa
Có rào râm bụt đỏ hoa quê Như cổng nhà xưa Bác trở về
Có bốn mùa rau tươi tốt lá Như những ngày cháo bẹ, măng tre
Nhà gác đơn sơ, một góc vườn
Gỗ thường mộc mạc, chẳng mùi sơn
Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối
Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn
Máy chữ thôi reo, nhớ ngón đàn Thong dong chiếc gậy gác bên bàn Còn đôi dép cũ mòn quai gót Bác vẫn thường đi giữa thế gian
Bụt mọc dầm chân đứng đợi ai Quanh hồ thấp thoáng bóng hôm mai Ngọn đèn kia thức bên ai đó
Mà dạ hương còn phẳng phất bay!
Ô vẫn còn đây của các em Chồng thư mới mở, Bác đang xem Chắc Người thương lắm lòng con trẻ Nên để bâng khuâng gió động rèm