Giáo trình Tài chính doanh nghiệp phía dưới đường thẳng này, ví dụ như tài sản D thì giá của nó nhất định sẽ giảm đi và doanh lợi dự kiến của nó sẽ tăng lên cho đến khi nằm vào đường thẳ
Trang 1Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
phía dưới đường thẳng này, ví dụ như tài sản D thì giá của nó nhất định sẽ giảm đi và doanh lợi dự kiến của nó sẽ tăng lên cho đến khi nằm vào đường thẳng Trên thị trường vốn, hiện tượng như tài sản C thì được gọi là giá cả cao hơn giá trị của nó Còn hiện tượng như tài sản D thì được gọi là giá cả thấp hơn giá trị của nó Đây là quan điểm rất quan trọng để kiểm nghiệm các thị trường tài chính
5.2.7.2 Đường thị trường chứng khoán
Đường thẳng được vẽ như trên cho mọi tài sản trên thị trường tài chính
là rất quan trọng Đường thẳng thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro có hệ thống
và doanh lợi dự kiến được gọi là đường thị trường chứng khoán (SML)
Trong tài chính doanh nghiệp, quan điểm về giá trị hiện tại thuần tuý (NPV)
được coi là quan trọng nhất, kế theo đó là đường SML
Do SML có tầm quan trọng như vậy, nên cần tìm cách để biết được phương trình của nó Giả sử bố trí một danh mục đầu tư với toàn bộ các loại tài sản của thị trường Một danh mục đầu tư như vậy được gọi là danh mục
đầu tư của thị trường Doanh lợi dự kiến của nó được viết là E(RM)
Do tất cả các tài sản trên thị trường phải được vẽ trên đường SML, vì thế danh mục đầu tư của thị trường phải bao gồm tất cả các tài sản đó Để xác định xem có thể vẽ đường SML như thế nào, trước hết cần phải xác định cho được hệ số β cho danh mục đầu tư của thị trường (βM) Do danh mục đầu tư này đại diện cho tất cả các tài sản trên thị trường, nên chắc chắn rằng danh mục đầu tư này có mức rủi ro bình quân có hệ thống, hay nói một cách khác, βM = 1 Đến đây có thể biết được độ dốc của đường SML như sau:
f M f
M
M
R R E R R E
ư
=
ư
1
) (
βM f
R -) E(R
= SML
của
dốc
E(RM) - Rf được gọi là mức bù đắp rủi ro của thị trường bởi vì nó là mức bù đắp rủi ro cho danh mục đầu tư của thị trường
Gọi E(Ri) và βi là doanh lợi dự kiến và bêta của một danh mục đầu tư bất kỳ nào đó trên thị trường Ta biết rằng danh mục đầu tư này phải được vẽ trên đường SML vì nó phải có cùng tỷ suất đền bù rủi ro giống như các tài
.
Trang 2R ) M E(R i
f R ) i E(R
ư
=
ư β
Nếu viết lại, ta sẽ có: E(R i ) = R f + β i [E(R M ) - R f ] (6.16)
Công thức trên được gọi là mô hình định giá tài sản viết tắt là:
CAPM
CAPM chỉ ra rằng: doanh lợi dự kiến của một tài sản cụ thể nào đó
phụ thuộc vào ba yếu tố:
Yếu tố thứ nhất, đó là giá trị thời gian thuần tuý của tiền được đo bằng
tỷ suất không có rủi ro Rf Tỷ suất này đơn thuần chỉ đền bù cho sự chờ đợi
tiền của nhà đầu tư và không hề có rủi ro
Yếu tố thứ hai, là sự đền bù cho rủi ro có hệ thống được đo bằng mức
rủi ro của thị trường [E(RM) - Rf]
Yếu tố thứ ba, là mức rủi ro có hệ thống được đo bằng βi, đây là mức
rủi ro có hệ thống cho từng tài sản cụ thể
5.2.7.3 Mối liên hệ giữa đường thị trường chứng khoán và chi phí
của vốn
Đường thị trường chứng khoán chỉ cho thấy mức đền bù rủi ro trên thị
trường tài chính Bất kỳ một khoản đầu tư mới nào cũng đòi hỏi một mức
doanh lợi dự kiến ít nhất là bằng mức đền bù của thị trường Nếu không đạt
đến mức đó thì người ta sẽ không đầu tư Các nhà đầu tư chỉ thực sự có lợi
nếu họ tìm được các khoản đầu tư mà mức doanh lợi dự kiến của chúng cao
hơn mức đề nghị của thị trường, bởi vì những khoản đầu tư như vậy sẽ có giá
trị hiện tại thuần tuý dương Trên cơ sở nhận thức như vậy, nếu đặt câu hỏi:
tỷ suất chiết khấu để xác định giá trị hiện tại là gì? thì câu trả lời sẽ là: nên
chọn doanh lợi dự kiến mà thị trường đề nghị cho khoản đầu tư với cùng một
Trang 3Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Tỷ suất chiết khấu biểu thị bằng mức doanh lợi tối thiểu cần đạt được thường được gọi là chi phí của vốn cho một khoản đầu tư nhất định ở đây gọi là chi phí vốn bởi vì nếu đạt được mức doanh lợi tối thiểu này thì mới đạt
đến điểm hoà vốn Chi phí của vốn còn được coi như là chi phí cơ hội cho khoản đầu tư của doanh nghiệp
Khi nói rằng khoản đầu tư mới có doanh lợi dự kiến lớn hơn mức doanh lợi mà thị trường đền bù cho khoản đầu tư có cùng mức độ rủi ro có
hệ thống thì có nghĩa là đang sử dụng một cách có hiệu quả vốn đầu tư
Câu hỏi ôn tập
1 Giữa rủi ro và lợi nhuận có mối tương quan tỷ lệ thuận, tức là, rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng cao Hãy bình luận
2 Hãy giải thích rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống?
.
Trang 4Chương 6
chi phí vốn và Cơ cấu vốn
Phân tích các luồng tiền chiết khấu nhằm hỗ trợ cho việc ra các quyết
định đầu tư cũng như quyết định dự toán vốn đầu tư Bằng việc so sánh giá trị hiện tại của các luồng thu nhập theo dự tính với chi phí đầu tư, các nhà quản lý có thể tìm được lời giải cho vấn đề có nên đầu tư hay không Một yếu tố rất quan trọng của quá trình này là xác định đúng đắn tỷ lệ hiện tại hoá (tỷ lệ chiết khấu), đó là chi phí vốn đầu tư Chỉ tiêu này được sử dụng chủ yếu để hoạch định cơ cấu vốn cũng như cơ cấu tài sản
6.1 Khái niệm chi phí vốn
Chi tiết của bên phải bảng cân đối tài sản chỉ ra các nguồn vốn của
doanh nghiệp Theo cách phân chia phổ biến nhất, nguồn vốn bao gồm các khoản nợ và vốn của chủ Nợ bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn Vốn của
chủ có thể bao gồm vốn huy động bằng cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên, lợi nhuận không chia Tỷ trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn Bất cứ một sự tăng lên của tổng tài sản phải được tài trợ bằng việc tăng một hoặc nhiều yếu tố cấu thành vốn
Vốn là nhân tố cần thiết của sản xuất Cũng như bất kỳ một nhân tố nào khác, để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí nhất định Chi phí của mỗi một nhân tố cấu thành gọi là chi phí nhân tố cấu thành của loại vốn cụ thể đó
Có thể hiểu chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng số lợi nhuận kỳ vọng đạt được trên vốn đầu tư vào dự án hoặc
Trang 5Giáo trình Tài chính doanh nghiệp
Kd(1 - T): chi phí nợ sau thuế, trong đó, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp A với T = 40% thì Kd(1-T) = 6% Kp: chi phí của cổ phiếu ưu tiên Đối với doanh nghiệp A, Kp = 10,3%
Ks: chi phí của lợi nhuận không chia Đối với doanh nghiệp A, Ks = 13,4%
Ke: chi phí vốn cổ phiếu thường mới Trường hợp doanh nghiệp A, Ke
= 14%
WACC: chi phí trung bình của vốn Nếu doanh nghiệp muốn tạo vốn mới để tài trợ cho việc mở rộng tài sản và duy trì một cơ cấu vốn cân bằng, thì nó phải tạo ra một phần nợ mới, một phần cổ phiếu ưu tiên và một phần
cổ phiếu thường (lấy từ lợi nhuận không chia hoặc phát hành cổ phiếu thường mới) theo cùng một tỷ lệ
6.2 Chi phí của các loại vốn
6.2.1 Chi phí của nợ vay
6 2.1.1 Chi phí nợ vay trước thuế
Chi phí nợ trước thuế (Kd) được tính toán trên cơ sở lãi suất nợ vay Lãi suất này thường được ấn định trong hợp đồng vay tiền
6.2.1.2 Chi phí nợ vay sau thuế
Chi phí nợ sau thuế Kd(1 -T), được xác định bằng chi phí nợ trước thuế trừ đi khoản tiết kiệm nhờ thuế Phần tiết kiệm này được xác định bằng chi phí trước thuế nhân với thuế suất (KdìT) Vì vậy, nếu doanh nghiệp A vay tiền với lãi suất 10% và thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 40% thì chi phí nợ sau thuế là 6%
Kd (1-T) = 10%(1- 0,4) = 6%
Giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp mà chúng ta muốn tối đa hoá phụ thuộc vào các luồng tiền sau thuế Do vậy, để chúng có thể so sánh được với nhau, tất cả các chi phí vốn cần được tính quy về chi phí sau thuế
.