Dựa trên các cơ sở về tâm lí học, lí luận dạy học, cơ sở thực tiễn và những chức năng của máy vi tính MVT, các nhà nghiên cứu giáo dục đã khẳng định rằng, hoàn toàn có thể sử dụng MVT tr
Trang 1Ứng dụng Máy vi tính trong
dạy học vật lý
Dạy học là một hoạt động phức hợp, trong đó có những yếu tố mang tính nghệ thuật của người giáo viên (GV), đồng thời cũng có những yếu tố mang tính kĩ thuật, mà theo đó có thể xây dựng thành công nghệ dạy học Một trong những nét nổi bật của tiến trình đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học vật lí nói riêng, là việc áp dụng
những thành tựu của khoa học, kĩ thuật công nghệ vào quá trình dạy học, nhờ đó chất lượng dạy học đã từng bước được nâng lên một cách rõ rệt.
Dựa trên các cơ sở về tâm lí học, lí luận dạy học, cơ sở thực tiễn và những chức năng của máy vi tính (MVT), các nhà nghiên cứu giáo dục đã khẳng định rằng, hoàn toàn có thể sử dụng MVT trong quá trình dạy học với tư cách như một
phương tiện dạy học (PTDH) hiện đại
Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, MVT đã xâm nhập vào nhà trường ở nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Pháp, Đức … vào cuối những năm 70; Liên Xô (cũ),
CHDC Đức (cũ) vào đầu những năm 80) Tại một số nước ở Châu Á, MVT cũng
Trang 2được ứng dụng vào giảng dạy trong các nhà trường phổ thông tư rất sớm như Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, … Việc ứng dụng MVT trong các nhà trường cũng được thực hiện theo nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn ở Nhật bản việc ứng dụng MVT được thực hiện theo ba hướng chính: Sử dụng MVT như thiết bị nghe nhìn minh hoạ cho các tài liệu học tập; Dạy học với sự trợ giúp của MVT (CAI - Computer
Assisted Instruction); Sử dụng MVT để quản lí hệ thống dạy học (CMI - Computer Managed Instruction) …
Tại Việt Nam, từ năm 1986 các nhà khoa học đã có những nghiên cứu bước đầu để ứng dụng MVT vào dạy học Các viện nghiên cứu, trường Đại học và nhiều Công ti đã hình thành các nhóm nghiên cứu về việc sử dụng MVT trong dạy học và
đã thu được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ, chẳng hạn “Phòng thí
nghiệm vật lí ảo” của nhóm nghiên cứu ở Đại học Bách khoa Hà Nội; phần mềm STD dùng cho việc ôn tập, kiểm tra kiến thức của Viện Công nghệ thông tin; …
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, hầu hết kiến thức vật lí đều gắn với thực
tế, nên việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và MVT nói riêng vào dạy học vật lí là một hướng đi thích hợp và mang tính cấp thiết Nhờ các chương trình mô phỏng, minh hoạ, MVT làm tăng tính trực quan, kích thích hứng thú học tập và tạo
sự chú ý ở mức độ cao đối với học sinh (HS), giúp cho GV giảm thời gian thuyết trình, không mất nhiều thời gian vào việc biểu diễn, thể hiện thông tin trong giờ học Với các thí nghiệm có tính nguy hiểm đối với con người, hoặc các thí nghiệm
có thời gian diễn ra rất nhanh (hoặc rất chậm) thì việc thay thế chúng bằng những thí nghiệm ảo trên MVT là một cách làm tối ưu … Có thể thấy ngay rằng, việc sử dụng MVT với tư cách là một PTDH hiện đại trong dạy học vật lí có rất nhiều ưu điểm nổi trội, nó có thể được ứng dụng trong nhiều giai đoạn của quá trình dạy học,
từ việc xây dựng tình huống học tập, nghiên cứu giải quyết vấn đề, xây dựng kiến thức mới đến việc củng cố, vận dụng kiến thức … Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, MVT không phải là một PTDH vạn năng, có thể thay thế toàn bộ các PTDH truyền thống khác; MVT dù hiện đại đến đâu, cũng không thể thay thế toàn bộ cho người GV, mà GV luôn là người có vai trò tổ chức, thiết kế quá trình dạy học, là
người quyết định lựa chọn phương tiện, lựa chọn thời điểm sử dụng, hình thức sử dụng và phạm vi sử dụng MVT nhằm đạt hiệu quả cao nhất của hoạt động dạy học
Trang 3Trong nội dung chuyên đề này, chúng tôi đề cập đến những ưu, nhược điểm của việc sử dụng MVT trong dạy học, phân tích một số chức năng cơ bản của MVT
có thể ứng dụng trong dạy học, vai trò hỗ trợ của MVT trong các khâu của quá trình dạy học và một số hình thức sử dụng MVT trong dạy học vật lí
NỘI DUNG
I NHỮNG ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA VIỆC SỬ DỤNG MÁY VI TÍNH TRONG DẠY HỌC
1.1 Những ưu điểm
MVT với tư cách là một PTDH hiện đại, sử dụng nó một cách hợp lý trong dạy học có nhiều ưu điểm
– Nhờ các chương trình mô phỏng và minh họa được cài đặt sẵn, MVT có thể xây dựng nên các mô hình tĩnh hoặc động với chất lượng cao, thể hiện ở độ trung thực của màu sắc, các vận động tuân theo các quy luật khách quan của hiện tượng
mà người lập trình đã đưa vào làm tăng tính trực quan trong dạy học, tăng hứng thú học tập và tạo sự chú ý học tập của HS ở mức độ cao MVT có khả năng lặp lại nhiều lần, thậm chí là vô hạn lần ở cùng một vấn đề, giúp GV và HS có thể nghe lại, xem lại những tình huống, những hiện tượng hoặc những thông tin mà họ chưa kịp nhận biết ở lần quan sát đầu tiên Điều này rất khó thực hiện ở người GV
– Giao tiếp giữa người với máy tính trong quá trình dạy học là hoàn toàn chủ động, theo sự điều khiển của GV và HS Việc sử dụng MVT trong dạy học tạo cơ hội
để chương trình hoá không chỉ nội dung tri thức mà cả những con đường nắm vững kiến thức, hoạt động trí tuệ của HS, vì thế có thể điều khiển được quá trình dạy học GV có thể xây dựng bài giảng bằng cách lắp ráp các môđun có sẵn Để thực hiện tốt bài giảng theo kiểu này thì đòi hỏi GV phải chuẩn bị bài giảng một cách công phu, theo đó, có thể khẳng định rằng MVT không thể thay thế người GV, mà chính là vai trò của người GV được đề cao và đóng vai trò người tổ chức quá trình học tập Nhờ có MVT mà hoạt động dạy học của GV có thể được tự động hoá ở mức
độ cao
Trang 4– Một trong những ưu điểm không thể phủ nhận là việc sử dụng MVT trong dạy học có tác dụng giảm thiểu thời gian cho việc biểu diễn, thể hiện thông tin của
GV trong giờ lên lớp MVT còn cho phép củng cố ngay tức thời và thường xuyên hơn so với dạy học truyền thống, đồng thời việc kế thừa, rút kinh nghiệm, chỉnh sửa, bổ sung bài giảng … từ kết quả của các hoạt động dạy học trước đó là rất thuận lợi và không mất quá nhiều thời gian
– Việc sử dụng MVT trong dạy học còn có tác dụng rất tốt đối với HS, trong
đó cá thể học tập của học sinh ở mức độ cao HS có thể học tập theo nhịp độ riêng của mình phù hợp với khả năng, đặc điểm tâm lý và điều kiện học tập của từng cá nhân, tạo cơ hội để HS có thể tự học một cách tốt hơn Với những chương trình đã được cài đặt sẵn (trắc nghiệm, đố vui …) MVT có thể đưa ra lời khen ngợi mỗi khi
HS thực hiện tốt một nội dung học tập, và cũng có thể phê phán một cách nhẹ
nhàng mỗi khi các em làm không tốt nhiệm vụ của mình Vì thế HS thấy mình được tôn trọng, được cư xử công bằng và khách quan, giúp các em tự tin hơn vào chính bản thân mình Thông qua đó cũng rèn luyện cho HS tính độc lập, tự chủ và sáng tạo Học tập thông qua MVT đòi hỏi HS phải kiên trì, nhẫn nại, cần cù và chăm chỉ,
đó cũng là những nét nhân cách cần thiết phải hình thành ở HS
– Một ưu điểm khác của việc sử dụng MVT trong dạy học là khả năng đánh giá kết quả học tập một cách công bằng, khách quan, điều đó giúp HS đánh giá đúng khả năng học tập của mình Nhờ có MVT mà kết quả học tập của HS được lưu lại trong các tệp số liệu, giúp GV có thể so sánh, đánh giá, nhận xét quá trình học tập của HS một cách nhanh chóng, chính xác
– Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học vật lý nói riêng, các thí
nghiệm tự động hoá có sự trợ giúp của MVT được thực hiện một cách nhanh chóng với độ chính xác cao; các số liệu thực nghiệm được xử lý, đánh giá và trình bày dưới dạng bảng biểu, đồ thị hay các tệp số liệu, có thể lưu trữ trên các thiết bị nhớ ngoài của MVT, điều đó giúp GV và HS dễ dàng trong việc khảo sát và xử lý thông tin
– Việc sử dụng MVT trong dạy học cũng làm thay đổi nội dung và phương pháp giảng dạy, các hình thức dạy học cũng từ đó mà được cải tiến, hoàn thiện
Trang 5theo hướng linh hoạt và phong phú hơn Các phương pháp dạy học tích cực cũng
có thể được hoàn thiện, bổ sung và sử dụng rộng rãi hơn khi có MVT, nhất là
phương pháp dạy học chương trình hoá; mô hình hoá
– MVT có một ưu điểm nổi trội khác là khi kết nối vào mạng máy tính, nó tạo điều kiện để tiến hành dạy học từ xa một cách thuận tiện và hiệu quả GV có thể điều khiển quá trình học tập cùng lúc cho nhiều học sinh ở nhiều địa điểm khác nhau, có thể rất xa nhau về mặt vị trí địa lý Cũng nhờ hệ thống mạng máy tính mà
GV, HS và các nhà quản lý giáo dục có thể cùng tham gia các cuộc thảo luận, có thể chia sẻ thông tin một cách nhanh chóng và thuận lợi nhất Ngoài ra, thông qua mạng internet, GV có thể cập nhật được những thông tin mới nhất liên quan đến nội dung dạy học để bổ sung, hoàn thiện bài giảng một cách có chất lượng
1.2 Những hạn chế cần lưu ý khắc phục
Như đã phân tích trên, việc sử dụng MVT trong dạy học có nhiều ưu điểm, tuy vậy nó cũng có những nhược điểm đáng lưu ý
– Thứ nhất, về mặt kích thước, màn hình MVT là khá nhỏ có thể gây khó
khăn cho việc quan sát của HS, nhất là đối với các lớp đông HS
Để khắc phục nhược điểm này, GV có thể thực hiện việc học tập với mạng máy tính, học theo từng nhóm nhỏ để các em dễ quan sát Một trong những biện pháp khắc phục thường được áp dụng ở nhiều trường học hiện nay là sử dụng thiết bị khuếch đại nối với MVT (Projector), chiếu dữ liệu trên màn hình của MVT lên màn ảnh rộng, nhờ đó những hạn chế về kích thước nhỏ của màn hình sẽ được khắc phục
– Thứ hai, việc học tập với MVT trong thời gian dài có thể làm hạn chế năng
lực giao tiếp xã hội của HS, vì HS chỉ im lặng trước MVT mà không có nhiều điều kiện để trao đổi thông tin bằng lời
Để khắc phục nhược điểm này, biện pháp tốt nhất là nên tổ chức cho HS học tập theo nhóm, thông qua nhóm học tập để HS có thể trao đổi, thảo luận GV cũng thường xuyên theo sát các nhóm HS để hướng dẫn, trao đổi vối HS
Trang 6– Thứ ba, để sử dụng MVT trong dạy học có hiệu quả, đòi hỏi người GV phải
có kiến thức nhất định về tin học Đây là một trong những khó khăn thuộc về lĩnh vực con người nên không thể giải quyết nhanh một sớm một chiều mà cần phải có thời gian và có những quyết sách từ phía các nhà quản lý giáo dục và sự năng động, tâm huyết của người GV
Để giải quyết vấn đề này, nên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức tin học định kỳ cho GV phổ thông Trong các trường sư phạm, cần phải đưa vào nội dung chương trình đào tạo những chương trình về tin học ứng dụng, nhất là các chương trình ứng dụng tin học vào phương pháp giảng dạy bộ môn
II MỘT SỐ CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA MÁY VI TÍNH CÓ THỂ ỨNG DỤNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
2.1 Sử dụng máy vi tính làm phương tiện nghe nhìn và lưu giữ thông tin
Tính năng nổi bật của MVT là khả năng lưu trữ thông tin rất lớn Các văn bản, hình ảnh tĩnh hoặc động, các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị … được lưu trên các thiết bị nhớ của MVT với một số lượng đáng kể Cùng với những phần mềm được cài sẵn, kho dữ liệu của MVT còn có thể cho phép biểu diễn các mô hình, các hiện tượng, các quá trình vật lí … GV và HS có thể truy cập rất nhanh tới kho dữ liệu này để lấy
ra những dữ liệu cần thiết, phục vụ cho việc dạy và học một cách nhanh chóng và chính xác Không những thế, GV và HS còn có thể đồng thời quan sát cùng một lúc một số lượng lớn các tranh ảnh minh hoạ cho một nội dung kiến thức vật lý cần nghiên cứu
Nhờ tính năng đồ họa phong phú và khả năng xử lí các kiểu dữ liệu khác nhau của MVT, có thể xây dựng các đoạn phim video clip dạy học, nhằm biểu diễn trực quan các hiện tượng, các quá trình vật lí Với các chương trình mô phỏng, minh hoạ trên MVT, học sinh có thể quan sát được các sự kiện, từ đó hiểu rõ bản chất vật lý của các hiện tượng, hiểu sâu hơn bản chất của các quá trình …
Như đã phân tích trong phần ưu điểm của MVT, so với các phương tiện trực quan truyền thống khác thì MVT có khả năng phối hợp đồng thời nhiều phương tiện nghe nhìn (văn bản, hình ảnh, âm thanh …) cũng như các khả năng khác như
Trang 7khả năng lặp lại một cách tùy ý, khả năng phóng to, thu nhỏ, chậm dần, nhanh dần các hiện tượng vật lý cần nghiên cứu
Đặc biệt, khi kết nối MVT vào hệ thống mạng internet thì khả năng tìm kiếm, lưu trữ thông tin càng phát huy mạnh mẽ, khả năng truyền dẫn thông tin của MVT cũng được ứng dụng một cách có hiệu quả, khả năng tương tác hai chiều MVT
được vận dụng một cách linh hoạt Đây chính là thế mạnh của MVT mà các PTDH truyền thống không có được khi sử dụng chúng trong quá trình dạy học
2.2 Sử dụng máy vi tính để thiết kế và biểu diễn các mô hình, thí
nghiệm
Trong những trường hợp không thể thực hiện được các thí nghiệm thực (các thí nghiệm mang tính nguy hiểm, diễn biến của các hiện tượng xảy ra rất nhanh hoặc rất chậm …) ngay trong giờ học thì với MVT, GV có thể sử dụng các phần mềm thiết kế để thiết kế các sơ đồ thí nghiệm, thực hiện các thí nghiệm ảo trên MVT để cho HS quan sát
Hiện nay, có rất nhiều phần mềm hỗ trợ công việc thiết kế mô hình, thí
nghiệm trên MVT, đó là các chương trình CAD (Computer Assisted Design)
Chương trình Or CAD hoặc Ar CAD hỗ trợ thiết kế các mạch điện tử; phần mềm Electronics Workbench cho phép lắp đặt các linh kiện, các đồng hồ đo vào mạch điện, khi cho mạch điện hoạt động trì trên màn hình hiển thị đường cong kết quả trên Ossiloscope; chương trình Auto CAD hỗ trợ thiết kế mô hình các chi tiết máy; hoặc Crocodile Physics cho phép thiết kế các thí nghiệm, mô hình trong vật lý …
2.3 Sử dụng máy vi tính để tự động hoá các thí nghiệm vật lí
Trong dạy học nói chung và dạy học vật lí nói riêng, việc nghiên cứu, cải tiến các thí nghiệm là một trong những nhiệm vụ quan trọng và phải được thực hiện một cách thường xuyên Với tính năng có thể xử lí các tín hiệu điện sau khi đã được
số hoá của MVT, ta có thể thiết kế các thí nghiệm vật lí nhờ sự trợ giúp của MVT Trong các thí nghiệm vật lí có sự hỗ trợ của MVT, thì MVT có thể đóng vai trò như một máy đo vạn năng, có thể dùng MVT để đo các đại lượng vật lí, tính toán các đại lượng vật lí liên quan khác thông qua các công thức toán học biểu diễn các định
Trang 8luật vật lí MVT cũng có thể được sử dụng như một dao động kí điện tử, để ghi lại các hình ảnh dao động
Một chức năng nổi trội khác của MVT là khả năng đo đạc một cách chính xác các đại lượng, đồng thời lưu trữ các số liệu đo trên đĩa từ của MVT và có thể biểu diễn các kết quả đo dưới dạng bảng biểu, đồ thị Đặc biệt, MVT có thể được sử dụng để viết các chương trình làm trơn số liệu, xử lí các sai số của phép đo sao cho kết quả thí nghiệm phù hợp tốt nhất với quy luật vật lí Thông qua các thí nghiệm
tự động hoá trên MVT, HS có thể từng bước làm quen với các hệ thống điều khiển
tự động đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong đời sống và trong các ngành
kĩ thuật
2.4 Sử dụng máy vi tính để tích hợp với các phương tiện dạy học hiện đại
Một tính năng rất quan trọng mà MVT có được là việc trao đổi thông tin qua MVT không chỉ được thực hiện thông qua các thiết bị đầu vào chuẩn như bàn phím, con chuột … mà còn có thể kết nối thông qua các cổng giao tiếp khác của MVT Việc
sử dụng các cổng nối tiếp, cổng song song, các khe cắm chuẩn trên bo mạch chủ của MVT thông qua các mạch giao tiếp (Interface Card) có thể kết nối MVT với các thiết bị ngoại vi Việc kết nối MVT với các thiết bị hiện đại khác sẽ nâng cao được khả năng khai thác những thế mạnh riêng của mỗi phương tiện, phối hợp các thế mạnh của mỗi phương tiện riêng rẽ thành một hệ thống hoàn chỉnh, khắc phục tốt những hạn chế của mỗi thiết bị Chẳng hạn, tổ hợp MVT với Camera thông qua bộ giao tiếp VideoKit cho phép khai thác khả năng quay phim của Camera, kết hợp với khả năng lưu trữ, xử lí hình ảnh, âm thanh của MVT để xây dựng các phim học tập hoặc trao đổi các tệp đồ hoạ trên MVT
Đặc biệt, trong hệ thống kết nối MVT với các phương tiện hiện đại khác, ta có thể khai thác tối đa khả năng điều khiển, truy cập, chọn lọc, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng Các hệ thống ghép nối thường đi kèm với một phần mềm điều khiển tương ứng, các phần mềm này có thể chạy trên môi trường hệ điều hành
MS – DOS hoặc hệ điều hành Windows, chúng có thể được xây dựng kèm theo thiết
bị ghép nối hoặc có thể do các nhà lập trình tạo nên theo yêu cầu sư phạm của GV
Trang 92.5 Sử dụng máy vi tính kết hợp với Multimedia
Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông, một phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều dạng truyền thông tin như văn bản, đồ hoạ và âm thanh cùng với sự gây ấn tượng bằng tương
tác Công nghệ đa phương tiện, nhờ khả năng nghe - nhìn (Audio-Video) đang được
ứng dụng ngày càng rộng rãi trong huấn luyện, giáo dục, trò chơi và tiếp thị trong thương mại Thông tin multimedia là thông tin được truyền đạt bằng các hệ thống truyền đa phương tiện, gọi tắt là thông tin multimedia và nó được thể hiện ở các
dạng sau: dạng văn bản (Text); dạng hình họa (Graphics); dạng hoạt
ảnh (Animation); dạng ảnh chụp (Image); dạng Video và Audio.
Việc nghiên cứu sử dụng MVT với Multimedia đã cho phép lưu trữ, xử lý, tìm kiếm và trao đổi một lượng lớn thông tin trong một điều kiện thuận lợi Nó còn cho phép mô phỏng, tái tạo, biểu diễn sự vật, hiện tượng, diễn tiến của các quá trình như là sự tích hợp các chức năng của các phương tiện dạy học cổ truyền khác và là một đặc thù riêng có của MVT Nó không những cho phép đảm bảo tính chân thực của các đối tượng nghiên cứu trước mắt người học, làm tăng niềm tin vào tri thức, kích thích hứng thú, tạo động cơ học tập trong quá trình dạy học, mà còn có tác dụng giáo dục toàn diện: phát triển tính tự lực sáng tạo, cá biệt hoá cao độ người học, phát triển tư duy logic, tư duy hình tượng, tối ưu hoá quá trình nhận thức và điều khiển quá trình nhận thức, góp phần giáo dục những phẩm chất, thái độ hành
vi đạo đức, những phản ứng tích cực trong việc tái tạo và cải tạo thế giới theo
hướng có lợi cho con người
Sự ra đời của Multimedia đã làm thay đổi diện mạo, vai trò của MVT với tư cách là công cụ trong dạy học nói chung và trong dạy học vật lý nói riêng
III VAI TRÒ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VẬT LÍ
3.1 Vai trò hỗ trợ của máy vi tính đối với các nhiệm vụ dạy học
3.1.1Truyền thụ tri thức, phát triển tư duy
Trang 10Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học vật lý nói riêng, có thể thấy ngay rằng, việc sử dụng MVT hợp lý sẽ giúp cho quá trình truyền thụ tri thức được thuận lợi và hiệu quả hơn, sự phát triển tư duy của HS cũng tốt hơn Điều này đạt được là nhờ vào khả năng khai thác và truyền thụ tri thức về các hiện tượng tự nhiên và xã hội của MVT dưới sự điều khiển của GV MVTcó thể mô phỏng và minh hoạ bằng hình vẽ các hiện tượng và các quá trình tự nhiên và xã hội…
Trong dạy học vật lý, MVT có thể giúp ta tiến hành các thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp và có thể được tiến hành một cách sinh động, đáp ứng mọi yêu cầu của quá trình dạy học MVT còn có mặt mạnh khác là có thể biểu diễn các hiện tượng và quá trình tự nhiên trong sự phối hợp với màu sắc, âm nhạc hoặc lời giải thích của giáo viên, do đó MVT có sức cuốn hút HS, có khả năng kích thích hứng thú học tập, đặt HS vào vị trí chủ thể của quá trình học tập Chính vì lý do này mà hiệu quả của bài giảng và chất lượng lĩnh hội tri thức của HS được nâng lên một cách đáng kể
Việc sử dụng MVT trong dạy học đã tạo ra cho GV có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển tư duy cho HS Với các hình ảnh, mô hình, hình vẽ hoặc các video clip
về các hiện tượng và quá trình tự nhiên, xã hội, GV có thể hình thành và rèn luyện cho HS cách quan sát, khả năng mô tả, diễn đạt và óc liên tưởng với những thí nghiệm được tiến hành nhờ sự hỗ trợ của MVT, ngoài khả năng phát triển các thao tác tư duy, GV còn có điều kiện để rèn luyện cho HS năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá và trừu tượng hoá
3.1.2Rèn luyện kỹ năng thực hành
Trong dạy học ở trường phổ thông, MVT không những được dùng làm
phương tiện biểu diễn mà nó còn có thể được dùng làm công cụ thực hành cho HS
Sử dụng MVT để xử lý thông tin, HS được rèn luyện các kỹ năng cơ bản, tư duy thuật toán, kĩ năng lập trình, Nhờ đó HS có khả năng thích ứng nhanh chóng với mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội có trang bị MVT Xét về mặt xã hội, việc sử dụng MVT làm PTDH trong nhà trường là một trong những biện pháp tích cực, đáp ứng yêu cầu chuẩn bị nguồn nhân lực có trình độ cho xã hội
3.1.3.Giáo dục nhân cách người lao động mới