Ghi hình TG có những giá trị to lớn trong chẩn đoán các bệnh TG, tuy nhiên nó vẫn còn những hạn chế nhất định như: nghiệm pháp chỉ giúp ta xác định một cách tương đối về chức năng TG, g
Trang 1- Các trường hợp đau cấp tính TG và các thể viêm TG
- Chẩn đoán phân biệt các u vùng cổ và trung thất, tuyến giáp lạc chỗ
Ghi hình TG có những giá trị to lớn trong chẩn đoán các bệnh TG, tuy nhiên nó
vẫn còn những hạn chế nhất định như: nghiệm pháp chỉ giúp ta xác định một cách
tương đối về chức năng TG, ghi hình với 131I và với 99mTc có thể cho những kết quả
không giống nhau
1.3.3 Dược chất phóng xạ
Các dược chất phóng xạ thường dùng trong ghi TG là 131I, 99mTc và 123I
- 131I: phát đồng thời tia gamma (năng lương: 360 kev) và tia beta, T1/2 khoảng 8 ngày
Dạng thường dùng là iodua natri (Na131I) ở dạng dung dịch hoặc viên nhộng Bệnh
nhân được uống hoặc tiêm tĩnh mạch với liều thông thường là từ 30 ữ 100 àCi Sau 24
giờ tiến hành ghi hình TG (cần kết hợp với đo độ tập trung 131I)
- 123I: là ĐVPX tốt nhất cho ghi hình tuyến giáp, phát tia gamma đơn thuần, năng
lượng 160 kev T1/2: 13 giờ Liều dùng: 200 ữ 400 àCi, tiêm tĩnh mạch hoặc uống
- 99mTc: phát tia gamma đơn thuần, năng lương: 140 kev, T1/2 = 6 giờ, dùng ở dạng
dung dịch, tiêm tĩnh mạch với liều khoảng 2 mCi Tiến hành ghi hình sau 30 phút
Ngoài ra có thể ghi hình khối u tuyến giáp với một số ĐVPX khác như: 67Ga,
201Tl
1.3.4 Thiết bị ghi hình:
chậm nhưng có ưu điểm là có kích thước đúng như thật (tỷ lệ 1:1)
được thời gian, ghi được toàn bộ cơ quan cần nghiên cứu, mà không cần di chuyển
đầu dò các đầu dò có độ phân giải cao, nên hình ảnh đẹp
• Ghi hình với máy SPECT (Single Photo Emission Computed Tomography: chụp cắt
lớp bằng đơn photon), PET (Positron Emission Tomography: Chụp cắt lớp bằng positron)
Hình 4.5: Tư thế bệnh nhân, vị trí và khoảng cách của detector với bao định hướng song song (Paralle hole collimator - hình bên trái) và với bao định hương hình chóp nón (Pinhole collimator - hình bên phải) để ghi hình và đo ĐTT tuyến giáp với Tc-99m
Trang 21.3.5 Đánh giá kết quả:
- Tuyến giáp bình thường có hình con bướm với 2 cánh xoè, bắt hoạt độ phóng xạ
đồng đều Thuỳ phải nhỉnh hơn thuỳ trái
- Tuyến giáp bình thường có diện tích ≤ 20 cm2, trẻ em 10 tuổi: 10cm2, trẻ em
14 tuổi: 14 cm2
- Những bất thường trên hình ghi nhấp nháy đồ (Scintigram) là:
+ Tuyến giáp phì đại, biến dạng 1 hoặc 2 thuỳ, eo tuyến nở rộng, khả năng bắt HĐPX cao, dạng này thường gặp ở những bệnh nhân cường giáp trạng
+ Các nhân "nóng" (hot nodule): là vùng tập trung DDDPX cao hơn tổ chức xung
quanh, thường là các adenom ưu năng
+ Nhân "độc": trên hình ghi chỉ thấy một nhân bắt HTPX cao bất thường, vì nhân hoạt
động quá mạnh gây tình trạng ưu năng tuyến giáp (nhân độc tự trị) ức chế tiền yên tiết
TSH nên phần tổ chức tuyến giáp lành xung quanh không còn hoạt động chức năng
Cả tuyến giáp chỉ lên hình sau khi bệnh nhân được tiêm TSH
+ Nhân lạnh (cold nodule): là vùng tập trung 131I ít hơn hẳn tổ chức xung quanh, tạo ra một vùng giảm hoặc khuyết HĐPX trên hình nhấp nháy Nhân lạnh có thể là
adenom thoái hoá, nang keo, viêm TG khu trú hay ung thư tuyến giáp (carcinoma)
Nhìn chung: trước một nhân lạnh đơn độc, không được quên nghĩ tới “carcinoma” TG
+ Trong suy giáp hoặc tuyến giáp lạc chỗ: trên hình ghi thấy HĐPX giảm rõ rệt hoặc tuyến giáp nhỏ
+ Các ổ di căn của carcinoma TG: Do các ổ di căn của ung thư tuyến giáp có thể tập trung đủ iốt phóng xạ và có thể ghi hình được, ngay cả khi u nguyên phát ở TG là
một nhân lạnh
Hình 4.6: Ghi hình tuyến giáp với máy
Gamma Camera
máy Scanner vạch thẳng)
Trang 3Hình 4.8: Tuyến giáp bình thường (bên trái); nhiều nhân nóng (bên phải) ghi hình bằng máy Scanner
Hình 4.9: Nhân nóng (hot nodule) thuỳ phải tuyến giáp (bên trái – ghi hình
Hình 4.10: Tuyến giáp phì đại ở bệnh nhân Basedow (bên trái); Nhân lạnh thuỳ phải tuyến giáp (bên phải)
Hình 4.11: Tuyến giáp phì đại ở bệnh nhân Basedow (bên trái);
Bướu giáp đa nhân phì
đại (bên phải)
Trang 4H×nh 4.12: TuyÕn gi¸p l¹c chç
(A: th¼ng; B: nghiªng).
th− tuyÕn gi¸p (ghi h×nh b»ng m¸y Scanner)
Trang 5Y học hạt nhân chẩn đoán
Cách đây gần 60 năm, các đồng vị phóng xạ (ĐVPX) đ được sử dụng cho mục
đích chẩn đoán và điều trị Hiện nay các nghiệm pháp chẩn đoán bệnh bằng ĐVPX
được chia thành 3 nhóm chính:
- Các nghiệm pháp thăm dò chức năng
- Ghi hình nhấp nháy các cơ quan, tổ chức hoặc toàn cơ thể
- Các nghiệm pháp in vitro (không phải đưa các ĐVPX vào cơ thể)
Nguyên tắc chung của chẩn đoán bệnh bằng đồng vị phóng xạ như sau:
Để đánh giá hoạt động chức năng của một cơ quan, phủ tạng nào đó ta cần đưa vào một loại ĐVPX hoặc một hợp chất có gắn ĐVPX thích hợp, chúng sẽ tập trung đặc
hiệu tại cơ quan cần khảo sát Theo dõi quá trình chuyển hoá, đường đi của ĐVPX này
ta có thể đánh giá tình trạng chức năng của cơ quan, phủ tạng cần nghiên cứu qua việc
đo hoạt độ phóng xạ ở các cơ quan này nhờ các ống đếm đặt ngoài cơ thể tương ứng
với cơ quan cần khảo sát Ví dụ người ta cho bệnh nhân uống 131I rồi sau những
khoảng thời gian nhất định đo hoạt độ phóng xạ ở vùng cổ bệnh nhân, từ đó có thể
đánh giá được tình trạng chức năng của tuyến giáp
Để ghi hình nhấp nháy (xạ hình) các cơ quan người ta phải đưa các ĐVPX vào cơ
thể người bệnh Xạ hình (Scintigraphy) là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố của
phóng xạ ở bên trong các phủ tạng bằng cách đo hoạt độ phóng xạ của chúng từ bên
ngoài cơ thể Phương pháp xạ hình được tiến hành qua hai bước:
- Đưa dược chất phóng xạ (DCPX) vào cơ thể và DCPX đó phải tập trung được ở những mô,
cơ quan định nghiên cứu và phải được lưu giữ ở đó một thời gian đủ dài
- Sự phân bố trong không gian của DCPX sẽ được ghi thành hình ảnh Hình ảnh này
được gọi là xạ hình đồ, hình ghi nhấp nháy (Scintigram, Scanogram, Scan)
Xạ hình không chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn thuần về hình thái mà
nó còn giúp ta hiểu và đánh giá được chức năng của cơ quan, phủ tạng và một số biến
đổi bệnh lí khác
Để ghi hình các cơ quan, có thể sử dụng 2 loại máy xạ hình: xạ hình với máy có
đầu dò (detector) di động (hay còn gọi là máy Scanner) và xạ hình với máy có đầu dò
không di động (Gamma Camera) Với các máy Scanner, người ta căn cứ vào độ mau
thưa của vạch ghi và sự khác nhau của màu sắc để có thể nhận định được các vùng, các
vị trí phân bố nhiều hoặc ít phóng xạ Đối với các máy Gamma Camera do có đầu dò
lớn, bao quát được một vùng rộng lớn của cơ thể nên có thể ghi đồng thời hoạt độ
phóng xạ của toàn phủ tạng cần nghiên cứu, không phải ghi dần dần từng đoạn như với
máy Scanner (đầu dò di động) Việc ghi hình lại được thực hiện với các thiết bị điện tử
nên nhanh hơn ghi hình bằng máy cơ của các máy xạ hình (Scanner)
Hiện nay, ngoài Gamma Camera, SPECT, người ta còn dùng kỹ thuật PET (Positron Emission Tomography) để ghi hình