thế dẫn tới việc hình thành thế giới quan tôn giáo trong bộ phận sinh viênnày.Vì nhưng vẫn đề về lý luân và thực tiễn trên đòi hỏi việc đẩy mạnh,nâng cao vai trò giáo dục thế giới quan k
Trang 1GIÁO TRÌNH
Thế giới quan duy vật biện chứng đối với sinh viên học viện báo chí và
tuyên truyền
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỘT 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ và mục đích 3.1 Mục đích 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng 3
4.2 Phạm vi 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
5.1 Cơ sở lý luận 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 4
7 Kết cấu của tiểu luận 4
PHẦN HAI 5
1.1.1 Các khái niệm liên quan 5
1.1.1.1 Thế giới quan 5
a Khái niệm về thế giới quan 5
b Các vẫn đề lớn của thế giới quan 9
c Các loại hình thế giới quan 10
d Vai trò của thế giới quan 11
1.2.1.Giáo dục thế giới quan duy vật biên chứng 13
1.2.2.1 Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng góp phần xây dựng lý tư tưởng cao đẹp, đạo đức lối sống lành mạnh cho sinh viên 16
1.2.2.2 Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng góp phần rèn luyện tư duy khoa học nhằm khắc phục những tư tưởng duy tâm 16
1.2.2.3 Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng nhằm giúp sinh viên nhận thức được trách nhiệm của sinh viên đối với đất nước 17
1.2.2.4 Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng nhằm giúp cho sinh viên nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan 17
1.3 Thực trạng và sự cần thiết phải nâng cao vai trò của công tác giáo dục thế giới quan khoa học ở nước ta hiện nay 18
1.3.1 Thực trạng giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng ở nước ta hiện nay 18
1.3.2 Sự cần thiết phải nâng cao vai trò của giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng 19
2.1 Những yếu tố tác động đến công tác giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền 19
2.1.1 Đặc điểm chung của Học viện Báo chí và Tuyên truyền 19
2.1.2 Đặc điểm của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên tuyền 21
2.2 Thực trạng công tác giáo dục thế giới quan khoa học ở Học viện Báo chí và Tuyên tuyền trong những năm qua 22
2.2.1 Thành tựu và hạn chế 22
2.2.1.1 Thành tựu 22
2.2.1.2 Hạn chế 22
Trang 32.2.2 Những vẫn đề đặt ra về giáo dục thế giới quan khoa học cho sinh
viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay 23
2.2.1 Bất cập về nội dung giáo dục trong nhà trường và ngoài xã hội 23
2.2.2 Cơ sở vật chất kỷ thuật còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu dạy và học 23
2.2.3 Môi trường học tập và nhu cầu cụ thể 24
3.1 Phương hướng 24
3.2 Giải pháp 25
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho lãnh đạo nhà trường về tầm quan trọng 25
3.2.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng có chất lượng cao 26
3.2.3 Đổi mới công tác tác giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên 26
3.2.4 Nâng cao ý thức tự giáo dục của sinh viên 26
3.2.5 Tạo lập các điều kiện cho các hoạt động giáo dục có hiệu quả 27
PHẦN BA 27
MỤC LỤC 29
Trang 4PHẦN MỘT
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay nước ta đang trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,Đảng cộng sản Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa- hiện đạihóa, định hướng Xã hội Chủ nghĩa Đảng ta nhận thức một điều rằng cầnthiết phải tập hợp mọi nguồn lực để phát triển đất nước và một phần khôngthể thiếu đó là thế hệ trẻ đó chính là thành phần quyết định đến sự thànhcông của sự nghiệp cách mạng của nước ta Nên cần thiết phải giáo dục chothế hệ trẻ một thế giới quan duy vật biện chứng dẫn lối và soi đường
Hoạt động văn hóa tư tưởng là một lĩnh vực “nóng” trong giai đoạnhiện nay đây là lĩnh vực mà các thế lực thù địch đã và đang thực hiện nhiềuhành động chống phá Mà vai trò của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyêntruyền họ chính là đội ngũ cán bộ xung kích trên mặt trân văn hóa tư tưởngtrong tương lai của Đảng đáp ứng nhu cầu của Đảng về chống hoạt động
“diễn biến hòa bình” trên mặt trận văn hóa tư tưởng trong giai đoan hiện nay
Có một sự thật là một số lượng sinh viên không nhỏ của cả hai khối lýluận và khối nghiệp vụ rất mơ hồ và ái ngại khi được hỏi về thế giới quan làgì? Thế giới quan duy vật biện chứng là gì? Nhân tố hình thành thế giới quanduy vật biện chứng là gì? Đây là một thực trạng cực kỳ nguy hiểm về mặttrình độ lý luận, kiến thức về chủ nghĩa Mác-Lênin của những sinh viên này.Đây chính là một điều ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của sinh viênlúc ra trường
Không những thế mặc dù là sinh viên một trường Đảng nhưng thực tếcho thấy có một bộ phân sinh viên có hiện tượng mơ hồ về chính trị, xuốngcấp về đạo đức cá nhân, và hơn nữa sinh viên còn chịu tác động của mặt tráicủa cơ chế thị trường đã và đang tác động đến sinh viên làm nảy sinh lốisống thực dụng trong sinh viên, chạy theo đồng tiền Không những thế cònxuất hiện những biểu hiện của sự cầu may, có niềm tin tôn giáo điều này có
Trang 5thế dẫn tới việc hình thành thế giới quan tôn giáo trong bộ phận sinh viênnày.
Vì nhưng vẫn đề về lý luân và thực tiễn trên đòi hỏi việc đẩy mạnh,nâng cao vai trò giáo dục thế giới quan khoa học trong sinh viên của Họcviện Báo chí và Tuyên truyền là một điều cần thiết và cấp bách, thiết thựchiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu
- Nguyễn Trọng Chuẩn, “Một số khía cạnh về vai trò của sinh học hiệnđại đối với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa học”, Tạp chí Triếthọc 1988, số
- Trần Thước, “Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớptrí thức Việt Nam”, Luận án PTS Triết học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh,1993
- Trần Thanh Hà, “Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán bộđảng viên người dân tộc Khơme ở Đồng bằng sông Cửu Long trong giaiđoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia HồChí Minh, 1993
- Tùy Phong, “Vẫn đề giáo dục thế giới quan và việc hình thành thế giớiquan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Hà Nội”, Tạp chí Triết học 2002, số
8
Nghiên cứu về thế giới quan và công tác giáo dục thế giới quan đã vàđang được nhiều tác giả nghiên cứu và các công trình nghiên cứu trên chủyếu đề cập đến các vấn đề như:
- Khái niệm thế giới quan nói chung, thế giới quan khoa học nói riêng,cấu trúc và chức năng của chúng
- Tầm quan trọng và tính tất yếu của việc xây dựng thế giới quan duyvật biện chứng trong quá trình xây dựng CNXH
- Những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hình thành thếgiới quan duy vật biện chứng Những nguyên tắc phương pháp luận chung
Trang 6trong việc xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho nhân dân trongthời kỳ quá độ lên CNXH.
- Đưa một số giải pháp cụ thể và những quan điểm nhằm bồi dưỡng vàphát triển thế giới quan duy vật biện chứng cho một số đối tượng cụ thể ởnhững nước vốn lạc hậu về kinh tế - xã hội thực hiện quá độ lên CNXH
- Việc hình thành thế giới quan cho sinh viên là một điều cần thiết.Riêng vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viêntrường Học viện Báo chí và Tuyên truyền thì chưa thấy có tác giả nào đề cậpđến, và vì đây sẽ là lực lượng kế cận trong tương lai về công tác lý luận vàcông tác tư tưởng của Đảng trong tương lai vì những lý do trên mà tôi lựachọn đề tài “Nâng cao vai trò của công tác giáo dục thề giới quan duy vậtbiện chứng cho sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền hiện nay” để làbài tiểu luận hết môn
3 Nhiệm vụ và mục đích.
3.1 Mục đích.
Từ việc nêu lên vai trò của công tác giáo dục thế giới quan duy vật biệnchứng và giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng ở nước ta, đồng thờiphân tích thực trạng giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng ở Học việnBáo chí và Tuyên tuyên hiện nay, qua đó cũng nêu lên những phương hướng
và giải pháp để nâng cao hiêu qua của công tác giáo dục thế giới quan duyvật biện chứng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Trang 75.2 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp cụ thể: Trong quá trình viết về đề tài này tôi đã sửdụng các phương pháp: lôgic; phân tích ; tổng hợp ; bình luận ; và sử dụngcác kiến thức của chính trị học-quản lý văn hóa tư tưởng ; phương pháp quansát xã hội, phương pháp lịch sử
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Tiểu luận nhằm mục đích nâng cao hiệu quả vai trò của công tác giáodục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên Học viện Báo chí vàTuyên truyền
- Đây còn là tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành chính trịhọc – Quản lý văn hóa tư tưởng
7 Kết cấu của tiểu luận.
Kết cấu của tiểu luận gồm có 4 phần chính: phần một là phần mở đầu,phân hai là nội dung, phần ba là kết bài, phần bốn là phụ lục và danh mục tàiliệu tham khảo Trong đó phần hai nội dung gồm có 3 chương
Trang 8PHẦN HAI CHƯƠNG MỘT: CÔNG TÁC GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1.1 Công tác giáo dục thế giới quan
1.1.1 Các khái niệm liên quan.
1.1.1.1 Thế giới quan
a Khái niệm về thế giới quan.
Thế giới là gì? Và nó ra đời từ đâu? Tồn tại như thế nào? Đây là vẫn đề
mà được rất nhiều triết gia quan tâm và bàn luận, đồng thời cũng đã đưa ranhiều giả thuyết
Con người ra đời từ đâu? Con người tồn tại như thế nào? Con ngườisống, tồn tại vì cái gì? Vì những câu hỏi đó đã tạo định hướng cho nhưng giátrị cuộc sống của con người Để trả lời cho những câu hỏi đó đã có nhiềuquan điểm khác nhau, đầu tiên là quan điểm của các tôn giáo Thiên chúagiáo cho rằng con người ra đời là ý chí chủ quan của Đức Chúa Trời và tạodựng nên muôn loại cả hư không Trong Kinh Cựu ước kể lại rằng ThiênChúa tạo dựng trời đất muôn vật trong sáu ngày Ngày thứ nhất Thiên Chúatạo ra sự sáng và tối, đặt tên cho sự sáng là ngày, sự tối là đêm; ngày thứ haiThiên Chúa tạo ra không gian và gọi là trời; ngày thứ ba Thiên Chúa tao rađất, nước, cây cỏ; ngày thứ tư Thiên chúa tạo ra các tinh trên trời và lấy đó là
cơ sở để phân chia thành ngày và đêm, năm và tháng, thời tiết bốn mùa…Trong đó, có hai vi tinh tú lớn nhất là mặt trời cai trị vũ trụ ban ngày, mặttrăng cai trị vũ trụ vào ban đêm; ngày thứ năm Thiên chúa tao nên muôn vật,như: chim, cá, muông thú…; ngày thứ sáu Thiên Chúa tao nên con người;ngày thứ bảy khi hoàn thành công việc sáng tạo thế giới của mình, ThiênChúa nghỉ ( còn gọi là ngày Chúa nhật hay chủ nhật)
Trong Nho giáo cho rằng sự ra đời của con người là do “trời”, “trời”
sinh ra mọi thứ và những chuyện xảy ra trong mỗi của đời của con người đều
Trang 9do ý trời đã định sẵn hay còn gọi là “mệnh trời” “mệnh trời” là sự quy định trật tự trong mỗi con người “Mệnh trời” là ý chí của “trời” không cãi lại,
không cưỡng lại được và chỉ có đợi
Nhưng quan niệm về sự ra đời thế giới và sự ra đời của con người màThiên Chúa giáo hay Nho giáo đưa ra đều là những quan niệm duy tâm vàkhông có cơ sở khoa học nó chỉ làm cho con người tin vào một đấng siêunhiên có quyền năng vô hạn nhưng chưa luận giải được mỗi quan hệ giưacon người với cuộc sống và hoàn cảnh tự nhiên xã hội làm gì để tác động trởlại hoàn cảnh
Vẫn đề cơ bản của thế giới quan lần đầu tiên được các nhà triết học cổđiển Đức nghiên cứu và họ đã đi đến một quan niệm thống nhất rằng thế giớiquan không phải là một “bức tranh” trực quan tĩnh tại về thế giới, hoặc nhưmột kiến thức của cuộc sống tinh thần nói chung Thế giới quan phát sinh từ
ý thức con người và được phản ánh ra thực tại cuộc sống con người, sự phảnánh đó là sự phản ánh khách quan tư duy, nhận thức, kinh nghiệm và lý luận,cảm xúc của con người và các giá trị tri thức, động cơ… Có thể nói rằng,trong khi vẫn bảo tồn bản chất riêng cùng các thuộc tính và phẩm chất của ýthức, thế giới quan đồng thời là hình thái “đông kết”, “rút gọn” của ý thức
Nó vừa là kết quả, vừa là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của một chủthể xã hội nhất định, một nhân cách văn hóa nhất định của chủ thể ấy trongthời gian và không gian nhất định của chủ thể ấy trong thời gian và khônggian xã hội hiện thực tương ứng của nó Cơ sở của thế giới quan không phải
là tính tổ chức, tính hệ thống độc lập, tư thân thần bí hay ngẫu nhiên của conngười và xã hội Cơ sở đó chính là tính thống nhất hiện thực khách quan củađời sống xã hội Điều này có nghĩa là, mỗi cá nhân tầng lớp giai cấp hay dântộc hay xã hội trong một không gian, thời gian nhất định nào đó đều có mộtbản chất nhất định tương ứng của nó Bản chất này là hiện thực và kháchquan; nó phản ánh không phải bởi toàn bộ đời sống tinh thần, ý thức nóichung, cũng không phải bởi bất kỳ một nội dung, phương thức, hình thứcnào đó trong toàn bộ đời sống tinh thần, ý thức ấy Bản chất đó được phản
Trang 10ánh một cách tương ứng bởi, và chỉ có duy nhất bởi, một cấu thể, một nhân
tố dặc biệt trong hệ thống - cấu trúc tinh thần, ý thức nói chung: đó chính làthế giới quan
Thế giới quan là hệ thống quan điểm của con người về thế giới
Theo từ điển tiếng Việt thế giới quan: thế giới quan là quan niệm hệthống thế giới về hiện tượng tự nhiên và xã hội Như vậy với khái niệm nàythì nó còn có một số hạn chế như: chưa nói tới con người mà trong khi conngười là chủ thể sáng tạo ra những giá trị về vật chất và tinh thần trên thếgiới, là đối tượng nhận thức thế giới; chưa định hướng giá trị của con người;chưa đề cập tới nguyên tác, phương pháp luận để nhận thức và cải tạo thếgiới
Thế giới quan là thế giới quan là hệ thống quan điểm của con người vềthế giới (về tư nhiên, xã hội và quy luật phát triển của chúng) thể hiện thái độcủa con người với đối tượng xung quanh
Với khái niệm này thì đã nhẫn mạnh được quy luật vận động và pháttriển của thế giới Điều quan trong hơn là khái niệm này đã thừa nhận vai trònhận thức của con người qua thái độ của con người đối với những đối tươngxung quanh con người
Nhưng ở khái niệm này thì vẫn còn hạn chế đó là chưa nêu ra đượcnguyên tắc nhận thức và nhận thức luận và hoạt động thực tiễn
Từ điển triết học Liên Xô đã đưa ra khái niệm về thế giới quan như sau:
“Thế giới quan là một tổng hợp các quan niệm về thế giới quan và vị trí củacon người trong thế giới đó, là hệ thống quan niệm về các giá trị cơ bản,nhưng chuẩn mực, nguyên tắc tồn tại của con người trong xã hội”
Từ những định nghĩa trên ta có thế đi đến một định nghĩa tổng quan nhưsau: “thế giới quan là hệ thống quan niệm mang tầm khái quát đối với thếgiới quan và vị trí của con người trong thế giới đó, là hệ thống những quanniệm về quan hệ của con người đối với thực trạng xung quanh và với bảnthân con người cùng lập trường sống của họ được quy định bởi những quy
Trang 11định đó, là niềm tin, nguyên tắc nhận thức và hành động những định hướnggiá trị”.
Chủ thể của thế giới quan, chủ thể này có nhữnh cấp độ khác nhau ( của
cá nhân; nhóm người; công đồng; giai cấp; dân tộc; nhân loại) luôn quán triệtmỗi quan hệ giưa cái chung và cái riêng
Thế giới quan cũng là vẫn đề không ngừng vận động và phát triển.Nhận thức của con người về thế giới quan là luôn luôn thay đổi nó khôngđứng yên do sự phát triển của hiện thực mà thế giới quan phản ánh
Thế giới quan phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể và trình độ pháttriển kinh tế - xã hội và trình độ phát triển của khoa học công nghệ Trongthời kỳ cổ đại do nhận thức còn hạn chế và không có phương tiện khoa họccông nghệ chưa phát triển nên nhận thức của con người trong giai đoạn nàyphải dựa và những quan niệm tôn giáo để giải thích sự có mặt của con người
từ đâu mà có trên thế giới này và nhận thức về thế giới Nhưng đến thế kỷXVIII-XIX khi mà khoa học kỷ thuật phát triển thì nhờ những phương tiện
đó mà con người giải thích được sự ra đời của con người là từ đâu, thế giớinày từ đâu mà có Và thế giới quan còn bị chi phối bởi lợi ích giai cấp nó bịảnh hưởng từ hệ tư tưởng lập trường của giai cấp cầm quyền trong xã hội đó.Các bộ phận cấu thành thế giới quan gồm có:
Tri thức: là khái niệm cơ bản dùng để chỉ mọi hiểu biết của con người
về tự nhiên, xã hội và vể bản thân con người Tri thức gồm có tri thức về lýluận và tri thức kinh nghiệm Tri thức lý luận là cơ bản, quan trọng nhất vì
nó khái quát được tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của sự vật điềunày mang tính dự báo, niềm tin, lý tưởng, sức sống của con người Tri thứckinh nghiệm là những điều được đúc rút từ hoạt động thực tiễn để hình thànhnên
Niềm tin: là khái niệm dùng để chỉ một trạng thái tư tưỏng cho rằng cái
gì đó nhất định sẽ xoáy vào, sẽ đến, sẽ đạt được Niềm tin mà dựa trên cơ
sở khoa học sẽ đảm bảo được tính chính xác, khoa học và nó tạo động lựccho con người phát triển, biến niềm tin thành hiện thực Niềm tin mù quáng
Trang 12nó là cho con người mê muội dẫn tới hành động sai trái, dẫn tới những ý chíchủ quan, duy tâm, biến những hành động đó hủy hoại thực tiễn cuộc sống.
Lý tưởng: là khái niệm dùng để chỉ mục đích cao cả, khát vọng cao đẹp
mà người ta hướng tới Đem lại cho con người niềm tin hi vọng dẫn tới sựthống nhất giữa khách quan và chủ quan Sự phát triển của xã hội là sự thốngnhất giữa khách quan và chủ quan nó tạo sự thống nhất thuyết phục của conngười
b Các vẫn đề lớn của thế giới quan.
Thế giới quan là một chỉnh thể luận điểm có trật tự, tổng hợp, có tính hệthống, phức hợp cả nhân tố lý tính, cảm nhận, cảm xúc và thấu hiểu thế giới,con người, những luận điểm sống tích cực cho con người
Thế giới quan bao gồm những thành phần cơ bản sau được liên kếtthành một tổng thể mạch lạc, thống nhất:
Hệ thống tri thức về thế giới Để trả lời được thế giới quan dựa trên mọithành tựu đạt được, được xác thực của khoa học
Câu hỏi về bản thể học: Thế giới là gì? Những gì đang diễn ra trên thế
giới này? Bản chất thế giới này là gì? Thế giới được hình thành và vận động
ra sao? Thành phần và hình thức tồn tại của nó như thế nào?
Câu hỏi về giải thích nguồn gốc: Tại sao thế giới lại vận động theo
cách này mà không theo cách khác? Thế giới và ta tuân theo các nguyên lýphổ quát nào?
Câu hỏi về Nhận thức luận: về tri thức, cảm xúc của con người về thế
giới và vị trí của mình trong đó Kiến thức là gì? Chân lý là gì? Có chân lýkhách quan, tuyệt đối không? Chúng ta sẽ xây dựng hình ảnh thế giới củamình như thế nào? Một vị trí như thế nào trong thế giới thuộc về con người?Mối quan hệ của con người với thế giới ra sao?, Con người có những lýtưởng nào?, Đặc thù của ý thức và cảm xúc của con người ở chỗ nào?
Câu hỏi về giá trị/ luân lý học: Quan điểm, tư tưởng thông thái về giá
trị, về nguyên tắc sống, các định hướng mục đích và các chuẩn mực phối hợpcủa đạo đức, pháp luật và thẩm mỹ Đó là nhân tố có ý nghĩa lớn lao trong
Trang 13việc giải quyết phần lớn những vấn đề và nhiệm vụ chủ yếu của đời người.Tại sao chúng ta cảm nhận thế giới theo cách này? Những giá trị và mục đíchchúng ta theo đuổi là gì? Thiện/ ác là thế nào? Chúng ta đánh giá thực tế toàncầu và vai trò của loài người ở đó như thế nào? Con người đã đặt ra chomình những mục đích sống và các phương tiện để thực hiện mục đích nhưthế nào? Liệu nó có tuân theo những quy luật phát triển khách quan của thếgiới, những nhu cầu, lợi ích và khả năng khách quan của họ không?
Câu hỏi về dự đoán tương lai: Tương lai nào mở ra cho mỗi người và
cả loài người? Chúng ta sẽ chọn các tương lai có thể bằng các tiêu chí nào?Bằng cách nào họ thể hiện được sự thống nhất giữa con người và thế giới, đãhiểu được những triển vọng của mình, tin tưởng vào bản thân mình, vàotương lai của nhân loại?
Câu hỏi về hành động: Chúng ta sẽ phải hành động như thế nào? Theo
các cách khác nhau chúng ta có thể ảnh hướng tới thế giới và biến đổi nó nhưthế nào? Chúng ta nên sắp xếp các hành động của mình theo nguyên tắc nào?
c Các loại hình thế giới quan.
Có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu về thế giới quan Nếu xét theoquá trình phát triển thì có thể chia thế giới quan thành các loại hình cơ bản :thế giới quan huyền thọai ; thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học.Thế giới quan huyền thoại là phương thức cảm nhận thế giới của conngười nguyên thủy Ở thời kỳ này, các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí vàtín ngưỡng , hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần bí và conngười, v.v của con người hòa quyện và nhau thể hiện quan niệm về thế giới.Thế giới quan tôn giáo, niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu ; tínngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cả cái thực, cái thần vượt trôi cái người.Khác với thế giới quan huyền thoại và giáo lý của tôn giáo, triết họcdiễn tả quan niệm của con người dưới dạng hệ thống các phạm trù, quy luậtđóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới Với ýnghĩa như vậy, triết học được coi như là trình độ tư giác trong quá trình hìnhthành và phát triển thế giới quan Nếu như thế giới quan được hình thành tư
Trang 14toàn bộ tri thức của các khoa học cụ thể là cơ sở trực tiếp cho sự hình thànhnhưng quan niệm thống nhất định hướng về từng mặt, từng bộ phận của thếgiới, thì triết học với các phương thức tư duy đặc thù đã tạo nên hệ thống lýluận bao gồm những quan niệm chung nhất về thế giới với tư cách là mộtchỉnh thể Như vậy, triết học là hạt nhât lý luận của thế giới quan ; triết họcgiữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan củamỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử xã hội nhất định.
Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, là chothế giới phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinhnghiệm thực tiễn và trì thức khoa học đưa lại Đó là là chức năng chung củatriết học
Các trường phái triết học khác nhau diễn tả thế giới quan theo quanniệm khác nhau, đối lập nhau bằng lý luận ; đó là các thế giới quan triết học,phân biệt với thế giới quan thông thường
Thế giới quan khoa học là hình thái cao nhất trong sự phát triển của thếgiới quan khác nhau đã và đang tồn tại trong các nên văn hóa và văn minhtinh thần nhân loại Thế giới quan khoa học bao hàm trong triết học duy vậtbiên chứng như là hạt nhân của mình
d Vai trò của thế giới quan.
Thế giới quan đóng vai trò nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữvai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân Nó đồng thờicũng thể hiện lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm
xã hội Mỗi cá nhân cũng luôn mong muốn tiếp nhận những thế giới quankhác, làm phong phú thế giới quan cho mình, góp phần điều chỉnh địnhhướng cuộc sống
Xuất phát từ lập trường, biện giải thế giới quan đúng đắn, con người cóthể có được những cách giải quyết vấn đề đúng đắn do cuộc sống đặt ra.Ngược lại, xuất phát từ lập trường sai lầm, con người khó có thể tránh khỏihành động sai lầm
Trang 15Khi giải quyết những vấn đề cụ thể của thực tiễn, sớm muộn người tavấp phải những vấn đề chung, cần đến sự đóng góp của thế giới quan làm cơ
sở định hướng giải quyết vấn đề cụ thể “Một tập hợp những sự kiện mớicàng rối rắm bao nhiêu, các tư tưởng mới càng nhiều hình nhiều vẻ baonhiêu thì nhu cầu phải có một thế giới quan liên kết lại càng cảm thấy trở nênbức thiết bấy nhiêu” (M Plank)
Ban đầu, mỗi cá nhân phát triển tinh thần đến một mức độ nào đó đềutìm cách trả lời các câu hỏi triết lý riêng của mình một cách tự phát, nghiệp
dư Đó là dấu hiệu “triết gia” ở mức độ nào đó (thậm chí họ không biết cảđến từ “triết học” hay “thế giới quan”) Dần dần, do động chạm đến nhữngvấn đề quan tâm nhất của con người, xã hội, nhân loại mà xuất hiện nhiềungười có phẩm chất vĩ đại, say mê sáng tạo những học thuyết và hệ thống thếgiới quan đồ sộ, sâu sắc, độc đáo và phổ quát một cách thức hết sức chuyênnghiệp Họ được gọi là triết gia hay là những người theo đuổi sự khônngoan Họ là những người để lại những quan điểm mang dấu ấn lớn, đánhthức sợi dây tâm hồn của nhiều thế hệ tiếp theo.Tuy nhiên, việc chuyên môn hóa xây dựng thế giới quan cũng có nhượcđiểm Nó làm gia tăng khoảng cách giữa nhà chuyên môn - triết gia vớingười bình thường Do vậy, do sự biến đổi nhanh và thay đổi mặt bằng triết
lý chung, công chúng đã bị cách triết gia gạt khỏi đối tượng truyền đạt dẫntới có sự xa cách, khó hiểu cho đại chúng Vì vậy, xã hội và mỗi người cầnquan tâm xây dựng và phổ biến một thế giới quan đúng đắn Điều này sẽmang một ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cho mỗi người trở thành thực thể
tự do và sáng tạo thực sự, nhân văn thực sự
1.1.1.2.Thế giới quan khoa học.
Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống chỉnh thể những tri thức
về tự nhiên xã hội và con người, cùng những định hướng giá trị của conngười trong quan hệ với hiện thực dựa trên việc giải quyết một cách duy vậtbiện chứng vẫn đề cơ bản của triết học
Trang 16Thế giới quan duy vật biện chứng mang tính cách mạng triệt để Nókiên quyết phê phán và khắc phục mọi thế giới quan sai lầm từ đó tạo racuộc cách mạng về thế giới quan (cách mạng trong tư tưởng) Kiên quyếtphê phán bằng thực tiễn để thực hiện cách mạng hóa trong hiện thực nhờ vậythúc đẩy hiện thực đi lên Đó là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn xemtrọng thực tiễn trong vai trò của thế giới quan.
Mang trong mình chủ nghĩa lạc quan lịch sử Nó làm rõ quy luật tiếnhóa của mọi sự vật nói chung Quy luật tồn tại khách quan với ý muốn củacon người Quy luật mọi sự vật đều không ngừng phát triển mang tính kháchquan
1.2.Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của giáo dục thế giới quan ở nước ta hiện nay.
1.2.1.Giáo dục thế giới quan duy vật biên chứng
Giáo dục thế giới quan là dưa trên nhưng cơ sở khách quan và chủquan, xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho con người được thựchiện theo các con đường:
Con đường gian tiếp: là con đường không tác động thẳng vào môi
trường xã hội và các quan hệ xã hội, trong đó quá trình hình thành thế giớiquan của con người đang diễn ra Nó bao gồm việc: đẩy mạnh quá trình xâydựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong đó luôn chú ý bảo đảmmỗi quan hệ sản xuất theo lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa với hoàn thiệntừng bước quan hệ sản xuất mới Đây chính là cơ sở “lịch sử tư nhiên” đíchthức, đây đủ cuối cùng bảo đảm chắc chắn cho thế giới quan khoa học đượchình thành một cách khách quan, tất yếu Đồng thời, cần tiến hành việc xáclập và khẳng định một cách chính thức, chính thống và củng cố, hoàn thiệntoàn bộ kiến trúc thượng tầng chính trị- tư tưởng xã hội chủ nghĩa nói chung,các thể chế Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa nói riêng Kiến trúc thượngtầng, tuy không phải là một lược lượng kinh tê - kỷ thuật trực tiếp, nhưng cótác động tích cực và quan trọng ỏ chỗ, một mặt nó tạo ra “vành đai an toàn”bảo đảm cho phương thức sản xuất mới phát triển ổn định và vững chắc;