+ Bước 3,Thực hiện các hợp đồng quản lý: CTCK thực hiện đầu tư vốn uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải bảo đảm tuân thủ các quy định về quản lý vốn, tài sản
Trang 1nhiêu tiền càng tốt từ đợt bán này mặt khác, người quản lý muốn định giá sao cho có thể bán được và bán càng nhiêu càng tốt Nếu giá cao quá công chúng sẽ không muốn mua nữa, nếu thấp quá thì chứng khoán sẽ mau chóng chuyên nên
giá cao hơn ở thị trường thứ cấp và người phát hành sẽ bị thiệt
Thông thường, việc định giá một cổ phiếu tuỳ thuộc vào việc định lượng nhiều
yếu tố: Lợi nhuận của Công ty, dự kiến lợi tức cỗ phần, số lượng cổ phiếu chào bán, tỷ lệ giá cả-lợi tức so với những Công ty tương tự và tình hình thị trường lúc chào bán
+ Ký hợp đồng Bảo lãnh Sau khi nghiệp đoàn được thành lập xong, đồng thời tiến hành một số công việc
như phân tích định giá chứng khoán, chuẩn bị cho đợt phân phối chứng khoán nghiệp đoàn Bảo lãnh sẽ ký một hợp đồng với Công ty phát hành, trong đó xác định: Phương thức Bảo lãnh, phương thức thanh toán và khối lượng Bảo lãnh phát hành
+ Đăng ký phát hành chứng khoán (Nộp đơn xin Bảo lãnh và Bản cáo bạch) Sau khi ký hợp đồng Bảo lãnh, nghiệp đoàn phải trình lên cơ quan quản lý đơn xin đăng ký phát hành cùng một Bản cáo bạch thị trường, có đây đủ chữ ký của đơn vị phát hành, Công ty Bảo lãnh, Công ty luật Bản cáo bach là thông báo cua
tố chức phát hành trình bày tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và kế hoạch sử dụng số tiền thu được từ việc phát hành giúp công chúng đánh giá và
đưa ra quyết định mua chứng khoán
Thường thì cơ quan quản lý xem xét tính trung thực và hợp lệ của Bản cáo bạch
để chấp thuận cho phép phát hành hay từ chối trong thời hạn 30 ngày
Trang 2Trong thời gian này, có thể Công ty Bảo lãnh cùng Công ty Phát hành sẽ phải cung cấp thêm tài liệu để giải trình các chỉ tiết chưa đủ, chưa rõ trong Bản cáo bạch
+ Phân phối chứng khoán trên cơ sở phiếu đăng ký
Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết như phân phát Bản cáo bạch và phiếu
đăng ký mua chứng khoán và đợi khi đăng ký phát hành chứng khoản có hiệu
lực, CTCK (Hoặc nghiệp đoàn Bảo lãnh) sẽ tiễn hành phân phối chứng khoán
Công ty Bảo lãnh phát hành chứng khoán có thể phân phối chứng khoán ra công chúng băng các hình thức: Bán riêng cho các tổ chức đâu tư tập thể, như các quỹ đầu tư, quỹ Bảo hiểm, quỹ hưu trí , bán trực tiếp cho các cô đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ với tô chức phát hành, bán ra công chúng
+ Thanh toán
Đến đúng ngày theo hợp đồng, Công ty Bảo lãnh phát hành phải giao tiền cho Công ty phát hành Số tiền phải giao là giá trị chứng khoán phát hành trừ đi thù
lao cho Công ty Bảo lãnh
Thù lao cho Công ty Bảo lãnh có thể là một khoản phí đối với hình thức Bảo lãnh chắc chắn hoặc hoa hông đối với các hình thức Bảo lãnh khác Mức phí Bảo lãnh cao hay thấp tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành cùng điều kiện thị
trường lúc phát hành, do hai bên thoả thuận nói chung, nếu đó là đợt phát hành
1an dau thì mức phí và hoa hông phải cao hơn lần phát hành bổ sung Đối với trái phiếu, phí và hoa hồng Bảo lãnh còn tuỳ thuộc vào lãi suất trái phiếu (Nếu lãi suất cao thì dé ban, chi phi sẽ thập và ngược lại).
Trang 3Hoa hồng: là một tỷ lệ cố định (%) đối với một loại chứng khoán nhất định Việc
tính toán và phân bồ hoa hông cho các thành viên trong nghiệp đoàn là do các thành viên thương lượng với nhau
Phí Bảo lãnh: Là mức chênh lệch giữa giá chứng khoán trên thị trường cho người
đầu tư (người đâu tư phải trả) và số tiền Công ty phát hành nhận được
1.2.1.4 Hoạt động Quản lý danh mục đầu tư
Bản chất hoạt động quản lý danh mục đầu tư
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng đề đâu tư vào chứng khoán
thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi
nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản lý danh mục đầu tư là một dạng
nghiệp vụ tư vẫn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư khách hàng uỷ thác tiền cho CTCK thay mặt mình quyết định đâu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp thuận hoặc theo yêu câu
Nghiệp vụ này bao gồm các bước sau
+ Bước 1, xúc tiễn tìm hiểu và nhận quản lý: CTCK và khách hàng tiếp xúc và
tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn tư đó đưa ra các yêu cầu về quản lý vốn uỷ thác Đồng thời, Công ty phải chứng minh cho khách hàng thấy được khả năng của mình, đặc biệt là khả năng chuyên môn và khả năng kiểm soát nội bộ, đây là hai tiêu chuẩn quan trọng nhất của Công ty khi tham gia nghiệp vụ này
khả năng chuyên môn của Công ty chính là kha nang dau tu von đem lại lợi nhuận cho khách hàng còn khả năng kiểm soát nội bộ là việc Công ty có thể đảm
bảo an toàn tài sản cho khách hàng, chống lại những thất thoát do vô ý hay cố tình của nhân viên Công ty
Trang 4+ Bước 2, Ký hợp đồng quản lý: CTCK ký hợp đồng quản lý giữa khách hàng và
Công ty theo các yêu câu, nội dung về vốn thời gian uỷ thác, mục tiêu đầu tư, quyên và trách nhiệm của các bên phí quản lý danh mục đầu tư
+ Bước 3,Thực hiện các hợp đồng quản lý: CTCK thực hiện đầu tư vốn uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải bảo đảm tuân thủ các
quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách hàng và chính Công ty
+ Bước 4, Kết thúc hợp đồng quản lý: Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các
khoản chi phí quản lý theo hợp đồng ký kết và xử lý các trường hợp khi CTCK
bị nhưng hoạt động, giải thể hoặc phá sản Khi đến hạn kết thúc hợp đồng hay trong một số trường hợp Công ty giải thể, phá sản, ngừng hoạt động Công ty phải cùng với khách hàng bàn bạc và quyết định xem có tiếp tục gia hạn hay thanh lý hợp đồng Trong trường hợp CTCK phá sản, tài sản uỷ thác của khách hàng phải được tách riêng và không được dùng để trả các nghĩa vụ nợ của CTCK
Thực hiện nghiệp vụ này cho khách hàng, CTCK vừa bảo quản hộ chứng khoản, vừa đầu tư hộ chứng khoán Thông thường CTCK nhận được phí quản lý bằng
một tỷ lệ phân trăm trên số lợi nhuận thu về cho khách hàng
1.2.1.5 Hoạt động Tư vấn đâu tư chứng khoán
Bản chất hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Cũng như những loại hình tư vấn khác, tư vấn đâu tư là việc CTCK thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể
thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đâu tư và cơ
cấu tài chính cho khách hàng.
Trang 5Phân loại hoạt động tư van dau tu chimg khoan
Dịch vụ tư vấn đâu tư và tư vấn tài chính có thể do bat ky CTCK hay ca nhân
nào tham gia hoạt động Hoạt động tư vẫn chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:
+ Theo hình thức của hoạt động tư vân: Bao gồm tư vấn trực tiếp (Gặp trực tiếp khách hàng hoặc qua thư từ điện thoại) và tư vấn gián tếp (thông qua ấn phẩm
sách báo) để tư vấn cho khách hàng
+ Theo mức độ uỷ quyên của tư vẫn: Bao gồm tư vấn gợi ý và TVUQ + Theo đối tượng của hoạt động tư vấn bao gồm:
Tư vấn cho người phát hành hay còn gọi là tư vấn tài chính Công ty CTCK có
thể sử dụng các kỹ năng của mình để tư vấn cho các Công ty về việc sát nhập, thâu tóm, cơ cấu vốn của Công ty dé đạt mức độ hoạt động tối ưu và các vấn đề liên quan để thu phí tư vấn Khi nghiệp vụ này đi kèm với nghiệp vụ Bảo lãnh phát hành (Cách thức, hình thức phát hành, xây dựng hô sơ, Bản cáo bạch) càng
có hiệu quả cao
Tư vấn đâu tư, đó là việc CTCK xác định các đặc tính và điều kiện chứng khoán,
đánh giá TTCK, phân tích tình hình tài chính Công ty phát hành để cho việc mua bán chứng khoán được thành công CTCK đưa ra những lời khuyến nghị, thường phải phù hợp với tình hình tài chính và mục tiêu của nhà đầu tư Nghiệp vụ này, muốn đưa lại hiệu quả cao cho nhà đầu tư đề từ đó CTCK cũng thu được tiền hoa
hồng thoả đáng đòi hỏi CTCK có đội ngũ nhân viên nhiều kiến thức và kỹ năng
chuyên môn cao
Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn
Trang 6Hoạt động tư vân là việc người tư van str dung kiến thức, đó chính là vốn chất xám họ bỏ ra để kinh doanh đem lại lợi nhuận cho khách hàng Nhà tư vân đòi hỏi phải hết sức thận trọng trong việc đưa ra các lời khuyến cáo đối với khách
hàng, vì với lời khuyến đó khách hàng có thể thu về lợi nhuận lớn hoặc thua lỗ,
thậm chí phá sản, còn người tư vấn thu về cho mình khoản phí về dịch vụ tư vân
(Bất kế dịch vụ đó thành công hay không) Hoạt động tư vấn đòi hỏi tuân thủ
một số nguyên tắc cơ bản sau:
+ Không bảo đảm chắc chăn về giá trị chứng khoán: giá trị chứng khoán không
phải là một số cố đinh nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế, tâm lý và diễn biến thực tiễn của thị trường
+ Luén nhac nhở khách hang rằng những lời tư vấn của mình dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, Có thể không
hoàn toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuối cùng trong việc sử dụng thông tin từ nhà tư vân đề đầu tư, nhà tư vân sẽ không chịu trách nhiệm thiệt hại kinh tế do lời khuyên đưa ra
+ Không đựơc dụ dỗ, mời chào khách hàng mau hay bán một loại chứng khoán nào đó những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sở khách quan là quá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn để nghiên cứu
1.2.2 Các hoạt động phụ trợ 1.2.2.1 Hoạt động Lưu ký chứng khoán
Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi
vì giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi só,
Trang 7khách hàng phải mở tài khoản lưu ky chứng khoán tại các CTCKhoặc ký gửi chứng khoán Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK
sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí
chuyển nhượng chứng khoán
1.2.2.2 Hoạt động Quản lý thu nhập của khách hàng Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chỉ trả
cô tức cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
1.2.2.3 Hoạt động Tín dụng Đối với các TTCK phát triển bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho
khách hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay chứng
khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền dé họ thực hiện nghiệp vụ mua ký quỹ
Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của CTCK cho khách hàng của mình
để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp cho
khoản vay đó Khách hàng chỉ cần ký quỹ một lần, số còn lại sẽ do CTCK ứng
trước tiền thanh toán Đến kỳ hạn thoả thuận khách hàng phải trả hoàn đủ cả gốc
và lãi cho CTCK Trường hợp khách hàng không trả được nợ thì Công ty sẽ phát
mãi số chứng khoán đã mua để thu hỏi nợ
1.2.2.4 Hoạt động Quản lý quỹ
ở một số TTCK, pháp luật về TTCK còn cho phép CTCK được thực hiện nghiệp
vụ quản lý quỹ đầu tư Theo đó, CTCK cử đại diện của mình đề quản lý quỹ và
sử dụng vốn và tài sản của quỹ đâu tư để đầu tư chứng khoán CTCK được thu
Trang 8phí dịch vụ quản lý quỹ đâu tư
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của CTCK 1.3.1 Nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Yếu tố tổ chức quản lý
Ta đã biết hoạt động của CTCK rất đa dạng và phức tạp khác hăn với các doanh
nghiệp sản xuất và thương mại thông thường vì CTCK là một định chế tài chính
đặc biệt Vì vây, ứng với các TTICK khác nhau, các CTCK khác nhau sẽ có hệ thống tổ chức quản lý khác nhau Sở dĩ như vậy, vì việc tổ chức quản lý của một CTCK sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động nói chung và hoạt động kinh doanh nói riêng của Công ty Nếu tổ chức quản lý không khoa học sẽ làm cho việc thực hiện các nghiệp vụ không đồng bộ, ăn khớp dẫn đến sai sót và kết quả là ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động khác của Công ty Do các nghiệp vụ
của CTCK có đặc thù là độc lập với nhau nhưng vẫn có những ảnh hưởng nhất định với nhau, vì vậy tổ chức quản lý của CTCK phải đáp ứng được yêu câu này
Các phòng ban phải tô chức hợp lý sao cho vừa đảm bảo nghiệp vụ được thực hiện nhanh chóng, chính xác, vừa bảo mật thông tin Có như vậy thì CTCK mới
có thể tiến hành hoạt động kinh doanh một cách an toàn và ổn đinh
1.3.1.2 Yếu tố con người
Yếu tố con người ở đây chủ yếu là nói đến đội ngũ nhân viên của CTCK Chứng
khoán là một lĩnh vực đòi hỏi người nhân viên phải có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và có khả năng phân tích đánh giá cũng như khả năng nhạy bén đối với các thông tin của thị trường Vì vậy có thể nói nhân viên của CTCK phải là
Trang 9những chuyên gia trong lĩnh vực mình phụ trách Nếu họ nhận đinh sai một thông tin nào đó sẽ dẫn đến việc các nhà đầu tư mất lòng tin vào Công ty Trong trường hợp sai sót đó còn nhỏ thì khách hàng sẽ từ bỏ Công ty này sang Công ty khác, nhưng nếu sai sót lớn thì không những hình ảnh của Công ty bị ảnh hưởng
mà nó còn tác động đến thị trường, bởi khách hàng sẽ gây ra phản ứng dây
truyền nhanh chóng và khó có thể dự đoán điều gì xảy ra
Ngoài ra cũng không thể phủ nhận ảnh hưởng của các nhà quản lý các CTCK trong yếu tô về con người, họ là người quyết định các chính sách, chiến lược của Công ty, ngoài việc phải am hiểu tổng thể các nghiệp vụ, họ còn cần có khả năng
tổ chức lãnh đạo Vì vậy đối với CTCK, yêu câu đối với một người quản lý là rat
cao
1.3.1.3 Yếu tố tài chính
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì vấn để tài chính cũng là vân đề rất quan
trọng Tình hình tài chính của Công ty tốt tức là Công ty làm ăn hiệu quả, có lãi
Nó sẽ quyết định định hướng cũng như quy mô hoạt động kinh doanh trong giai đoạn tiếp theo của Công ty
Nếu tài chính không tốt, không những hoạt động kinh doanh của Công ty không
thể mở rộng được mà còn làm giảm sút uy tín và lòng tin của khách hàng đối với Công ty Mà đối với CTCK ảnh hưởng của Công ty đối với khách hàng là rất
quan trọng Vì trong chức năng hoạt động kinh doanh của Công ty thực chất là phải cung cấp các dịch vụ, đáp ứng các yêu cầu về chứng khoán của khách hàng,
nếu không có đủ năng lực tài chính để đưa ra các tiện ích phục vụ khách hàng thì
Trang 10sẽ không còn ai muôn hợp tác với Công ty nữa
Riêng đối với Việt Nam thì yếu tố tài chính còn đặc biệt quan trọng bởi số vốn
điều lệ của Công ty quyết định cả các nghiệp vụ mà Công ty được phép hoạt động Hơn nữa, do khách hàng mở tài khoản tại CTCK nên Công ty không những phải coI trọng tài chính của mình mà còn phải quan tâm tới các tài khoản của khách hàng Công ty phải mở và quản lý tài sản của khách hàng tách biệt với nhau
1.3.1.4 Yếu tố công nghệ
Cuộc sống ngày càng phát triển nên công nghệ đối với tất cả các ngành nghề đều
rât quan trọng Nhưng đối với ngành chứng khoán thì thời gian gắn liền với tiền
bạc nếu thông tin không nhanh chóng, chính xác thì sẽ gây ra những hậu quả
đáng tiếc Do CTCK là trung gian nên họ là cầu nối giữa các chủ thể của thị
trường, vì vậy thông tin họ cập nhật được cũng như phải công bố lại cho nhiều
đối tượng, nhiều địa điểm Vậy nếu không có công nghệ hiện đại, thông tin
không truyền đến được với các nhà đầu tư, hay TTGD không thể chuyển thông
tin cho các CTCK thì khách hàng bị thua lễ, CTCK cũng thua lỗ và thị trường
khó có thể hoạt động lành mạnh được Ngay trong nội bộ một Công ty, việc trang
bị công nghệ để thông tin giữa các phòng ban, nhân viên cũng là một yếu tố tác
động không nhỏ tới hiệu quả hoạt động của Công ty ở những nước có TTCK phát triển, công nghệ của họ vô cùng hiện đại vì vậy họ có thể mở rộng thị trường, rút ngăn mọi khoảng cách giữa các quốc gia và làm cho nên kinh tế thế
giới phát triển hơn Còn đối với một TTCK mới đi vào hoạt động chưa lâu như ở