HỎI BỆNH – KHAI THÁC CÁC TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG – PHẦN 2 CÁC PHƯƠNG TIỆN CHẨN ĐOÁN: Xét nghiệm sinh học: Nghiên cứu chức năng thân: Là cần thiết trong ngoại khoa tiết niệu, đặc biệt trong
Trang 1HỎI BỆNH – KHAI THÁC CÁC
TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG – PHẦN 2
CÁC PHƯƠNG TIỆN CHẨN ĐOÁN:
Xét nghiệm sinh học:
Nghiên cứu chức năng thân:
Là cần thiết trong ngoại khoa tiết niệu, đặc biệt trong những trường hợp cắt thận Đánh giá tổng thể:
Định lượng creatinin máu là xét nghiệm rất có giá trị: bình thường < 100 mmol/l cho biết rất chính xác chức năng thận, định lượng ure máu bt < 8 mmol/l
Nghiên cứu độ thanh thải ure và creatinin nội sinh cho phép đánh giá chức năng thận rất chính xác
Trong trường hợp suy thận cần thiết làm điện giải đồ bao gồm: Na+, K+, Ca++, Cl-,
dự trữ kiềm, pH máu
Trang 2Đánh giá chức năng thận từng bên:
Đôi khi cần thiết phải đánh giá chức năng từng thận riêng biệt
Độ thanh thải creatinin nội sinh ở người lớn trưởng thành là 60 ml/phút, đối với mỗi thận chỉ số này giảm dần theo tuổi
Suy thận khi độ thanh thải này < 20 ml/mn, và < 10 ml/mn, cần thiết phải lọc máu nhân tạo Để đánh giá chức năng từng thận cần phải luồn sonde lên từng niệu quản
để lấy nước tiểu và nguy cơ gây nhiễm khuẩn rất lớn nên xét nghiệm này ít được
sử dụng
Dựa vào chụp niệu đồ tĩnh mạch Qua hình ảnh thuốc cản quang: đậm độ thuốc tập trung ở từng thận, chiều dày nhu mô thận người ta xác định một cách tương đối chức năng từng thận
Tuy nhiên để xác định một cách chính xác hơn nữa chức năng từng thận cần chụp đồng vị phóng xạ
Xét nghiệm vi khuẩn nước tiểu:
Để xác định có nhiễm khuẩn nước tiểu số lượng VK > 100.000/ ml và bạch cầu nước tiểu tăng cao, có bạch cầu thoái hoá
Cấy VK nước tiểu làm KSĐ
Trang 3Một số điều chú ý:
Khi xét nghiệm thấy bạch cầu nước tiểu và cấy nước tiểu âm tính có thể do các lý do: hoặc là trước khi cấy nước tiểu đã dùng KS hoặc là một số loại vi khuẩn phải nhuộm hoặc chuẩn bị một cách đặc biệt để nhận biết chúng Trước những trường hợp đái mủ, cấy nước tiểu nhiều lần âm tính cần phải tìm vi khuẩn lao
Một số xét nghiệm vi khuẩn khác:
Cấy mủ niệu đạo, soi tươi
Phân tích nước tiểu đầu bãi
Xét nghiệm nước tiểu sau khi massage TLT
Cấy tinh dịch
Một số xét nghiệm sinh học khác:
Định lượng hormone sinh dục - tuyến thượng thận
Định lượng Marqueurs tumoraux
Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh:
Siêu âm:
Trang 4Là một xét nghiệm không nguy hiểm, không đau và rất giá trị trong thăm dò hình thái hệ tiết niệu Luôn luôn là xét nghiệm đầu tiên được lựa chọn trong thăm dò, cho nhiều thông tin cần thiết nhất là về hình thái học
Ở phần cao: cho biết hình thái, độ dày mỏng của nhu mô thận và đài thận: bể thận, niệu quản
Ở phần thấp: bàng quang - tiền liệt tuyến, hai túi tinh – tinh hoàn
Chụp hệ tiết niệu không chuẩn bị:
Đòi hỏi thụt đại tràng trước khi chụp cần 2 phim: 1 thẳng, 1 nghiêng Nó cho biết các thông tin:
Bóng thận: bình thường hoặc bị biến dạng
Bóng cơ đái chậu
Hình cản quang của sỏi hoặc ở thận, hoặc ở đường tiết niệu
Tình trạng các lưới xương: hình ảnh tăng đậm độ hoặc hình tiêu xương
Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV):
Cho đến nay UIV vẫn là phương pháp đơn giản và cơ bản để đánh giá chức năng bài tiết của thận, hình thể bình thường hoặc bệnh lý của các đài thận, bể thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo
Trang 5Kỹ thuật tiến hành:
Cho bệnh nhân nhịn đói trong 12 giờ
Thụt đại tràng trước khi tiến hành
Cho bệnh nhân đi đái hoặc thông tiểu trước
Chống chỉ định với những trường hợp ure máu cao > 0,8 g/l và có dị ứng với iod
Tiêm thuốc cản quang vào đường tĩnh mạch số lượng tỷ lệ với trọng lượng bệnh nhân
Chụp 1 phim rất sớm: 15 – 20 s sau khi tiêm thuốc cho phép thấy được hình ảnh động mạch thận
1 phim sau 2 – 3 phút cho phép thấy được hình ảnh của nhu mô thận và qua đó đánh giá chức năng 2 thận
Các phim từ 3 phút trở đi cho phép thấy được đài bể thận, niệu quản
Có thể dùng 2 quả bóng ép vào niệu quản ở đoạn khớp cùng chậu để giữ thuốc cản quang ở đài bể thận cho phép nhìn được rõ hơn
Chụp phim toàn thể niệu quản, đòi hỏi phải chụp nhiều phim vì niệu quản rất ít khi nhìn rõ trên 1 phim
Trang 6UIV sẽ được kết thức bởi phim chụp phần thấp của đường bài tiết và những phim
ở thì bệnh nhân đái
Trong những trường hợp đặc biệt thận ngấm thuốc chậm có thể chụp những phim
ở thì muộn sau 60’, 90’, 120’… hoặc chụp UIV nhỏ giọt tĩnh mạch liều thuốc tăng gấp 2 – 3 lần bình thường
Chụp niệu quản bể thận ngược dòng (UPR):
Được tiến hành bằng soi bàng quang, tìm lỗ niệu quản bên định chụp luồn ống thông lên niệu quản, bơm thuốc 12 – 15 ml tốt nhất là bơm theo dõi trên màn huỳnh quang Chụp những phim ở những hình ảnh cần thiết
Chụp UPR là thủ thuật dễ gây nhiễm trùng, đặc biệt trong những trường hợp tắc nghẽn Do vậy đòi hỏi phải tuyệt đối vô khuẩn
Chỉ định trong những trường hợp:
Khi chụp UIV thận không ngấm thuốc hoặc hình ảnh bể thận, niệu quản không rõ Cần tìm các lỗ rò lưu thông từ thận sang đường bạch huyết
Chụp bể thận niệu quản xuôi dòng(UPD):
Được chỉ định trong những trường hợp tắc nghẽn niệu quản Thận được dẫn lưu bằng ống thông
Trang 7Chụp bàng quang ngược dòng:
Đặt ống thông vào bàng quang, bơm thuốc cản quang qua ống thông với khối lượng vừa đủ
Chụp niệu đạo ngược dòng:
Bơm thuốc cản quang ngược dòng từ miệng sáo dương vật chụp phim ở hai tư thế thẳng và nghiệng
Chỉ định phát hiện các bệnh lý:
Chít hẹp niệu đạo
Rò niệu đạo TSM hoặc rò niệu đạo - trực tràng, túi thừa niệu đạo
Hình ảnh biến dạng niệu đạo trong bệnh lý khối u TCT
Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner):
Giữ vị trí rất quan trọng trong thăm dò đường tiết niệu:
Ở tầng thắt lưng:
Cho phép phân tích một cách rõ nét các khối u thận, phân biệt nang thận và cho các thông tin để chẩn đoán u ác tính ở thận
Cho hình ảnh xâm lấn tại chỗ của u ác tính:
Trang 8Cho phép nhìn rõ các sỏi acid uric không cản quang
Phân biệt giữa cục huyết khối với u đường bài tiết
Ở vùng tiểu khung: cho những hình ảnh rất rõ u bàng quang và TCT tuy nhiên những hình ảnh xâm lấn tại chỗ và đặc biệt là các hạch thì không chắc chắn
Chụp hệ bạch mạch:
Cho phép thấy được các hạch vùng chậu và vùng bụng
Chỉ định để tìm các hạch bệnh lý trong các trường hợp ung thư
Tuy nhiên xét nghiệm này có nhiều trở ngại: rất khó thực hiện, gây đau và đọc kết quả cũng không dẽ dàng, nhất là ở những bệnh nhân có tuổi, có nguy cơ tai biến
về hô hấp tuần hoàn
Chụp đồng vị phóng xạ:
Chụp đồng vị phóng xạ thận để biết chức năng từng thận
Chụp đồng vị phóng xạ hệ thống xương thường được sử dụng để phát hiện các ổ di căn ung thư vào xương, đặc biệt là ung thu TCT
Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI):
Trang 9Ít được sủ dụng trong tiết niệu vì nó cho những hình ảnh tương tự như chụp scanner
Chụp động mạch:
Là một xét nghiệm cho kết quả rất tốt
Tuy nhiên có nhiều hạn chế: đòi hỏi phải chụp nhiều phim, tiêm một số lượng lớn thuốc cản quang Đặc biệt là phải chọc vào thân một động mạch lớn, nó sẽ gây đau và nguy hiểm cho bệnh nhân
Chỉ định chủ yếu là : u thận và ung thư
Chụp tĩnh mạch chủ:
Được chỉ định:
Phát hiện cục máu đông trong tĩnh mạch thận
Nghiên cứu sự liên quan giữa u thận và tĩnh mạch chủ dưới Phát hiện thâm nhiễm ung thư vào tĩnh mạch chủ
Các dụng cụ và xét nghiệm nội soi:
Chỉ định: có rất nhiều loại ống thông niệu đạo và niệu quản được sủ dụng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý đường tiết niệu
Trang 10Chẩn đoán:
Ống thông đặt vào bàng quang để lấy nước tiểu làm xét nghiệm, đo lượng nước tiểu cặn trong bàng quang, bơm thuốc cản quang vào niệu đạo, bàng quang để chụp…
Điều trị:
Đặt thông tiểu điều trị bí đái, bàng quang thần kinh…
Đặt thông niệu quản trong một số bệnh tắc nghẽn niệu quản,
Các loại ống thông:
Kích thước đường kính ống thông thường được đánh số theo chỉ số French (Fr) Ống thông số 3 Fr có đường kính là 1 mm, 1 Fr = 0,33 mm đường kính Cỡ ống thông trung bình để đặt cho người lớn trưởng thành là từ 18 – 22 Fr
Các xét nghiệm:
Soi niệu đạo – bàng quang:
Ở phụ nữ ít đau hơn ở nam giới Đòi hỏi hoặc gây tê tại chỗ hoặc gây mê toàn thân
Cho phép nhìn được niêm mạc niệu đạo và bàng quang, cho phép chụp UPR
Trang 11Nguy hiểm: dễ gây nhiễm khuẩn, chấn thương niệu đạo
Soi niệu quản: Cho phep phát hiện các u trong lòng niệu quản và điều trị tắc sỏi nội soi niệu quản
Soi bể thận qua da
Doppler
Giải phẫu bệnh học và tế bào học: thường được sử dụng trong chẩn đoán ung thư bàng quang và TCT
Thăm dò niệu động học và đọng học bàng quang:
Cho phép đo áp lục trong bàng quang và niệu đạo khi làm căng bàng quang và khi
đi đái
Ghi nhận sự thay đổi áp lực khi dùng các loại thuốc khác nhau
Cho phép nghiên cứu hoạt động của hệ thống cơ thắt và tìm hiểu cơ chế hoạt động của nó