Thuốc chống sốt rét OZ 277/Rbx 11160 Mặc dù hiện nay trị liệu phối hợp chống kháng có gốc Artemisinine ACTs_Artemisinine-based Cobination Therapy đang được khuyến cáo sử dụng điều trị số
Trang 1Thuốc chống sốt rét OZ 277/Rbx 11160
Mặc dù hiện nay trị liệu phối hợp chống kháng có gốc Artemisinine (ACTs_Artemisinine-based Cobination Therapy) đang được khuyến cáo sử dụng điều trị sốt rét kháng thuốc trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên các nhà sản xuất đã
dự tính một sản phẩm thuốc sốt rét mới thay thế nếu ACTs bị kháng bởi P.falciparum Sản phẩm mới này có mã số OZ 277/Rbx 11160 là một chất tổng hợp có cấu trúc tương tự Artemisinin được xem như vũ khí chính trong cuộc chiến chống lại bệnh sốt rét đa kháng thuốc và bước đột phá lớn nhất trong điều trị sốt rét hiện nay, đồng thời chứng minh thành quả của nỗ lực hợp tác quốc tế được tiến hành từ cuối thập niên 90 thế kỷ 20 giữa các nhà khoa học thuộc các Viện Đại
Trang 2học Monash (Úc), Trung tâm Y khoa Nebraska (Mỹ), Viện Nhiệt đới (Thụy Sĩ) và Viện Dược phẩm Hoffmann-La Roche (Thụy Sĩ)
Sốt rét vẫn đang là gánh nặng bệnh tật của các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực sa mạc Sahara, châu Phi và Đông Nam Á và cũng là một trong những căn bệnh gây tử vong đáng kể Mặc dù phần lớn các trường hợp sốt rét ác tính, tử vong
và mắc bệnh đều quy kết cho loài ký sinh trùng sốt rét loại P.falciparum, song P vivax cũng ảnh hưởng đến gần 100 triệu người mỗi năm trên toàn cầu 10-20% số
ca P vivax trên toàn cầu là ở châu Phi, nam Sahara; tại vùng Đông và Nam Phi, P vivax chiếm khoảng 10% và riêng tại Tây và Trung Phi, P vivax chiếm dưới 1% Ngoài châu Phi, P vivax chiếm trên 50% và trong đó đó 80 - 90% số ca là nằm ở
các quốc gia Trung Đông, châu Á, Tây Thái Bình Dương và 10 - 20% là nằm ở
các quốc gia Trung và Nam Mỹ Cùng với sốt rét do P falciparum, thì P.vivax góp
phần vào quá trình đói nghèo, tăng tỷ lệ bệnh trong mô hình bệnh tại các quốc gia
ở trên; vả lại, dù không nhiều, song gần đây sốt rét do P.vivax có báo cáo là gây
nên các bệnh cảnh sốt rét ác tính và tử vong, đặc biệt tại Ấn Độ, một phần không
Trang 3thể không nghĩ đến sự giảm đáp ứng của P vivax với thuốc
Tình trạng ký sinh trùng sốt rét P.falciparum kháng thuốc lan tràn nghiêm trọng
trên thế giới là một khó khăn lớn cho việc lựa chọn các thuốc điều trị sốt rét Ở
Việt Nam P.falciparum kháng cao với chloroquine, Fansidar, mefloquine và giảm
đáp ứng với nhiều loại thuốc chống sốt rét hiện dùng; ngay cả thuốc Artemisinine
và dẫn chất Artesunate được tiến hành thử nghiệm lâm sàng và chính thức đưa vào
sử dụng trong CTQGPCSR ở Việt Nam từ những năm 1990 có vai trò quan trọng trong trong việc hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do sốt rét Song, thông báo mới nhất cho biết thuốc Artemisinine đã bị kháng tại khu vực biên giới Thái Lan-
Trang 4Cambodia có thể làm thất bại các thành quả của chương trình phòng chống sốt rét toàn cầu và đe dọa nếu nó lan sang các quốc gia láng giềng và phạm vi rộng hơn - toàn cầu Chloroquine là một thuốc diệt thể phân liệt mô có hiệu quả hơn 50 năm
qua trong việc phòng bệnh và điều trị sốt rét do P.vivax Mãi cho đến thập kỷ
trước thuốc chloroquine vẫn còn nhạy với loài ký sinh trùng này Song, tỷ lệ kháng cao với chloroquine đã được báo cáo lần đầu tiên tại Papua New Guinea (Rieckmann và cs., 1989), tiếp đó tại Indonesia (Baird và cs., 1991) dao động quanh 10% và nay nhiều báo cáo cho biết thực trạng kháng lan rộng khắp các vùng trên thế giới (Myat Phone Kyaw và cs., 1993; Than và cs., 1995; Garg và cs., P.T.Giáo và cs., 2002; Vinetz và cs., 2006; Teka H và cs., 2008; Tjitra E và cs., 2008; Ketama T và cs., 2009; Lee KS và cs., 2009)
Tại Việt Nam nói chung, sốt rét do P.vivax lưu hành nhiều ở các tỉnh phía bắc và các tỉnh dọc biên giới phía tây, gần đây tỷ lệ P.vivax cũng tăng lên tại một số tỉnh
khu vực miền Trung-Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Ninh Thuận Khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói riêng với nhiều tỉnh thành có vùng sốt rét trọng điểm và tình hình ký sinh trùng kháng với các thuốc cao Việc đánh giá hiệu lực phác đồ
thuốc sốt rét đang dùng và thuốc mới với P falciparum là một yêu cầu cần thiết và
thường quy, nhất là theo dõi liên tục tại một số điểm thuộc vùng sốt rét lưu hành nặng có tỷ lệ kháng cao Như các quốc gia Đông Nam Á khác, Việt Nam cũng
đang đối mặt với nguy cơ lan rộng tiềm tàng P vivax kháng với chloroquine Do
đó, song song hoạt động theo dõi đáp ứng ký sinh trùng P falciparum, thiết nghĩ
Trang 5chúng ta không những không nên xem sốt rét do P.vivax là căn bệnh bị lãng quên,
mà còn phải theo dõi thường quy vấn đề hiệu lực của chloroquine đối với P vivax,
để từ đó có hướng xử trí và thay đổi phác đồ thích hợp
Nhóm thuốc phối hợp có gốc artemisinine (ACTs_Artemisinine based combination therapies) ra đời như một đột phá về thuốc chống kháng và làm chậm phát triển kháng thuốc các thuốc chống sốt rét đang dùng trong chương trình quốc gia phòng chống sốt rét của các nước Kêt từ tháng 1.2006, TCYTTG đã kêu gọi
và khuyến cáo không nên sử dụng dạng thuốc artesunate đơn trị liệu để làm trì
hoãn kháng do loài P falciparum vì các dữ liệu nghiên cứu trên in vitro (cho thấy
tăng nồng độ của IC50, IC*90, IC99, EC50, EC90, EC99) cũng như một số trường hợp không còn hoặc giảm đáp ứng trên lâm sàng với artesunate nữa (tại Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan) Thuốc ACTs được giới thiệu và áp dụng trong các danh mục thuốc sốt rét thiết yếu là một điểm cải tiến mới và giảm bớt gánh nặng nhiều mặt cho bệnh sốt rét tại châu Phi, Nam Mỹ và Đông Nam Á Song, gần đây, một số báo cáo cũng cho thấy tỷ lệ thất bại điều trị với nhóm thuốc này, dù ít nhưng có (1-3%; 1-7%), do đó thời điểm tìm kiếm một thuốc mới hiện đang rất cần thiết và các công ty dược hàng đầu vẫn đang tiếp tục nổ lực để cho ra các ứng cử viên chống kháng
Giới thiệu về đột phá phát triển thuốc điều trị sốt rét mới
Trang 6Hiện nay, sốt rét vẫn là một căn bệnh khó tiêu diệt Đặc biệt, hai loại muỗi
Anopheles Gambiae và Anopheles Funesus được xem là “vô địch” trong lĩnh
vực truyền bệnh sốt rét cho người ở châu Phi, làm tiêu tốn hàng năm khoảng
12 tỷ USD trong việc phòng và trị bệnh Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 1
triệu ca sốt rét, trong đó có 85% là do P falciparum đã đề kháng với CQ và
Fansidar Vì thế, các nhà khoa học vẫn không ngừng nghiên cứu nhằm tìm ra một loại thuốc mới điều trị sốt rét hiệu quả hơn
Bệnh sốt rét quay trở lại từ đầu thập niên 70 với các ký sinh trùng đã đề kháng nhiều loại thuốc cổ điển giá rẻ như CQ Bệnh đã gây thiệt hại khoảng 12 tỷ USD hàng năm cho các nước châu Phi, chiếm đến 40% ngân sách phục vụ sức khỏe cộng đồng Theo báo cáo gần đây của Viện Y học IOM thì bệnh sốt rét đang tái xuất hiện ở mức độ cao, từ đó nhấn mạnh đến việc cần thiết phải bổ sung nguồn thuốc cấp bách có thể thay thế các thuốc trị sốt rét cũ đã bị kháng với giá thành rẻ hơn Hiện nay, liệu pháp thuốc kết hợp ACTs (Artemisinine based Combination Therapies) là phương pháp điều trị sốt rét hiệu quả nhất, nhưng do chi phí cao nên việc cung cấp cho bệnh nhân nghèo tại các địa phương có dịch sốt rét còn gặp khó khăn (mỗi năm cần tới khoảng 300-500 triệu phương thuốc điều trị)
Cây thanh hao hoa vàng đã được y học Đông phương biết đến từ lâu trong điều trị
bệnh sốt rét Tên khoa học của cây là Artemisia annua Tại Việt Nam, hai danh y
Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông cũng xác nhận thanh hao hoa vàng có khả năng trị được bệnh sốt rét, chứng đổ mồ hôi trộm Hoạt chất chính của cây thanh hao
Trang 7hoa vàng là Artemisinine (tiếng Trung Quốc gọi là qinghaosu) được phân lập và
có cấu trúc xác định vào năm 1972 - là một chất sesquiterpene lactone với một cầu nối peroxide bên trong Lá thanh hao được tán nhuyễn, xay thành bột để chiết xuất hoạt chất artemisinine Năm 1993, Vonwiller và cộng sự đã báo cáo một phương pháp mới ly trích các hợp chất của cây thanh hao hoa vàng giúp gia tăng hàm lượng Artemisinine
Việc kết hợp các dẫn xuất của artemisinin như Artesunate, Artemether tỏ ra có hiệu quả trong việc chống lại ký sinh trùng sốt rét đã đề kháng với các thuốc sốt rét cổ điển Artemether đã được phép đăng ký sử dụng tại châu Phi với tên là Paluther Tuy nhiên, do chi phí sản xuất thuốc còn quá cao, thời gian bán hủy ngắn nên gây nhiều khó khăn cho việc điều trị vì bệnh nhân phải dùng thuốc liên tục sau mỗi 4 giờ Thời gian điều trị theo phác đồ kéo dài thường dễ thất bại nếu bệnh nhân không thường xuyên dùng thuốc Mặc dù Artemisinin được xem là chất cơ bản trong liệu pháp kết hợp ACTs, nhưng “khả thi” điều trị còn giới hạn do giá thành cao cũng như phương pháp ly trích tốn nhiều thời gian Vì thế, việc nghiên cứu sản xuất một loại thuốc hữu hiệu chống sốt rét với giá thành hạ tỏ ra cần thiết hơn bao giờ hết
Trang 8Tiến trình phát minh và cho ra đời thuốc sốt rét mới trên thế giới
Việc phát minh thuốc mới chống sốt rét là một nhu cầu thiết yếu và là nhân tố góp phần rất có ý nghĩa trong việc cứu sống hàng bao sinh mạng tại các quóc gia đang
có sốt rét lưu hành, nhất là vùng sốt rét có KSTSR giảm nhạy hoặc kháng với nhiều loại thuốc sốt rét khác nhau, từ cổ điển đến những thuốc còn hiệu lực trong thời gian gần đây Mặt khác, thuốc/ hợp chất mới đã giúp chống kháng, làm giảm
tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do sốt rét rất nhiều Lẽ đương nhiên, thuốc sốt rét mới này phải đạt được các tiêu chí sau:
rHiệu lực chống kháng và hiệu quả điều trị ưu thế hơn liệu pháp các thuốc phối hợp ACTs trước đó;
Trang 9rThuốc có liệu trình ngắn, tác dụng phụ không đáng kể, khả thi áp dụng cho cộng đồng cao;
rThuốc được tổng hợp không nhất thiết phụ thuộc vào sản lượng cây thanh hao hoa vàng (lý tưởng nhất, và điều này hiện nay tại một số quốc gia và các tập đoán nghiên cứu đã cho ra sản phẩm artemisinine mà bằng các kỹ thuật hiện đại,…không nhất thiết thông qua quy trình nuôi trồng và thu hái loại cây thanh hao hoa vàng);
rGiá thành thấp cũng là một tiêu chí quan trọng
Một số nét sơ lược về thuốc sốt rét OZ 277/Rbx 11160
Một sản phẩm mới ra đời với mã số OZ 277/Rbx 11160 đã được xem là bước đột phá lớn nhất trong điều trị sốt rét hiện nay Đây là thành quả của một nỗ lực hợp tác quốc tế được tiến hành từ cuối thập niên 90 thế kỷ 20 giữa các nhà khoa học thuộc các Viện Đại học Monash (Úc), Trung tâm Y khoa Nebraska (Mỹ), Viện Nhiệt đới (Thụy Sĩ) và Viện Dược phẩm Hoffmann-La Roche (Thụy Sĩ) Kết quả
Trang 10của các công trình nghiên cứu đã được ấn bản trên tạp chí khoa học The Nature
OZ 277/Rbx 11160 là một chất tổng hợp có cấu trúc tương tự Artemisinin, sẽ là vũ khí chính trong cuộc chiến chống lại bệnh sốt rét đa kháng thuốc và có thể đáp ứng được nhu cầu điều trị trong vòng 3 năm tới Thuốc tác động bằng cách dùng các gốc tự do tấn công vào protein và enzyme của ký sinh trùng OZ 277/Rbx 11160 hiện đang được thử nghiệm về tính an toàn trên người với kết quả rất hứa hẹn Giáo sư Bill Charman thuộc trường Đại học Dược Victoria cho biết OZ 277/Rbx
11160 vừa rẻ vừa dễ sản xuất, mở ra tiềm năng có thể cứu sống hàng triệu bệnh
Trang 11nhân sốt rét trên khắp thế giới Theo thống kê năm 2003, mỗi ngày tại châu Phi có đến 3.000 trẻ em tử vong vì sốt rét, nghĩa là cứ mỗi 30 giây lại có một trẻ em châu Phi tử vong vì căn bệnh này Sốt rét cũng là mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe của phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh ở châu Phi Hiện hàng năm có khoảng 20% dân
số thế giới sống ở những nước nghèo nhất phải đối diện với nguy cơ nhiễm sốt rét
Cũng theo GS Charman: “Chúng tôi đã thật sự xúc động về sự tiến bộ và tốc độ phát triển của thuốc Hiện thuốc đang được thử nghiệm tại châu Âu, nếu tiến độ diễn ra tốt đẹp thì chỉ trong vòng 3 năm tới, đây sẽ là vũ khí mới giúp con người chống lại bệnh sốt rét một cách hiệu quả” Mục đích chính của công trình nghiên cứu là cho ra đời được một loại thuốc hữu hiệu với giá thành thấp nhằm có thể cung cấp cho các quốc gia nghèo Khả năng của OZ 277/Rbx 11160 là dùng điều trị các ký sinh trùng sốt rét đã đề kháng nhiều loại thuốc Thử nghiệm trên chuột cho thấy hiệu lực 95-100% sạch ký sinh trùng trong vòng 3 ngày Như thế chỉ với một đợt điều trị 3 - 4 ngày đã có thể chữa khỏi bệnh Với giá thành điều trị 1 USD/ngày thì chương trình điều trị 3 ngày có thể dễ dàng được thực hiện Loại thuốc mới này hứa hẹn sẽ giữ vai trò then chốt trong việc điều trị bệnh sốt rét, thay thế các thuốc cũ đã giảm hiệu quả hay đã bị kháng
Từ tháng 5.2003, công ty dược phẩm hàng đầu của Ấn Độ Ranbaxy đã ký
một thỏa ước với tổ chức MMV (Medicines for Malaria Venture) tại Geneve -
Thụy Sĩ) để cùng phát triển sản phẩm peroxyde trong cuộc chiến toàn cầu chống lại bệnh sốt rét MMV (Medicines for Malaria Venture) là tổ chức phi
Trang 12lợi nhuận chuyên khám phá, phát triển và phân phối các phương tiện chống sốt rét Ngày 19/8/2004, Ranbaxy và MMV đã thông báo việc đưa thuốc vào thử nghiệm lâm sàng trên người Cả hai đơn vị này đã được cơ quan MHPRA (Medicines and Healthcare Products Regulatory Agency) cho phép tiếp tục công việc thử nghiệm lâm sàng trên người tại Anh Đây là bước thử nghiệm thuốc mới đầu tiên sau khi đã đạt được độ an toàn và hiệu quả trên các bước thử nghiệm tiền lâm sàng giai đoạn trước đó OZ277/Rbx 11160 đã được lượng giá trong pha I nghiên cứu về độ an toàn, sự dung nạp cũng như hiệu lực dược lý trên người tại Anh
Hiệu quả của thuốc OZ277 / Rbx 11160 qua một số nghiên cứu trên thế giới
1 Hoạt tính chống sốt rétcủa chất Endoperoxide tổng hợp
(RBx-11160/OZ277) chống lại các phân lập Plasmodium falciparum tại Gabon
Nghiên cứu trên do nhóm tác giả Andrea Kreidenweiss, Benjamin Mordmüller, Sanjeev Krishna, Peter G Kremsner đang làm việc tại La bô nghiên cứu y học, bệnh viện Albert Schweitzer, Lambaréné, Gabon, khoa ký sinh
tùng, đại học Tübingen, Đức, Đơn vị nghiên cứu y học mức độ phân tử và tế bào, Trung tâm bệnh nhiễm trùng, St George's, đại học London, Cranmer Terrace,
London, Anhtiến hành và công bố năm 2006
Trang 13Kết quả nghiên cứu chỉ ra OZ277 là một chất mới, đây là một endoperoxide
chống sốt rét hoàn toàn do tổng hợp được thử nghiệm chống lại các phân lập ký sinh trùng thu thập tại thực địa của quốc gia Gabon Một thử nghiệm so sánh hoạt tính của OZ277 với artesunate, mefloquine và chloroquine chỉ ra OZ277 có hoạt tính chống lại tất cả phân lập ký sinh trùng rất Artesunate và Mefloquine cũng coh thấy hoạt tính chống ký sinh tùng tiềm năng, nhưng tất cả phân lập đều kháng với chloroquine
Một trong những trở ngại quan trọng nhất để làm giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét là thiết lập nên các chủng kháng thuốc/ đa thuốc trong một số vùng lưu hành Artemisinin và các dẫn suất là một phần quan trọng của các phác đồ khuyến cáo nhiều nhất vì chúng tác động chống lại các ký sinh trùng kháng Các dấu hiệu gần
đây trên in vitro kháng với một số thuốc Artemisinin và dẫn suấtlàm cho sự phát
triển một thuốc mới là ưu tiên hàng đầu Do đó, cũng không cung cấp thuốc đủ theo nhu cầu về Artemisinin vì chúng được tổng hợp từ thảo dược, nên đòi hỏi có