1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn đổi mới phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc thông qua bài giảng trên lớp

117 2,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc thông qua bài giảng trên lớp
Tác giả Nguyễn Văn Tuynh, Nguyễn Thị Thu Hiền
Người hướng dẫn Hiệu trưởng Nguyễn Văn Tuynh, Hiệu phó Nguyễn Thị Thu Hiền
Trường học Trường THPT Trưng Vương
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Đề tài khoa học
Năm xuất bản 2012 - 2013
Thành phố Hưng Yên
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 13,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ề TÀI : ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC : HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC, TỰ ĐỌC THÔNG QUA BÀI GIẢNG TRÊN LỚP PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ “Biết cách học là chứng tỏ bạn thông thái” Henrry Brooks Adams V

Trang 1

ĐỀ TÀI KHOA HỌC:

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC : HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC, TỰ ĐỌC THÔNG QUA BÀI GIẢNG TRÊN LỚP

Đỗ Thị Cúc ( TT tổ Xã hội) Nguyễn Thị Vân ( TT tổ Anh Văn) Đơn vị: Trường THPT Trưng Vương

Năm học 2012 - 2013

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 2

I Cơ sở lý luận 2

II Cơ sở thực tiễn 8

III Mục đích nghiên cứu 10

IV Đối tượng, phạm vi nghiên cứu …11

PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI 12

Chương I Các hình thức tổ chức dạy học nhằm hình thành năng lực tự học cho học sinh (Thực nghiệm ở Tổ Văn) 12

Chương II Hướng dẫn học sinh tự học thông qua bài thí nghiệm – Thực hành (Tổ Hóa – Sinh) 41

Chương III Hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc bằng cách yêu cầu học sinh tự sáng tạo bài tập mới (Tổ Toán – Tin) 56

Chương IV Hướng dẫn học sinh tự học thông qua làm bài tập thực nghiệm (Tổ Lý – Công – Thể) 68

Chương V Hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc bằng cách luyện kỹ năng nói (Tổ Anh) 82

Chương VI Hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc thông qua tìm kiếm tư liệu lịch sử qua Internet, tư liệu giáo khoa 101

PHẦN III: KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 3

Ề TÀI :

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC : HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ

HỌC, TỰ ĐỌC THÔNG QUA BÀI GIẢNG TRÊN LỚP

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ

“Biết cách học là chứng tỏ bạn thông thái”

(Henrry Brooks Adams)

Vấn đề tự học của học sinh là một vấn đề quan trọng vì đó là một khâu trongquá trình thống nhất của việc dạy học nhằm phát huy năng lực học tập tư duy củacác em trên lớp cũng như ở nhà Vì vậy, vấn đề tự học của học sinh hiện nay hếtsức cấp thiết Vậy xuất phát từ cơ sở nào mà vấn đề tự học hiện nay lại trở nênquan trọng và cần thiết như vậy ?

I Cơ sở lý luận

Trước thực trạng và tình hình thực tiễn của giáo dục Việt Nam, nhu cầu củangười học và sự bùng nổ tri thức của thế giới Đảng ta đã xây dựng chiến lược pháttriển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2001 – 2010 Trong đó vấn đề “đổi mới và hiệnđại hóa phương pháp giáo dục Chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng -trò ghi sang hướng dẫn người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức,dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệthống, có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăngcường tính chủ động, tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập”.(Báo giáo dục thời đại, số 25 ngày 26/3/2002)

Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáodục Việt Nam từ những năm 1960 Ở thời điểm này các trường sư phạm đã có khẩu

hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cuộc cải cách giáo

dục lần thứ hai năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong những phương

Trang 4

hướng cải cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước.

Từ đó, trong nhà trường xuất hiện ngày càng nhiều tiết dạy tốt của các giáo viêngiỏi, theo hướng tổ chức cho học sinh hoạt động, tự lực chiếm lĩnh tri thức mới Sựnghiệp công nghiệp hóa đất nước, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quátrình hội nhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phài có nguồn nhân lực, người lao động có

đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Ngườilao động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt,sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sảnphẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội Để có nguồn nhân lực trên, yêu cầu đặt ra là phảiđổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung giáodục và phương pháp dạy và học Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đãđược xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa (VII 1-1993), Nghị quyết trungương 2 khóa VIII (12-1996) và được thể chế hóa trong Luật Giáo dục sửa đổi ban

hành ngày 27/ 6/ 2005, điều 2.4, đã ghi “ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Giáo dục hiện nay luôn được quan tâm hàng đầu.Việc đổi mới phương pháp

dạy học trong nhà trường phổ thông trong đó có đổi mới phương pháp dạy học văntheo tinh thần khoa học hiện đại đã, đang diễn ra sôi động và thu được nhiều kếtquả đáng mừng Với yêu cầu đổi mới, phương pháp giáo dục đã đánh giá lại vai tròcủa học sinh, coi học sinh là chủ thể tiếp nhận, là trung tâm của quá trình tiếp nhận

và là bạn đọc sáng tạo trong quá trình dạy học văn Nó không chỉ đòi hỏi kiến thức

mà còn cả tài năng nghệ thuật sư phạm của người giáo viên Thầy cô giáo giốngnhư kiến trúc sư trước mỗi công trình nghệ thuật Dưới bàn tay của nhà chạm khắc,

nó mang dấu ấn cảm thụ riêng hàm chứa tầng sâu ý nghĩa

Giáo dục trong thế kỷ XXI phải thực hiện được sứ mệnh nhân văn, giáo dụcđóng một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng củamỗi đất nước và tạo cơ hội học tập cho mỗi người dân Trong xu thế dạy học ngàynay, thực hiện dạy học theo phương pháp hiện đại người ta nghĩ ngay đến đổi mới

Trang 5

trong nhà trường phổ thông Đổi mới phưong pháp dạy học là một trọng tâm củađổi mới giáo dục THPT (trung học phổ thông) Luật Giáo dục điều 28 yêu cầu:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động , sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” Bồi dưỡng năng

lực tự học cho học sinh là việc làm rất quan trọng và cần thiết trong điều kiện hiệnnay Có thể khẳng định thời gian tự học là lúc học sinh có điều kiện tự nghiềnngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ thích hợp,điều đó không chỉ giúp các em nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững màcòn là dịp tốt để các em rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo Đây làphẩm chất mà không ai cung cấp được nếu các em không thông qua hoạt động bảnthân, nó là vấn đề cần thiết cho sự phát triển và thành đạt lâu dài của mỗi conngười Trong quá trình dạy học phải hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, duytrì sự hứng thú lôi cuốn các em say mê trong học tập, tạo ra những tiết học thoảimái, có nhiều hoạt động kích thích học sinh tư duy, thực hành, áp dụng kiến thứcvào cuộc sống thông qua các câu hỏi gợi mở, những thí nghiệm hướng cho ngườiđọc sự tìm tòi, nghiên cứu để rút ra các kết luận Ngoài ra, phải động viên khenngợi học sinhh đúng lúc, tạo mối quan hệ thân thiết với người học, tình cảm vớihọc sinh chia sẻ những khó khăn, vướng mắc tâm tư nguyện vọng của học sinh, tạocho học sinh các hoạt động vui chơi lồng nghép với trang bị kiến thức, lắng nghe

và trao đổi với học sinh Có thể nói, hướng dẫn học sinh phương pháp tự học chohọc sinh trong giờ giảng dạy đã thu được nhiều kết quả và tạo nên sự chuyển biếntrong dạy học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục, tiếp cận được xuthế dạy học hiện đại của thế kỷ XXI

Trong Nghị quyết Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã chỉ rõ chúng taphải “Đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục, đào tạo : Đó là thực hiện đồng bộcác giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổi mới chươngtrình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng

Trang 6

hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lýtưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sángtạo, kỹ thuật thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội ”Trước hết cần quan niệm như thế nào về tự học cho đúng ?

Rubakkin trong cuốn “Tự học như thế nào” đã kết luận rằng: “Hãy mạnh dạn

tự tôi đặt câu hỏi rồi tự tôi tìm lấy câu trả lời đó là phương pháp tự học” Ông chorằng tự học không chỉ làm xem sách mà phải biết so sánh cái viết trong sách vớithực tế cuộc sống, biết so sánh cái khoa học với cái không khoa học, biết liên hệgiữa các môn khoa học Không nên sợ bất đồng với ý kiến người khác, khôngnghiên cứu cái chung chung mà phải nghiên cứu vấn đề đang tranh luận, những vấn

đề tất yếu của thời đại mở rộng tầm nhìn cho bản thân Ông còn đưa ra một nguyêntắc tự học là” Hãy làm tất cả những gì có thể làm được và hãy cố gắng làm sao đểlàm được nhiều nhất

Từ ngàn xưa đến nay chúng ta có thể trích ra nhiều câu danh ngôn về việc tựhọc Trong đời sống văn hóa, văn học trong và ngoài nước, xưa và nay cũng có thểdẫn ra không biết bao nhiêu tấm gương tự học của các danh nhân chính trị, nhà vănhóa hay khoa học lớn thành nhân và thành danh phần quan trọng là nhờ tự học

Nguyễn Kỳ cho rằng : “Tự học là tự đặt mình và tình huống học, vào vị trí của

người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình, nhận thức vấn đề, thu thập xử lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, xây dựng các giải pháp, giải pháp vấn đề, xử lý tình huống, thử nghiệm các giải pháp, kết quả kiến thức mới đã tự lực mình tìm ra, tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.

Chu Mạnh Nguyên cho rằng : “Tự học, tự nghiên cứu là một quá trình,

trong đó mỗi người tự suy nghĩ, tự sử dụng các năng lực trí tuệ và các phẩm chất của bản thân, khai thác vận dụng những điều kiện vật chất có thể để biến một kiến thức nào đó của người khác thành kiến thức sở hữu của mình, vận dụng một kiến thức nào đó của người để làm cho công việc của bản thân có hiệu quả hơn”

Trang 7

Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã đưa ra một quan niệm về tự học có thể xem

khá hoàn chỉnh : “Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi

tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp và có khi cả cơ bắp khi phải sử dụng công cụ) cùng với các phẩm chất của mình, rồi động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồng biến chúng thành sở hữu của mình”.

Xuất phát từ nguyên tắc dạy học nhà trường gắn liền với đời sống và nguyêntắc chuyển quá trình dạy học sang quá trình tự học Nguyên tắc này đòi hỏi phảihình thành cho người học có nhu cầu, năng lực, phẩm chất tự học để chuyển dầnquá trình dạy học sang quá trình tự học Nghĩa là người học có thể tự mình tìm rahình thức cùng với cách khai thác hoạt động của chính mình, tự thể hiện mình vàhợp tác với bạn, tự tổ chức hoạt động của mình, tự kiểm tra đánh giá, tự điều chỉnhhoạt động học của mình để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Gắn liền với nhu cầu đòi hỏi của thời đại khi mà cuộc cách mạng khoa họccông nghệ và phát triển hiện nay đã dẫn tới sự bùng nổ thông tin và làm cho trithức ở từng người trở nên lạc hậu nhanh chóng “Sự bùng nổ của tri thức khoa học

và công nghệ đòi hỏi không những khoa học mà cả kỹ thuật và công nghệ phải trởthành một yếu tố không thể thiếu trong cấu trúc nhân cách của con người hiện đại

Trang 8

thì mới đảm bảo sự thích nghi với xã hội và khả năng đóng góp vào sự phát triểncủa cộng đồng” Để thích ứng với cuộc sống, mỗi người phải tự học liên tục, họcsuốt đời Hồ Chí Minh một tấm gương sáng về tự học đã từng nói” “Học tập làcông việc phải tiếp tục suốt đời Không ai có thể tự cho mình biết đủ rồi, biết hếtrồi Thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng taphải tiếp tục học và hành để đuổi kịp nhân dân” ; “Lấy tự học làm cốt, có thảo luận

và chỉ đạo giúp vào”

Xuất phát từ nhận thức của bản thân về vấn đề tự học : Tự học là con đườngkhắc phục khó khăn thử thách rèn luyện, ý chí vươn lên, tạo tri thức bền vững chomỗi người trên con đường phát triển học vấn và phát triển nhân cách suốt đời Tựhọc là biểu hiện của trí lớn lập nghiệp Tự học là công việc tất yếu của mỗi người

và là công việc suốt cả cuộc đời Trong quá trình tự học, con người sẽ tự lớn lên cả

về tri thức lẫn nhân cách, tâm hồn và vị trí xã hội Tự học là một truyền thống tốtđẹp của dân tộc ta, luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng Xuất phát từ yêu cầucủa công cuộc đổi mới dạy học: nói phương pháp dạy học tới thì cốt lõi là phươngpháp tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học

“Tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh”, đó là tư tưởng chiến lược cơ bảncủa Đảng, lấy nội lực, năng lực tự học làm nhân tố quyết định sự phát triển của bảnthân người học và giáo dục đào tạo, làm cho giáo dục đào tạo sớm trở thành khâuphát huy năng lực nội sinh của dân tộc đưa đất nước tiến nhanh lên công nghiệphóa, hiện đại hóa Xuất phát từ nguyên tắc dạy học nêu vấn đề : Một trong nhữngcon đường nhằm khắc phục tình trạng dạy học nhồi nhét kiến thức, phát huy tríthông minh, năng lực độc lập trong nhận thức của học sinh là dạy học nêu vấn đề.Nhà giáo dục Distervery người Đức đã nói : “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân

lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý”, phương pháp dạy học nêu vấn đềchủ yếu nắm kiến thức, song không phải chỉ để ghi nhớ thuộc lòng, mà tự sự kiệncần biết tự tạo nên tình huống có vấn đề để giải quyết Như vậy sẽ nhớ lâu, hiểu kĩ

sự kiện hơn Phương pháp nêu vấn đề sẽ gây hứng thú học tập, phát huy tích cực tưduy học sinh và tạo cho học sinh biết tư duy, suy nghĩ

Trang 9

Theo M.I Macmutop: “Dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề đó là trở

ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta chưa biết cách giải thích hiệntượng, sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thứchành động quen thuộc Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thíchhay hành động mới, tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sángtạo có hiệu quả” “Nhiệm vụ của người thầy giáo không phải là truyền đạt kiến màdạy cho học sinh biết suy nghĩ”

II Cơ sở thực tiễn

Nhìn rộng ra thế giới chúng ta cũng thấy rằng: Không phải ngẫu nhiênSingapore chỉ có khoảng 2 triệu dân mà dám chi ra hàng tỷ đô la cho việc cải cáchgiáo dục ở nhà trường phổ thông Cũng không phải tùy hứng mà Pie Lena, giáo sưvật lý thiên văn, viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học Pháp được Giải thưởng Noben năm

1992 đã đề xướng phong trào “bàn tay nặn bột” nhằm phát triển tư duy sáng tạongay từ bậc tiểu học

Đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường để xóa bỏ phương pháp dạyhọc giáo điều là một đòi hỏi cấp bách nhằm giải phòng và phát huy tiềm năng sángtạo cho người học ngay từ trên ghế nhà trường Thế kỷ XXI là thế kỷ của chất xám,của trí tuệ, của nền văn minh hậu công nghiệp Con người muốn tồn tại, muốn hòanhập, muốn tự khẳng định mình thì nhất định phải là những thành viên năng độngsáng tạo

Vấn đề tự học từ xưa tới nay đều hết sức được đề cao Lê nin nói “Học, họcnữa, học mãi” Hồ Chí Minh cũng đề cao : “Lấy tự học làm cốt” Einstein nói

“Kiến thức chỉ có được qua tư duy của con người” Một nhà khoa học Pháp cũngnói: “Văn hóa không nhận được từ bên ngoài mà là kết quả của việc làm từ bêntrong, một việc làm của mình với mình”

Đánh giá một cách khách quan cho thấy rằng với phương pháp đổi mới dạyhọc hiện nay, học sinh đã tiếp cận có hiệu quả việc tự học, đổi mới trong tư duy đểphát huy tính độc lập, sáng tạo và chủ động của mình Rất nhiều em đã hình thành

Trang 10

cho mình thói quen tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi và nắm vững kiến thức một cáchchính xác, suy nghĩ và vận dụng một cách thành tạo Không thể phủ nhận rằng rấtnhiều giờ học mà học sinh hăng hái phát biểu xây dựng bài, thể hiện hiểu biết củacác em Giáo viên chỉ cần nêu vấn đề và học sinh qua quá trình tìm hiểu sẽ tự trảlời Nhìn ra thế giới nền giáo dục của một số nước như: Mĩ, Anh, Pháp, Phần Lan,Đan Mạch nằm ở tốp đầu trong bảng xếp hạng các nền giáo dục thế giới và hãynhìn cách học của họ Phần lớn là học sinh tự học, thời gian lên lớp không nhiều.Cách học như vậy phát huy được khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinhviên rất lớn.

Tuy nhiên, về phía giáo viên vẫn còn tồn tại một số quan niệm, biện pháp cóảnh hưởng không tốt đến việc giáo dưỡng, giáo dục học sinh như: giới hạn hoạtđộng nhận thức của học sinh ở việc ghi nhớ một số điểm cơ bản, tóm tắt rất sơ lượcnội dung sách giáo khoa, giới thiệu một số sự kiện chung chung mà không cụ thể

về sự kiện Hậu quả của những việc làm này làm nghèo nội dung, hạ thấp chấtlượng và hứng thú của học sinh

Về phía học sinh : Học sinh đã có sự chuẩn bị là đọc sách giáo khoa nhưngvẫn thụ động, chỉ biết thuộc lòng không biết cách đặt vấn đề, tìm hiểu sâu hơnnhững kiến thức trong sách giáo khoa

Học sinh ngồi nghe giảng bài mà không biết tiến hành những hoạt động tưduy độc lập trong việc lựa chọn những điều nghe được để ghi chép, nảy sinh nhữngvấn đề mới cần giải quyết hay có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn những điều giáo viêntrình bày

Vì vậy, nghiên cứu đề tài về vấn đề việc tự học hiện nay là hết sức cần thiết

Tự học trong quá trình học tập của học sinh là việc các em độc lập hoàn thànhnhững nhiệm vụ được giao, với sự giúp đỡ, hướng dẫn, kiểm tra của giáo viên.Việc tự học như vậy bao gồm cả việc tập dượt nghiên cứu (tìm tòi, nghiên cứu từngphần) Nó gây hứng thú học tập, sự cố gắng của học sinh (nhất là học sinh cuốicấp) và đóng góp phần nào với xã hội (chủ yếu là công tác xã hội) Việc tự học củahọc sinh diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau :

Trang 11

- Những hoạt động tự nhận thức khi nghe giảng trên lớp (biết tự điều chỉnh đểnghe giảng, chọn lọc kiến thức để ghi chép, tự trả lời câu hỏi của giáo viên nêura )

- Tự học sách giáo khoa theo các bước:

+ Đọc và tự ghi tóm tắt những vấn đề cơ bản của bài viết

+ Ghi lại những nội dung khó hiểu, đặc biệt là các thuật ngữ, khái niệm

+ Hoàn thành bài tập, câu hỏi sách giáo khoa

+ Tự làm việc với bản đồ, tranh ảnh ngoài sách giáo khoa

+ Tự đọc thêm các tài liệu, văn học trong các sách tư liệu tham khảo, sách đọcthêm nhằm hiểu rõ hơn kiến thức đã học, mở rộng sự hiểu biết

+ Tự ôn tập dưới sự hướng dẫn của thầy

Như thế chuyện tự học của học sinh không phải là vấn đề mới lạ Có lạ chăng

là sự khôn ngoan đã từng giúp ích cho con người khôn lớn nhưng nhiều khi chínhcon người lại bỏ quên những kinh nghiệm quý giá đó, biến nó thành thứ kho báuchìm lãng trong lớp bụi thời gian

Không ai thành đạt mà không có chí lớn Chí làm chính trị cứu nước cứu dân,chí làm khoa học, làm kinh tế Muốn nâng cao học vấn thì ngoài việc học tập tạicác trường học phải thường xuyên tự học Tự học là biểu hiện của chí lớn lậpnghiệp của mỗi con người trên con đường hòa nhập vào cộng đồng Chúng ta cònnhớ cảnh tự học ngoại ngữ của Bác Hồ hồi còn trẻ, những ngày Người phải lênhđênh kiếm sống trên tàu nơi biển cả hay trong những này xúc tuyết ở Luân Đôn

III Mục đích nghiên cứu

- Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn

- Rèn luyện cho HS tính tự lực, sáng tạo, ham học hỏi, tìm tòi khám phá tựnhiên, học sinh có niềm tin vào bản thân,

- Đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh,

Trang 12

* Với giáo viên : Trong quá trình dạy học, người thầy đóng vai trò chủ đạo

trong việc tổ chức, điều khiển, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cựcgiữa người dạy và người học, khuyến khích sự tham gia chủ động, sáng tạo và ngàycàng độc lập của học sinh vào quá trình học tập

* Với học sinh : Giúp các em học sinh trong mỗi giờ dạy sẽ có sự hứng thú

khi học, khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếmlĩnh tri thức Lĩnh hội những tri thức của loài người đồng thời tìm kiếm, khám phá

ra những hiểu biết mới cho bản thân Qua đó sẽ thông hiểu, ghi nhớ những gì nắmđược qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình

IV Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Các tổ bộ môn trong Trường THPT Trưng Vương

Thời gian nghiên cứu 2 năm: Năm học 2012-2013 và 2013 - 2014

Trang 13

PHẦN II : NỘI DUNG Đ Ề TÀI

Sau đây chúng tôi trình bầy những nội dung nghiên cứu của các tổ chuyên môn vềcác nội dung yêu cầu của đề tài

CHƯƠNG I Các hình thức tổ chức dạy học nhằm hình thành năng lực tự học cho học sinh

(Thực nghiệm ở Tổ Văn)

1 Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà

1.1 Hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa

Sách giáo khoa là sự cụ thể hóa chương trình, là nguồn tri thức thống nhất và

là chỗ dựa cơ bản cho giáo viên khi dạy học Ở nước ta sách giáo khoa có vai trò vôcùng quan trọng Điều 25 của Luật Giáo dục đã khẳng địnhh: “Sách giáo khoa để

sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường vàcác cơ sở giáo dục khác” Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đã khẳngđịnh vai trò quan trọng của Sách giáo khoa trong quá trình học tập của học sinh.Sách giáo khoa là nguồn cung cấp tri thức đúng đắn, khoa học và thống nhất trongnền giáo dục quốc dân Tri thức được đưa vào Sách giáo khoa có tính tinh giản, côđọng, súc tích phong phú Để giúp học sinh có phương pháp tự học tự nghiên cứugiáo viên cần có những định hướng cho học sinh trong các hoạt động tiếp xúc vớiSách giáo khoa, tập trung cho các em biết gia công tìm tòi, sáng tạo trong quá trìnhlĩnh hội tri thức Đối với học sinh, việc soạn bài ở nhà yêu cầu không thể thiếu làphải đọc văn bản nhưng cốt yếu giáo viên hướng dẫn HS khi đọc phải thực hiện cáccông việc sau:

- Đọc âm vang và cả đọc thầm để tưởng tượng

- Đọc và ghi lại những cảm nhận, những ấn tượng ban đầu về tác phẩm

- Đọc để tìm nội dung chính, xác định những kiến thức cơ bản trọng tâm

Trang 14

Chuẩn bị bài là một yêu cầu bắt buôc đối với học sinh khi hoạt động dạy họcNgữ văn tiến hành theo tư tưởng đổi mới : học sinh là tích cực chủ thể trong giờhọcHướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà trước hết và quan trọng nhất vẫn là yêu cầucác em trả lời câu hỏi ở phần Hướng dẫn học bài, hướng các em vào những ý trọngtâm, câu hỏi trọng tâm điều này rất có ích trong việc đọc văn bản trên lớp Muốnlàm được điều này giáo viên phải có đầu tư suy nghĩ trước một bước

Và như vậy, việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà sẽ mang lại hiệu quả

cao hơn Chẳng hạn khi soạn bài Hai đứa trẻ (Thạch Lam) giáo viên yêu cầu các

em chú ý và trả lời kỹ những vấn đề sau: Anh (chị) có ấn tượng sâu sắc với nhân vật nào,vơí chi tiết nghệ thuật nào trong truyện Hai đứa trẻ? Vì sao?

Như vậy việc Hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi làviệc làm vô cùng quan trọng, bởi đây là bước chuẩn bị trước làm cơ sở cho việcđọc tác phẩm trên lớp, giúp giờ học sôi nổi và đạt hiệu quả cao hơn

1.2 Hướng dẫn học sinh lập graph, lập dàn ý khái quát cho bài học

Từ những hiểu biết của bản thân, học sinh tự lập thành sơ đồ, thành nhữngdàn ý theo suy nghĩ của mình Ghi chép tóm tắt những gì và như thế nào là phụthuộc vào hiểu biết và kinh nghiệm của từng người Có nhiều cách ghi tóm tắt, sauđây là một số cách ghi mà học sinh có thể dùng trong khi học môn Ngữ văn:

-Trình bày dưới dạng dàn bài

Trang 15

Tác phẩm Nội dung Nghệ thuật

-Trình bày dưới dạng sơ đồ:

Ví dụ: Bài Trích đoạn Chí khí anh hùng-Truyện Kiều của Nguyễn Du

1.3 Tổ chức phân công từng vấn đề cụ thể cho từng nhóm học sinh

Sau khi kết thúc một giờ học công việc thường thấy từ trước đến nay là giáoviên dặn dò học sinh về nhà học bài và chuẩn bị bài mới cho giờ học tiếp theo Vìvậy, tổ chức phân công vấn đề cho học sinh chuẩn bị trước là bước đệm rất quantrọng cho bài học mới đạt kết quả Để làm việc này có chất lượng giáo viên phảithực hiện những bước sau:

- Giáo viên chuẩn bị trước các vấn đề

H×nh t îng ng êi anh hïng

Nhân vật Từ Hải

Ngôn ngữ tác giả Thủ pháp ước lệ Ngôn ngữ nhân vật

Khát vọng lớn lao Tầm vóc vũ trụ Phẩm chất phi thường

Trang 16

- Chia nhóm

- Phân công vấn đề cụ thể cho từng nhóm

- Thời gian: giáo viên dành khoảng 5 phút cuối mỗi giờ học để làm việc này

Chẳng hạn khi dạy bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân ngoài việc HS

chuẩn bị bài theo phần hướng dẫn trong sách giáo khoa, GV có thể chuẩn bị trướccác vấn đề sau giao cho HS và yêu cầu mỗi nhóm phải chuẩn bị kĩ phần việc củanhóm mình

- Phong cách tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân qua truyện ngắn Chữ người

HS sẽ được nâng cao Đây cũng là một trong những hình thức tốt để nâng cao chấtlượng dạy học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông Bởi bất cứ một công việc

gì khi đã có sự hợp tác chuẩn bị kĩ lưỡng từ hai phía thì chắc chắn sẽ hiệu quả tốthơn Ưu điểm của cách làm này là tiết kiệm thời gian khi lên lớp, phát huy đượccách học hợp tác, vấn đề trọng tâm của bài học sẽ được mổ xẻ một cách sâu sắchơn Quan trọng khi thực hiện điều này, GV phải nắm sát đối tượng để khuyếnkhích, động viên một cách kịp thời, chân thành kể cả học sinh làm tốt và học sinhchưa làm tốt

1.4 Hướng dẫn, phân công học sinh sưu tầm và khai thác nguồn tài liệu học tập khác.

Ngoài Sách giáo khoa, tài liệu học tập cho môn Ngữ văn vô cùng phong phú.Đây là phương tiện rất cần thiết đối với người học văn, ngoài các loại sách tham

khảo như : Học tốt Ngữ văn, Các bài văn hay lớp 10,11,12 HS còn có thể tìm thấy

Trang 17

những tài liệu về văn học trên các tờ báo, tạp chí văn học, trên mạng Internet… Cáctài liệu này là nguồn tri thức bổ sung vô cùng quan trọng đối với người học Tìmcác tài liệu liên quan đến bài học một mặt giúp HS tìm hiểu và giải quyết các vấn

đề trong quá trình soạn bài, mặt khác nó góp phần rèn luyện, trau dồi và năng cao ýthức tự học, tự nghiên cứu ở các em Dưới đây, chúng tôi xin nêu ra một số cách đểgiúp HS tìm và sử dụng tài liệu vào việc chuẩn bị bài cho giờ đọc văn

- Giới thiệu cụ thể tên sách tham khảo, các bài viết, các tài liệu có liên quan trựctiếp đến bài học Hướng dẫn học sinh tìm sách, tài liệu tham khảo ở những địa chỉ:thư viện trường, nhà sách trên địa bàn, ở thầy cô giáo…

- Cung cấp cho HS một số địa chỉ (trang Web) trên mạng Internet Với Internet,

HS có thể khai mở kho thông tin khổng lồ và phong phú nhất trong lịch sử nhânloại ở nhiều lịnh vực khác nhau của đời sống Chẳng hạn chỉ cần vào một số trangWeb như:

www.vietnamwebsite.net / ebook /vanhocvietnam

Tóm lại, để giúp học sinh học tốt môn Ngữ văn trong nhà trường THPTngười giáo viên phải hướng dẫn, và quan trọng hơn là xây dựng ở các em ý thức,thói quen đi tìm tài liệu liên quan đến bài học Điều này rất quan trọng đối với việc

bổ trợ thêm kiến thức, bồi dưỡng niềm say mê đọc sách, rèn luyện tác phong làmviệc nghiêm túc khoa học cho học sinh khi đứng trước một vấn đề cần giải quyết

Trang 18

2 Tổ chức cho học sinh học tập trên lớp

2.1 Nêu vấn đề của bài học

Mở đầu bài học, giáo viên khuyến khích, động viên, tạo động lực học tập, sao chohọc sinh học tập với tinh thần tích cực, tự giác và hứng thú nhất Bởi chỉ có nhưvậy giờ học mới đạt hiệu quả cao Muốn thực hiện điều này, GV phải biết sử dụngnhững thủ thuật sau:

Tạo ra tình huống có vấn đề, trong đó có những mâu thuẫn về nhận thức mà HShứng thú, thỏa mãn nhu cầu và phù hợp với năng lực của họ Để tạo ra một tìnhhuống như thế đòi hỏi giáo viên phải có tri thức, kinh nghiệm, có sự nhạy cảm cầnthiết, nắm được nhu cầu nguyện vọng của HS; có tinh thần trách nhiệm và sự dàycông trong khâu chuẩn bị bài

Nêu lên mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà các em phải có trách nhiệm hoàn thànhqua giờ học Làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng về mặt khoa học và xã hội của hệthống tri thức mà các em cần nắm vững trong bài học

2.2 Tổ chức cho học sinh giải quyết tốt các vấn đề của bài học

Giáo viên căn cứ vào bài học, tiết học, lớp học cụ thể để đưa ra những cách thức,biện pháp tổ chức hoạt động phù hợp để học sinh chiếm lĩnh bài học một cách hiệuquả nhất Tuy nhiên cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Ph i h p ch t ch ho t ối hợp chặt chẽ hoạt động của thầy và của trò ợp chặt chẽ hoạt động của thầy và của trò ặt chẽ hoạt động của thầy và của trò ẽ hoạt động của thầy và của trò ạt động của thầy và của trò động của thầy và của tròng c a th y v c a tròủa thầy và của trò ầy và của trò à của trò ủa thầy và của trò

Hoạt động của thầy Hoạt động của trò

- Tạo tình huống để HS rõ vấn đề, thấy

mâu thuẫn cần giải quyết

-Nghe, tiếp thu, chuyển mâu thuẫnbên ngoài thành mâu thuẫn bên trong,

có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn

- Giao nhiệm vụ học tập(đặt câu hỏi, ra

bài tập…)

- Tiếp nhận nhiệm vụ qua câu hỏi,bài tập…

- Hướng dẫn HS hoạt động( đọc giáo

trình, nghiên cứu tài liệu, tổ chức thảo luận

- Đọc giáo trình, tái hiện , suy nghĩ,sáng tạo, trả lời câu hỏi, thảo luận…

- Theo dõi sự tự học của các em, tổ

chức nhóm thảo luận, đặt câu hỏi bổ sung

khi cần thiết

- Phát huy tính tích cực, sự nỗ lựcsáng tạo, trao đổi bạn bè để thảo luậngiải quyết nhiệm vụ học tập

Trang 19

- Giải đáp câu hỏi - Nêu câu hỏi

- Phân tích, bổ sung, khẳng định những

điểm đúng, uốn nắn những sai lầm, thiếu sót

- Sửa chữa, hoàn thiện, hệ thống hóatri thức, kĩ năng

- Ph i h p hi u qu các phối hợp chặt chẽ hoạt động của thầy và của trò ợp chặt chẽ hoạt động của thầy và của trò ệu quả các phương pháp dạy học ả các phương pháp dạy học ương pháp dạy họcng pháp d y h cạt động của thầy và của trò ọc

Phương pháp Nội dung hoạt động

1 Diễn giảng nêu vấn đề - Tạo ra tình huống có vấn đề

- Thầy trò cùng giải quyết các vấn đề quacác thủ thuật như: đặt câu hỏi; thuyết trình;nêu vấn đề để các em trao đổi tìm cách giảiquyết

2.Tự đọc - HS đọc giáo trình, tài liệu

- Viết tóm tắt, lập sơ đồ, bảng biểu

3 Thảo luận nhóm - HS được chia thành nhiều nhóm để thảo

luận một vấn đề do GV nêu lên

- Đại diện các nhóm trình bày trước lớp

2.3 Hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức bài học

Hệ thống hóa kiến thức bài học là một việc làm vô cùng quan trọng khôngthể bỏ qua trong quá trình dạy học Vì vậy GV phải rèn luyện cho HS có kĩ năngnày để đảm bảo tính hiệu quả của giờ dạy Tuy nhiên khi hệ thống hóa kiến thức

Gv cần lưu ý HS phải làm theo ý riêng của mình, nghĩ là mỗi học sinh hệ thống

Trang 20

theo một kiểu mà các em thấy phù hợp với bản thân khi học Nhưng yêu cầu phảingắn gọn sao cho dễ học và phải đảm bảo kiến thức trọng tâm

Ví dụ: Hướng dẫn học sinh hệ thống hóa bài “ Lời tiễn dặn” (trích “Tiễn dặnngười yêu” dưới dạng dàn bài GV yêu cầu HS khi hệ thống phải thể hiện đượcnhững vấn đề sau:

- Lòng quyết tâm giữu trọn tình yêu giữa chàng trai và cô gái

2 Cử chỉ, hành động và tâm trạng của chàng trai lúc ở nhà chồng của cô gái

- Cử chỉ:

+ Vỗ về, an ủi lúc cô gái bị nhà chồng đánh đập, hắt hủi

+ Làm thuốc cho cô gái uống

- Tâm trạng:

+ Nỗi xót xa, niềm thương cảm mà chàng trai dành cho cô gái

+ Ý chí mạnh liệt của chàng trai nhất quyết giành lại tình yêu để đoàn tụ cùng côgái

2.4 Hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả của mình

Tự đánh giá kết quả học tập của mình sau mỗi buổi học là việc làm vô cùng cầnthiết đối với bản thân mỗi học sinh Thông qua hoạt động này các em sẽ tự nhậnbiết được khả năng của mình: thấy được điểm mạnh, điểm hạn chế để phát huy vàkhắc phục Cũng tự việc làm này mà HS sẽ tự lớn lên trên con đường học tập của

Trang 21

mình Các em sẽ tự biết được năng lực của mình đạt đến đâu so với mục tiêu bàihọc đặt ra ở cả ba phương diện: kiến thức, kĩ năng, thái độ Ở đây, các em sẽ cómột lượng thời gian nhất định để so sánh, đối chiếu giữa cái mình đã hệ thống quatiết học ở lớp và bài soạn của chính mình ở nhà Với việc làm này, học sinh sẽ cócái nhìn sâu sắc và khách quan hơn về tác phẩm, đồng thời cũng tự mình rút ra bàihọc kinh nghiệm cho bản thân khi đứng trước công việc tìm hiểu và khám phá mộttác phẩm văn học.

II - ÁP DỤNG MỘT GIÁO ÁN CỤ THỂ

Yêu cầu chuẩn bị

a Đối với giáo viên

Quá trình chuẩn bị bài giảng của giáo viên bao gồm hai việc chính : tìm hiểu tác phẩm và soạn giáo án.

● Tìm hiểu t á c p hẩm

Bao gồm các việc sau:

- Tìm hiểu những tư liệu lịch sử - xã hội liên quan đến thế giới quan sáng táccủa tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

- Tìm đọc những bài viết của những nhà nghiên cứu, phê bình có liên quanđến tác giả và tác phẩm

- Tìm hiểu những văn bản cùng thể hiện nội dung cần đề cập của chính tác giả

và của các nhà văn khác

Soạn giáo án

Nói chung, giáo án phải thể hiện một cách cụ thể quan điểm dạy học, phươngpháp lên lớp, cấu tạo giờ dạy, nội dung kiến thức cần truyền đạt, các hình thứcluyện tập Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học văn hiện nay, mộtgiáo án tuy có nhiệm vụ chủ yếu là thể hiện sự vận dụng phương pháp đối thoạitrong dạy học một tác phẩm cụ thể nhưng giáo án đó vẫn phải có sự kết hợp hữu

cơ, sự vận dụng nhuần nhuyễn, hài hoà các phương pháp, biện pháp dạy họctruyền thống một cách hợp lí để từ đó dẫn dắt học sinh tìm tòi, khám phá, hìnhthành, củng cố các đơn vị kiến thức của bài học một cách sinh động, linh hoạt

Trang 22

b Đối với học sinh

Chủ thể học sinh chiếm một vai trò quan trọng trong tiến trình dạy học, cho dù

sự chuẩn bị của giáo viên có công phu đến đâu mà học sinh không chuẩn bị thì

ý tưởng của giáo viên (mục đích, yêu cầu đặt ra trong bài) khó thành hiện thực

Do vậy, giáo viên phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà cho tiết học sắptới thông qua câu hỏi gợi ý của giáo viên và một số câu hỏi hướng dẫn học bàitrong sách giáo khoa Đây là bước đầu tiên giúp học sinh thâm nhập tác phẩm,chuẩn bị tham gia phân tích và tiếp thu bài giảng trên lớp Trong quá trình chuẩn

bị bài, học sinh phải đọc tác phẩm một cách nghiêm túc, tìm hiểu và nắm một số

từ ngữ, câu văn cần thiết, trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa; đặc biệt là cáccâu hỏi hướng đến việc xây dựng những nội dung đối thoại do giáo viên yêucầu

Qua sự chuẩn bị này, học sinh sẽ nắm được một phần nội dung của tác phẩm,làm cơ sở để tham gia đối thoại về tác phẩm trên lớp dưới sự tổ chức, hướng dẫncủa giáo viên

- Giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm;

- Những nét đặc sắc trong nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao như điển hình hóanhân vật, miêu tả tâm lí, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ nghệ thuật

2 Về kĩ năng

- Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

- Rèn luyện kĩ năng phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự

Trang 23

Sách giáo khoa Ngữ văn 11 (tập một) đã có bài giới thiệu tác giả Nam Cao.

Vì thế, những gì giáo viên chọn để trang bị cho học sinh về thể loại (truyện

ngắn), tác giả (Nam Cao), tác phẩm (Chí Phèo), trong phạm vi 2 tiết, phải thật

chọn lọc, thiết thực để tập trung vào các mục tiêu đọc - hiểu của bài học

Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị ở nhà các nội dung đối thoại xung quanhnhững kiến thức về yếu tố ngoài văn bản và văn bản như sau:

- Tìm hiểu, nhận xét về nét đặc sắc của cây bút truyện ngắn Nam Cao; đặc

điểm nghệ thuật của truyện ngắn Chí Phèo.

- Tìm hiểu những vấn đề xã hội xung quanh việc ra đời của tác phẩm Chí Phèo

và sức khái quát xã hội của tác phẩm

- Tìm hiểu các nhan đề khác nhau của truyện ngắn Chí Phèo và thử giải thích

vắn tắt ý nghĩa của các nhan đề ấy trong mối liên hệ với chủ đề tác phẩm

Câu hỏi chuẩn bị:

- Nam Cao là tên thật hay là bút danh, nếu là bút danh thì tên thật của Nam Cao

là gì?

- Bút danh Nam Cao xuất hiện từ giai đoạn sáng tác nào của nhà văn? Bút danh

ấy xuất phát từ đâu

- Truyện ngắn Chí Phèo đã mấy lần đổi tên, đó là những tên nào?

- Phát biểu suy nghĩ của em về những lí do đặt tên, đổi tên và mức độ phù hợpcủa từng nhan đề cụ thể đối với chủ đề tư tưởng của tác phẩm

- Tìm hiểu đề tài sáng tác của truyện ngắn Chí Phèo bằng cách tìm những tác phẩm của Nam Cao có cùng đề tài sáng tác với Chí Phèo và những tác giả, tác

phẩm trong giai đoạn có cùng đề tài sáng tác ấy Qua đó nêu suy nghĩ của bản

Trang 24

thân về khả năng phản ánh của các tác giả về mảng đề tài này (Vấn đề đặt racho tất cả các đối tượng học sinh suy nghĩ, tìm tòi; đặc biệt dành cho những họcsinh khá giỏi, yêu thích môn học huy động, củng cố kiến thức đã học ở trung học

cơ sở, đồng thời tìm hiểu sâu, bao quát hơn về sáng tác của Nam Cao và văn họcgiai đoạn về mảng đề tài này)

C T IẾN TRÌNH D Ạ Y HỌC

1 Ổn định

2 Kiểm tra bài cũ

3 Nội dung bài mới

Đọc “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan, người đọc tưởng chừng như không còn gì để nói thêm nữa về nỗi khổ của người nông dân trướcCách mạng Vậy mà khi Chí Phèo ngật ngưỡng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, người đọc nhận thấy: đây mới là kẻ khốn cùng nhất ở nông thôn ta ngày trước.

Với việc xây dựng hình tượng nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã thể hiện giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật sâu sắc, mới mẻ Hôm nay cô- trò ta sẽ cùng nhau tìm hiểu điều đó

* Nội dung bài mới

Phèo có rất nhiều cách phân tích Chí

Phèo thuộc kiểu nhân vật số phận Vì

vậy, cô sẽ hướng dẫn các em tìm hiểu

những bi kịch của cuộc đời Chí Phèo, từ

đó thấy được những giá trị của tác phẩm

GV cho HS xem đoạn video trích trong

phim Làng Vũ Đại ngày ấy

HS chú ýlắng nghe

HS xem

I- Giới thiệu chung II- Đọc- hiểu văn bản

Hình tượng nhân

Trang 25

5’

Đọc truyện, ngay đoạn mở đầu, chúng ta

đã thấy Chí Phèo xuất hiện với tiếng

chửi Chúng ta hãy xem Chí Phèo chửi

như thế nào? -> GV đọc đoạn mở đầu

? Hãy so sánh về ngôn từ trong tác phẩm

văn học với ngôn từ trong điện ảnh qua

đoạn phim vừa xem

GV nhận xét và kết luận (GV NX&KL):

Ngôn ngữ trong điện ảnh chưa chuyển

tải hết được những câu từ của nhà văn

Chúng ta sẽ tìm hiểu về tiếng chửi của

Chí Phèo ở đoạn mở đầu truyện

? Hãy nhận xét về tiếng chửi của Chí

Phèo

? Hãy cho biết đối tượng Chí

Phèo chửi và nhận xét

GV NX&KL:

Chí Phèo chửi tất cả nhưng vu vơ,

không động chạm đến ai Có người cho

rằng hắn chửi vì hắn say rượu Nhưng

chưa hoàn toàn đúng Cách thu hẹp đối

tượng chửi; cách chửi rất văn vẻ của Chí

Phèo cho thấy là hắn tỉnh chứ không

hoàn toàn say Như thế, trong con người

Chí, cái say và tỉnh luôn luôn cùng tồn

tại

? Mục đích chửi

một đoạnphim

HS suynghĩ trả lời

HS chú ýlắng nghe

HS suynghĩ trả lời

HS chú ýlắng nghe

HS suynghĩ trả lời

vật Chí Phèo

1 Tiếng chửi của Chí Phèo (nhánh 1-

sơ đồ tư duy)

- Đối tượng chửi:

trời- đời- cả làng

Vũ Đại- đứa không chửi nhau với hắn- đứa chết mẹ nào đẻ

ra hắn

-> trạng thái lưỡnggiữa say và tỉnh

- Mục đích chửi: đểđược giao tiếp vớimọi người

- Kết quả: chỉ nhậnđược một sự im lặngđáng sợ

Trang 26

? Kết quả

GV NX&KL:

Chí chỉ nhận được một sự im lặng đáng sợ

Ở đoạn tiếp theo câu chuyện, Nam Cao kể:

chửi rồi lại nghe! Thành thử chỉ có ba con

chó dữ với một thằng say rượu -> Chí Phèo

chỉ đáng xếp hàng với con vật (hiện tượng

vật hóa kiếp người là một đặc trưng trong

bút pháp nghệ thuật của nhà văn Nam Cao)

? Tâm trạng của Chí qua tiếng

chửi

GV NX&KL:

Tiếng chửi của Chí thể hiện tâm trạng

cô đơn, bi phẫn, uất ức cùng cực vì ít

nhiều ý thức được xã hội đã gạt tên

-> Hé mở bi kịch của cuộc đời Chí Phèo

Bi kịch bị từ chối quyền làm người

? Nhận xét về nghệ thuật

GV NX&KL:

-> Cách trần thuật hấp dẫn, đẩy ngay

nhân vật vào hành động đầy kịch tính

-> Ngôn ngữ đa thanh đa giọng điệu

(ngôn ngữ của nhà văn, ngôn ngữ của

Chí Phèo, ngôn ngữ của đám đông ); đa

dạng các kiểu câu (câu trần thuật, câu

HS chú ýlắng nghe

HS chú ýlắng nghe

- Tâm trạng: biphẫn, cô đơn,uất ức cùng cực -> hé mở bi kịch

- Nghệ thuật:

-> Cách trần thuậthấp dẫn

-> Ngôn ngữ đathanh đa giọng điệu,

đa dạng các kiểucâu

Trang 27

nghi vấn, câu bình luận )

GV dẫn dắt: Từ tiếng chửi của Chí Phèo

ở phần mở đầu câu chuyện, nhà văn

Nam Cao đã hé mở cho chúng ta thấy bi

kịch của cuộc đời Chí Nếu như chị Dậu

(Tắt đèn- Ngô Tất Tố), anh Pha (Bước

đường cùng- Nguyễn công Hoan) rơi vào

bi kịch bị bần cùng hóa (bi kịch về vật

chất) thì Chí Phèo của Nam Cao không

chỉ rơi vào bi kịch đó mà còn là bi kịch

bị tha hóa và sau nữa là bi kịch bị từ chối

quyền làm người (bi kịch tinh thần)

Trước hết, chúng ta sẽ tìm hiểu bi kịch bị

tha hóa của Chí

? Khi mới sinh ra, Chí có thân phận

như thế nào

GV NX&KL:

- Khi mới sinh ra:

Chí Phèo với thân phận là một đứa trẻ bỏ

rơi ở lò gạch cũ, xa nhà cửa, vắng người

qua lại -> được dân làng truyền tay nhau

nuôi lớn: Một anh đi thả ống lươn nhặt

được Chí Phèo trần truồng và xám ngắt

trong một váy đụp để bên cái lò gạch bỏ

không Anh ta không nuôi mà cho một

bà góa mù Bà góa mù nuôi không nổi

nên bán cho bác phó cối không con Bác

phó cối chết thì hắn bơ vơ hết đi ở cho

HS suy nghĩ trả lời

HS thảo luận trả lời

HS chú ýlắng nghe

2 Quá trình tha hóa (nhánh 2- sơ đồ

tư duy)

* Khi mới sinh ra:

bị bỏ rơi-> dân làngnuôi lớn

Trang 28

7’

nhà này lại đi ở cho nhà nọ

-> Có thân phận tội nghiệp, bất hạnh:

Chí không mẹ cha, không họ hàng,

không một tấc đất Tất cả chỉ là một con

số 0 tròn trĩnh

? Hiện tượng bỏ rơi những đứa trẻ vô

tội trong xã hội ngày nay có còn không,

vì sao?

GV NX&KL:

Trong xã hội ngày nay, những đứa

trẻ vô tội vẫn còn bị bỏ rơi (một hài nhi

vứt trong thùng rác, một em bé vứt ở bờ

mương bị côn trùng ăn một phần cơ

thể )

-> do những bà mẹ trẻ lầm lỡ trong tình

yêu-> là một hiện tượng xã hội cần lên

án Vì vậy ở lứa tuổi học sinh chúng ta

Chí Phèo với cuộc đời đi ở, làm canh

điền cho nhà Lí Kiến: bị bóc lột sức lao

động, bị lăng nhục: bà ba gọi đến bắt

hắn bóp chân Hắn chỉ thấy nhục chứ

HS suynghĩ trả lời

HS chú ýlắng nghe

HS thảoluận và trảlời

HS chú ýlắng nghe

* Năm 20 tuổi:

làm canh điền chonhà Lí Kiến-> bịbóc lột, bị lăng nhục

-> Bị Lí Kiến đẩy

Trang 29

Cái đầu cạo trọc lốc, răng cạo trắng hớn

Cái mặt thì đen mà rất cơng cơng

Hai mắt gườm gườm trông gớm chết

Mặc quần nái đen, áo tây vàng

Ngực, tay chạm trổ rồng phượng với một

ông tướng cầm chùy

-> Chí Phèo không còn mang hình hài

của một con người, giống một con vật lạ

? Về tính cách (thể hiện qua trạng thái,

hành động)

GV NX&KL:

HS chú ýlắng nghe

HS suynghĩ trả lời

HS thảoluận nhómtrên phiếuhọc tập

Đại diệnnhóm HStrả lời;

nhóm khácnhận xét,

bổ sung

Chí vào tù

* Khi ra tù:

+ Ngoại hình-> Chí Phèo khôngcòn mang hình hàicủa một con người,giống một con vậtlạ

+ Tính cách:

-> Chí Phèo trởthành một tên lưumanh, một con quỷ

dữ của làng Vũ Đại

Trang 30

+ Tính cách:

Trạng thái: say triền miên

Hành động: chửi bới, rạch mặt ăn vạ,

đánh đập, đâm chém

-> Chí Phèo trở thành một tên lưu manh,

một con quỷ dữ của làng Vũ Đại, thành

tay sai đắc lực của Bá Kiến

GV cho HS xem ảnh và khái quát:

Như vậy, bi kịch đau đớn nhất của Chí

Phèo không phải là nỗi đau đói cơm rách

áo mà là bị tàn phá về thể xác, hủy diệt

về tâm hồn, bị gạt ra khỏi xã hội con

người Đó là Bi kịch bị tha hóa -> nét

độc đáo mới mẻ của nhà văn Nam Cao

khi đến sau và cùng viết về đề tài người

nông dân trước Cách mạng

-> Tố cáo hiện thực xã hội tàn bạo

đương thời

GV dẫn dắt: Tưởng rằng Chí Phèo sẽ cứ

trượt mãi trên cái dốc của sự tha hóa

Nhưng với trái tim nhân hậu, nhà văn

Nam Cao đã nhìn thầy phần người vẫn

đang sống trong đáy sâu tâm hồn Chí mà

ngày thường bị che lấp đi Điều đó đã

được thức dậy khi Chí Phèo gặp thị Nở

? Thị Nở là ai, là người như thế nào

GV cho HS xem ảnh và nhận xét:

HS chú ýlắng nghe

HS suynghĩ trả lời

=> Bi kịch: bị tàn

phá về thể xác, hủydiệt về tâm hồn, bịgạt ra khỏi xã hội

con người Đó là Bi kịch bị tha hóa ->

nét độc đáo mới mẻcủa nhà văn NamCao khi đến sau vàcùng viết về đề tàingười nông dântrước Cách mạng

3 Cuộc gặp gỡ với thị Nở (nhánh 3- sơ

đồ tư duy)

Trang 31

13’

Thị Nở: xấu ma chê quỷ hờn, dở hơi, ế

chồng, dòng giống nhà có mả hủi

? Gặp thị Nở có ý nghĩa như thế nào với

cuộc đời Chí Phèo và giá trị nội dung của

tác phẩm

-> yêu cầu HS thảo luận

GV chia nhóm, HS thảo luận trên phiếu

học tập

Yêu cầu đại diện mỗi nhóm lên trình

bày, các nhóm khác nhận xét, bổ sung

Nhóm 1: Những thay đổi của Chí Phèo

vào buổi sáng hôm sau?

GV NX&KL:

* Chí Phèo đã thức tỉnh và nhận thấy:

- Những âm thanh vui vẻ, quen thuộc

của cuộc sống đời thường: tiếng chim

hót, tiếng cười nói của người đi chợ,

tiếng gõ mái chèo đuổi cá Trước kia, vì

triền miên trong cơn say, mải gây gổ,

đập phá, Chí làm sao thấy được những

âm thanh quen thuộc kia? Hôm nay,

những âm thanh ấy vọng đến tai hắn,

bỗng trở thành tiếng gọi thôi thúc của sự

sống và đã lay động sâu xa tâm hồn Chí

Phèo

- Chí thấy nao nao buồn, nhớ về quá

khứ- quãng đời lương thiện, với ước mơ

bình dị: chồng cuốc mướn cày thuê, vợ

HS chú ýlắng nghe

HS thảoluận nhómtrên phiếuhọc tập

Đại diệnnhóm HStrả lời;

nhóm khácnhận xét,

bổ sung

* Chí Phèo đã thứctỉnh và nhận thấy:

- Những âm thanhvui vẻ, quen thuộccủa cuộc sống đờithường

- Chí thấy nao naobuồn, nhớ về quákhứ - quãng đời

Trang 32

dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để

làm vốn, khá giả thì mua dăm ba sào

ruộng làm

- Lần đầu, Chí ý thức được hiện tại và

tương lai: Chí hiểu hoàn cảnh cay đắng

của mình và lo lắng làm sao xóa được

những vết rạch ngang dọc trên mặt Hắn

thấy mình đã già mà vẫn cô độc

=> Trái tim tưởng như chai đá của Chí

đã dần dần sống dậy Cái phần người

trong hắn cũng hồi sinh

? Nhận xét về đoạn văn Nam Cao miêu

tả sự thức tỉnh trong tâm hồn Chí

GV NX&KL:

Đoạn văn miêu tả Chí Phèo thức tỉnh là

đoạn văn hay nhất, thấm đẫm triết lí trữ

tình, giàu chất thơ Nam Cao đã đi sâu

miêu tả đến tận cùng sự thức tỉnh của

Chí khẳng định phẩm chất đẹp đẽ của

người nông dân ngay cả khi họ bị xã hội

vô nhân đạo cướp đi cả bộ mặt người và

linh hồn người Nam Cao tin vào bản

tính lương thiện của con người Đó là giá

trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm

GV hỏi và chuyển ý: Điều gì khiến Chí

tỉnh rượu và tỉnh ngộ?

Nhóm 2: Ý nghĩa của chi tiết bát cháo

HS chú ýlắng nghe

HS thảoluận nhómtrên phiếuhọc tập

Đại diệnnhóm HStrả lời;

nhóm khácnhận xét,

bổ sung

HS chú ýlắng nghe

Đại diện

lương thiện, với ước

mơ bình dị

- Lần đầu, Chí ýthức được hiện tại

và tương lai

=> Trái tim tưởngnhư chai đá của Chí

đã dần dần sốngdậy Cái phần ngườitrong hắn cũng hồisinh

Trang 33

? Tâm trạng,cảm xúc của Chí Phèo khi

ăn cháo hành

? Những suy nghĩ của Chí

Gv cho HS xem ảnh và bình: Ý nghĩa

của chi tiết bát cháo hành:

- Chí vô cùng xúc động, hắn thấy mắt mình

như ươn ướt, bâng khuâng, vừa vui vừa

buồn, một cái gì giống như ăn năn và nhận

ra cháo hành ngon

- Hương vị của bát cháo hành hay chính là

hương vị của tình người, của tình mộc

mạc chân thành, của hạnh phúc giản dị mà

lần thứ nhất Chí Phèo được hưởng

- Chí thấm thía hương vị bát cháo hành

của thị Nở Chí đã chua xót cay đắng

nhận ra cuộc đời cũ Lúc này, Chí đã trở

lại con người thật của mình, là anh thanh

niên thật thà chất phác năm xưa Chính

thị cũng nhận thấy: Ôi sao mà hắn hiền,

ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo

vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém

người?

- Hắn khát khao trở lại cuộc đời bình

thường: Trời ơi! Hắn thèm lương thiện,

hắn muốn làm hòa với mọi người biết

bao!

- Hắn hi vọng: thị sẽ mở đường cho hắn,

nhóm HStrả lời;

nhóm khácnhận xét,

bổ sung

HS chú ýlắng nghe

HS suy

* Ý nghĩa của chitiết bát cháo hành:

- Chí vô cùng xúcđộng

- Cảm nhận đượchương vị của tìnhngười từ thị Nở

- Chí đã thực sựtỉnh ngộ

Trang 34

sẽ là cây cầu nối giữa hắn với dân làng

Vũ Đại Hắn bảo với thị:

- Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?

- Hay là mình sang đây ở với tớ một

nhà cho vui.

Chí bâng khuâng, háo hức nghĩ tới một

tương lai tốt đẹp Hắn với thị sẽ là một

cặp rất xứng đôi

=> Khi ăn bát cháo hành, cảm nhận được

tình yêu mộc mạc, chân thành của thị Nở

(lại trong hoàn cảnh vừa qua một trận

ốm), Chí Phèo đã thay đổi cả về sinh lí

và tâm lí: trở lại là anh canh điền lương

thiện, có bản tính tốt đẹp năm xưa Xã

hội tàn ác dẫu có hủy diệt bản tính ấy

nhưng nó vẫn âm thầm sống trong đáy

sâu tâm hồn Chí Giờ đây, nó đã được

hồi sinh, Chí Phèo đã được sống đúng

với con người thật của mình, chấm dứt

đoạn đời thú vật Điều đó thể hiện triết lí

của Nam Cao: Chỉ có tình người mới

cứu vớt được con người.

GV hỏi và chuyển ý: Chí có được ước

nguyện như đã bảo với thị:

“Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?

-Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho

vui.” không.

Nhóm 3: Khi bị thị Nở từ chối tình yêu

nghĩ trả lời

HS chú ýlắng nghe

HS suynghĩ trả lời

HS chú ýlắng nghe

- Chí khát khao, hivọng trở lại cuộcsống đời thường

-> Chí Phèo đã thayđổi cả về sinh lí vàtâm lí Chí Phèo đãđược sống đúng vớicon người thật củamình, chấm dứtđoạn đời thú vật

=> triết lí của NamCao: Chỉ có tìnhngười mới cứu vớtđược con người

Trang 35

? Nguyên nhân

GV cho HS xem ảnh và chốt kiến thức

- Nguyên nhân: bà cô thị ngăn cản->

định kiến ghê gớm của xã hội đương thời

không cho Chí trở lại cuộc đời lương

thiện Con đường trở lại làm người

lương thiện của Chí vừa hé mở đã bị

đóng sầm lại bởi định kiến ghê gớm đó

? Tâm trạng của Chí Phèo như thế

nào

GV NX&KL:

- Tâm trạng:

+ Trước thái độ, hành động của thị Nở,

Chí thấy thú vị, buồn cười tưởng là thị

đùa-> hiểu nhầm

+ Chí hiểu ra, ngẩn người, hít thấy hơi

cháo hành-> thất vọng, nỗ lực níu kéo

hạnh phúc: đuổi theo nắm lấy tay thị

nhưng bị thị gạt ra, giúi thêm cái nữa

khiến Chí ngã lăn khoèo.

+ Chí rơi vào tình trạng tuyệt vọng vì đã

ý thức được bi kịch tinh thần- bị đồng

loại cự tuyệt (đến như thị Nở, Chí cũng

không với tới được) Chí tìm đến rượu

để quên đi nỗi đau đớn nhưng lần này

càng uống càng tỉnh Chí ôm mặt khóc

rưng rức-> triết lí của Nam Cao: còn

khóc được còn được coi là một con

HS thảoluận & trảlời

HS chú ýlắng nghe

HS chú ýlắng nghe

* Bị thị Nở từ chốitình yêu:

- Nguyên nhân: bà

cô thị ngăn cản -> định kiến ghêgớm của xã hộiđương thời

- Tâm trạng:

Thất vọng, tuyệtvọng đau đớn

Trang 36

người và cứ thấy thoang thoảng hơi

cháo hành

-> Tô đậm niềm khát khao tình yêu, tình

người Hạnh phúc nhỏ bé ấy tưởng

chừng hắn sẽ có trong tầm tay nhưng

không sao giữ được bởi nó quá mong

manh

-> nổi bật bi kịch tinh thần của Chí

? Cuộc gặp gỡ với thị Nở có ý nghĩa như

thế nào với cuộc đời Chí Phèo

GV NX&KL:

=> Cuộc gặp gỡ với thị Nở là một bước

ngoặt trong cuộc đời Chí Phèo Chí đã

thực sự thức tỉnh, nhìn lại cuộc đời mình

cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Chí đã cảm nhận được hương vị tình

người từ thị Nở Chí cũng chua xót, cay

đắng nhận ra bi kịch của cuộc đời mình,

thấm thía những tội ác mà kẻ thù đã gây

HS chú ýlắng nghe

=> Cuộc gặp gỡ với

thị Nở là một bướcngoặt trong cuộcđời Chí Phèo:

+ Chí đã thực sựthức tỉnh, nhìn lạicuộc đời mình cảtrong quá khứ, hiệntại và tương lai + Chí đã cảm nhậnđược hương vị tìnhngười từ thị Nở + Chí cũng chuaxót, cay đắng nhận

ra bi kịch của cuộcđời mình, thấm thíanhững tội ác mà kẻthù đã gây nên

4 Kết thúc bi kịch

(nhánh 4- sơ đồ tưduy)

Trang 37

7’

- Mục đích: đòi lương thiện

? Suy nghĩ về tiếng thét của Chí Phèo:

“Ai cho tao lương thiện?”

GV NX&KL:

“Ai cho tao lương thiện?” là tiếng thét

bàng hoàng đau đớn, đầy phẫn uất Nó

vừa thể hiện khát vọng lương thiện mạnh

mẽ ở Chí, vừa là tiếng nói tuyệt vọng và

kết tội xã hội vô nhân đạo đã chối bỏ

quyền làm người lương thiện của Chí

Phèo

? Kết cục

Yêu cầu HS thảo luận về hai cái chết

cuối truyện

GV cho HS xem ảnh và chốt kiến thức

+ Cái chết của Bá Kiến là sự trả giá cho

những tội ác mà hắn đã gây nên

+ Cái chết của Chí Phèo là sự cùng

đường của một con người bị từ chối

quyền làm người Chí Phèo đã chết ngay

trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời

lương thiện, chết trong tâm trạng tuyệt

vọng đau đớn Trước đây, để được tồn

tại, Chí Phèo phải từ bỏ nhân phẩm, phải

bán linh hồn cho quỷ dữ Giờ đây, khi ý

thức được nhân phẩm, linh hồn đã trở về

thì Chí Phèo phải từ bỏ cuộc sống của

mình Đó là Bi kịch bị cự tuyệt quyền

- Hành động: đếnnhà Bá Kiến

- Mục đích: đòilương thiện (khác 2lần trước)

- Kết cục: Chí Phèogiết Bá Kiến và tựsát

-> Cái chết của ChíPhèo là sự cùngđường của một conngười bị từ chốiquyền làm người.Chí Phèo đã chếtngay trên ngưỡngcửa trở về với cuộcđời lương thiện,

Trang 38

làm người.

=> Hai cái chết kết thúc truyện đã cho

thấy rõ mâu thuẫn không thể điều hòa

được giữa hai giai cấp: địa chủ bóc lột và

nông dân bị bóc lột trước Cách mạng,

chỉ có một cách giải quyết duy nhất là

Về nội dung: Qua việc xây dựng hình

tượng nhân vật Chí Phèo, từ người nông

dân lương thiện bị tha hóa lưu manh hóa

thành con quỷ dữ, Nam Cao đã:

+ Lên tiếng kêu thống thiết tố cáo xã hội

TDPK vô nhân đạo đương thời đã cướp

đi nhân hình, nhân tính của người nông

dân lương thiện; phản ánh mâu thuẫn

giữa 2 giai cấp: nông dân và địa chủ,

giữa các thế lực ác bá ở địa phương ->

giá trị hiện thực

+ Cảm thương sâu sắc trước cảnh người

nông dân bị lăng nhục; phát hiện và

khẳng định bản chất tốt đẹp của con

người ngay cả khi tưởng họ biến thành

HS thảoluận & trảlời

HS chú ýlắng nghe

chết trong tâm trạngtuyệt vọng đau đớn

Đó là Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Kết luận:

Về nội dung: Qua

việc xây dựng hìnhtượng nhân vật ChíPhèo, từ người nông

Trang 39

quỷ dữ -> giá trị nhân đạo

Về nghệ thuật:

+ Xây dựng nhân vật điển hình vừa tiêu

biểu, vừa sống động (Chí Phèo điển

hình, tiêu biểu cho một bộ phận cố nông

bị lưu manh hóa trước Cách mạng, ngoài

ra còn có: Binh Chức, Năm Thọ )

+ Miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo (đoạn văn

Chí Phèo thức tỉnh lương tâm)

+ Kết cấu truyện mới mẻ (hình ảnh cái lò

gạch -> lối vòng tròn -> bế tắc)

+ Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn

+ Ngôn ngữ sống động, giọng điệu đan xen

biến hóa, trần thuật linh hoạt

? Trong cuộc sống hiện nay còn có Chí

Phèo không? Vì sao?

GV NX&KL:

Ngày nay: sẽ còn có Chí Phèo nếu như con

người chưa được bảo vệ quyền sống, quyền

được làm người Đó là trách nhiệm của

mỗi người trong cuộc chiến tranh bảo vệ

quyền con người ở Việt Nam và trên thế

giới

dân lương thiện bịtha hóa lưu manhhóa thành con quỷ

dữ, Nam Cao đã:+ Lên tiếng kêuthống thiết tố cáo xãhội TDPK vô nhânđạo đương thời đãcướp đi nhân hình,nhân tính của ngườinông dân lươngthiện; phản ánh mâuthuẫn giữa 2 giaicấp: nông dân vàđịa chủ, giữa cácthế lực ác bá ở địaphương -> giá trịhiện thực

+ Cảm thương sâusắc trước cảnhngười nông dân bịlăng nhục; phát hiện

và khẳng định bảnchất tốt đẹp của conngười ngay cả khitưởng họ biến thànhquỷ dữ -> giá trịnhân đạo

Trang 40

Về nghệ thuật:

+ Xây dựng nhânvật điển hình vừatiêu biểu, vừa sốngđộng

+ Miêu tả tâm línhân vật sắc sảo+ Kết cấu truyệnmới mẻ

+ Cốt truyện và cáctình tiết hấp

dẫn+ Ngôn ngữ sốngđộng, giọng điệuđan xen biến hóa,trần thuật linh hoạt

D C ỦNG C Ố - D Ặ N D Ò :

1 C ủ ng c ố :

- Giáo viên hướng dẫn học sinh thưởng thức, bình giá văn bản tác phẩm

- Yêu cầu học sinh đọc một vài câu, đoạn hay trong truyện Chí Phèo

chú cái hay của các câu, đoạn đó

- Nêu nhận xét về sức sống của hình tượng nhân vật Chí Phèo

- Theo L.Lê-ô-nốp: “Mỗi tác phẩm là một phát hiện về hình thức, một

khám phá về nội dung” Có thể xem Chí Phèo của Nam Cao là một tác phẩm như

thế được không? Vì sao?

2 D ặ n dò - H ư ớng d ẫn t h ự c hiện bài tập nâng cao :

- Dặn dò: Đọc và chuẩn bị bài đọc thêm Tinh thần thể dục (Nguyễn Công

Ngày đăng: 21/07/2014, 14:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “Hoạt động hóa người học” (PGS. TS. Nghiêm Đình Vì) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động hóangười học
9. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “Hoạt động hóa người học” (PGS. TS. Nghiêm Đình Vì) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động hóangười học
1. Một số vấn đề về cách dạy, cách học. (GS Nguyễn Cảnh Toàn. – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.) Khác
2. Bài tập thí nghiệm vật lý cho học sinh THPT và chuyên Lý. ( Nguyễn Thượng Chung) Khác
3. Học để đuổi kịp và vượt. (GS Nguyễn Cảnh Toàn.) 4. Giáo dục học. (Phạm Viết Vượng) Khác
6. Làm thí nghiệm thật đơn giản.(Khanh Khanh - 2006, NXB Phụ Nữ) Khác
7. Một số vấn đề về cách dạy, cách học. (GS Nguyễn Cảnh Toàn. – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.) Khác
8. Bài tập thí nghiệm vật lý cho học sinh THPT và chuyên Lý. ( Nguyễn Thượng Chung) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình t ợng ng ời anh hùng Nhân vật Từ Hải - skkn đổi mới phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc thông qua bài giảng trên lớp
Hình t ợng ng ời anh hùng Nhân vật Từ Hải (Trang 16)
Hình   tượng   nhân - skkn đổi mới phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc thông qua bài giảng trên lớp
nh tượng nhân (Trang 25)
Sơ đồ tư duy) - skkn đổi mới phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc thông qua bài giảng trên lớp
Sơ đồ t ư duy) (Trang 26)
(nhánh 4- sơ đồ tư duy) - skkn đổi mới phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc thông qua bài giảng trên lớp
nh ánh 4- sơ đồ tư duy) (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w