1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn dạy bài mùa lá rụng trong vườn và một người hà nội dưới góc nhìn văn hoá.

24 1,4K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 196,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trong chương trình Ngữ văn lớp 12 bộ sách chương trình chuẩn của Bộ GD và ĐT do Phan Trọng Luận làm chủ biên, có hai bài đọc thêm: “Mùa lárụng trong vườn” của Ma Văn Kháng và “Một ngườ

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

- Đổi mới phương pháp dạy học văn trong trường THPT là vấn đề cấpthiết, bắt buộc, bởi phương pháp dạy học cũ không còn phù hợp với tư duy vànhu cầu cuộc sống con người trong thời kỳ CNH-HĐH hiện nay

- Trong thực tế, việc đổi mới phương pháp dạy học văn đã có nhiều tiếntriển đáng kể, song so với yêu cầu vẫn chưa đồng đều ở các giáo viên, các tiếthọc Một số tiết học còn nặng thuyết giảng, giáo viên chưa tổ chức giờ học hợp

lí để học sinh tự khám phá lĩnh hội cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương

- Đặc biệt ở một số tiết học của bài đọc thêm nhưng giáo viên còn quanniệm đó chỉ là đọc thêm, không có trong phần thi cử nên chỉ hướng dẫn qua loa,cũng là một tiết học trong chương trình và đó cũng là một tác phẩm văn chương

có giá trị nghệ thuật cao được chọn lọc từ nhiều tác phẩm khác

- Trong chương trình Ngữ văn lớp 12 bộ sách chương trình chuẩn của Bộ

GD và ĐT do Phan Trọng Luận làm chủ biên, có hai bài đọc thêm: “Mùa lárụng trong vườn” của Ma Văn Kháng và “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải.Đây là hai tác phẩm hay, có giá trị, thể hiện sự quan sát tinh tế của nhà văn vềnhững biến động, đổi thay trong tư tưởng và tâm lí của con người Việt Namtrong giai đoạn xã hội chuyển mình xóa bỏ dần mô hình kinh tế tập trung quanliêu bao cấp để chấp nhận nền kinh tế thị trường với những rạn vỡ tất yếu theo

cả hai chiều tích cực và tiêu cực trong quan niệm, cách sống và lựa chọn nhữnggiá trị

- Thực tế qua nhiều lần lên lớp, tôi thấy dạy hai bài này thật khó, làm saocho học sinh thấu hiểu được hiện thực cuộc sống một thời, giá trị văn hóa củacon người Hà Nội nói riêng, con người Việt Nam nói chung để từ đó tự hào và

có trách nhiệm giữ gìn, phát huy nét văn hóa, nền tảng đạo đức dân tộc Và đâycũng là điều rất cần thiết cho học sinh lớp 12, chuẩn bị tự lập trong cuộc sống,

dự giờ một số bạn đồng nghiệp, tôi thất vẫn chưa thỏa mãn, các giờ dạy vẫnchưa rõ các đơn vị kiến thức, học sinh chưa chủ động tiếp nhận, hiểu rất mơ hồ,thụ động, cách tổ chức giờ học còn lúng túng, vì thế giờ học còn rời rạc, hiệuquả chưa cao

Xuất phát từ những lí do trên, cùng với niềm mong mỏi được cùng cácđồng nghiệp nâng cao chất lượng giờ dạy, tôi cố gắng nghiên cứu bài dạy tìm raphương pháp, hướng tiếp cận, cách thức tổ chức giờ học để học sinh chủ độngchiếm lĩnh tác phẩm, có thể xem là hợp lí và đã thể nghiệm thành công ở lớp 12học chương trình chuẩn ở trường THPT Lương Đắc Bằng

2 Mục đích, nhiẹm vụ của đề tài.

2.1 Mục đích.

Nghiên cứu một cách tiếp cận tối ưu tác phẩm văn chương dưới góc nhìnvăn hóa, đảm bảo phát huy cao độ tính tích cực, chủ động của học sinh trongviệc đọc hiểu tác phẩm văn chương

2.2 Nhiệm vụ:

- Tìm và thể hiện trong một giờ học đổi mới phương pháp học văn

Trang 2

- Những kiến thức cơ bản, những kỹ năng cần thiết mà học sinh phải tiếpthu và thực hành trong bài học này

3 Đối tượng của đề tài:

- Đề tài chỉ giới hạn ở việc tìm cách tiếp cận một tác phẩm cụ thể theotinh thần đổi mới tích cực hóa hoạt động của học sinh

- Đối tượng thể nghiệm là học sinh lớp 12 học chương trình chuẩn

4 Những luận điểm cần bảo vệ:

- Tính bắt buộc, tính bức xúc của việc đổi mới phương pháp dạy học tácphẩm văn chương

- Đổi mới phương pháp học văn phải thể hiện ở việc thiết kế giáo án, cáchtiếp cận tác phẩm, cách tổ chức giờ học Có thiết kế giờ học trong giáo án tốt, cóhướng tiếp cận tác phẩm hợp lý, dễ hiểu, tổ chức giờ học nhuần nhuyễn phát huyđược tính chủ động của học sinh thì giờ học sẽ thành công

- Đổi mới phương pháp dạy học không phải là sự phủ định các phươngpháp truyền thống mà là sự vận dụng tích hợp các phương pháp trong hai nhómtruyền thống và hiện đại, sao cho thầy tạo được tình huống học tập nhằm kíchthích sự hoạt động tích cực sáng tạo của học sinh mà vẫn không làm cho giờ họcmất chất văn chương

5 Cơ sở lí luận và thực tiến:

5.1 Cơ sở lí luận:

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên môn văn năm 1992 viết: “Mục đích củadạy TV-VH hiện nay không phải chỉ nhằm truyền đạt những kiến thức đơnthuần mà còn nhằm làm sao phát triển cho học sinh về mặt trí tuệ, năng lực nhậnthức, phương pháp nghiên cứu”

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT năm 1995 cũng chỉ rõ

“Mục đích giờ dạy học tác phẩm văn chương theo quan điểm, phương pháp mớikhông phải là giáo viên truyền thụ lời giảng của mình mục đích cao nhất là làmsao để chủ thể học sinh đưới sự hướng dẫn của thầy tự cảm nhận, khám phá,chiếm lĩnh tác phẩm Do đó tạo được một sự phát triển toàn diện về trí tuệ, tâmhồn, nhân cách và năng lực”

Tài liệu hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn năm

2008 xác định: văn bản là thông điệp, là đề án nhà văn gửi tới bạn đọc Đặctrưng cơ bản của văn bản nghệ thuật là thông tin thẩm mỹ Nhà văn gửi đến cuộcđời niềm xúc động mãnh liệt nhất, những rung động tha thiết nhất về cuộc sống

và con người Đây là điểm mấu chốt để phân biệt phương pháp tiếp cận văn họcđích thực với lối phân tích xã hội học tầm thường, biến tác phẩm văn chươngthành một đề cương giáo huấn, một sơ đồ xã hội học hay một hiện tượng lịch sửcằn cỗi, một phương tiện minh họa đơn giản về bức tranh xã hội… Tuy nhiên, ởđây cũng cần tránh khuynh hướng cực đoan chỉ nhìn nhận giá trị của văn bảnnghệ thuật ở phương diện thẩm mĩ Tác phẩm văn chương chứa đựng trong nómuôn màu, muôn vẻ của đời sống xã hội, con người mà bạn đọc không thể bỏqua, không thể không biết đến Vả chăng, chính những yếu tố văn hóa của vănbản lại càng làm nổi rõ hơn yếu tố thẩm mĩ của văn bản

Cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân ngoài giá trị thẩm mĩ,

ý nghĩa nhân vật còn thể hiện giá trị văn hóa truyền thống Khao khát cái đẹp,

Trang 3

tôn vinh cái đẹp, trân trọng người tài, lấy cái tài mà giữ gìn thiên lương trongsáng cũng là nét văn hóa cần d dược khai thác và giáo dục những tình cảmthẩm mĩ.

Thiếu vốn văn hóa cần thiết thì việc cảm thụ văn thơ cũng dễ bị thiếu lệchhoặc thiếu sâu sắc Trước đây khi học Tỏa nhị Kiều, học sinh đồng cảm với lòngthiết tha được sống mạnh mẽ và có ý nghĩa Văn chương vốn là cuốn SGK toànthư về cuộc sống Mác đã từng ghi nhận tính chân thực sâu sắc của văn chương

M Go-rơ-ki nói nhờ văn chương mà hiểu cuộc và con người hơn Đọc tiểuthuyết M Go-rơ-ki, ta càng hiểu ông già Nga hơn và hiểu rõ hơn chính ôngngoại của mình Cho nên, không có lí do gì chúng ta lại làm nghèo đi một vănbản văn học, làm hạn hẹp tầm nhìn của học sinh về xã hội, con người và vềchính bản thân mình Mặt khác, cũng cần nhận tjhấy rằng, đa số học sinh phổthông không phải ai cũng đều đi vào con đường văn chương Họ cần được trang bịvốn kiến thức về văn chương và rộng hơn là văn hóa văn chương để đi vào cuộc sôngcông dân và đời sống chuyên môn sau này

Vì vậy phải đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn để học sinh nắm đượccái chìa khóa mở cửa chủ động khám phá vẻ đẹp tác phẩm văn chương, có nănglực đọc hiểu tiếp cận các tác phẩm văn chương khác và đặc biệt trang bị thêmvăn hóa văn chương, văn hóa đời sống công dân để có được cách sống nhân văn

5.2 Cơ sở thực tiễn:

Ở hai tiết dạy học tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng

và “Một người Hà Nội”, giáo viên phải tìm được hướng tiếp cận hợp lí, xâydựng hệ thống câu hỏi, tạo được sự chủ động tích cực của học sinh để học sinh

tự rút ra được những kiến thức cơ bản

Đơn vị kiến thức 1:

- Tìm hiểu về tác giả

- Tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời tác phẩm:

+ Đặc điểm tình hình xã hội Việt Nam ở những năm 80, 90 của thế kỷ XX.+ Nét văn hóa của con người Hà Nội xưa- đặc trưng văn hóa của conngười Việt Nam

Đơn vị kiến thức 2: Từ cách tiếp cận hợp lí kết hợp với hệ thống câu hỏi gợi mở,cách thuyết giảng của giáo viên giúp học sinh tìm hiểu và rút ra nội dung, tưtưởng của tác phẩm, đặc điểm tình hình xã hội Việt Nam ở một thời nét văn hóacủa con người Việt Nam trên nhiều phương diện từ đó rút ra những bài học vănhóa cho bản thân

6 Phương pháp nghiên cứu:

- Nhóm nghiên cứu lý thuyết: phương pháp dạy học Văn, tài liệu thamkhảo về chính trị xã hội, văn kiện đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, tài liệu thamkhảo về văn hóa Hà Nội xưa và nay

- Nhóm nghiên cứu thực thành

+ Dự giờ đồng nghiệp

+ Bản thân dạy nhiều tiết, nhiều đối tượng học sinh để rút ra kinh niệm

PHẦN II: NỘI DUNG

Trang 4

A Cách tiếp cận bài “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng và

“Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải dưới góc nhìn văn hóa.

cả hai chiều

Vì thế khi tiếp cận hai tác phẩm, ngoài phần giới thiệu về tác giả, hoàncảnh ra đời tác phẩm, giáo viên nên giới thiệu đời sống kinh tế - xã hội của conngười Việt Nam ở những năm 80, 90 của thế kỷ XX Đây là giai đoạn có tínhchất bước ngoặt, khác với đặc điểm xã hội giai đoạn sau này, để học sinh hìnhdung, hòa mình vào không khí ấy mà hiểu và cảm tác phẩm một cách thấu đáo.Nếu không học sinh sẽ không bao giờ hiểu được tại sao trong buổi lễ cúng giatiên cuối năm, ông Bằng lại không tấu với gia tiên về anh con trai tên là Cừ (Cừ,

em Luận, bỏ nghề, bỏ vợ cơn, trốn đi nước ngoài, đang bị truy nã,)… trong tácphẩm “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng và chi tiết cô Hiền khôngđồng ý cho chồng mình mở xưởng,… trong tác phẩm “Một người Hà Nội” củaNguyễn Khải Ngoài ra giáo viên cần phải cung cấp kiến thức văn hóa Hà Nộixưa, sự vận động từ nét văn hóa vùng trở thành nét văn hóa của dân tộc

Đây là đơn vị kiến thức rất quan trọng có ý nghĩa như chìa khóa để họcsinh hoàn toàn có thể chủ động tìm ra giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tácphẩm, qua đó tự rút ra cho mình những giá trị cuộc sống cần có

2 Nội dung bài dạy:

2.1 Bài “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng.

2.1.1 Tiểu dẫn:

a Giới thiệu về tác giả: Ngoài những kiến thức trong SGK giáo viên bổ sung

thêm về nguồn gốc và bút danh của Ma Văn Kháng: Ông tên thật là Đinh TrọngĐoàn người Hà Nội (em ruột của cố giáo sư ngôn ngữ học Đinh Trọng Lạc), để

kỉ niệm tình cảm gắn bó với người anh kết nghĩa ở Lào Cai(ông Ma Văn Nho)nên tác giả lấy bút danh là Ma Văn Kháng

b Giới thiệu về tác phẩm: Tiểu thuyết hoàn thành năm 1985, một tiểu thuyết

chọn đề tài gia đình Việt Nam trong những năm 80 của thế kỷ XX

c Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của XHVN ở những năm 80, 90 của thế kỷ XX.

Trang 5

Sau khi đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng Tổquốc, thực hiện thống nhất nước nhà, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiếnvào giai đoạn cách mạng mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.Nhân dân ta được sự chỉ đạo sát sao của Đảng Cộng sản linh hoạt trong công tácđối nội, đối ngoại đã anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngạiđạt được nhiều thành tựu quan trọng: Nông nghiệp tăng bình quân hàng năm là4,9% so với 1% bình quân hàng năm thời kỳ 1976-1980 Thu nhập quốc dântăng bình quân hàng năm là 6,4% so với 0,4% trong 5 năm trước, xây dựng cơ

sở vật chất, kỹ thuật Đã hoàn thành mấy trăm công trình tương đối lớn và hàngnghìn công trình vừa và nhỏ trong đó có một số công trình quan trọng về điện,dầu khí, xi măng, dệt, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tiến thêm một bước.Đại bộ phận nhân dân Nam bộ đi vào con đường sản xuất tập thể, đồng bào cácdân tộc ở Tây Nguyên có tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới Nhànước và nhân dân cố gắng chăm lo đảm bảo các nhu cầu của quốc phòng - anninh, thi hành chính sách hậu phương quân đội; chăm lo đời sống nhân dân lànhiệm vụ thường xuyên và hết sức khó khăn của Đảng và Nhà nước ta trong nềnkinh tế còn yếu kém, thiên tai dồn dập, dân số tăng nhanh, các ngành kinh tếquốc dân đã thu hút thêm 4 triệu lao động, sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế,TDTT, văn hoá nghệ thuật phát triển và có những đóng góp nhất định vào việcxây dựng nền văn hoá mới, con người mới

Song bên cạnh đó, tình hình kinh tế - xã hội nước ta đang có nhiều khókhăn, sản xuất tuy có tăng nhưng chậm so với khả năng sẵn có và công sức bỏ

ra, so với yêu cầu nhanh chóng ổn định đời sống của nhân dân; kế hoạch sảnxuất lương thực, than, xi măng không đạt đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế vàđời sống của nhân dân lao động, hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp Các xí nghiệpnói chung chỉ sử dụng được khoảng một nửa công xuất thiết kế, năng xuất laođộng giảm, chất lượng sản phẩm giảm sút Tài nguyên chưa được khai thác tốtlại bị sử dụng lãng phí nhất là đất nông nghiệp và tài nguyên rừng, môi trườngsinh thái bị phá hoại, mất cân đối lớn trong nền kinh tế giữa cung và cầu vềlương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, năng lượng; quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa chậm được củng cố Vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh suy yếu,các thành phần kinh tế phi XHCN được sử dụng và cải tạo tốt Đời sống củanhân dân nhất là công nhân viên chức còn có nhiều khó khăn, nhiều người laođộng chưa có việc làm và chưa đủ việc làm, nhiều nhu cầu chính đáng, tối thiểucủa nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá chưa được đảm bảo Nông thônthiếu hàng tiêu dùng thông thường và thuốc men, nhà ở Điều kiện vệ sinh, sinhhoạt văn hoá ở nhiều nơi còn thiếu thốn, nghèo nàn, hiện tượng tiêu cực trong xãhội phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm Pháp luật, kỷ cương không nghiêm,những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên Nhànước, những hoạt động của bọn làm ăn phi pháp chưa bị trừng trị nghiêm khắc.Công nhân - CBVC làm việc theo kiểu “tối ngày, đầy công”, cuối tháng nhậnlương bằng tem phiếu để đi mua một số mặt hàng thiết yếu cuộc sống như gạo,dầu thắp, xà phòng với một số lượng ít ỏi không đủ chi tiêu trong tháng Cả quý

Trang 6

trong đơn vị mới được phát một vài mảnh nên vải phải bình xét gắt gao, cảtháng được có vài lạng thịt lợn, là một niềm hạnh phúc Học sinh học buổi tốiphần nhiều là nhờ ánh sáng của nhiều con đom đóm, có khi xếp hàng mua gạonhưng hết gạo phải lấy khoai lang để ăn trừ bữa Người nông dân mùa màng thấtbát hay có được mùa thì vẫn đói triền miên Hậu quả đó do cơ chế quản lý tậptrung quan liêu bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực phát triểnlàm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thànhphần kinh tế khác, kìm hãm làm giảm năng xuất, chất lượng, hiệu quả, gây rốiloạn trong phân phối lưu thông đẻ ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong phân phốilưu thông, để ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội Các cơ quan quản lýhành chính- kinh tế can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của cácđơn vị cơ sở nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất, các quy định củamình Các đơn vị cơ sở vừa không có quyền tự chủ, vừa không bị ràng buộctrách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh.

Với những thuận lợi và khó khăn như vậy, Đại hội VI(1986) đã chỉ ranhững phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế, xã hội trên tinh thần đốimới nhằm phát huy vai trò làm chủ và nhiệt tình của người lao động tạo nênphong trào quần chúng hăng hái thực hiện đồng thời cách mạng quan hệ sảnxuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng tư tưởng- văn hoá Cụ thể là

bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh

tế, các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bốtrí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nềnkinh tế phát triển ổn định Đưa nông nghiệp lên vị trí hàng đầu, mở rộng và hoànchỉnh các hệ thống thuỷ lợi ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và tiến

bộ kỹ thuật đặc biệt là công nghệ sinh học, đưa vào sử dụng phổ biến và ổn địnhcác loại giống mới, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu về phân bón, thuốc trừsâu, thuốc thú y, tăng thêm sức kéo đảm bảo công cụ thường và công cụ cải tiến.Thực hiện từng bước và có trọng điểm việc cơ giới hoá, hạ thấp mức hư haonông sản trong các khâu thu hoạch, bảo quản, vận chuyển, chế biến Chủ độngphòng chống lụt bão, phương châm phát triển nông nghiệp là kết hợp chuyênmôn hoá với phát triển toàn diện, cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi, lúa vàmàu, cây lương thực và cây công nghiệp, phát triển mạnh cây công nghiệp ngắnngày, phát triển lâm nghiệp theo hướng bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tàinguyên rừng, tăng thêm vốn rừng, phát triển có trọng điểm việc trồng rừng, tậptrung chuyên canh, đẩy nhanh nhịp độ phủ xanh đất trống phát triển công

nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng, phát huy mạnh mẽ động lực

KHKT.Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoạiThực hiện công bằng xãhội, lối sống có văn hoá, đảm bảo an toàn xã hội, khôi phục trật tự, kỷ cương

trong lĩnh vực của đời sống xã hội.

Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo

đúng đắn các thành phần kinh tế, coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần làmột đặc trưng của thời kỳ quá độ ở nước ta

Trang 7

Đối với tiểu thương, thông qua nhiều hình thức tuỳ theo ngành hàng để sắpxếp cải tạo và sử dụng họ thành lực lượng bổ sung cho thương nghiệp XHCN,giúp đỡ số người không cần thiết trong lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất

và dịch vụ, xoá bỏ thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với ngườilao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Nhà nước có chính sách ưuđãi về kinh tế, phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa song về pháp luật phải thựchiện nguyên tắc bình đẳng

Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế xoá bỏ tập trung quan liêu bao cấp, xây

dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển củanền kinh tế, tính kế hoạch, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá, tiền tệ là nhữngđặc trưng cơ bản của cơ chế quản lý

Kết quả của việc thực hiện đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội theophương hướng nhiệm vụ của Đại hội VI:Từ giữa năm 1988 trở đi, các chủtrương chính sách đổi mới bắt đầu mang lại hiệu quả rõ rệt, tình hình kinh tế vàđời sống nhân dân dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càngđược phát huy, lòng tin của nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên

Về kinh tế: Tình hình lương thực, thực phẩm có chuyển biến tốt, từ chỗ

thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo, nay (1991) đãvươn lên đáp ứng được nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phầnquan trọng ổn định đời sống của nhân dân và cải thiện cán cân xuất nhập khẩu,góp phần quan trọng ổn định đời sống của nhân dân và cải thiện cán cân xuất-nhập khẩu, xoá bỏ chế độ bao cấp, tự do lưu thông và điều hoà cung cầu lươngthực trên phạm vi cả nước Hàng tiêu dùng dồi dào, đa dạng lưu thông tương đốithuận lợi, các cơ sở gắn chặt hơn với nhu cầu thị trường đáp ứng được yêu cầuthị trường, đặc biệt bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước

Về thực hiện chính sách xã hội: Vấn đề lương thực xét cân đối chung trên

phạm vi cả nước được giải quyết tốt hơn thị trường thực phẩm dồi dào, nhu cầumặc được đáp ứng, nhà ở một số bộ phận dân cư cả ở thành thị và nông thônđược cải thiện Tiện nghi sinh hoạt trong nhiều gia đình được tăng thêm, sungtúc Việc đi lại của nhân dân dễ dàng hơn, đời sống tinh thần của nhân dân cómột số mặt được cải thiện như được tự do làm ăn theo pháp luật, làm chủ nguồnthu hợp pháp Một bộ phận nhân dân có thu nhập cao chính đáng nhờ có kinhdoanh hoặc có lao động xuất khẩu, giải quyết được nhiều việc làm cho nhândân 4,2 triệu người có việc làm, thanh niên xung phong đi xây dựng các khukinh tế mới hoặc đảm nhiệm các công trình xây dựng tiếp tục phát triển

V ề lĩnh vực giáo dục và đào tạo có một số tiến bộ trong việc xác định mục

tiêu, nội dung và phương pháp cũng như cơ cấu hệ thống giáo dục

Công tác bảo vệ sức khoẻ, nâng cao thể lực của nhân dân vẫn được duy trì,

hoạt động văn hoá, văn nghệ phong phú hơn về nội dung, đa dạng hơn về hìnhthức và thể loại

Về Quốc phòng - an ninh:: Đã chú trọng nâng cao chất lượng tổng hợp cu8ả

quân đội trước hết là về mặt chính trị, bảo đảm quân đội vững mạnh trước tình

Trang 8

hình phức tạp ở trong nước và trên thế giới; kiên định mục tiêu, lý tưởng xã hộichủ nghĩa, chấp hành tốt mọi nhiệm vụ được giao Phong trào bảo vệ an ninh Tổquốc được khôi phục và phát triển ở nhiều địa bàn, từng bước hình thành một sốtuyến khu vực có phong trào liên hoàn, với nội dung, hình thức phong phúphòng ngừa và tấn công tội phạm.

Về công tác đối ngoại: Giữ vững được hoà bình, tranh thủ được nhiều điều

kiện Quốc tế thuận lợi, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo

y tế, giáo dục, nội chính, bất công bằng xã hội tăng lên

Một bộ phận lớn hợp tác xã gặp khó khăn trong kinh doanh, 20% các HTX

đã giải thể hoặc chuyển sang hoạt động dưới dạng tự nhân

Một bộ phận không nhỏ nhân dân còn sống dưới nhu cầu tối thiểu Tuymức sống còn thấp nhưng trong tiêu dùng của một bộ phận nhân dân và cán bộcòn nhiều xa hoa, lãng phí, có một số mặt vượt quá trình độ và khả năng của nềnkinh tế chinh

Nền giáo dục chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém do trình độ kỹ thuật, dothiếu sự quan tâm đúng mức ở tầm chỉ đạo chiến lược, số học sinh phổ thôngchán học và bỏ học ngày một nhiều

Mức hưởng thụ văn hoá, văn nghệ của đông đảo nhân dân còn thấp nhất là

ở vùng nông thôn và miền núi

Bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân còn cồng kềnh,phong cách làm việc còn quan liêu, kém hiệu lực, không ít cán bộ, đảng viênkhông đủ năng lực và phẩm chất đảm đương nhiệm vụ, thậm chí thoái hoá biếnchất không được quần chúng tín nhiệm

Như vậy từ Đại hội VI đến Đại hội VII (Từ 1986 - 1991) trong bối cảnhQuốc tế và trong nước cực kỳ phức tạp Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì đổi mớitheo những phương hướng và bước đi về cơ bản là đúng đắn, nhân dân ta vớilòng yêu nước nồng nàn và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạocủa Đảng đã chấp nhận thử thách, chịu đựng và vượt qua nhiều khó khăn trongquá trình đổi mới, từng bước làm chuyển biến tình hình, đó là nền tảng vữngchắc cho sự phát triển xã hội hiện nay

Sự thay đổi về kinh tế - văn hoá- xã hội, an ninh - quốc phòng đã tác độnglớn đến đời sống toàn thể nhân dân từ quan điểm, nhận thức đến đời sống kinh tếnên ai ai cũng hân hoan đón chào cuộc sống mới nhưng cũng ngậm ngùi nhận ramặt trái của nền kinh tế thị trưởng, có những người chấp nhận hiện thực ấy, cónhững người phản ứng quyết liệt, đấu tranh bằng hành động cụ thể, có những

Trang 9

người lại tìm cho mình một hướng đi, một cuộc sống khác vừa giữ được mìnhvừa không bị lỗi thời trước cuộc sống hiện tại Tất cả sự đổi thay trong bướcchuyển mình của lịch sử có tính chất bước ngoặt ở những năm 80,90 của thế kỷ

XX đều được nhà văn ghi lại và phản ánh bằng hiện tượng nghệ thuật trong cáctác phẩm như “Mùa lá rụng trong vườn” của Ma Văn Kháng; “ Môt người HàNội” của Nguyễn Khải

2.1.2 Đọc hiểu:

a Nhân vật chị Hoài

- Chị Hoài mang vẻ đẹp đằm thắm của người phụ nữ nông thôn: “ngườithon gọn trong cái bông chần hạt lựu Chiếc khăn len nâu thắt ôm một khuônmặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng tươi”

- Nét đằm thắm, mặn mà của chị toát ra từ tâm hồn, từ tình cảm đôn hậu,

từ cách ứng xử, quan hệ với mọi người Từng là dâu trưởng trong gia đình ôngBằng, bây giờ chị đã có một gia đình riêng với những quan hệ riêng, lo toanriêng nhưng mọi người vẫn nhớ, vẫn quý, vẫn yêu chị Bởi vì “người phụ nữtưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻbuồn vui và cùng tham dự cuộc sống của gia đình này” (Mặc dù ở xã, chị vẫnbiết chuyện cô Phượng đã chuyển công tác; nhận được thư bố chồng cũ, sợ ôngbuồn nên phải lên ngay; chu đáo, xởi lởi chuẩn bị quà, hỏi thăm tất cả mọi ngườilớn bé; chị thành tâm trước bàn thờ gia tiên chiều 30 tết,…) Trong tiềm thức mỗingười “Vẫn sống động một chị Hoài đẹp người, đẹp nết”

- Nhân vật chị Hoài là mẫu người phụ nữ vẫn giữ được nét đẹp truyềnthống trước những “cơn chấn địa” của xã hội

b Cảnh xum họp trước giờ cúng tất niên:

- Diễn biến tâm lí của ông Bằng và chị Hoài trong cảnh gặp lại:

+ Ông Bằng “sững lại khi nhìn thấy Hoài, mặt thoáng một chút ngơ ngẩn.Rồi mắt ông chớp liên hồi, môi ông lật bật không thành tiếng, có cảm giác ôngsắp khóc òa”, “Giọng ông bỗng khê đặc, khàn rè: Hoài đấy ư, con?” Nỗi vuimừng xúc động khi gặp lại người đã từng là con dâu trưởng mà ông rất mực quýmến thể hiện không chút giấu giếm

+ Chị Hoài “gần như không chủ động được mình”, “lao về phía ông Bằng,quên cả đôi dép, đôi chân to bản […] kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hànggạch hoa” Tiếng gọi của chị nghẹn ngào trong tiếng nấc: “Ông!”

+ “Cảnh gặp gỡ vui mừng kèm thêm một nỗi tiếc thương, đau buồn, ênhức cả tim gan”

- Khung cảnh sum họp ngày Tết trong gia đình ông Bằng được miêu tả rất

cụ thể: khói hương, mâm cỗ thịnh soạn “vào cái thời buổi đất nước còn nhiềukhó khăn sau hơn ba mươi năm chiến tranh…”, mọi người trong gia đình tề tựu,quây quần,… Tất cả chuẩn bị chu đáo khoảnh khắc tri ân trước tổ tiên trongchiều 30 Tết Ông Bằng “soát lại hàng khuy áo, chỉnh lại cái cà vạt, ho khan mộttiếng, dịch chân lại trước mặt bàn thờ” “Thoáng cái, ông Bằng như quên hếtxung quanh và bản thể Dâng lên trong ông cái cảm xúc thiêng liêng rất đỗi quenthân và tâm trí ông bỗng mờ nhòa Thưa thầy mẹ đã cách trở ngàn trùng mà vẫn

Trang 10

hằng sống cùng con cháu Con vẫn văng vẳng nghe đâu đây lời giáo huấn ôngcha, tiên tổ”.

Bày tỏ lòng tri ân trước tổ tiên, trước những người đã khuất trong lễ cúngtất niên chiều 30 Tết đã trở thành một nét văn hóa truyền thống đáng trân trọng

và tự hào của dân tộc ta “Quá khứ không cắt rời với hiện tại Tổ tiên không táchrời với con cháu Tất cả liên kết một mạch bền chặt thủy chung” Dù cuộc sốnghiện đại muôn sự đổi thay cùng với sự thay đổi của những cách nghĩ, cách sống,những quan niệm mới, thì nét đẹp truyền thống văn hóa ấy vẫn đang và rất cầnđược giữ gìn, trân trọng

- Hiểu và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống

2.2 Bài “Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải.

2.2.1 Tiểu dẫn:

a Giới thiệu về tác giả:

Ngoài những kiến thức trong SGK giáo viên bổ sung thêm: Nguyễn Khảiqua đời tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 Những tác phẩm cuối cùng củaông “Thượng đế thì cười” “Trôi theo tự nhiên”…

b Giới thiệu về tác phẩm:

Giáo viên bổ sung thêm tâm sự của Nguyễn Khải về Hà Nội: “Bây giờ HàNội lại đang đẹp Mỗi ngày một đẹp ra Lắm lúc nghĩ cũng tiếc đã trót đưa vợcon vào sống trong Sài Gòn, tiếc thì tiếc chứ không thể làm lại được Một chân

đã vào cõi hư vô rồi thì không nên bắt đầu bất cứ việc gì nữa Không còn thì giờ

để ganh ghét, để hờn giận Chỉ còn đủ thời gian để làm lành, có thua thiệt vẫn cứnên làm lành Văn chương làm lành cố nhiên là không hay rỗi Thôi kệ! Vì cũngchẳng còn hơi sức đâu mà gây sự, dẫu chỉ là gây sự vặt (Theo bìa 4, truyệnngắn “Hà Nội trong mắt tôi” nhà xuất bản trẻ - TP Hồ Chí Minh năm 2005)

c Nét văn hóa kinh kì của người Hà Nội xưa.

Văn hoá người Tràng An - Thăng Long - Hà Nội.

Người Tràng An tức là người Thăng Long

Tràng An nguyên là một địa danh thuộc thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây,Trung Quốc Nơi mà 12 vương triều Trung Quốc đã đóng là kinh đô Do vậyTràng An là một danh từ riêng trở thành danh từ chung đồng nghĩa với danh từkinh đô Là kinh đô từ thế kỷ XI nên Thăng Long cũng được coi là đất Tràng

An Và do vậy có câu ca dao:

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An

Thăng Long (rồi Hà Nội) vốn là nơi tứ chiếng quần cư, thu hút người ởkhắp nước về sinh cơ lập nghiệp và lại cũng từ nơi đây người ta loại toả đi sinh

Trang 11

sống ở nhiều miền khác nhau như máu từ tram dòng mạch lọc qua trái tim rồi lại

từ trái tim mà về trăm dòng mạch Suốt ngàn năm, Thăng Long - Hà Nội tiếp thumọi tài hoa của khắp các địa phương, nhào nặn lại, nâng cao lên theo yêu cầucủa đời sống toàn dân tộc Chính do vậy, do thu hút tinh hoa khắp miền đấtnước, người Thăng Long - Hà Nội trở thành nơi tập trung nhiều đức tính tốt đẹpcủa dân tộc mà đặc biệt là tính thanh lịch

Thanh có thể là thanh tú, thanh nhã, thanh cảnh, thanh cao lịch là lịch

thiệp, lịch duyệt, lịch lãm, lịch sự Dù thế nào, thanh lịch chính là chỉ tính cáchcủa một nếp sống, một lối sống có văn hoá Người thanh lịch là người mà từtrang điểm, phục sức, nói năng, giao tiếp, ăn mặc, đi đứng, làm lụng… đều đượcchăm chút, cân nhắc, chỉnh tề, không buông tuồng, trễ tràng…

Chất thanh lịch ấy biểu hiện trước hết ở sự nói năng Cái thanh, cái đẹp củatiếng nói Hà Nội không chỉ ở chỗ chuẩn xác, mẫu mực mà còn là biết sử dụngngôn ngữ lưu loát, nhã nhặn, tế nhị Ấy là do bên cạnh tiếng nói “bản địa”,người Hà Nội đã tiếp thu có sàng lọc tiếng nói của mọi miền đất nước, giữ lạinhững gì tinh tuý nhất, đẹp đẽ nhất Lời nói ở đây thường ý nhị, tôn trọng ngườiđối thoại Người Hà Nội không ưa cách nói cộc lốc, thô lỗ, tục tĩu…

Người Hà Nội lại rất sành trong ăn uống Họ đã nâng việc nấu nướng ănuống thành một nghệ thuật: nghệ thuật “ẩm thực” Món ăn Hà Nội ngon từ cáchchế biến, từ chút gia vị, nước chấm cho đến cách bày biện cho đẹp mắt, gợi cảm,tạo thích thú trong thưởng thức Chính vì vậy mà các món quà Hà Nội trở nênnổi tiếng Vẫn là các món ăn tiếp thu từ các miền nhưng qua tay người Hà Nội,nhiều món được cải tiến, nâng cao và trở thành món “đặc sản” không đâu sánhkịp Chẳng thế mà đã có những nhà văn tên tuổi dành nhiều chương sách hoặc

toàn bộ một tập sách cho đề tài này, như Tản Đà với Tản Đà thực phẩm, Thạch Lam với Hà Nội băm sáu phố phường, Vũ Bằng với miếng ngon Hà Nội Những

hiện tượng ăn tục, uống phảm, xô bồ, ầm ĩ luôn xa lạ với phong cách Hà Nội.Trong trang phục, người Hà Nội ưa chuộng sự gọn gàng, chỉnh tề và trangnhã Mặc đẹp nhưng kín đáo, không cầu kỳ, loè loẹt, không phô trương lố lăng.Chiếc áo dài của phụ nữ là một ví dụ Sau nhiều năm vắng bóng, do hoàn cảnhchiến trang và khó kăhn về kinh tế, hôm nay chiếc ái dài ấy lại trở lại với hai tà

áo dài thướt tha, với cái cổ dài dù thấp dù cao cũng rất duyên dáng và ý nhị.Hiện tại trên đường phố nhiều cô gái mặc quần áo, xống váy theo kiểu Tâyphương, cũng rất đẹp, hiện đại mà không kém phần nền nã Điều đó chứng tỏngười Hà Nội không bảo thủ Họ biết tiếp thu cách ăn mặc hợp thời trang, phùhợp với cuộc sống sôi động nhưng từ những trang phục ấy cũng toát lên một sựlựa chọn đầy ý nhị Còn khi sử dụng những mẫu rực rỡ, họ thường biết cáchphối hợp chúng, “hoà sắc” chúng để bộ quần áo vẫn giữ được phong cách nền

nã, lịch sử

Không chỉ trong nói năng, giao tiếp, ăn mặc mà tính thanh lịch còn thể hiệntrong cách làm ăn, sản xuất Nghề ở đây có nét đẹp riêng, tài hoa, tinh xảo, điêuluyện trong tay nghề, gìn giữ chữ tín về chất lượng hàng hoá Đó là vì Hà Nộitrải nghìn năm, đã là nơi hội tụ bao nhân tài, vật lực của khắp bốn phương đất

Trang 12

nước Hà Nội tiếp thu nọi tài hoa và chắt lọc, phát triển thành lề thói Hà Nội.

Ngạn ngữ có câu : khéo tay hay nghề, đất lề kẻ Chợ là để ca ngợi cung cách làm

ăn của Hà Nội

Trong lịch sử, cũng từ khi thành kinh đô, những tài khéo khắp nơi tập hợp

về đây lập ra phố ra phường tạo nên những kỳ tích văn hoá Nghề đúc đồng đãlàm ra trong số “Tứ đại khí”- Bốn báu vật của nước Nam là chuông Quy Điền,tháp Báo Thiên Nghề gốm sứ đã tạo ra những ngói vàng, ngói bạc điểm tô chocác lớp mái cong của các cung điện, chùa chiền Trong hội đua thuyền trên sôngHồng có máy Kim Ngao hình con rùa lớn bơi được trên mặt nước Mắt rùa lúngliếng, miệng rùa phun nước, đầu rùa cử động biết cả cúi chào Quy hoạch ThăngLong thời Lê gồm 36 phường, phường trồng hoa, phường trồng dâu nuôi tằm dệtlụa, phường nhuộm điều, phường làm quạt, phường là bến cảng thuyền mạnngược, mạn xuôi, thuyền Trung Hoa, Nhật Bản, Hà Lan… tới lui nhộn nhịp tạo

ra cảnh “Phồn hoa thứ nhất Long Thành” Tranh dân gian Hàng Trống, HàngNón in đậm nét tươi vào thời gian Nhạc và hát múa dân gian còn rung vang âmhưởng trong không gian qua các làn điệu chèo tuồng, trống quân, ca trù ở ThuỵLâm, Kim Nỗ, Lỗ Khê và các hội lễ nổi tiếng khắp đồng bằng sông Hồng: HộiDóng, hội Láng, hội Đăm…

Văn hoá dân gian ở Thăng Long ngày một phát triển kéo theo văn hoá báchọc ở Thăng Long đi lên Thời Lý, trường đại học đầu tiên của đất nước- Quốc

Tử Giám- được thành lập chỉ sau 5 năm thành lập Văn Miếu Ở Khâm Thiêngiám đời Trần, Đặng Lộ tự làm ra máy “lung linh nghi” quan sát bầu trời, vạch

ra đường đi của các vì sao rồi soạn ra lịch riêng cho nước Việt Đời Lê, LươngThế Vinh và Vũ Hữu soạn ra sách toán học, so với nay là sơ học nhưng ở thế kỷ

XV thì không phải là ai cũng soạn được Vũ Như Tô ở thế kỷ XVI xây dựng bên

Hồ Tây đài Cửu Trùng trăm nóc, bệ ngọc, thềm vàng Cũng tại Thăng Long,

Nguyễn Trãi viết Cáo Bình ngô và làm thơ quốc âm Nguyễn Giản Thanh soạn phú Phụng Thành xuân sắc ca ngợi kinh kỳ là một nơi “văn vật thanh danh” Tồi Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm ở làng quê Kẻ Mọc, Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc bên bờ Hồ Tây, Hồ Xuân Hương ở chân núi Khán

Sơn làm thơ lỡm đời, Nguyễn Du viết thơ về Hồ Giám, về phường Hà Hàng Buồm Trong làng hoa Nghi Tàm, bà huyện Thanh Quan làm những bàithơ đẹp, tình sâu Cùng với bà, Hà Nội có Thần Siêu, Thánh Quát, có ông nghè

Khẩu-Vũ Tông Phan mà tư cách và học vấn đã làm sáng danh cho kẻ sĩ Bắc Hà

Tới thời Pháp thuộc, Đông Kinh nghĩa thục là một phong trào văn hoá, giáodục tiêu biểu cho tinh thần yêu nước của trí thức Hà Nội Tuy ra đời chậm hơnSài Gòn nhưng báo chí Hà Nội cũng nhanh chóng chiếm vị trí đáng nể với các

tờ báo và tạp chí vang danh khắp nước: Đông Dương tạp chí, Nam Phong,

Phong Hoá, Ngày Nay Phong trào thơ mới nếu coi như bắt đầu bằng bài “Con

ve sầu và con kiến” của Nguyễn Văn Vĩnh hoặc bằng bài “Đờn là đờn, thơ là thơ” của Tản Đà thì cũng là nhóm lên từ Hà Nội Với nhóm Tự lực văn đoàn,

văn xuôi Việt Nam bắt đầu mang đậm dấu ấn hiện đại Tân nhạc được NguyễnVăn Tuyên soạn và trình diễn đầu tiên ở Hà Nội Trường mỹ thuật Đông Dương

Ngày đăng: 21/07/2014, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w