Trong giảng dạy và học tập các môn học trong trường phổthông nói chung và môn sinh học nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa pháthuy được năng lực tư duy hệ thống và năng lực sáng t
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, Giáo dục và Đào tạo đã có chuyển biến cả vềlượng và chất, phương pháp dạy học thụ động đã nhường chỗ cho phương phápdạy học tích cực Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực vẫn đangcòn là vấn đề cần bàn Trong giảng dạy và học tập các môn học trong trường phổthông nói chung và môn sinh học nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa pháthuy được năng lực tư duy hệ thống và năng lực sáng tạo của học sinh trong giảiquyết những vấn đề học tập và thực tiễn cuộc sống Gíao viên vẫn quen dạy theophương pháp phân tích cấu trúc, chưa chú trọng đến phương pháp tổng hợp hệthống, dẫn đến tình trạng học sinh thấy được “cây” mà không thấy “rừng”, họcsinh được học “sinh lý học thực, động vật” chứ không phải học “sinh lý học cấp
cơ thể”
Quan điểm hệ thống đã được quán triệt trong xây dựng chương trình vàsách giáo khoa trung học phổ thông Tuy nhiên, phần lớn giáo viên chưa thấmnhuần quan điểm hệ thống trong dạy học, chưa thấy được tính hệ thống và đặc
điểm chung của các hệ thống sống từ cấp độ Tế bào Cơ thể Quần thể - loài
Quần xã Hệ sinh thái sinh quyển
Sinh học 11 tìm hiểu các hoạt động sống (sinh lý) ở cấp cơ thể (cơ thể đabào), nội dung, chương trình được thể hiện theo quan điểm: cấu trúc hệ thống,tiến hoá Sinh học 11 trình bày các hoạt động sinh học của cơ thể thực vật và cơthể động vật riêng biệt, tuy cùng là cấp cơ thể đa bào nhưng thực vật và động vật
là hai nhóm thuộc hai giới khác nhau, nên chúng có nhiều điểm khác biệt, song
nó cùng một cấp độ tổ chức sống, nên chắc chắn phải có điểm chung
Như chúng ta đã biết, cơ thể thực vật và động vật được tạo nên bởi các cơquan hoặc hệ cơ quan, nhỏ hơn là tế bào Mọi hoạt động sống của cấp cơ thể đượcdiễn ra không chỉ ở cơ quan, hệ cơ quan mà còn trong tế bào Tế bào đã được học
ở Sinh học 10 Do vậy, nghiên cứu hoạt động sống ở cấp cơ thể đa bào chỉ tập
1
Trang 2trung giới hạn từ môi trường ngoài đến dịch mô, còn hoạt động sinh lý nào diễn ratrong tế bào coi đó là kiến thức đã biết.Nghiên cứu hoạt động sống ở cấp cơ thể làtìm những đặc điểm sinh lý riêng ở thực vật, động vật và những điểm tương đồnggiữa chúng.
Việc thiết kế và giảng dạy quan điểm hệ thống sẽ giúp giáo viên khắc phụcđược các nhược điểm nêu trên, giúp học sinh rèn luyện và phát triển tư duy hệthống Để hệ thống hóa kiến thức sinh học cấp cơ thể có nhiều biện pháp và sửdụng các loại công cụ khác nhau: lập bảng hệ thống, câu hỏi hệ thống, graph hệthống, bản đồ khái niệm hệ thống Trong đó graph là loại công cụ có nhiều ưuđiểm: Trang bị cho học sinh tư duy theo hệ thống, khắc phục quan điểm siêu hìnhcho cả người dạy và người học, liên kết giữa các khái niệm, tạo cầu nối tư duygiữa những điều đã biết và những điều cần tìm, những kiến thức mới được gắn kếtvới những kiến thức cũ nên độ bền kiến thức được cải thiện
Vận dụng phương pháp Graph trong dạy học đã có nhiều tác giả trong vàngoài nước quan tâm, nghiên cứu Tuy nhiên, xây dựng graph trong sinh học 11thì chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống và hoàn thiện Vì những lý
do đó, tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm: "Xây dựng graph để hệ thống hoá kiến thức phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật” ( Sinh học 11-
chương trình chuẩn) làm đề tài nghiên cứu
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang 3Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
I Cơ sở lí luận
Phương pháp graph dạy học được hiểu là phương pháp tổ chức, rèn luyệntạo được những sơ đồ học tập trong tư duy của học sinh Trên cơ sở đó hìnhthành một phong cách tư duy, lôgic, hệ thống, khoa học
Quá trình nhận thức tri thức phải trải qua các giai đoạn từ tích lũy thông tin,khái quát hóa, trừu tượng hóa, mô hình hóa các thông tin bằng các tri thức Trongquá trình học tập quá trình nhận thức của học sinh là quá trình tiếp nhận thông tin,tri thức khoa học để hình thành tri thức cá nhân Có rất nhiều loại mô hình hóa cóthể là mẫu vật tượng trưng, hay mô hình giống vật thật đó là những loại mô hìnhmang tính chất tượng trưng còn graph là một loại mô hình hóa “mã hóa” về mặtnhận thức graph có những ý nghĩa sau:
- Giúp học sinh có một điểm tựa tâm lý rất quan trọng Từ những hình ảnhmang tính tượng trưng cùng với lời của giáo viên mô tả về đối tượng nghiên cứu,bằng những thông tin học sinh sẽ chuyển hóa những thông tin đó thành đã thiết lậpcác graph đó trong não, giúp học sinh thuận lợi hơn trong khâu khái quát hóa
- Hình ảnh trực quan là điểm tựa quan trọng cho sự ghi nhớ và tái hiện tri thứccủa học sinh về nội dung bài học Ngôn ngữ graph ngắn gọn, xúc tích, chứa đựngnhiều thông tin nhanh chóng và chính xác hơn Đối với việc ghi nhớ học sinhkhông phải học thuộc lòng mà chỉ cần ghi nhớ những dấu hiệu cơ bản của đốitượng nghiên cứu và các quy luật về mối quan hệ của các yếu tố trong một hệthống nhất định Khi sử dụng kiến thức học sinh phải chuyển hóa ngôn ngữ graphthành ngôn ngữ sử dụng như vậy sẽ giúp học sinh vận dụng kiến thức một cáchchính xác và hiệu quả hơn Sử dụng graph trong dạy học còn giúp học sinh rènluyện tư duy khái quát và hệ thống Đây là một hoạt động có hiệu quả lâu dài,
3
Trang 4ảnh hưởng đến khả năng tư duy trong suốt cuộc đời của mỗi học sinh.
II Chức năng của graph trong dạy học
1 Dùng graph để hệ thống hoá kiến thức
Khái niệm là tri thức khái quát về những dấu hiệu và thuộc tính chungnhất, bản chất của các cấu trúc vật sống, của hiện tượng, quá trình sống, phảnánh mối liên hệ tương quan của các khái niệm Nghĩa là các khái niệm khôngtách rời nhau mà chúng có mối quan hệ với nhau trong một cấu trúc mang tínhtầng bậc Vì vậy, có thể dùng graph để hệ thống hoá các khái niệm trong mộttổng thể, qua đó mở rộng hiểu biết về các đối tượng cần nghiên cứu
2 Dùng graph cấu trúc hoá nội dung tài liệu giáo khoa
Graph có thể cấu trúc hoá nội dung tài liệu giáo khoa tạo mối liên hệ giữacác kiến thức trong một hệ thống nhất định Graph cho phép sắp xếp các hoạtđộng dạy học và một trình tự và tạo nên hệ thống kiến thức cho học sinh Đồngthời qua đó chiếm lĩnh hệ thống kiến thức mà học sinh tự bồi dưỡng đượcphương pháp tự học, tự nghiên cứu Bên cạnh đó thì những kiến thức mang tính
hệ thống sẽ giúp học sinh nhớ lâu hơn, tái hiện chính xác hơn, vốn kiến thức củahọc sinh được huy động dễ dàng hơn trong quá trình tìm tòi giữa các kiến thứccần chiếm lĩnh
3 Dùng graph hướng dẫn học sinh tự học
Tự học là một hoạt động tâm lý đặc trưng của con người, hoạt động tự học
là hoạt động tự giác, tích cực, chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của
cá nhân hướng tới những mục tiêu nhất định Tự học ở mọi lúc mọi nơi trên lớp,ngoài giờ trên lớp, trong xã hội Nhờ những graph thể hiện mối quan hệ của cáckiến thức, Học sinh sẽ có một cách ghi nhớ bằng “ngôn ngữ” graph vừa ngắnngọn lâu bền và dễ tái hiện, vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh cụ thể
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG GRAPH SINH HỌC
TRONG TRƯỜNG THPT
I Thực trạng của việc sử dụng graph trong dạy học SH ở trường THPT
1 Thực trạng việc nhận thức của giáo viên về việc sử dụng graph trong quá trình dạy học sinh học.
Để xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp nâng cao hiệuquả sử dụng gpaph trong dạy học sinh học ở trường THPT, tôi đã tiến hành điềutra về nhận thức, mức độ sử dụng, hiệu quả sử dụng cũng như việc cải tiến, thiết
kế các gpaph của giáo viên một số trường THPT trên địa bàn huyện Hà Trung vàThị xã Bỉm Sơn Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về việc sử dụnggpaph trong quá trình dạy học sinh học ở trường THPT thể hiện qua bảng 1
Bảng 1 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng
graph trong quá trình dạy học ở trường THPT
69,730,30
B Các lí do
- Kích thích được hứng thú học tập của HS
- Phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo
của HS trong quá trình dạy học
- Đảm bảo kiến thức vững, chắc
- Chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian
- Hiệu quả bài học không cao
- Không thi cử
1920
253015
57,5860,61
75,769,9045,46
5
Trang 6Kết quả thu được cho thấy: Hiện nay, giáo viên THPT đều đánh giá cao tầm quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng graph trong quá trình dạy học 100% GV được khảo sát đều khẳng định không thể thiếu graph trong quá trình dạy học sinh học
Từ sự phân tích trên cho thấy giáo viên THPT đã có sự nhận thức đúngđắn về tầm quan trọng của thí nghiệm trong quá trình dạy học sinh học Điều đó
có thể cho phép khẳng định mức độ cần thiết và ý nghĩa của graph trong dạy học
ở trường THPT hiện nay
2 Mức độ sử dụng graph của GV phổ thông trong quá trình dạy học sinh học trong các trường THPT hiện nay
Đánh giá mức độ sử dụng graph của GV trong các trường THPT hiện nay,Tôi dựa trên cơ sở tự đánh giá của GV và kết quả điều tra được trình bày trongbảng 2
Bảng 2 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng graph
trong dạy học Sinh học ở trường THPT.
36,460,63,0
Trang 73 Quá trình sử dụng graph của GV trong tiến trình dạy học SH ở trường THPT hiện nay.
Kết quả điều tra về quá trình sử dụng graph của GV trong tiến trình dạy học
sinh học thể hiện qua bảng 3
Bảng 3 Kết quả điều tra thực trạng sử dụng graph
trong tiến trình dạy học sinh học.
phiếu
Tỉ lệ (%)
Các khâu sử dụng
graph
- Khâu nghiên cứu tài liệu mới
- Khâu ôn tập, củng cố kiến thức
- Khâu kiểm tra, đánh giá
2330
6,01000Mục đích sử dụng - Thông báo kiến thức mới
- Minh họa cho kiến thức líthuyết
- Củng cố, mở rộng kiến thức
- Kiểm tra, đánh giá kết quả họctập của HS
230
210
6,090,91
63,640
Kết quả trên cho thấy: Graph chủ yếu được GV sử dụng trong khâu ôn tập, củng cố kiến thức (100%) với mục đích minh họa cho kiến thức lí thuyết (90,91%) Còn các khâu khác của quá trình dạy học, GV rất ít đưa graph dạy học vào
II Thái độ của học sinh khi sử dụng graph trong học tập môn sinh học
Về thái độ của HS đối với môn học, chúng tôi đã điều tra và kết quả được thể hiện qua bảng 4
Bảng 4 Kết quả điều tra lí do học sinh thích học môn Sinh học
7
Trang 8Lí do thích học môn SH Số phiếu Tỉ lệ (%)
- Thầy, cô dạy dễ hiểu, hấp dẫn
- Được sử dụng graph trong học tập
- Thầy (cô) vui tính, yêu quý HS
- Lí do khác
6950910
49,6436,56,577,3
Qua bảng số liệu trên cho thấy, lí do hàng đầu khiến HS thích học môn SH
là phương pháp giảng dạy của GV và một lí do thứ hai khiến cho HS yêu thíchmôn học đó là được xây dựng và sử dụng graph Điều này một lần nữa khẳngđịnh vai trò quan trọng của hoạt động sử dụng graph trong dạy học sinh học
Từ kết quả điều tra, khảo sát thực trạng việc sử dụng graph trong quá trình dạy học SH ở trường THPT cho phép đi đến kết luận: việc nâng cao hiệu quả sử dụng graph trong dạy học sinh học là vấn đề cấp bách, cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Chương 3 GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
I Mục tiêu
Tôi xây dựng bộ graph với những mục tiêu sau:
- Đối với HS: nhằm hướng dẫn HS tìm tòi, phát hiện, củng cố và hoàn thiện kiếnthức, đặc biệt là hệ thống hóa kiến thức trong tất cả các khâu của quá trình dạy học
- Đối với GV: bộ graph như một công cụ để tổ chức hoạt động học trong cáckhâu của quá trình dạy học
II Kế hoạch xây dựng bộ graph
Dựa vào việc phân tích cấu trúc nội dung chương trình, mục tiêu, thời lượngphân bố kế hoạch giảng dạy cho từng bài, từng chương Tôi xây dựng kế hoạchcho việc xây dựng bộ graph hướng về số lượng graph ở từng bài, từng chương, từ
đó có kế hoạch cho việc xây dựng graph cho phần chuyển hóa vật chất và năng
Trang 9lượng ở động vật ( SH 11 – THPT ), được thể hiện bảng 6
Bảng 5 Kết quả xây dựng graph Chương Nội dung Bài trong
chương
Tên bài Số tiết Số graph
dự kiến xây dựng
Graph dừng trong khâu nghiên cứu
tài liệu mới
………
Trang 10Bài 15: Tiêu hoá ở động vật
Graph 02: (Hướng dẫn tự học - Kiểm tra) Quá trình tiêu hoá ở người
Nếu không xây dựng graph cho quá trình tiêu hóa ở người thì học sinh sẽrất ngại học vì việc ghi chép bao giờ cũng dài dòng và khó hiểu Nhưng khi Tôixây dựng graph này và trình bày cho bài giảng của mình thì thấy học sinh có vẻnhư hứng thú với bài học hơn rất nhiều Qua sơ đồ trên các em có thể thấy rõ
………
RuộtHậu môn
………
……
……
Trang 11đường đi của con đường tiêu hóa ở người cùng với chức năng cụ thể của từng bộphận ( khoang miệng thì có quá trình tiêu hóa cơ học là nghiền nát thức ăn vàtiêu hóa hóa học là tiết enzim amilaza.Còn ở dạ dày thì thức ăn được tiêu hóa cơhọc là co bóp của dạ dày còn tiêu hóa hóa học là tiết dịch vị dạ dày…) Đến tiếthọc sau đó khi Tôi kiểm tra bài cũ thì học sinh đã tự giác giơ tay phát biểu và đạtđiểm rất cao chứ không phải chờ giáo viên gọi nữa.
Bài 16: Tiêu hóa (tiếp theo)
Graph 03: (Kiểm tra 15’ cũng có thể dùng tự học) Graph quá trình tiêu hoá Protein ở động vật nhai lại: Hoàn thành graph tóm tắt quá trình tiêu hoá protein
ở động vật nhai lại bằng cách đánh dấu mũi tên theo chiều thích hợp:
Bài 18: Tuần hoàn
Các axit amin Hấp thụ vào cơ thể
Protein trong T/Ă
Tiêu hoá trong
dạ múi khế
Trang 122.Hệ tuần hoàn kín
Graph 05: (bài mới) Hệ tuần hoàn kín ở động vật có tim 4 ngăn
Bài 19: Tuần hoàn máu
1 Hoạt động của tim
Graph số 06: (củng cố) Graph hoạt động của tim
Trang 132 Điều hoà hoạt động của tim mạch
Graph 07: (củng cố) Hãy hoàn thành sơ đồ hoạt động tim mạch
3.Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật
Graph số 08:(củng cố) Quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng gồm những
quá trình nào?
13
Chuyển hóa vật chất và
năng lượng ở động vật
………
………
………
………
Khi huyết áp tăng
Khi huyết áp giảm
Các thụ quan ( ở cung động mạch chủ và xoang động mạch cổ)
Trung khu điều hoà tim
mạch (ở hành tuỷ)
Trung ương đối giao
cảm
Trung ương giao cảm
Tim co bóp
nhanh và mạnh –
mạch co
Tim co bóp chậm
và yếu mạch giãn
Trang 14Graph số 09: (củng cố) Diễn biến cơ bản của các quá trình tiêu hóa.
Graph 10: (củng cố) Diễn biến cơ bản của quá trình hô hấp
Thức ăn
Biến đổi cơ học
Biến đổi hoá học
Chất dinh dưỡng
-
………
………
-
………
………
-
………
………
-
………
………
máu Tế bào Phế nang CO ………
O2 …………
O2 CO
Trang 15Graph 11: (củng cố) Hoàn thiện graph diễn biến cơ bản quá trình tuần hoàn
Trang 16Graph 13: (củng cố) Hãy điền vào các ô trống trong sơ đồ sau để thấy được mối liên hệ giữa chức năng của hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, và chuyển hoá nội môi
Trang 17hóa vật chất và năng lượng ở động vật (Sinh học 11- chương trình chuẩn).
2 Nội dung thực nghiệm
Tôi chọn 4 lớp có trình độ tương đương nhau 11B1,11B2,11B7,11B8 và
đã tiến hành soạn giáo án và tổ chức giảng dạy tại các lớp thực nghiệm là các lớp( 11B1,11B7 ) theo phương án sử dụng các graph đã thiết kế Ở các lớp đốichứng ( 11B2, 11B8 ) dạy theo phương pháp thông thường
Sau khi tổ chức giảng dạy tại lớp thực nghiệm ( TN ) và đối chứng ( ĐC ), tôitiến hành kiểm tra 2 lần:
- Lần 1: Sau khi kết thúc bài 17, Sinh học 11 cơ bản
- Lần 2: Sau khi kết thúc bài 19, Sinh học 11 cơ bản
Trong quá trình giảng dạy chúng tôi đã kết hợp với kiểm tra cùng một đềvới nội dung như nhau trong 7 phút sau khi kết thúc bài giảng ở hai lớp thựcnghiệm và đối chứng Đề được bố trí dưới dạng các câu hỏi trắc nghiệm kháchquan để đảm bảo tính khách quan giữa hai lớp bài
Møc kh¸
( % )
Møc giái( % )
17
Trang 18Biểu đồ 1 Đường biểu diễn tần suất kết quả bài kiểm tra số 1 của lớp TN và ĐC
Møc kh¸
( % )
Møc giái( % )
Trang 19Biểu đồ 2 Đường biểu diễn tần suất kết quả bài kiểm tra số 2 của lớp TN và ĐC
Trong quá trình thực nghiệm sư phạm, kết hợp với kết quả làm bài kiểmtra và quan sát trực tiếp chúng tôi thấy rằng: Những học sinh được học theophương án thực nghiệm đều tỏ ra năng động trong quá trình tự lực thực hiện cácnhiệm vụ học tập mà giáo viên đã đề ra Càng về sau quá trình thực nghiệm, sựthích ứng, mức độ tự lực của các em càng cao Nhiều học sinh biết lập ra nhiềuphương án khác nhau cho một yêu cầu của giáo viên.Những học sinh nhóm thựcnghiệm được rèn luyện kỹ năng làm việc với graph nên việc lĩnh hội kiến thức rấtchắc chắn và bền vững Do đó trong các câu hỏi đòi hỏi tư duy trong các đề kiểmtra số học sinh trả lời đúng ở lớp thực nghiệm cao hơn nhiều so với lớp đốichứng.Cách trình bày, diễn đạt cũng thể hiện sự khác biệt giữa lớp thực nghiệm
và ĐC Học sinh nhóm TN diễn đạt kiến thức một cách cô đọng, súc tích thôngqua quá trình xử lý thông tin bằng các biện pháp mang tính tổng hợp, hệ thốnghóa, khái quát hóa như lập sơ đồ, lập bảng, tóm tắt… Nghĩa là HS nhóm thựcnghiệm có kỹ năng diễn đạt thông tin trong giáo trình bằng nhiều cách phù hợpkhác nhau và bằng chính ngôn ngữ mình lựa chọn Trong khi đó nhóm ĐC diễnđạt nội dung gần như “học thuộc” Nhiều học sinh nhóm ĐC tỏ ra lo ngại khikhông điễn đạt đúng theo trình tự sách giáo khoa
19