Lý do chọn đề tài Có nhiều lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài về tình thái trongtiếng Việt và tiếng Pháp: Trước tiên, cần phân biệt trong một phát ngôn phần nội dung mệnh đề, thường đ
Trang 1TIỀN PHỤ TỐ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG VIỆT NHỮNG CHUYỂN DỊCH TƯƠNG ĐƯƠNG
-SANG TIẾNG PHÁP VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
NCS NGUYỄN NGỌC LƯU LY * PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có nhiều lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài về tình thái trongtiếng Việt và tiếng Pháp:
Trước tiên, cần phân biệt trong một phát ngôn phần nội dung
mệnh đề, thường được gọi là “dictum” và phần thái độ của người nói đối với nội dung này, thường được gọi là “modus” hay “tình thái” Nói
cách khác, tình thái là một chuỗi các yếu tố chỉ ra rằng nội dung thuầntuý mà được coi đã lược bỏ tất cả các can thiệp của người nói, đượcđánh giá là đã được thực hiện hay chưa, được đón chờ hay không,được chấp nhận một cách hồ hởi hay luyến tiếc , và tất cả điều đóđược người nói suy tính Chẳng hạn, các phát ngôn tiếng Pháp dưới
đây (1) “Sylvie rentrera”, (2) “Que Sylvie rentre!”, (3) “Il est possible
que Sylvie rentre”, (4) “Sylvie ne rentre pas” có vẻ như có cùng một
nội dung mệnh đề, chỉ khác nhau ở tính tình thái Cũng như vậy, trongtiếng Việt, người ta dễ dàng nhận thấy sự khác nhau về hiệu ứng trongcác câu (5) “Anh đừng đi!”, (6) “Anh cóc đi”, (7) “Anh cứ đi”, (8)
“Anh mà đi ”, (9) “Anh mới đi”, (10) “Anh ắt sẽ đi”, (11) “Anh cóđi”, (12) “Anh quyết đi”, (13) “Anh đi thì phải”, (14) “Anh đi thậtà?”… Những ví dụ trên cho thấy tình thái được biểu đạt bằng nhữngphương tiện rất đa dạng trong nội bộ một ngôn ngữ và từ ngôn ngữnày sang ngôn ngữ khác: là thức ngữ pháp trong ví dụ (1) và (2), làmệnh đề trong (3), là dạng phủ định trong (4), (5) và (6), là các phụ tốtình thái trong (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), là các tiểu từ tìnhthái đứng cuối câu trong (13) và (14) , đó là ta còn chưa phân loạimột cách có hệ thống các tiểu từ và cụm từ tình thái Ngôn ngữ họctrước đây đã gắng sức nghiên cứu ngôn ngữ trong hệ thống của nó.Ngày nay, với quan niệm nổi tiếng của Austin “Nói, là làm”, trongmột lăng kính lôgic hơn, tình huống giao tiếp và ý định giao tiếp củangười nói với tất cả những yếu tố chủ quan của nó đã đóng một vai trò
* CBGD Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ ĐHQG Hà Nội
Trang 2-quan trọng trong phân tích Quả thực, cách biểu đạt tình thái nắm giữ
và tiếp tục nắm giữ một vị trí nổi trội trong số các mối bận tâm củacác nhà ngôn ngữ và nhà sư phạm hôm nay
Lý do chính thứ hai là vị thế khoa học Ở trên chúng tôi đã trìnhbày tình thái có các phương tiện biểu đạt rất đa dạng trong nội bộ mộtngôn ngữ và từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, ở đây ta nói vềtiếng Pháp và tiếng Việt Trong khi các ngôn ngữ biến hình phươngtây như tiếng Pháp thường biểu đạt các giá trị tình thái bằng cách sử
dụng dạng thức vô nhân xưng (ví dụ “- Il faut que tu sortes”) hay các
trợ động từ tình thái - thường được gọi là các động từ tình thái (ví dụ
“- Tu dois sortir”), các động từ có thể đứng sau một động từ nguyên
thể hoặc một mệnh đề được bắt đầu bằng: vouloir, savoir, pouvoir,désirer, espérer, v.v., các dạng thức nằm trong lòng phát ngôn như tính
từ (ví dụ: “- Cette hypothèse est fausse”- je nie que ), phó từ (ví dụ:
“- Il sera certainement en retard” = je suis certain que ), thức của động từ của phát ngôn: thức hiện thực (indicatif), thức mệnh lệnh (impératif), thức điều kiện (conditionnel), một số ngữ điệu (mỉa mai,
tức giận, thương hại, ), tiếng Việt lại biết đến một hệ thống đặc biệtcác ngữ tình thái, các từ tình thái và các cụm từ nhằm biểu đạt mộtcách tinh tế và uyển chuyển tình thái giao tiếp, phong phú thậm chícòn hơn các phương tiện tình thái hoặc cú pháp trong tiếng Pháp.Mảnh đất nghiên cứu này còn khá mới mẻ trong truyền thống ngônngữ học Việt Nam và mới chỉ được khai phá bởi một vài tác giả Đóchính là lý do khiến chúng tôi quyết tâm đổ công sức vào vào nộidung đầy hứa hẹn này Chúng tôi tin rằng việc phân tích chuyên sâucác phương tiện biểu đạt tình thái trong hai ngôn ngữ và việc đối chiếutương phản sẽ đóng góp vào việc mở ra những cánh cửa mới để khámphá bản chất đích thực của ngôn ngữ này hay ngôn ngữ kia nói riêng
và các phổ quát của các ngôn ngữ trên thế giới nói chung
Lý do chính thứ ba của chúng tôi là vị thế sư phạm Do tiếng Việt
và tiếng Pháp có nhiều dị biệt lớn trong việc cấu thành các cách biểuđạt tình thái cho nên người Việt học tiếng Pháp sẽ lúng túng trướcthực tế ngôn ngữ của hai thứ tiếng và gặp khó khăn khi dịch sự uyểnchuyển của tình thái tiếng Việt sang tiếng nước ngoài Nói một thứtiếng, là hành động trong và với ngôn ngữ đó Những nghiên cứu mớiđây, ít nhiều mang tính dụng học, đã chỉ ra cho ta thấy hành vi ở lời
(acte illocutoire) có ý nghĩa thế nào trong giao tiếp Việc giảng dạy
tiếng nước ngoài không thể bỏ qua điều đó Tuy nhiên, những dấuhiệu tình thái lại thường xuyên bị bỏ quên trong các lớp học tiếng
Trang 3trong nhiều năm qua Ý thức được những khó khăn và chướng ngạiđang đợi chúng ta ở cuối đường, chúng tôi tin rằng đề tài này sẽ kháthú vị và có ích, có thể giúp được người học của chúng ta nắm bắtnhững khác biệt trong hai hệ thống, để dễ dàng thích ứng được với cáctình huống giao tiếp.
2 Giới hạn đề tài, mục tiêu và ý nghĩa
Như đã nói ở trên, khác với tiếng Pháp, trong tiếng Việt, để ghidấu tính tình thái, người ta phải dùng tới một hệ thống các tình thái từ,phong phú cả về hình thức lẫn ý nghĩa Hệ thống này tạo thành mộtthành tố tách rời khỏi cấu trúc tống quát của câu tiếng Việt, là một đặctrưng của tiếng Việt Những phương tiện biểu đạt tình thái còn lại màhầu như có cùng chung tiêu chí phân tích của các ngôn ngữ Ấn-Âu ítkhiến chúng tôi quan tâm hơn Đó là lý do mà đề tài được giới hạntrong phạm vi các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt, như là xác địnhchức năng mà chúng thể hiện trong câu cơ sở trong tiếng Việt, xácđịnh bản chất ngữ pháp, phân loại hình thức và chức năng Tiếp theo,
đề tài đề cập đến nghiên cứu đối chiếu tiếng Việt và tiếng Pháp nhằmthiết lập các chuỗi tương đồng và dị biệt về tình thái giữa tiếng Việt vàtiếng Pháp, nhằm đề ra các giải pháp chuyển dịch hợp lý góp phần tạonên cơ chế dịch tự động và hệ quả sư phạm cho dạy-học tiếng Phápcho người Việt
Đề tài còn hướng tới một mục tiêu tham vọng hơn, đó là làm sáng
tỏ, đối với các tiền phụ tố tình thái tiếng Việt, các nguyên nhân sâu xacho phép giải thích các khó khăn của người Việt khi lĩnh hội một hệthống ngôn ngữ mới và một ý nghĩa thực tế là giúp người học có mộtkiến thức sâu sắc và tinh tế hơn về ngoại ngữ đang học
3 Phương pháp nghiên cứu
Ý thức được sự phức tạp của nghiên cứu, sau khi nghiên cứu cácvấn đề lý thuyết, chúng tôi cố gắng xây dựng một kho ngữ liệu cáctình huống cho phép xử lý các vấn đề liên quan đến tình thái Nguồnngữ liệu một mặt được tạo thành bởi các thành ngữ, các cách biểu đạtthường gặp trong tiếng Việt, và mặt khác từ các trích đoạn trong cáctruyện ngắn của các tác giả Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2005, đó
là là các ví dụ được coi là điển hình nhất về tiền phụ tố tình thái tiếngViệt Tiếp theo chúng tôi tiến hành phân tích đối chiếu một cáchtruyền thống để tìm hiểu cơ chế chuyển dịch các tiền phụ tố tình tháitiếng Việt sang tiếng Pháp Bên cạnh phương pháp đối chiếu tươngphản, chúng tôi còn sử dụng một cách có hệ thống các phương pháp
Trang 4tổng hợp và thống kê Bảng tổng hợp và các mục thống kê đóng vaitrò quan trọng trong nghiên cứu mang tính tổng hợp này.
Chương hai được dành cho việc nghiên cứu chuyên sâu về tiềnphụ tố tiếng Việt, nêu những đặc trưng của nó và phân loại các tiềnphụ tố tình thái trong tiếng Việt
Chương ba là chương quan trọng của đề tài, sau khi nắm bắtnhững đặc trưng của các phương tiện biểu đạt tình thái tiếng Pháp,chúng tôi đề xuất ra các giải pháp chuyển dịch tiền phụ tố tình tháitiếng Việt sang tiếng Pháp và nêu lên ý nghĩa thực tiễn
5 Nguồn ngữ liệu
Để xây dựng nguồn ngữ liệu cho đề tài, bên cạnh kho thành ngữ
và các cụm biểu đạt thường dùng, chúng tôi đã tập hợp hai mươitruyện ngắn của các tác giả Việt Nam được in trong khoảng từ 1945đến 2005, bao gồm các truyện ngắn trong chiến tranh, hậu chiến tranhcho đến bây giờ Chúng tôi mong muốn giải quyết các vấn đề đặt ra vềtình thái theo cách mô tả lịch đại để có thể gìn giữ các yếu tố ngônngữ qua các giai đoạn khác nhau của truyện Tiến trình phân tích lịchđại sẽ cho phép chúng tôi xem xét một cách thích đáng hơn việc sửdụng ngôn ngữ qua các thế hệ khác nhau và giải thích được hiện tượngnày có quan hệ thế nào với hệ thống ngôn ngữ đang được đề cập quatiến trình phát triển ngôn ngữ
Các truyện ngắn được lựa chọn có độ dài trung bình, chủ đề nói vềcác mặt khác nhau của cuộc sống trong và sau chiến tranh Phần lớncác truyện đã được dịch sang tiếng Pháp Bản dịch có sẵn của cáctruyện ngắn giúp chúng ta có thể sử dụng được ngay khi đưa một ví
dụ, rồi nghiên cứu đối chiếu để thấy được các vấn đề tình thái còn tồnđọng khi dịch các truyện này, và cuối cùng để đề xuất một phiên bảnkhác, theo chúng tôi là hợp lý hơn về mặt diễn đạt các ý nghĩa tìnhthái trong phát ngôn
Trang 5Đề tài này quan tâm đặc biệt đến các giá trị tình thái và cáchchuyển dịch các tiền phụ tố tình thái trong tiếng Pháp Trong quá trình
xử lý, chúng tôi thấy có nhiều câu dịch chưa đạt, thậm chí sai về tiếng.Trong những trường hợp đó, chúng tôi đã chỉnh lý lại với sự giúp đỡcủa người Pháp bản xứ và tránh mọi giải thích dài dòng bởi lẽ côngviệc này không phải mục tiêu của đề tài Quan sát một ví dụ bản dịchcủa dịch giả:
- Et c’est pendant qu’elles erraient par la forêt à la recherche des feuilles médicamenteuses que Mi put apprendre toute l’histoire de la blessure d’A Su.
Chúng tôi đã chỉnh sửa trực tiếp thành:
- Et c’est pendant qu’elles erraient dans la forêt à la recherche
de feuilles médicinales que Mi put apprendre toute l’histoire
de la blessure d’A Su
Chúng tôi đã lựa chọn các tác phẩm có nhiều tương tác lời nói, hộithoại, bởi nó góp phần tạo nên nguồn ngữ liệu phù hợp và hữu ích cho
đề tài nghiên cứu các tiền phụ tố
Chương 1
TÌNH THÁI NGÔN NGỮ VÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU ĐẠT TÌNH THÁI TIẾNG VIỆT 1.1 Tình thái ngôn ngữ
1.1.1 Cơ sở lý thuyết
Sau khi tham khảo nhiều sách chuyên khảo cũng như bài báo viết
về tình thái, chúng tôi nhận thấy phần nhiều các tác giả không cóchung quan điểm phân tích Tình thái quả thực là một lĩnh vực khó đòihỏi phải được nghiên cứu sâu sắc hơn nữa
Cái khó đầu tiên là do quan niệm Tình thái nắm giữ vai trò quantrọng ở nhiều ngành khoa học nhưng ở mỗi vị trí như trong triết học,logic học, ngôn ngữ học, cách hiểu về tình thái lại không thống nhất.Trong khi khái niệm tình thái của logic chỉ giới hạn ở một số kiểuquan hệ chung nhất của phán đoán với hiện thực, hoàn toàn tách hỏinhững nhân tố thuộc mục đích, nhu cầu, ý chí, thái độ, tình cảm, đánhgiá của con người nói chung, thì việc nghiên cứu tình thái trong ngônngữ trước hết nhấn mạnh tới nhân tố dụng học này
Tuy nhiên, các nhà ngữ học cũng thường không có cùng quanniệm về tình thái:
Trong cách quan niệm của Vinogradov, những mối quan hệ khácnhau của thông báo với thực tế trước hết là phạm vi của quan hệ tình
Trang 6thái Cái được thông báo, chẳng hạn, có thể được người nói hiểu như
là hiện thực, là có trong quá khứ hay hiện tại, là điều được thực hiệntrong tương lai, là điều mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó, là cáikhông có trong hiện thực v.v…Tính tình thái được xác lập theo quanđiểm của người nói, song bản thân quan điểm đó lại được xác định bởi
vị trí của người nói vào lúc nói đối với người đối thoại và với cái phânđoạn thực tế được phản ánh, được thể hiện trong câu
Theo Lyons (1977:425), tình thái là thái độ của người nói đối với nộidung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả
“Tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý
kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu” (Palmer,
1986:14)
Benveniste không đưa ra định nghĩa cụ thể về tình thái, nhưng cácđặc trưng chủ yếu của nó lại được thể hiện rất cụ thể qua các nhận xétrải rác của ông Theo ông, tình thái là một phạm trù rộng, khó có thểtổng hợp, nó gắn với sự mong chờ, đánh giá, thái độ của người nóiđối với nội dung phát ngôn, đối với người nghe, với mục đích của phátngôn: hỏi, mệnh lệnh, xác tín v.v (Benveniste 1966:258)
Theo cách định nghĩa của Gak, phạm trù tình thái phản ánh mốiquan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phátngôn đối với thực tế Trong tính tình thái biểu hiện nhân tố của quancủa phát ngôn: đó là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhậnthức của người nói (Gak 1986:133)
Chúng ta nhận thấy rằng điểm chung lớn nhất giữa các quan niệmtrên đây là sự đề cao vai trò người nói Khác với tình thái khách quan
trong logic học, mà “cố sức xoá đi mọi vết tích của cá thể người nói”
(Kerbrat-Orrechioni 1980:71), yếu tố “con người” trở nên quan trọngtrong ngôn ngữ học và trong sự vận hành ngôn ngữ, như Palmer đã
nhận xét: “Modality in language seems to be essentially subjective,
this has already been shown in the discussion of speech acts, and in reference to the speaker’s ‘opinion or attitude”, (tình thái ngôn ngữ có
lẽ chủ yếu mang tính chủ quan, nó thường được biết đến thông qua sựbàn luận về các hành vi ngôn ngữ và khi tham chiếu ý kiến hay thái độcủa người nói) Các vấn đề về tình thái khiến các nhà ngôn ngữ ngàycàng quan tâm Đó là tất yếu bởi lẽ không một nội dung nhận thức haygiao tiếp nào có thể tách khỏi các yếu tố như mục đích, nhu cầu, thái
độ, đánh giá của người nói đối với thực tế, đối với người nghe vànhững yếu tố khác của ngữ cảnh giao tiếp Tuy nhiên, sự phân biệtkhách quan - chủ quan không phải luôn rõ ràng Xét phát ngôn:
[1] Mẹ nó nói nó ốm.
Trang 7Thoạt nhìn thì dường như người nói không bày tỏ thái độ chủquan nào về sự tình “nó ốm”, cụ thể là người nói không cam kết gì vềtính chân thực của sự tình này cả, chỉ trình bày sự tình qua nguồnchứng cứ là “mẹ nó nói” Tuy nhiên, nếu xét kỹ thì sự không cam kếtcũng là một dạng cam kết Và như vậy, ngữ đoạn “mẹ nó nói” cũng có
giá trị tương đương với các quán ngữ biểu thị tình thái như nghe đâu,
nghe nói, nghe đồn, … mang đầy tính chủ quan.
Đề tài này quan tâm chủ yếu đến các vấn đề của tình thái chủ quan,
“trong đó người nói có thể biểu đạt một cách tường minh (“tôi nghĩ
rằng nó xấu”) hoặc hàm ẩn (“nó xấu”)” (Kerbrat-Orrechioni 1980:71).
Để xác định được mối quan hệ giao - hợp của tình thái và tính chủquan trong ngôn ngữ, chúng tôi xin đưa một ví dụ:
[2] Cô ta cao lớn.
Ta thấy rằng phát ngôn này biểu đạt tính chủ quan của chủ thể nóinăng đối với sự việc bởi lẽ người ta có thể đánh giá cùng một số đochiều cao là “cao” hay “thấp” tùy theo quan niệm, ý định giao tiếp củangười nói, tùy theo quốc tịch hay thế hệ, Tuy vậy, ở đây, người nóikhông bộc lộ tình cảm Thật khó có thể kết luận rằng người nói đánhgiá cao hay thấp chiều cao của cô gái đó Như vậy, chúng ta có thể nóirằng tính chủ quan liên hệ mật thiết với phạm trù tình thái nhưngkhông trùng khớp với phạm trù này
Để vạch rõ ranh giới nghiên cứu, chúng tôi xin đề xuất bảng sau:
Tình tháichủ quanTính chủ quan
Tính khách quan Tình thái
khách quan
Hình 1 : Tính chủ quan/ tính khách quan và tình thái
Bảng trên đây chỉ rõ chỗ đứng của tình thái chủ quan trong ngônngữ học: Tình thái được miêu tả bằng hình chữ nhật đứng, nửa trên làtình thái chủ quan và nửa dưới là tình thái khách quan Tính chủ quanđược biểu thị bẳng tất cả khoảng không phía trên đường ranh giới vàtính khách quan bên dưới đường ranh giới Tình thái chủ quan (phầnmàu ghi) là đối tượng nghiên cứu của đề tài này
Cái khó thứ hai là do tính không ổn định của đối tượng nghiên cứu.Theo Benveniste (1965:187-188), tình thái nghiên cứu chủ yếu
động từ, đặc trưng nhất là động từ “pouvoir” (có thể) và “devoir” (cần
Trang 8phải), ngoài ra còn nghiên cứu một số các cấu trúc trợ động từ khác
như “vouloir” (muốn), “falloir” (cần phải), “désirer” (muốn),
“espérer” (hi vọng)
Herman Parret (1980:113) quan niệm tình thái theo nghĩa hẹp:
“Theo tôi, tình thái biểu đạt sự cần thiết, khả năng và sự ngẫu nhiêntrong mệnh đề, mà các mệnh đề lại phụ thuộc vào một động từ chỉ
“thái độ”, như động từ “croire” (tin), “vouloir” (muốn), “désirer” (muốn), “espérer” (hi vọng), “savoir” (biết) …
Ta thấy rằng các tác giả Pháp hầu như coi tình thái tương đươngvới “thức”, vốn chỉ là một dạng thức ngữ pháp gắn liền với động từ vàbiểu đạt thái độ của người nói đối với phát ngôn Tuy nhiên, động từthực sự không thể biểu đạt tất cả các sắc thái ý nghĩa của tình thái màngười nói cần thể hiện Như vậy, cần phải hiểu rõ tình thái rộng hơnthức và ngoài thức ra, tình thái có thể được biểu đạt bằng nhiềuphương tiện khác
Một số tác giả khác thì xử lý các vấn đề về tình thái ở phạm virộng hơn phạm trù động từ, như tác giả Lyons (1977), Vinogradov(1977), Kerbrat-Orrechioni (1980), Culioli (1983-1984) Ở đây chúngtôi chỉ xin nói ngắn gọn như vậy vì chúng tôi sẽ dành một phần riêngnói về các cách biểu đạt và các phương tiện biểu đạt tình thái
Cái khó thứ ba là do quy ước Khi tiếp cận phạm trù tình thái,chúng tôi nhận thấy rằng cùng một hiện tượng có khi được miêu tả bởicác từ ngữ khác nhau và cùng một từ ngữ có khi lại chứa đựng nhữngnội dung khác nhau Các nhà ngữ học nhiều khi sử dụng những từ ngữkhác nhau để nhấn mạnh khía cạnh nào đó của tình thái
Ví dụ, Fillmore đã đưa ra công thức:
S = M + P (Sentence = Mood + Proposition)
trong đó M là thành tố tình thái, P là thành tố mệnh đề Theo tác giả
này, thành tố “Proposition” được hiểu là tập hợp các mối quan hệ phi thời gian, được phân biệt với thành tố “Mood”, bao gồm các giá trị
cho cả câu, như là phủ định, thời, thức, thể động từ (Fillmore, 1968,
p.23) Trong khi đó, tác giả Culioli lại đề xuất cặp từ “modus/lexis”, Charle Bally gọi là “modus/dictum”, Hare dùng bộ ba “phrastic/
tropic/neustic” …
Sự lựa chọn của Fillmore có thể khiến người sử dụng băn khoăn:
“Proposition” được hiểu theo nghĩa nào? Theo lăng kính khách quan logic hay ngôn ngữ? “Mood” có thể được hiểu là “thức của động từ” theo nghĩa hẹp Cặp từ “lexis” và “dictum” tương ứng với cặp “modus/
dictum”, nhưng “lexis” nhấn mạnh vào tính chất của từ dùng hơn.
Trang 9Do đó, chúng tôi xin đề xuất định nghĩa của mình, trên quan điểm
đề cao tính chủ quan của ngôn ngữ, trong mối quan hệ người nói
-người nghe Chúng tôi cũng xin sử dụng thuật ngữ “dictum” và
“modalité” và giữ nguyên công thức:
Enoncé = Dictum + Modalité
trong đó “dictum” gắn với chức năng thông tin, chức năng miều tả của ngôn ngữ “Modalité” (tức bộ phận tình thái) gắn với bình diện tâm lý,
thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánhgiá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với
thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp “Modalité”
tham gia vào quá trình thực tại hóa, biến nội dung sự tình còn ở dạngtiềm năng thành phát ngôn hiện thực
Những khó khăn của việc định nghĩa thực sự chỉ là khởi đầu khibước chân vào địa hạt của tình thái Để có định hướng tốt cho nghiêncứu, chúng tôi mong muốn xử lý các vấn đề tình thái theo ba cấp độ:hình thái - cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, bởi nếu một từ hoặc mộtngữ có nhiều nghĩa khi sử dụng, đó không chỉ là do cách tổ chức hệthống từ vựng, mà còn do nguyên tắc ngữ dụng áp dụng cho phátngôn Sự khác nhau giữa cú pháp và ngữ nghĩa hay ngữ dụng tạo nên
sự đối lập giữa hệ thống ngôn ngữ và việc sử dụng hệ thống này.Moeschler (1994:26) đã sơ đồ hóa các yếu tố và mối quan hệ củachúng trong bảng sau:
Ngôn ngữ
Hệ thống Việc sử dụng hệ thống
luật
hình thành kết cấuluật diễn ngônluật
Những định nghĩa trên đây đã tạo chỗ đứng và thứ tự phân tíchhợp lý: đầu tiên là phân tích về mặt cú pháp, rồi xử lý về ngữ nghĩa,sau cùng là dụng học Và chúng tôi nhất quán phân tích tình thái theoquan điểm của người nói
Chúng tôi sẽ giải quyết các vấn đề về tình thái theo quan điểm lịchđại, nghĩa là các nhà ngữ học quan sát các yếu tố ngôn ngữ vào cácthời điểm khác nhau của lịch sử Tiến trình phân tích lịch đại cho phépmiêu tả sự vận hành ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp, giúp ta thấy
Trang 10được cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau qua các thế hệ và hiểu rõ hiệntượng tình thái có mối liên quan thế nào với hệ thống ngôn ngữ đangnói tới Để làm được điều này, chúng tôi đã tận dụng nguồn ngữ liệucác truyện ngắn Việt Nam ra đời trong khoảng từ những năm 40 chođến nay và các câu thành ngữ, quán ngữ lưu truyền qua nhiều thời đại.
1.1.2 Cách biểu đạt giá trị tình thái
Như đã nói ở trên, tình thái luôn là một chủ đề vừa hấp dẫn, vừaphức tạp, dù ở bất cứ ngôn ngữ nào Các nhà ngữ học ít khi đồng nhất
về các cách biểu đạt giá trị tình thái
Von Wright (1951:1-2) phân tình thái ra thành bốn tiểu loại:
- Tình thái chân ngụy, hay chân thực
- Đạo nghĩa, nói đến nghĩa vụ và sự cho phép
Ta nhận thấy theo cách quan niệm này, thì giá trị tồn tại có thểquy vào mối quan hệ với phạm trù khả năng, giá trị chân ngụy vừa cóthể quy vào phạm trù khả năng, vừa phạm trù nghĩa vụ hay mệnh lệnh,nghĩa là vừa thuộc tình thái nhận thức, vừa thuộc tình thái đạo nghĩa.Một số nhà ngữ học khác lại phân chia tình thái theo thế nước ba:
- Tình thái hướng tác thể (bao gồm cả tình thái đạo nghĩa) quan tâmtới các chủ thể khác nhau như khả năng, nghĩa vụ, ý định, sự chophép, …
- Tình thái nhận thức quan tâm tới cam kết của người nói với tínhchân thực của phát ngôn
- Tình thái của hành động phát ngôn chỉ ra những điểu liên can tớingười nói trong hành vi phát ngôn (mệnh lệnh, sự mong chờ, sự chophép) (J Bybee & S Fleishmann, 1995)
Ta thấy rằng về cơ bản thì nó giống với những gì mà Lyons đềxuất, nhưng khác ở chỗ họ tách bạch riêng chủ thể của câu (trong tìnhthái hướng tác thể) với chủ thể nói năng (trong tình thái phát ngôn)
B Pottier (2000:192-215) đã phân chia tình thái thành bốn tiểuloại như sau:
- Tình thái chân ngụy (khả năng, cần thiết) không phụ thuộc vàongười nói
- Tình thái nhận thức dựa trên lòng tin tưởng và sự hiểu biết củangười nói
Trang 11- Tình thái hành xử (modalité factuelle) quan tâm đến ý định của
người nói đối với điều anh ta nói và điều anh ta làm (xung quanh khảnăng và nghĩa vụ)
- Tình thái giá trị (modalité axiologique) dùng để tạo giá trị cho
những gì người nói đề cập (tạo lập xung quanh ý chí và giá trị)
Sự phân chia này khá rõ ràng giữa một bên là tính khách quantrong tình thái chân nguỵ và một bên là tính chủ quan trong ba miềncòn lại
Meunier (1974), Kerbrat-Orecchioni (1980) et Cao Xuân Hạo (1991)phân biệt tình thái hành động phát ngôn và tình thái lời phát ngôn
Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời về phương
diện mục tiêu và tác dụng của giao tiếp, bao gồm sự phân biệt giữa cácloại câu trần thuật, hỏi, cầu khiến vốn được ngữ pháp hóa trong hầuhết các thứ tiếng và được ngữ pháp truyền thống miêu tả; những câu
có giá trị ngôn trung (hay tại lời) được đánh dấu: câu xác nhận, câuphản bác, câu ngôn hành Tình thái của hành động ngôn trung thuộclĩnh vực dụng pháp
Tình thái của lời phát ngôn thuộc nội dung được truyền đạt (trong
câu trần thuật hay câu hỏi) Nó có liên quan đến thái độ của người nóiđến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề Đó là một phầnquan trọng của bình diện ngữ học
Sau khi tổng hợp ý kiến của các nhà ngữ học trong cũng nhưngoài nước, chúng tôi thấy rằng quan điểm của Antoine Culioli có lợinhất cho hướng nghiên cứu chúng tôi đang đi theo, khi nghiên cứu vềtình thái tiếng Việt và tiếng Pháp
Thứ nhất, tình thái ngôn ngữ được đề cập trong đề tài là tình tháichủ quan Do đó, cách phân loại của Pottier về khách quan - chủ quan
là không cần thiết
Thứ hai, chúng tôi đã xác định trong phạm vi đề tài chỉ quan tâmđến chủ thể người nói và các vấn đề quanh người nói Như vậy, sựphân biệt chủ thế người nói và chủ thể của câu theo Kerbrat-Orecchioni (1980), Bybee (1995) có lẽ có thể bỏ qua trong đề tài.Đối với nội dung tình thái nhận thức và đạo nghĩa, ta thấy đượcrằng chúng khá tương đồng với bốn thái mà Culioli đề xuất Nhưngchúng tôi thích chia nhỏ thành bốn thái theo Culioli hơn là giữ nguyên
từ “nhận thức” để tránh hiểu nhầm với từ dùng của các tác giả trước,
ví dụ như Lyons sử dụng thuật ngữ này cho phạm trù khách quan.Sau cùng, cách phân chia của Kerbrat-Orecchioni (1980), CaoXuân Hạo (1994) lúc đề cập đến hành động phát ngôn, lúc đề cập đến
Trang 12lời phát ngôn có lẽ sẽ gây trở ngại khi ta nghiên cứu thực nghiệm cácyếu tố ngôn ngữ cụ thể, bởi nghiên cứu sẽ không có cùng duy nhấtmột xuất phát điểm.
Đến với lý thuyết của Culioli, chúng tôi thấy lý lẽ của ông đưa ranhư sau:
Phát ngôn là một câu được chịu trách nhiệm bởi một chủ thểngười nói (So) và nói cho một người đối thoại (S1) Đó là một mốiquan hệ liên chủ thể giữa So và S1 Mối quan hệ này được sản sinh rahoặc được tổ chức xung quanh người nói và nhất nhất vì anh ta: Tachọn xuất phát điểm là câu xác tín (P), từ đó là sẽ được vào các dấuhiệu tình thái hóa khác nhau Tất cả các câu xác tín đều là phát ngôn
và như vậy là thông điệp liên chủ thể So - S1
Thái đầu tiên (μ1) quan tâm đến sự tồn tại của P hay Không-P:
+ Mỗi khi mà ta tình thái hóa câu, nghĩa là ta tình thái hóa mộtcâu xác tín Việc chọn lựa P đồng nghĩa với việc loại trừ Không-P.Nếu theo như truyền thống, người ta đưa ra hai giá trị đúng/sai, 0/1hay tích cực/tiêu cực, người ta sẽ có một và chỉ một trong hai giá trịnày Người ta có thể tình thái hóa theo hai cực này và sẽ có hoặc cái
nọ, hoặc cái kia:
[3] “Anh ấy đã tới” hoặc “Anh ấy đã không tới”
Ngoài ra (nghĩa là ngoài việc chọn lựa P hay Không-P), người nóicũng có thể đề xuất cho người đối thoại chọn lựa Như vậy, nó khôngcòn là một câu xác tín nhưng lại tương thích với câu xác tín: đó là câuhỏi
+ Đối với câu hỏi, người ta giới thiệu với người đối thoại cả haigiá trị (đúng/sai, 0/1 hoặc tích cực/tiêu cực) theo cách mà trong câu trảlời, người ta chỉ chọn lấy một hoặc 0 hoặc 1, ở đây ta đã loại trừ sự bấthợp tác hay đánh trống lảng: không muốn trả lời, im lặng hoặc hìnhthức trả lời không chọn một trong hai: “tôi không biết”
+ Với câu mệnh lệnh, ta có thêm một loại hình mới không phảicâu xác tín, không phải câu hỏi nhưng tương thích với chúng Trongcâu xác tín, người ta nói “Ai đó thế nào hoặc không thế nào”, còntrong câu mệnh lệnh, người ta nói “Ai đó phải thế nào hoặc khôngđược thế nào” Trong câu mệnh lệnh, người đối thoại sẽ chọn lựa hànhđộng P hoặc Không-P, 0 hoặc 1, đúng hoặc sai Thuật ngữ “mệnhlệnh” này bao hàm cả sự cầu xin, ra lệnh, gợi ý, yêu cầu, nghĩa làngười ta đặt ra một giá trị thực về tương lai thế giới Mệnh lệnh không
có đúng, có sai những nó có thể dẫn tới cái đúng hay sai Ví dụ:
[4a] Ngồi xuống!
Trang 13[4b] Cô ấy ngồi xuống.
[4c] Đó, cô ấy ngồi rồi.
Ta cũng nhận thấy là tình thái của hành động phát ngôn thuộc lĩnhvực dụng học bởi vì có những câu sử dụng không đúng theo mục đíchvốn có của nó Ví dụ:
[5] Con giữ trật tự và con ăn bánh.
Ở đây người ta dùng câu xác tín, thế nhưng không với mục đíchxác tín một thông tin mà ý định ở đây lại là mệnh lệnh Ta thườngxuyên gặp phải những câu dạng này
Thái thứ 2 (μ2) quan tâm đến các khả năng giữa 0 và 1 (mà
là các giá trị trung gian giữa 0 và 1 Ví dụ:
[6] Lẽ ra anh ta đã phải làm vậy
hoặc khi nói về tương lai, người ta không thể khẳng định Ví dụ:
[7] Trời sẽ nắng
Với μ2, ta sẽ ở một thời điểm của hành động phát ngôn mà khi taphát ngôn về một sự tình, ta khó có thể nói được sự tình đó đúng haysai, mà chỉ có thể nhận định rằng “sẽ xảy ra”, “có lẽ sẽ xảy ra” hay
“nhất định sẽ xảy ra”,
Thái thứ 3 (μ3) quan tâm đến các đánh giá của S) quan tâm đến các đánh giá của S o về 0 hay 1:
Với μ3, người nói biểu đạt một cách chủ quan đánh giá, thái độ,tình cảm của mình về sự tình được đề cập trong phát ngôn, dù cho
đó là một câu xác tín, một câu hỏi hay một câu mệnh lệnh, dù cho sựtình đó có khả năng được thực hiện hay không
Và vì người nói thêm các đánh giá của mình vào sự tình, anh ta đãtình thái hóa sự thật trong phát ngôn giữa mặt tích cực và tiêu cực,giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái to và cái bé, Ví dụ:
[8] Thật đáng tiếc là anh ấy đã làm vậy.
Ở đây ta có một câu xác tín “Anh ấy đã làm vậy” - điều đó đã xảy
ra Và một lời đánh giá đối với sự tình đó “Thật đáng tiếc!”
Dù cho đánh giá là một hoạt động nhận thức của con người và dựatrên các thang giá trị, nó vẫn mang đậm tính chủ quan và do đó, thanggiá trị phụ thuộc vào cá nhân người nói Xét phát ngôn:
[9] Tôi có những năm nghìn đồng.
Khoản tiền năm nghìn đồng có thể là một khoản tiền lớn, thậm chírất lớn đối với người phát ngôn, dựa trên một thang giá trị nào đó Thế
Trang 14nhưng có thể đối với những người phát ngôn khác, với cùng một số tiềnnhư vậy, họ lại có những đánh giá khác tùy theo cá nhân và tình huống.
Thái thứ 4 (μ4) quan tâm đến mối quan hệ giữa người nói và) quan tâm đến mối quan hệ giữa người nói và
người đối thoại S o - S 1:
Thái 4 bao gồm nghĩa vụ, mong muốn, sự cho phép, nghĩa làmột mối quan hệ nào đó giữa hai chủ thể nói năng:
- Người này sai khiến người kia
- Người này để cho người kia tự do làm gì đó
- Người này tự điều khiển chính bản thân trong sự mong muốnKhi phân tích cách biểu đạt giá trị tình thái, cần phải hiểu được ýđịnh giao tiếp chủ quan của người nói, bởi lẽ khi anh ta nói, anh takhông chỉ muốn điều khiển chính mình, mà còn muốn điều khiển cảngười khác, hay cho phép người khác làm điều gì đó, theo quanđiểm của Austin “Nói, là hành động” Tình thái sẽ được biểu đạt ởtrong lòng những gì mà người nói nói với người đối thoại của anh ta
Đó là một mối qua hệ nhập nhằng nhưng khá thú vị, và ta phải đặtmình trong ngữ cảnh giao tiếp để có thể nhận ra
Các thái 1, 2, 3, 4 không theo thứ tự, ta cũng khó có thể lập trật tựcho chúng vì các mối quan hệ luôn đan xen, chồng chéo Cùng mộtphát ngôn mang tính chất mệnh lệnh có thể vừa thuộc thái 1, vừa thuộcthái 4 Do đó sự phân loại này không thể thuộc loại hình tuyến tính
1.1.3) quan tâm đến các đánh giá của S Các phương tiện biểu đạt tình thái
Tình thái phản ánh quan hệ đa phương giữa người nói, nội dungmệnh đề, người đối thoại và thực tế Như đã đề cập ở trên, một phát
ngôn luôn là một sự cộng hợp của một “dictum” và một “modalité”,
trong bất cứ ngôn ngữ nào Như vậy, tình thái là một hiện tượng phổquát, chung cho tất cả các ngôn ngữ tự nhiên trên thế giới, nghĩa làluôn luôn tồn tại các phương tiện biểu đạt tình thái trong tất cả cácngôn ngữ
Lấy ví dụ ở các thứ tiếng:
[10a] Tôi muốn đi chơi (tiếng Việt)
[10b] Je veux sortir (tiếng Pháp)
[10c] I want to go out (tiếng Anh)
[10d] Eu quero sair (tiếng Bồ Đào Nha)
[10e] Watashi wa dekake tai (tiếng Nhật)
[10f] Wo xiang zou le (tiếng Trung)
Ta nhận thấy rằng ở mỗi phát ngôn trên đây, luôn có hai thành tố
riêng biệt: phần “dictum” miêu tả nội dung mệnh đề “tôi-đi chơi” (tiếng Việt), “je-sortir” (tiếng Pháp), “I-go out” (tiếng Anh), “eu-
Trang 15sair” (tiếng Bồ), “watashi-dekakeru” (tiếng Nhật) hay “wo-zou” (tiếng
Trung), và phần “modalité” thể hiện mong muốn của người nói được hiện thực hóa nội dung mệnh đề đó lần lượt bởi các từ “muốn”,
“vouloir”, “to want to”, “quero”, “-tai-” hay “xiang”.
Chúng tôi cũng thấy rằng mỗi ngôn ngữ có các phương tiện điểnhình và rất đa dạng để biểu đạt tình thái Lấy ví dụ từ một lớp họcđang mất trật tự Lớp trưởng nói to:
[11a] Thầy đến đấy! (tiếng Việt)
[11b] Le professeur arrive (tiếng Pháp)
[11c] The teacher is coming (tiếng Anh)
[11d] O professor esta chegando (tiếng Bồ)
[11e] Sensei ga kuru yo (tiếng Nhật)
Ta thấy rằng các phát ngôn gắn chặt chẽ với ý định giao tiếp củangười nói Theo anh ta, một câu xác tín đơn giản có thể trở thành mộtcâu cảnh báo, một lời đề nghị yên lặng, một lời đe dọa sẽ phạt nhữngsinh viên gây ồn Để biểu đạt ý định người nói: báo cho lớp thầy giáođến và yêu cầu lớp giữ trật tự, lớp trưởng tỏ ra kiên quyết đối với cácbạn nhưng lại lo lắng về sự việc trong thông báo
Trong tiếng Việt, hệ thống các từ ngữ pháp biểu đạt tình thái rấtphong phú Chúng thường thể hiện một cách sinh động và tích cựcthái độ và ý định giao tiếp của người nói
Thầy đến đấy!
Tiểu từ tình thái “đấy” trong ví dụ trên đây đã thêm vào nội dung
“thầy giáo-đến” ý định của lớp trưởng báo tin cho các sinh viên khác.
Ngay trước thông báo, ta có thể làm dấu chép miệng, tỏ vẻ không hài
lòng và cũng để gây chú ý Nếu chỉ nói “Thầy đến”, mức độ bức bách
của thông báo giảm đi
Trong trường hợp này, người Pháp thường dùng thức hiện tại
(indicatif), thời hiện tại (présent), phối hợp cùng các điệu bộ như giơ
thẳng tay ra phía trước, bàn tay hướng lên trên và dùng ngữ điệu lên:
The teacher is coming.
O professor esta chegando.
Trợ động từ và phân từ hiện tại của động từ trung tâm kết hợp vớinhau thành một đơn vị ngữ nghĩa gọi là cụm động từ Để gây sự chú ý
Trang 16của các thành viên trong lớp, lớp trưởng đã dùng ngữ “is coming” ou
“esta chegando” để chỉ thời gian của sự việc.
Nếu như ta dùng thời hiện tại như trong tiếng Pháp, người Anh
hoặc Bồ bản ngữ sẽ nói thành “The teacher comes” hoặc “O professor
chega” Các câu này cũng có thể thông báo thầy giáo đến, thế nhưng
trong trường hợp này nghe không thật tự nhiên và có lẽ ít gây hiệuứng đối với người nghe, như vậy cần thêm các dấu hiệu khác để hiệnthực hóa sự tình, ví dụ như vừa nói vừa vỗ vỗ tay Ngược lại, nếu như
trong tiếng Pháp, ta nói “Le professeur est en train d’arriver”, việc
báo động hay mệnh lệnh lại có lẽ bị giảm giá trị
Trong tiếng Nhật, việc sử dụng các tiểu từ cuối câu cũng khá phổbiến, như trong các ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt, tiếng Trung ):
Sensei ga kuru yo.
Tiểu từ tình thái “yo” ở đây biểu đạt sự chắc chắn, sự nhấn mạnh Xét các ví dụ khác với “yo”:
[12] Ashita no gogo denwa suru yo.
Ngày mai/của/buổi chiều/điện thoại/làm/tiểu từ “yo”
(Chiều mai tôi sẽ gọi điện cho anh.)
Với việc sử dụng từ “yo”, người nói bày tỏ sự nhấn mạnh vào nội
dung phát ngôn hướng tới người đối thoại Người nói đã xác định rõ
người đối thoại thông qua từ “yo” Như vậy, phát ngôn “sensei ga
kuru yo” tỏ ra hiệu quả đối với tình huống này.
Nếu phân biệt hai phát ngôn “Sensei ga kuru” và “Sensei ga kuru
yo”, thì người Nhật bản ngữ chấp nhận cả hai trường hợp, cũng như
trong tiếng Việt, dịch từng từ một câu “Sensei ga kuru” sẽ là “Thầy
giáo đến” Đầu tiên ta có thể nói “Sensei ga kuru!” để ổn định trật tự
lớp, nếu như vẫn còn một vài người gây ồn, ta có thể nhấn mạnh thêm
với cấu trúc dùng “yo”: “Sensei ga kuru yo” Ở đây, “yo” giữ chức
năng nhấn mạnh cho sự tình cần thông báo
Nhiều tác giả đã thử tập hợp và phân loại các phương tiện biểu đạttình thái ngôn ngữ và đặc biệt trong tiếng mẹ đẻ của mình
a- Theo V.Z Panfilov (1982:73), tình thái được biểu đạt bằng các
phương tiện như:
a.1 Thức của động từ
a.2 Động từ tình thái: có thể (pouvoir), cần phải (devoir) …
a.3) quan tâm đến các đánh giá của S Ngữ điệu và các từ ngữ pháp biểu đạt tình thái chủ quan.
b- Kerbrat-Orrechioni (1980:119) đã liệt kê một cách chi tiết các
phương tiện biểu đạt tình thái tiếng Pháp Theo nhà ngữ học này,ngoài các phương tiện “điển hình” như thức của động từ, động từ tình
Trang 17thái, có lẽ còn có nhiều công cụ khác có thể liệt kê ra, ví dụ như các
cụm từ đánh giá hoặc chỉ sự hạn chế: “à peine”, “presque”, “guère”,
“seulement”, “ne que”; các trạng từ “déjà”, “encore” mà chỉ có
nghĩa khi gắn với những đợi chờ của người nói; các quan hệ từ như
“or”, “car”, “donc”, “cependant”, “d’ailleurs”, “toutefois”, “en effet”,
v.v Ngoài ra theo tác giả này, các thán từ, giới từ, liên từ cũng có thểtruyền tải các giá trị tình thái
Như vậy, trong các ngôn ngữ Ấn-Âu, thức của động từ luôn giữvai trò quan trong để biểu đạt tình thái phát ngôn Tuy nhiên, tình tháikhông chỉ bó gọn trong phạm vi động từ mà còn biết đến rất nhiều
phương tiện khác.Ví dụ trong tiếng Pháp “Il viendra peut-être
demain” (dùng thời ngữ pháp, trạng từ) = “Il viendrait demain” (sử
dụng thức ngữ pháp)
c- Trong tiếng Việt, tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980:31) đã nhận
định trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt - Câu” rằng mỗi ngôn ngữ lại
có các phương tiện biểu đạt tình thái riêng, nhưng những phương tiệnthường gặp nhất là:
c.1 Ngữ điệu
c.2 Động từ
c.3) quan tâm đến các đánh giá của S Trật tự từ
c.4) quan tâm đến mối quan hệ giữa người nói và Tiểu từ tình thái
c.5 Thành ngữ và ngữ cố định có chức năng khu biệt và hiện thực
1.2 Các phương tiện biểu đạt tình thái tiếng Việt
Như đã nhận định, các phương tiện biểu đạt tình thái vốn rất đadạng trong các tiếng khác nhau Trong khi các ngôn ngữ Ấn-Âu sửdụng thời, thức, thể để biểu đạt tình thái thì tiếng Việt, với tư cách
là một thứ tiếng đơn lập, lại có các phương tiện đặc trưng khác màchúng ta sẽ lần lượt xem xét dưới đây
Trang 181.2.1 Các phương tiện ngữ âm biểu đạt tình thái
Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh và các thanh cũng có thểbiểu đạt tình thái Người Việt sử dụng các ký hiệu khác nhau để chỉcác thanh khác nhau: “không” ( ), “huyền” (`), “sắc” ('), “hỏi” ( ̉),
“ngã” (~) và “nặng” (.)
Theo Ferdinand de Saussure1, ký hiệu ngôn ngữ là võ đoán, nghĩa
là nội hàm của một ký hiệu không liên quan đến chuỗi âm thanh miêu
tả cái biểu đạt Thế nhưng, đôi lúc ta cũng có “cảm giác” với các thanh.Lấy ví dụ, khi ta nghe tên một người là “Tạ Thị Thịnh”, ngườiViệt có thể có cảm giác cái tên nghe hơi “nặng” do sự nối nhau liêntiếp của các thanh nặng “.”
Khi người ta mệt mà phải nghe quá nhiều thanh nặng, thì điều này
có thể gây cảm giác khó chịu
Ta biết rằng một thứ tiếng có thanh thường có ngữ điệu (sự thayđổi cao độ của lời nói) khá hạn chế Tuy nhiên, dù hạn chế thì vẫn cứ
có Câu mệnh lệnh không có dấu hiệu đặc biệt để nhận dạng câu mà tahiểu đó là câu mệnh lệnh thông qua ngữ điệu “Dù không có nhiềunghiên cứu về ngữ điệu câu tiếng Việt thì ta vẫn có cảm giác là ngữđiệu câu tiếng Việt phụ thuộc vào cảm nhận ngôn ngữ Ngữ điệu củacâu mệnh lệnh nói chung thường lên ở cuối câu và nhấn mạnh vào các
từ có nội dung mệnh lệnh” (Diệp Quang Ban : 2004:230):
[13] Anh kia đứng lại !
[14] Im !
Phạm Hùng Việt (1996:20) chỉ ra rằng các phương tiện ngữ âmbiểu đạt tình thái tiếng Việt gồm có ngữ điệu, trọng âm Cũng nhưtiếng Pháp, tiếng Việt cũng có trọng âm nhấn, dùng để biểu đạt tìnhcảm của người nói Trọng âm tiếng Việt không chỉ được thể hiện bằnglực, mà còn bằng cao độ và trường độ
Phát ngôn “Giỏi nhỉ!” với từ “giỏi” được phát âm nhấn mạnh và kéo dài hơn từ kia có lẽ biểu đạt ý nghĩa “không giỏi” với thái độ mỉa mai.
Trong tiếng Việt, từ láy và từ tượng thanh cũng có thể tình tháihóa phát ngôn Cần phải thừa nhận là trong tiếng Việt, số lượng các từ
và ngữ láy phong phú hơn nhiều trong tiếng Pháp, nó tạo nên một khotàng từ vựng tiếng Việt Đào Thản, nhà từ vựng học Việt ngữ, trongnghiên cứu của ông, đã liệt kê 2600 từ láy trong đó có 170 danh từ,
420 động từ và hơn 2000 tính từ Các từ ngữ tình thái là phương tiệnbiểu đạt tình thái vô cùng hiệu quả trong tiếng Việt:
- Tượng hình: “lổm ngổm”, “lồm cồm”, “chổng chơ”, “nhốn nháo”
1 http://www.anacip.com/Saussure.htm
Trang 19- Tượng thanh: “rúc rích”, “róc rách”, “líu lo”, “chí chóe”, “chiêm
chiếp”
- Khơi gợi trạng thái tình thần hoặc tình cảm: “bâng khuâng”, “tần
ngần”, “da diết”, “rạo rực”
Ví dụ khác với hậu tố “âp” diễn đạt một sự lặp lại, một sự xuất hiện lặp lại nhưng không ổn định: “bập bùng”, “lấp ló”
Các từ láy khiến hình ảnh được miêu tả sống động hơn nhiều lần.Hơn nữa, nó mang tính chất trữ tình khá rõ nét, do đó hay được dùngtrong văn học
Cùng với các sắc thái thơ ca, các từ láy thường dùng để biểu đạtthái độ chắc chắn của người nói Ví dụ:
[15]Tôi chợt nhận ra chiếc mũ “xanh xanh” lẩn trong màu lá biếc.
[16]Một chiếc ví da nhỏ, màu “đo đỏ” bị bỏ rơi ngay trên bàn
So với từ “xanh”, “đỏ”, thì “xanh xanh”, “đo đỏ” tạo cảm giác
người nói ít chắc chắn về màu sắc nói tới, ít khẳng định hơn
Từ tượng thanh không những khiến vật được miêu tả thêm sinhđộng, thêm hình ảnh mà còn mang giá trị tình thái như vui, buồn, bấtngờ, …
Trên quan điểm cấu tạo thì từ tượng thanh có thể là từ đơn hoặcđôi Ví dụ:
[17] Từ đơn: ngã “oạch”, nổ “đùng”, cắt “roạt”
[18]Từ đôi: tàu điện “leng keng”, lửa “lép bép”
Ngoài việc tái hiện âm thanh, từ tượng thành còn có thể thể hiệnthái độ người nói Ví dụ:
Couper / onomatopé “roạt”
[22] Kêu leng keng
Sonner / onomatopé “leng keng”
[23] Lửa cháy lép bép
Feu / brûler / onomatopé “lép bép”
Ta nhận thấy phát ngôn trở nên sống động hơn với sự có mặt củacác từ tượng thanh Tuy nhiên, cần lưu ý là không có sự tương ứngmột đối một giữa tiếng Pháp và tiếng Việt khi biểu đạt các ý nghĩanày
1.2.2 Các phương tiện từ vựng biểu đạt tình thái
Trang 20Trong tiếng Việt, người ta chia làm chín loại từ: danh từ, động từ,tính từ, đại từ, số từ, quan hệ từ, tiểu từ và thán từ Dưới đây, chúng ta
sẽ lần lượt xem xét các lớp từ trong tiếng Việt biểu đạt giá trị tình tháinhư thế nào
1.2.2.1 Danh từ
Lấy ví dụ hai từ đồng nghĩa: “đàn bà” và “phụ nữ”
[24] Thân phận đàn bà khốn khổ.
[25] Tạp chí Phụ nữ, Người phụ nữ hiện đại ngày nay, .
Ta thấy từ “đàn bà” thường được dùng với nghĩa tiêu cực, trong khi từ “phụ nữ” lại được sử dụng theo nghĩa trân trọng hơn Do đó, ta
không thể thay thế từ nọ cho từ kia mà không làm thay đổi nghĩa của
câu Ví dụ ngữ “Tạp chí Đàn bà” sẽ khiến ta rất buồn cười.
1.2.2.2 Động từ
Động từ tiếng Việt không biến hình, do đó khả năng kết hợp của
nó khá phức tạp Ta có thể sắp xếp các trạng từ thời gian như “đã”,
“đang”, “sẽ”, “vừa” , trạng từ phủ định như “không”, “chưa” đằng trước các trạng từ thời gian như “rồi”, trạng từ tình thái như “được”,
“mất”, “phải” Hơn nữa, các từ tình thái không đơn nghĩa Động từ
có thể đứng một mình hoặc động từ kết hợp với các động từ khác hoặc
từ tình thái trở thành thành nhóm động từ Ta phân biệt động từtrong tiếng Việt ra hai nhóm: động từ tình thái và động từ hành thái.+ Động từ tình thái
Vì phức tạp nên động từ tình thái tạo nên một tiểu loại động từ thuhút sự quan tâm của các nhà ngữ học trên thế giới và trong các ngônngữ khác nhau Động từ tình thái có thể biểu đạt nghĩa tình thái vàđứng trước động từ hành thái với điều kiện động từ tình thái và hànhthái có cùng chủ ngữ Trong tiếng Việt, động từ tình thái đứng trướctính từ và quan hệ từ
Động từ tình thái vừa là phương tiện từ vựng, vừa là phương tiệnngữ pháp biểu đạt tình thái Trong phần này, ta sắp xếp các động từtình thái tiếng Việt vào các phương tiện từ vựng (bởi lẽ tiếng Việt làtiếng đơn lập, mỗi từ đều thuộc một loại từ nào đó) Sự phân biệt cácphương tiện ngữ pháp và từ vựng biểu đạt tình thái trong tiếng Việtkhông cứng nhắc như trong các ngôn ngữ biến hình Ví dụ:
Động từ tình thái “phải”
Động từ tình thái “phải” mang ý nghĩa bắt buộc về tinh thần Cầnphải làm điều này hay điều nọ bởi lẽ đó là một nghĩa vụ, một mệnhlệnh phải tuân thủ
[26] Người ta phải kính trọng người già.
Trang 21[27] Phong phải đi tối nay, anh ta đã nhận được lệnh.
Động từ tình thái “có thể”
Động từ tình thái “có thể” biểu đạt sự có thể hay tính khả năng Vídụ:
[28] Minh Anh có thể xách chiếc va-li này một cách dễ dàng.
Phát ngôn này chỉ ra rằng Minh Anh có đủ sức lực để xách va-li,
nó có khả năng làm điều đó theo đánh giá của người nói Ví dụ:
[29] Tương lai có thể sẽ khá hơn
có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau trong tiếng Pháp:
[29a] Il peut arriver que l’avenir soit meilleur.
[29b] Il est possible que l’avenir soit meilleur.
[29c] L’avenir serait meilleur.
hay
[29d] L’avenir pourra être meilleur.
Như vậy, tính khả năng của từ “có thể” trong tiếng Việt có thể
được biểu đạt bởi nhiều hình thức khác nhau trong tiếng Pháp: thức
liên tiếp hiện tại (subjonctif présent), thức điều kiện hiện tại (conditionnel présent), thời tương lai đơn giản (futur simple) hay các
phương tiện từ vựng khác
Động từ tình thái “muốn”
Xét ví dụ sau:
[30] Trời muốn mưa.
Qua trực quan của mình, ngưòi nói đưa ra dự báo chủ quan vềdiễn biến thời tiết Động từ tình thái “muốn” ở đây không biểu đạt thái
độ của chủ ngữ câu mà của chủ thể nói năng Ta có thể dễ dàng nhận
ra điều này vì chủ ngữ câu là vật chứ không phải người
Thế nhưng trong ví dụ:
[31] Lan muốn đi chơi
Chủ ngữ câu là người Như vậy, ta có hai cách diễn giải phátngôn: Trường hợp thứ nhất, phát ngôn phản ánh mong muốn của
người nói đối với việc “Lan đi chơi” Ta gọi đó là tình thái của câu.
Trường hợp thứ hai người ta gọi là tình thái của cấu trúc vị ngữ,tình thái này phản ánh mối quan hệ giữa chủ ngữ câu và khả năng,hiện thực hay tính chắc chắn của hành động, nghĩa là giữa Lan vàmong muốn được đi chơi
Trang 22Tính từ “Trắng hồng” trong tiếng Việt mang nghĩa tích cực: người
nói muốn khen làn da của chủ ngữ câu Trong khi đó, từ “trắng bệch”lại mang nghĩa tiêu cực, chỉ làn da của người bệnh hay người chết.Như vậy ý định nói năng và thái độ của người nói qua hai ví dụ trênđây là hoàn toàn khác nhau
1.2.2.4 Đại từ
Đại từ trong tiếng Việt có khả năng diễn đạt tình thái Ví dụ đại từnhân xưng tiếng Việt rất phong phú và đa dạng, có thể chỉ rõ vị thế xãhội của một người so với người khác Chỉ riêng ngôi thứ nhất số íttrong tiếng Việt đã có thể diễn đạt bằng nhiều từ khác nhau như: “tôi”,
“ta”, “tớ”, “tao”, “tui”, “đây”, “người ta”, “chị”, “em”, “anh”, “chú”,
“bác”, “ông”, “bà”
Giả dụ, người nói xưng “tao” trong tình huống giao tiếp, nghĩa làanh ta muốn thể hiện sự bỗ bã hay thân thuộc trong quan hệ, hoặc anh
ta tự cho mình ở vị trí cao hơn, lớn hơn người đối thoại Bạn bè cũng
có thể dùng đại từ này để xưng hô Nếu sử dụng đại từ tôi, quan hệgiữa người nói với người nghe dường nghe xa cách hơn; còn việcdùng từ “tớ” lại thể hiện tính khí khiêm nhường của người nói đối vớingười nghe ngang hàng
Do đó, việc lựa chọn sai đại từ nhân xưng trong tiếng Việt có lẽcũng có thể gây nên hiểu lầm nghiêm trọng trong quan hệ giữa ngườinói và người nghe
1.2.2.5 Thán từ
Bản thân thán từ khi đứng độc lập đã có thể biểu cảm Như vậy,
nó có khả năng thể hiện thái độ của người nói một cách hiệu quả.Thán từ trong tiếng Pháp luôn là một từ không đổi, đứng độc lậpvới các mệnh đề khác Thán từ trong tiếng Việt có thể là một câu độclập như trong tiếng Pháp Ví dụ:
[37] “Chao ôi!”
Trang 23[38] “Trời đất ơi!”
[39] “Lạy chúa tôi!”
lại cũng có thể là một từ ngữ pháp được dùng kết hợp với các từ khác:
[40] Hỡi đồng bào, hỡi chiến sĩ!
Hỡi những con khôn của giống nòi (Tố Hữu)
Từ “hỡi” trong ví dụ trên rất hợp với tình huống bởi lẽ nó thể hiệnđược nhiệt huyết của tác giả khi kêu gọi công chúng
1.2.2.6 Quan hệ từ
Quan hệ từ thông thường được dùng để dẫn vào một mệnh đề Đôikhi quan hệ từ cũng có khả năng diễn đạt tình thái Ví dụ:
[41] Đường trơn tại trời mưa
Quan hệ từ “tại” được dùng khi muốn diễn tả một nguyên nhânmang tính tiêu cực Người nói không chỉ trình bày nội dung thôngbáo, mà còn bày tỏ thái độ của mình: anh ta không thích trời mưa vàmuốn phàn nàn về nội dung thông tin này
Trong tiếng Pháp, ta cũng có từ dùng tương tự:
[42] Sophie est aimée de tous grâce à sa gentillesse
Sophie được mọi người mến nhờ tính tốt bụng của mình Quan hệ từ “nhờ” dẫn vào một nguyên nhân mang tính tích cực.Người nói muốn diễn tả sự tốt bụng của Sophie như một thế mạnh của
cô ấy
1.2.2.7 Số từ
Trong một số trường hợp, số từ có thể biểu đạt giá trị tình thái Vídụ:
[43] Anh đã ăn bao nhiêu cái kẹo?
[43a] Hai chục cái
[43b] Hai mươi cái
Ở câu trả lời thứ hai, người nói diễn tả sự chắc chắn của mình về
số lượng kẹo anh ta đã ăn một cách chính xác, trong khi đó ở trườnghợp đầu tiên, từ “hai chục” cho thấy anh ta mơ hồ hơn, không nhớchính xác là mình đã ăn 18, 19 hay 20 cái kẹo
1.2.2.8 Trạng từ
Trong tiếng Việt, trạng từ bao gồm hai loại:
+ Các trạng từ mang nghĩa từ vựng, có chức năng làm thay đổihoặc hiện thực hóa hạt nhân của ngữ động từ Trạng từ tiếng Việt cóthể biểu đạt giá trị tình thái một cách tích cực:
[44] Biển đang rì rào vỗ sóng
[45] Lá vàng lác đác rơi ngoài sân.
Trang 24+ Các trạng từ mang nghĩa ngữ pháp càng biểu đạt một cáchphong phú, đa dạng tính tình thái Ví dụ:
[46] Mai đã xinh, lại còn giàu.
Trong ví dụ trên, các trạng từ “đã”, “lại” và “còn” đã kết hợp vớinhau để nhấn mạnh vào sự may mắn của Mai, cô có tất cả: sắc đẹp vàtiền bạc Nhờ các trạng từ và tình huống giao tiếp, ta sẽ có thể cảmnhận được đó là một lời khen ngợi, một sự đánh giá hay sự tỏ vẻ ghentức
Các trạng từ mang nghĩa ngữ pháp có thể đứng hoặc trước hạtnhân động từ (như trong ví dụ trên), hoặc sau hạt nhân động từ màchúng bổ nghĩa, ta có thể gọi đó là các tiền phụ tố và các hậu phụ tố.Quan sát ví dụ khác:
[47] Em bé ăn đ ược cơm.
Trong ví dụ này, người nói muốn bày tỏ đánh giá của anh ta vềkhả năng “ăn cơm” của em bé
1.2.2.9 Tiểu từ tình thái
Trong tiếng Việt, các tiểu từ tuy không tham gia vào sự hình thànhcác ngữ đoạn những có thể gắn trực tiếp vào câu để thể hiện thái độngười nói Người ta gọi đó là các tiểu từ tình thái, thường đứng ở vị trícuối câu và góp phần tình thái hóa phát ngôn theo ý định giao tiếp củangười nói
Lấy ví dụ về câu hỏi Đối với câu hỏi không có từ để hỏi, trongtiếng Pháp, người ta có thể dùng cấu trúc với “est-ce que”, cấu trúcđảo ngữ, ngữ điệu lên giọng cuối câu; còn trong tiếng Việt, người ta
- “phỏng”, “hả”, “rồi hả” : hỏi tu từ, có thể mang nghĩa đe dọa
[49] Mày ăn hết rồi hả ?
- “ư”, “chứ”: hỏi tu từ, có thể mang nghĩa ngạc nhiên hoặc tiếcnuối
[50] - Anh về ư ?
Các tiểu từ tình thái có thể nhấn mạnh một sự nhận định đặc biệt
từ phía người nói:
[51] A, cô Phương đến rồi! Hân hạnh quá! … (Lý Lan - TN : 46)
[52] Thích quá đi!
Trang 25[53] Anh nên đến thăm nó mới phải!
Tất nhiên là tiểu từ còn có thể biểu đạt rất nhiều các giá trị tìnhthái khác, mà hi vọng là chúng ta sẽ có dịp đi sâu nghiên cứu tiểu từtình thái vào một ngày gần nhất
1.2.3) quan tâm đến các đánh giá của S Các phương tiện ngữ pháp biểu đạt tình thái
1.2.3.1 Từ ngữ pháp
Trong tiếng Việt, ngôn ngữ đơn lập, các đặc trưng ngữ phápkhông được thể hiện qua việc biến hình dạng ngữ âm của từ, mà bằngkhả năng kết hợp từ với các từ ngữ pháp của hệ thống, ví dụ như định
tố bổ nghĩa cho hạt nhân danh từ, phụ tố bổ nghĩa cho hạt nhân động
“mới”, “sắp” ), v.v
Các tiểu từ tình thái góp phần tích cực vào việc hiện thực hóa ýđịnh giao tiếp của người nói Nó cũng là công cụ nhận định loại câutrong tiếng Việt Ví dụ:
[56] Anh buồn phải không? (câu hỏi)
[57] Đừng nói nữa! (câu mệnh lệnh)
Tiểu từ tình thái còn có thể biểu đạt các giá trị tình thái khác nhưgiá trị đánh giá hay liên chủ thể của người nói:
Còn các định từ thường được dùng để nhấn mạnh cho danh từ mà
nó bổ trợ và cũng có thể biểu đạt thái độ người nói:
[59a] Người nông dân
Trang 26[59b] Gã nông dân (nghĩa tiêu cực)
Quan sát ví dụ khác:
[60a] San ăn những hai quả chuối
[60b] San ăn mỗi hai quả chuối
Ta thấy rõ ràng có hai phần trong mỗi câu: phần nội dung mệnh đề
“San ăn hai quả chuối” và phần tình thái được ghi dấu bởi các định từtình thái “những” và “mỗi” Trong ví dụ (60a), “những” chỉ số lượnglớn theo đánh giá của người nói, còn trong (60b), người nói nhấnmạnh vào ý “không đủ” của từ “mỗi”
Các phụ tố nói chung cũng có thể là phương tiện biểu đạt tình tháirất tích cực trong tiếng Việt Ví dụ:
[61] Mới 9 giờ sáng/ mà toàn gọi lẩu mắm, cá kho tộ, tôm chiên và
cơm (Nguyễn Thị Thu Huệ - Huyền thoại : 22)
Ý nghĩa tình thái được thể hiện rất tường minh qua phụ tố “mới”.Người nói không chỉ muốn thông báo giờ mà chủ yếu muốn nêu quanđiểm đánh giá của anh ta: chín giờ là quá sớm để ăn bữa trưa
Chúng tôi chỉ xin trình bày hết sức ngắn gọn ở đây, bởi lẽ các phụ
tố tình thái sẽ được đi sâu nghiên cứu và xuyên suốt đề tài này
1.2.3.2 Trật tự từ
Vì tiếng Việt là tiếng đơn lập, cho nên có một thuộc tính rất đặctrưng: việc đổi trật tự các yếu tố trong câu đôi khi tạo nên giá trị tìnhthái cho câu đó Quan sát ví dụ khi mà tiền phụ tố trở thành hậu phụ tốthì tình thái phát ngôn thay đổi:
[62a] Tôi đã ăn
[62b] Tôi ăn đã
[63a] Tôi mới đi
[63b] Tôi đi mới.
Từ “mới” đóng vai trò của một phụ tố phi tình thái trong ví dụ thứnhất, và của một tiểu từ tình thái ở ví dụ thứ hai Từ “mới” tình tháinày biểu đạt mong muốn, nguyện vọng của người nói được đi vớingười đối thoại Đây là cách dùng theo một số phương ngữ, dùng từ
“mới” thay vì dùng từ “với”
1.2.3.3 Cấu trúc cú pháp
Tình thái có thể được biểu đạt bằng các kiểu câu khác nhau theo ýđịnh giao tiếp của người nói Ví dụ:
[64a] Ta về Hà Nội (câu trần thuật)
[64b] Ta về Hà Nội “đi”! (câu mệnh lệnh)
[64c] Ta về Hà Nội “nhỉ”? (câu hỏi)
[64d] Ta về Hà Nội “ư”! (câu cảm thán)
Trang 27Ngay trong cùng một loại câu, tinhg thái cũng có thể được biểuđạt bằng nhiều loại cấu trúc Ví dụ:
[65c] Chơi với tôi/ đi !
Những cấu trúc vô nhân xưng trong tiếng Việt cũng có thể lưu giữgiá trị tình thái nào đó:
[66] Có khả năng là chúng ta đến kịp
[67] Hình như là nó không bằng lòng
Ví dụ trên đây diễn đạt tình thái khả năng Các cấu trúc vô nhânxưng biểu đạt tình thái khả năng trong tiếng Việt khá đa dạng: “Chắcchắn rằng …”, “Nhất định là …”, “Hiển nhiên là …”, “Cần phải …”,
“Cần thiết phải …”,
Các cặp đôi tiểu từ cũng có thể phục vụ đắc lực cho việc biểu đạttình thái Ví dụ như: “không những … mà còn”, “chỉ … mới”, “có …mới”, “mà … thì”, …
[68] Nó không những thông minh mà còn xinh xắn
[69] Có khó mới có miếng ăn
Bên cạnh những cấu trúc cặp đôi tiểu từ có sự tương ứng với tiếngPháp, thì trong tiếng Việt cũng có nhiều cấu trúc không tương ứng Vídụ:
1.2.4) quan tâm đến mối quan hệ giữa người nói và Lưu ý dụng học
Ta vừa bàn về các phương tiện ngữ âm, từ vựng, hình thái cú phápbiểu đạt các giá trị tình thái trong tiếng Việt Tuy nhiên, trong thực tế
sử dụng ngôn ngữ, các phương tiện này xen kẽ, bổ sung cho nhau chứkhông phải lúc nào cũng đứng độc lập Như vậy, ngoài nội dung thôngtin, để có thể hiểu được cả tình cảm, thái độ, ý định của người nói, raphải dựa vào ngữ cảnh và tình huống giao tiếp Ví dụ:
Trang 28[72] Nó ăn những ba quả táo rồi
Tùy theo hoàn cảnh giao tiếp, ta có thể có nhiều cách hiểu khácnhau:
- Trường hợp 1 : Nó đã ăn nhiều táo quá
- Trường hợp 2 : Bảo nó đừng ăn nữa !
- Trường hợp 3 : Thế nào tối nay nó cũng đau bụng cho coi !
Lối nói lửng cũng có thể là một phương thức biểu đạt giá trị tìnhthái hữu ích trong khi giao tiếp Đôi khi, trong chiến lược giao tiếp củamình, người nói không giải thích dài dòng ý định của mình mà bỏlửng câu nói để người đối thoại tự cảm nhận ý định của anh ta Ví dụ:
[73] Mẹ An về, dáng lầm lũi của người đầu tắt mặt tối Thu hỏi:
- Bé An …
An là một cô bé suy dinh dưỡng, căn bệnh này gây nên mù lòa và
cô bé rất yếu Thu hỏi một cách do dự vì sợ chạm vào nỗi đau của mẹ
An Thu chỉ dám bày tỏ sự lo lắng của mình một cách kín đáo
Ngoài ra, các thành ngữ, quán ngữ cũng có thể biểu đạt thái độcủa người nói trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể nào đó
Chương 2
TIỀN PHỤ TỐ TÌNH THÁI TIẾNG VIỆT
Chúng ta vẫn biết rằng các từ chức năng trong tiếng Việt là có hạnnhưng rất nhiều nghĩa Phần trình bày các phương tiện biểu đạt tìnhthái tiếng Việt ở chương trước đã chứng minh rằng các phụ tố đượcxếp vào loại phương tiện biểu đạt tình thái điển hình trong tiếng Việt,một ngôn ngữ không có biến hình từ Như vậy, tình thái và thức trongtiếng Việt được biểu đạt bằng cách khác, trong đó, một phần khôngnhỏ bằng các phụ tố
Để có thể phân tích thấu đáo các phụ tố tình thái trong tiếng Việt,như đã đề cập ở phần lý thuyết, hiện tượng này phải được nghiên cứutheo ba cấp độ độc lập: hình thái cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.Chúng ta có thể nhóm chúng lại thành hai phần: Các thành tố của ngữđộng từ tiếng Việt và các thái của tiền phụ tố Phần đầu giúp chúng tavạch ra được ranh giới của các phụ tố trong hệ thống cấu trúc tiếngViệt và tiến hành các bước đầu tiên để nhận biết được tiền phụ tố tiếngViệt Phần hai sẽ nghiên cứu chuyên sâu các giá trị tình thái của cáctiền phụ tố
Trang 29Ngữ động từ (NĐT) là một ngữ có thành tố trung tâm là một haynhiều động từ Trong hoạt động của vị ngữ, ngữ động từ được hiệnthực hóa nhờ các yếu tố phụ bao quanh thành tố trung tâm, trong đóphụ tố được coi là một đặc trưng trong tiếng Việt Cũng giống như cácđịnh tố bổ nghĩa cho ngữ danh từ, các phụ tố có thể được phân bốtrước và sau động từ hạt nhân trong ngữ động từ Ta có thể phân thànhtiền phục tố và hậu phụ tố Các yếu tố phụ khác đứng trước và sauthành tố trung tâm mà không phải phụ tố và mang nghĩa từ vựng đượcgọi là các tiền bổ tố và hậu bổ tố Thành tố trung tâm bao gồm động từtình thái và động từ hành thái Ta có thể quan sát cấu trúc của ngữđộng từ qua sơ đồ sau:
Ngữ động từPhần phụ trước Thành tố trung tâm Phần phụ sau
tiến
phụ tố bổ tốtiền tình tháiđộng từ hành tháiđộng từ phụ tố hậu bổ tốhậu
Sơ đồ này miêu tả chi tiết các đơn vị cấu thành ngữ động từ Cầnlưu ý là trong một ngữ động từ cụ thể, không nhất thiết phải có đầy đủcác thành tố trên, hoặc có thể có nhiều thành tố cùng loại đơn vị Ví
Trang 30Ý thức được sự phức tạp trong nội bộ của ngữ động từ, chúng tôixin dành một phần riêng để tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về các thành tốthuộc ngữ động từ.
2.1.1 Thành tố trung tâm
Thành tố trung tâm bao gồm động từ tình thái và động từ hành thái.Chúng tôi quan niệm động từ tình thái là các động từ biểu đạt tìnhthái logic, nghĩa là người nói coi hành động được biểu đạt ở thể khảnăng:
- động từ chỉ khả năng: “có thể”, “không thể”
- động từ chỉ sự cần thiết: “cần”, “nên”, “phải”
- động từ chỉ ý muốn: “mong”, “muốn”, “thèm”, “hòng”,
“chúc”
Ta còn có thể liệt kê một số loại động từ tình thái khác, như là:
- động từ ý chí: “dám”, “định”, “toan”, “quyết”
- động từ chỉ sự tiếp thụ: “bị”, “phải”, “chịu”, “được”
- động từ chỉ quá trình: “bắt đầu”, “tiếp tục”, “tiếp diễn”, “hết”,
[77] Tôi có thể cần một cộng sự.
[78] Nó phải tiếp tục công việc ấy.
Thế nhưng, khi động từ tình thái kết hợp với các động từ hànhthái, nó mất đi vai trò làm động từ hạt nhân và trở thành yếu tố phụ bổtrợ cho động từ hành thái Trong ngữ động từ mà có cả hai loại động
từ thì động từ hành thái luôn là động từ hạt nhân Ví dụ:
[79] Tôi cần tìm một cộng sự.
[80] Tôi bắt đầu làm việc.
Ta có thể phân động từ hành thái ra thành các tiểu loại như sau:
- Động từ chỉ hành động: đọc, ăn, đánh, làm việc, chơi, đi
- Động từ chỉ cảm nghĩ: nghi, tin, nhớ, nghe, biết, nghi ngờ
- Động từ chỉ phương hướng: ra, vào, lên, xuống
- Động từ chỉ sự tồn tại: có, còn, hết, mất
- Động từ chỉ sự biến hóa: hóa thành, nên, trở nên, trở thành,
thành .
Trang 31- Động từ chỉ sự so sánh: hơn, bằng, thua, kém
2.1.2 Thành tố phụ mang nghĩa từ vựng
Các thành tố phụ trước và phụ sau trong tiếng Việt được tạo nênbởi các từ mang nghĩa từ vựng như danh từ, tính từ, đại từ, trạng từ, …Các thành tố phụ trước có thể là:
+ Từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình
[81] Biển đang rì rào vỗ sóng.
[82] Lá vàng lác đác rơi ngoài sân.
+ Ngữ giới từ chỉ điểm xuất phát:
[83] Họ từ ngoài Bắc vào.
[84] Chúng nó ở quê lên.
Nếu có nhiều thành tố phụ trước trong cùng một phát ngôn, chúng
có thể hoán đổi vị trí cho nhau:
[85] Gió từ biển (điểm xuất phát) ào ào (tượng thanh) thổi vào.
Thành tố phụ sau chia làm hai loại: bắt buộc và không bắt buộc.Thành tố phụ bắt buộc có mối quan hệ cú pháp và từ vựng chặt chẽvới thành tố trung tâm Ta không thể tách chúng khỏi câu mà khônglàm thay đổi cấu trúc ngữ pháp, ví dụ như khi thành tố phụ làm bổ ngữtrực tiếp của động từ:
[89] Cô ấy đưa bao thuốc lá cho chồng
[90] Sinh viên mượn sách thư viện
+ Hạt nhân là động từ tác định:
Biểu đạt nội dung:
[91] Ông ấy bảo vợ làm cơm
[94] Khoa hơn Tuấn một cái đầu
Thành tố phụ không bắt buộc không làm ảnh hưởng tới cấu trúccủa ngữ động từ Chúng giữ vai trò làm bổ ngữ cảnh huống cho động
từ hạt nhân, có nhiều loại thành tố phụ không bắt buộc:
Trang 322.1.3) quan tâm đến các đánh giá của S Thành tố phụ mang nghĩa ngữ pháp - phụ tố
Các phụ tố được chia làm hai loại: tiền phụ tố và hậu phụ tố Cáctiền phụ tố thường chỉ khái niệm về thời gian, mức độ, so sánh, phủđịnh, mệnh lệnh, … các hậu phụ tố thường chỉ hướng, sự tương quan,trạng thái, kết quả, so sánh, …
2.1.3.1 Tiền phụ tố
Nhiều phụ tố có thể nối nhau trong cùng một ngữ động từ trongchuỗi lời nói Tuy nhiên, sự phân bố của chúng không thể tùy tiện,theo quy luật nhất định Chúng tôi xin đề xuất phân loại tiền phụ tốnhư sau:
1- Tiền phụ tố khả tin:
Các tiền phụ tố khả tin thường đứng đầu trong ngữ động từ, chỉ sự
có thể, khả năng, … ví dụ như “hẳn”, “ắt”, “tất”, “rồi”, “thế nào
Trang 33Cũng có những trường hợp khó phân biệt hơn, ví dụ như từ “có lẽ”,
“có thể”… có thể là động từ tình thái, cũng có thể là phụ tố Ví dụ: [105] Anh ta có thể không đến.
Phát ngôn trên có hai cách hiểu: đây có thể là một sự cho phép (động
từ tình thái), cũng có thể là sự biểu đạt ý không chắc chắn (phụ tố)
Tiền phụ tố có thể là từ đơn (“hẳn”, “ắt”, “tất”, “rồi”…), cũng có thể là một từ kép (“thế nào cũng”, “có lẽ”…)
2- Tiền phụ tố so sánh:
Tiền phụ tố so sánh “cũng”, “đều”, “vẫn”, “chỉ”, “cứ”, “còn”
thường đứng sau tiền phụ tố khả tin trong chuỗi lời nói Các tiền phụ
tố này có thể kết hợp với nhau để biểu đạt các ý so sánh rất đa dạng
[106] Tôi ăn xong Nó vẫn cứ ăn
[107] Anh ta ngủ Cô ta cũng vẫn ngủ
3- Tiền phụ tố diễn tiến:
Các tiền phụ tố diễn tiến “đang”, “sẽ”, “đã”, “còn”, “từng”,
“mới”, “chưa”, “sắp” thường đứng sau tiền phụ tố khả tin và so
sanh Chúng khá phong phú và có thể kết hợp với nhau:
[108] Tôi đã từng được cử xuống làm cán bộ du kích một thời gian
(Phạm Trung Đỉnh - Đêm nguyệt thực : 140)
[109] Tôi còn đang phân vân không biết có nên đi hay không
Tiền phụ tố thời gian là những tiền phụ tố xuất hiện khá thườngxuyên vì mọi phát ngôn đều gắn với mốc thời gian nào đó và các tiềnphụ tố giữ chức năng cụ thể hóa thời gian
[110] Ngày mai tôi sẽ đi.
[111] Tôi đã nghĩ về anh.
4- Tiền phụ tố mức đ ộ :
Nhóm tiền phụ tố thứ tư là các tiền phụ tố mức độ, như “quá”,
“cực”, “rất”, “khí”, “khá”, “hơi”, (theo thứ tự giảm dần về mức độ).
Các tiền phụ tố loại này thường kết hợp với các động từ chỉ hoạt động
tâm lý như “biết”, “yêu”, “muốn”, “tin”, “nghĩ”, “nghi ngờ”,… và các động từ trạng thái như “gần”, “trẻ”, “đẹp”, …
Trang 34Các tiền phụ tố phủ định như “không”, “chẳng”, “chả”, “chưa”,
“đâu”, “cóc”, “quái” … có thể đứng riêng hoặc kết hợp thành cặp đôi với một số hậu phụ tố khác “không … nữa”, “chẳng được”, …
[117] Tôi không đi Pháp nữa
Khác với các tiền phụ tố mức độ khác, tiền phụ tố mức độ “thật”lại thường đứng trước tiền phụ tố phủ định:
[118] Nó chưa thật đồng ý
Việc kết hợp tiền phụ tố khẳng định và phủ định với nhau trongmột số trường hợp nhấn mạnh thêm việc phủ định hoặc là dấu hiệucủa văn phong nói:
[119] Tôi đ âu có biết (Je ne sais pas.)
Các tiền phụ tố tồn tại như “thường”, “hay”, “luôn”, “năng”, “ít”,
“hiếm”, “toàn”, “mãi”, “lại”, phần lớn đứng trước thành tố trung
tâm Tuy nhiên, một số có thể đứng cả ở trước hoặc sau động từ trungtâm, làm hậu phụ tố:
[120] Kỉ niệm ấy mãi ghi trong lòng tôi
[121] Tôi nghĩ mãi đến ngày ấy
6- Tiền phụ tố đ ánh giá :
Trong phần 2.1.1 “Ngữ động từ tiếng Việt”, chúng ta đã đề cập
đến “được”, “bị” với tư cách là “động từ tình thái tiếp thụ”, tương ứng
với cấu trúc bị động trong tiếng Pháp “Được”, “bị” còn có thể giữ vaitrò tiền phụ tố đánh giá Quan sát ví dụ sau:
[122] Tôi được đi học
[123] Chủ nhật mà tôi vẫn bị đi tập trung ở trường.
7- Tiền phụ tố mệnh lệnh:
Có nhiều tiền phụ tố có thể giữ vai trò đánh dấu mệnh lệnh, lời
khuyên, mong muốn hay yêu cầu như “hãy”, “đừng”, “không”, “chớ”,
[124[ Hãy đi đi!
[125] Xin anh đừng quên tôi !
Các tiền phụ tố loại này có thể kết hợp với các tiền phụ tố khác:
[127] Anh cũng không phải nghe nó nói.
Phụ tốmức độ
Phụ tốtồn tại
Phụ tốđánh giá
hạtnhânđộng từPhụ tố mệnh lệnh
Một phát ngôn có thể có cùng lúc nhiều tiền phụ tố Ví dụ:
Trang 35[129] Nó chắc cũng vẫn đang ngồi trong lớp
2.1.3.2 Hậu phụ tố
1- Hậu phụ tố chỉ h ư ớng :
Hậu phụ tố chỉ hướng thường được hình thành từ các động từ
chuyển động như “ra”, “vào”, “lên”, “xuống”, “đi”, “về”, “qua”, “lại”,
“đến”, “tới”,
Ví dụ: “vào” dùng để chỉ ý muốn nói “đi theo hướng vào trong”
[130] Tôi nhìn vào mắt Minh
Phụ tố “vào” ở đây cụ thể hóa hướng của sự tình được biểu đạtqua động từ “nhìn”
2- Hậu phụ tố thời gian:
Hậu phụ tố thời gian không dùng để chỉ thời động từ, mà để cụ thểhóa các kích cỡ thời gian như khoảng thời gian, so sánh thời gian, thờiđiểm của hành động Ngoài các phụ tố đã được liệt kê trong phần tiền
phụ tố (“mãi”, “luôn”…), còn có các hậu phụ tố thời gian khác như
“hoài”, “nữa”, “liền”, “ngay”, “tức khắc”, “tức thì”, “dần”, “dần
Hậu phụ tố cách thức gồm nhiều tiểu loại: phụ tố trạng thái như
“xong”, “rồi”, “hết”, “nốt”, “hẳn”, “nữa” ; phụ tố chỉ những nỗ lực của bản thân như “lấy”, “tự lấy”; phụ tố kết hợp như “với”, “cùng”; phụ tố tương hỗ “nhau” ; …
[137] Họ yêu nhau vô cùng
5- Hậu phụ tố mệnh lệnh:
Nhóm hậu phụ tố này có thể chỉ mệnh lệnh, lời khuyên, mong
muốn, … như “đã”, “đi”, “hẵng”, “nào”, “thôi” Các hậu phụ tố này
Trang 36chỉ dùng trong câu khẳng định và không kết hợp với các hậu phụ tốkhác Ví dụ:
[138] Đi đi!
[139] Đi hẵng!
Ta thấy rằng “đã” và “hẵng” biểu đạt sắc thái khác nhau: hậu phụ
tố “đi” dùng trong câu mệnh lệnh thông thường, trong khi đó hậu phụ
tố “hẵng” còn chỉ ý muốn yêu cầu người đối thoại làm một việc gì đótrước khi bắt đầu làm cái gì khác
6- Hậu phụ tố đ ánh giá :
Các hậu phụ tố này dùng để đưa ra lời đánh giá chủ quan củangười nói, khi muốn nhấn mạnh vào khả năng thực hiện sự tình đượcnêu trong phát ngôn, như: “được” (mang nghĩa tích cực), “nổi” (mangnghĩa tiêu cực, và thường kết hợp thành cặp đôi trong cấu trúc phủ
định “chưa … nổi ”, “ không … nổi”), …
[140] Nó chưa làm nổi việc đó
Khi dùng các hậu phụ tố “mất”, “phải”, người nói muốn bày tỏ sự
không mong muốn hay nuối tiếc của mình đối với sự tình:
[141] Nó bị muộn mất giờ học ở trường
Quan sát bảng tổng hợp các hậu phụ tố:
Thành tố
trung tâm
Phụ tố chỉ hướngPhụ tố thời gianPhụ tố mức độPhụ tố cách thứcPhụ tố mệnh lệnhPhụ tố đánh giáChúng ta gọi “tiền phụ tố” các phụ tố đứng trước hạt nhân động từ
và “hậu phụ tố” các phụ tố đứng sau hạt nhân động từ Ta cũng ý thứcđược rằng các phụ tố có thể đứng lúc trước, lúc sau động từ và thayđổi ý nghĩa khi đổi vị trí quanh thành tố trung tâm Ví dụ:
[142a] Em bé đượ c ăn phở 2
Khác với tiếng Pháp, trong tiếng Việt có thể có các câu danh từ:
2 Il faut disinguer le prémarqueur “được” avec le verbe modal deréception Le dernier exprime la valeur du passif
Trang 37[143] Bà ấy bốn mươi tuổi.
Như vậy, các phụ tố trên đây có thể tình thái hóa các phát ngôn
mà hạt nhân vị ngữ là một tính từ hoặc một danh từ
Để có thể xác định được tiền phụ tố trong câu tiếng Việt, ta phảibảo đảm phụ tố không đảm nhận chức năng cú pháp nào trong câu vànội dung mệnh đề không thay đổi khi ta bỏ phụ tố đi Các phụ tố tạonên đặc trưng quan trọng cho hệ thống từ vựng tiếng Việt và góp phầntạo nên lớp từ ngữ pháp giữ chức năng bổ nghĩa cho từ vựng Tuynhiên, cũng có những trường hợp đặc biệt câu có động từ trong vị ngữ
ẩn đi Ví dụ:
[147] Tôi vẫn còn niềm tin.
Câu đầy đủ:
[148] Tôi vẫn còn có niềm tin
[149] Khi chúng tôi đến nỗi chỉ còn một dúm xương, …
Câu đầy đủ:
[150] Khi chúng tôi đến nỗi chỉ còn là một dúm xương, …
(Nam Cao - Đôi mắt : 62)Còn thông thường, phụ tố tham gia vào cấu trúc vị ngữ nhưngkhông đóng vai trò hạt nhân mà chỉ là thành tố phụ của ngữ Ví dụ
[151] Trời vẫn mưa (Il pleut toujours)
[152] Tôi không về được (Je ne peux pas rentrer)
[153] Bây giờ tôi mới biết điều đó (Ce n’est que jusqu’à maintenant
que je le sais)
Các từ được gạch chân là các phụ tố trong tiếng Việt
2.2 Tiền phụ tố tình thái
2.2.1 Cách sử dụng tình thái của tiền phụ tố
Tất cả thành tố của vị ngữ đều có khả năng biểu đạt tình thái.Trước tiên phải nói đến động từ tình thái và hành thái trong thành tố
trung tâm (xem phần 1.2.2.2 Động từ)
Tiếp đến là các thành tố phụ mang nghĩa từ vựng Ví dụ:
[154] Nó lật đ ật ra đi
[155] Học sinh tíu tít nói cười
Trang 38Sau nữa là các phụ tố Đề tài mới chỉ giới hạn trong việc nghiêncứu kỹ các tiền phụ tố Ví dụ:
[156] Nó có tham gia biểu tình, hội tề lùng dữ lắm
[157] Năm học sắp kết thúc
Không phải tiền phụ tố nào cũng biểu đạt tình thái Chúng tôikhông quan tâm tất cả các tiền phụ tố mà chỉ những phụ tố mangnghĩa tình thái, nghĩa là các tiền phụ tố tình thái và hậu phụ tố tìnhthái Việc nghiên cứu tương đối khó khăn bởi nhiều lý do:
- Trước tiên, tình thái là một phạm trù rộng, có thể sát nhập, đanxen nhiều phạm trù khác Một phụ tố có thể được xem xét dưới nhiềugóc độ khác nhau, bởi các từ ngữ pháp trong tiếng Việt thường đanghĩa Xét ví dụ sau:
[158] Sophie sẽ đến.
CN/ TPT/ ĐT
Theo ngữ pháp hệ thống, yếu tố “sẽ” trong ví dụ trên biểu đạt thời
tương lai Nhưng theo lăng kính tình thái, yếu tố này cũng có thể biểu
đạt thái độ của người nói Việc “Sophie-đến” được đánh giá là sẽ xảy
ra trong tương lai, người nói tỏ ra vui mừng hay lo lắng … khi thôngbáo sự tình này
- Tiếp theo, đôi khi cũng khó nhận biết phụ tố tình thái vì một yếu
tố ngôn ngữ có thể thuộc nhiều loại từ khác nhau Ví dụ:
[162] Cho tôi đi mới !
Có thể kết hợp với từ khác với vai trò tiểu từ tình thái:
[163] Anh nên đến thăm nó mới phải
“Mới” có thể kết hợp với “đây”, “đấy”, “đó”, “rồi” để tạo thành các cụm phó từ “mới đây”, “mới đây”, “mới đấy”, “mới đó”, “mới
rồi” , có nghĩa là một thời điểm trong quá khứ nhưng gần với thời
điểm phát ngôn Ví dụ:
[164] Mới rồi tao gặp nó
[165] Mới tháng trước đây tao gặp nó
Cũng có thể là phụ tố:
[166] Anh ta mới cạo râu.
[167] Chừng nào nó đến, tôi mới đi khỏi đây.
Quan sát ví dụ khác với các trường hợp của từ “có”:
Trang 39[168] Có, tôi sẽ đến (ngữ dùng để khẳng định trước một nghi vấn) [169] Nó có tiền (động từ)
[170] Tôi ăn có vài miếng gan (định tố tình thái)
[171] Mày có chạy đằng trời (phụ tố tình thái).
- Khái niệm tình thái khá phức tạp vì cùng một phát ngôn có thểbiểu đạt nhiều giá trị tình thái khác nhau Ví dụ:
[172] Các ông cứ về đúc một con chuột bằng vàng đem lên, tôi nhận
giấu cho vậy (Truyện cười dân gian Việt Nam : 5)
Từ ngữ pháp “cứ” trong ví dụ trên đồng thời biểu đạt nhiều giá trị tình thái Trước hết, “cứ” biểu đạt lời “gợi ý”, lời yêu cầu của quan bà
rằng về đúc cho chồng bà một con chuột bằng vàng Sự hiện diện của
từ “cứ” trong phát ngôn còn nhằm mục đích trấn an người đối thoại
“Đừng sợ, yên tâm mà làm theo đề xuất của quan bà”.
Phân tích một cách đầy đủ từng phụ tố một là điều không tưởng.Trong đề tài, chúng tôi chỉ xin tập trung nghiên cứu các phụ tố biểuđạt tình thái, đặc biệt là các phụ tố tình thái có thể gây khó khăn trongviệc chuyển dịch ngôn ngữ cho người Việt học tiếng Pháp
2.2.2 Các loại tình thái tiền phụ tố biểu đạt
Phụ tố có thể biểu đạt giá trị tình thái một cách đa dạng và sinhđộng Chúng ta sẽ lần lượt xem xét các tiền phụ tố đặc trưng trongtiếng Việt biểu đạt lần lượt các giá trị tình thái khác nhau: tình thái xáctín, tình thái khả tin, tình thái đánh giá và tình thái liên chủ thể
Đó là khi ta xác định một câu trần thuật khẳng định phi thái Còn
để nhấn mạnh sự khẳng định này, nhất là khi có một sự hoài nghi nào
đó từ phía người đối thoại, ta có thể dùng tiền phụ tố “có”:
[177] - Cậu thua cuộc rồi nhé, cô ta không đến!
- Có đến mà Tôi có nhìn thấy cô ta lúc nãy.
(- T'as perdu Elle n'est pas venu
Trang 40- Mais si, je l'ai vue tout à l'heure.)
[178] Tôi có đọc bức thư (J’ai bien lu la lettre)
[179] Nó có về nhà (Il est vrai qu’il rentre chez lui.)
Các phát ngôn khẳng định ở đây có chứa tính tình thái Để đối lập
lại với ý phủ định “Anh không đọc thư à?”, “Nó không về nhà à?” của người đối thoại, người nói có thể dùng phụ tố khẳng định “có” để bày
tỏ sự quyết tâm khẳng định của mình
Để khẳng định có tình thái, người ta còn hay dùng từ “thật” Ngoài việc nhấn mạnh sự khẳng định, phụ tố “thật” còn bày tỏ tình
cảm của người nói vào phát ngôn Ví dụ:
[180] Cái lặng im lúc đó thật dễ sợ (Nguyễn Thành Long - Lặng lẽ
Sa Pa : 183)
[181] Khung cảnh nơi họ gặp nhau thật tuyệt vời!
Ta còn có thể dùng phụ tố “mới” để nhấn mạnh vào thái độ của
người nói trong câu xác tín khẳng định Ví dụ:
[182] Đến khi anh em gom lại đốt một đống to tướng, tôi chẳng có
nó trong mình nên mới còn (Đoàn Giỏi - Con dao : 511)
Phát ngôn này xuất hiện trong bối cảnh chiến tranh Hôm trước làngày xã nổi dậy, tất cả bạn bè người nói đã gom giấy tờ đem đốt hết.Người nói đã rất tiếc vì để quên ở nhà nên không có gì đốt Giờ việc
đó lại trở thành điều may mắn của người nói khi mà không mất giấy
thuế thân trong sự kiện đó Từ “mới” đã hoàn toàn lột tả được đánh giá
đó của tác giả
Xét ví dụ khác:
[183] Bộ Đông chu mất ở Hà Nội, không đem đi được Thế mới sầu
đời chứ ! (Nam Cao - Đôi mắt : 72)
Phụ tố “mới” ở đây nhấn mạnh vào sự tiếc nuối và buồn rầu của
người nói khi đã không thể mang theo bộ Đông chu đi tản cư
Phụ tố “mới” cũng có thể nhấn mạnh đánh giá của người nói trong
một câu biểu cảm Quan sát ví dụ:
[186] Nó không biết uống rượu (ĐG:509)
[187] Tôi không bỏ sót một động tác nào của ông ta (ĐG: 510)
Đó là hình thức cơ bản để biểu đạt tính phủ định Ngoài ra, trongtiếng Việt còn có một loạt các phụ tố có tình thái biểu đạt các sắc thái phủ