Hồ Chí Minh đă nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, v́ lợi ích trăm năm th́ phải trồng người”. Bác Hồ rất yêu trẻ em. Bác luôn dành một t́nh cảm đặc biệt cho trẻ em. Bác nói: “Cái mầm có xanh th́ cây mới vững, cái búp có xanh th́ lá mới tươi, quả mới tốt. Con trẻ có được nuôi dưỡng, giáo dục hẵn hoi th́ dân tộc mới có thể tự cường, tự lập”, “Chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân… V́ tương lai của con em ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc các cháu bé cho tốt”. Đứa trẻ sinh ra là kết quả t́nh yêu của cha mẹ, là hạnh phúc, tương lai của gia đ́nh và xă hội. Từ trước đến nay, gia đ́nh luôn giữ vai tṛ hàng đầu, quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Trong gia đ́nh, cha mẹ có vị trí quan trọng. Theo truyền thống Việt Nam, người cha là trụ cột, là biểu hiện của nhân cách văn hóa cao đẹp để con cái học tập và noi theo. Người mẹ là chỗ dựa, là hạt nhân tâm lư chủ đạo, nguồn lửa sưởi ấm yêu thương trong gia đ́nh, nguồn t́nh cảm vô tận cho các con. Một đứa trẻ sẽ phát triển toàn diện khi được sống trong gia đ́nh dưới sự yêu thương và chăm sóc của cha mẹ. Nhưng khi thực hiện chức năng này, gia đ́nh mà đặc biệt là những người cha, người mẹ luôn cần sự quan tâm và hỗ trợ của những thiết chế khác như nhà trường, cộng đồng xă hội. Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống người dân được nâng cao. Trẻ em ngày càng được chăm sóc tốt hơn, được đáp ứng mọi nhu cầu để phát triển toàn diện th́ vẫn c̣n một bộ phận không nhỏ những đứa trẻ đang phải sống trong t́nh cảnh hết sức khó khăn, trong đó có những đứa trẻ mồ côi. Hiện nay, tỉ lệ trẻ em mồ côi lại đang có xu hướng gia tăng và t́nh cảnh sống của các em đang ở mức báo động. Các em đang sống trong cảnh thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu một nơi ở an toàn, không được học tập, thăm khám sức khỏe hay vui chơi giải trí. Các em đang phải lao động để phụ giúp gia đ́nh hay để tự nuôi sống bản thân. Các em đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ: bóc lột sức lao động, bạo hành trẻ em, bị lợi dụng hay lôi cuốn vào các tệ nạn xă hội… Điều quan trọng nhất là các em không được sống trong một môi trường yêu thương và 1 giáo dục đầy đủ để có thể phát triển b́nh thường như bao trẻ em khác, điều này sẽ ảnh hưởng tới tương lai của chính các em sau này. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như nhận thấy được tầm quan trọng của công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em đối với sự tồn vong và phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong đó có trẻ em mồ côi, làm thế nào để tất cả trẻ em đều được hưởng quyền trẻ em. Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng, Đảng và Nhà nước ta đă có nhiều chính sách hỗ trợ như: trợ cấp lương thực, miễn giảm học phí, phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, dạy nghề… Ngày 2532005 Quyết định của thủ tướng Chính phủ số 652005QĐTTG về việc phê duyệt đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIVAIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 20052010” (gọi tắt là đề án “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 20052010”). Đề án đă được nhiều tỉnh thành trong cả nước thực hiện có hiêu quả, góp phần cải thiện đời sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng. Tại tỉnh B́nh Định, công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em luôn được chính quyền tỉnh hết sức quan tâm. Tỉnh luôn có những hoạt động hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và ngày 0672006 Ủy ban nhân dân tỉnh đă quyết định ban hành kế hoạch: “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIVAIDS dựa vào cộng đồng đến năm 2010”. Thực hiện đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của tỉnh, thành phố Quy Nhơn đă đạt được nhiều kết quả tích cực, giúp các em cải thiện đời sống và có điều kiện để phát triển b́nh thường. Trẻ em mồ côi trên địa bàn thành phố khá đông với nhiều hiện trạng mồ côi khác nhau. Thành phố luôn nhấn mạnh quan điểm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đ́nh mà c̣n của toàn xă hội. Đối với trẻ em mồ côi, cộng đồng phải thực sự trở thành tổ ấm, nơi chăm sóc, nuôi dưỡng các em và giúp các em được hưởng điều kiện sống, học tập và phát triển b́nh thường. 2 Xuất phát từ những lư do trên, chúng tôi muốn t́m hiểu thực trạng công tác chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa tỉnh B́nh Định hiện nay như thế nào? Nhưng do hạn chế của bản thân và khách quan nên chúng tôi chỉ tiến hành t́m hiểu thực trạng công tác chăm sóc trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn. V́ vậy, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu là “Thực trạng chăm sóc trẻ mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn”.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lư do chọn đề tài
Hồ Chí Minh đă nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, v́ lợi ích trăm năm th́ phải trồng người” Bác Hồ rất yêu trẻ em Bác luôn dành một t́nh cảm đặc biệt cho trẻ em Bác nói: “Cái mầm có xanh th́ cây mới vững, cái búp có xanh th́ lá mới tươi, quả mới tốt Con trẻ có được nuôi dưỡng, giáo dục hẵn hoi th́ dân tộc mới
có thể tự cường, tự lập”, “Chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân… V́ tương lai của con em ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc các cháu bé cho tốt”
Đứa trẻ sinh ra là kết quả t́nh yêu của cha mẹ, là hạnh phúc, tương lai của gia đ́nh
và xă hội Từ trước đến nay, gia đ́nh luôn giữ vai tṛ hàng đầu, quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Trong gia đ́nh, cha mẹ có vị trí quan trọng Theo truyền thống Việt Nam, người cha là trụ cột, là biểu hiện của nhân cách văn hóa cao đẹp
để con cái học tập và noi theo Người mẹ là chỗ dựa, là hạt nhân tâm lư chủ đạo, nguồn lửa sưởi ấm yêu thương trong gia đ́nh, nguồn t́nh cảm vô tận cho các con Một đứa trẻ sẽ phát triển toàn diện khi được sống trong gia đ́nh dưới sự yêu thương và chăm sóc của cha mẹ Nhưng khi thực hiện chức năng này, gia đ́nh mà đặc biệt là những người cha, người mẹ luôn cần sự quan tâm và hỗ trợ của những thiết chế khác như nhà trường, cộng đồng xă hội
Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống người dân được nâng cao Trẻ em ngày càng được chăm sóc tốt hơn, được đáp ứng mọi nhu cầu để phát triển toàn diện th́ vẫn c̣n một bộ phận không nhỏ những đứa trẻ đang phải sống trong t́nh cảnh hết sức khó khăn, trong đó có những đứa trẻ mồ côi Hiện nay, tỉ lệ trẻ em mồ côi lại đang
có xu hướng gia tăng và t́nh cảnh sống của các em đang ở mức báo động Các em đang sống trong cảnh thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu một nơi ở an toàn, không được học tập, thăm khám sức khỏe hay vui chơi giải trí Các em đang phải lao động để phụ giúp gia đ́nh hay để tự nuôi sống bản thân Các em đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ: bóc lột sức lao động, bạo hành trẻ em, bị lợi dụng hay lôi cuốn vào các tệ nạn xă hội… Điều quan trọng nhất là các em không được sống trong một môi trường yêu thương và
Trang 2giáo dục đầy đủ để có thể phát triển b́nh thường như bao trẻ em khác, điều này sẽ ảnh hưởng tới tương lai của chính các em sau này
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như nhận thấy được tầm quan trọng của công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em đối với sự tồn vong và phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn - trong đó có trẻ em mồ côi, làm thế nào
để tất cả trẻ em đều được hưởng quyền trẻ em Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng, Đảng và Nhà nước ta đă có nhiều chính sách hỗ trợ như: trợ cấp lương thực, miễn giảm học phí, phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, dạy nghề… Ngày 25/3/2005 Quyết định của thủ tướng Chính phủ số 65/2005/QĐ-TTG về việc phê duyệt đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010” (gọi tắt là đề án
“Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 2010”) Đề án đă được nhiều tỉnh thành trong cả nước thực hiện có hiêu quả, góp phần cải thiện đời sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng
2005-Tại tỉnh B́nh Định, công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em luôn được chính quyền tỉnh hết sức quan tâm Tỉnh luôn có những hoạt động hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và ngày 06/7/2006 Ủy ban nhân dân tỉnh đă quyết định ban hành kế hoạch:
“Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng đến năm 2010” Thực hiện đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của tỉnh, thành phố Quy Nhơn đă đạt được nhiều kết quả tích cực, giúp các em cải thiện đời sống và có điều kiện để phát triển b́nh thường Trẻ em mồ côi trên địa bàn thành phố khá đông với nhiều hiện trạng mồ côi khác nhau Thành phố luôn nhấn mạnh quan điểm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đ́nh mà c̣n của toàn xă hội Đối với trẻ em mồ côi, cộng đồng phải thực sự trở thành tổ ấm, nơi chăm sóc, nuôi dưỡng các em và giúp các em được hưởng điều kiện sống, học tập và phát triển b́nh thường
Trang 3Xuất phát từ những lư do trên, chúng tôi muốn t́m hiểu thực trạng công tác chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa tỉnh B́nh Định hiện nay như thế nào? Nhưng do hạn chế của bản thân và khách quan nên chúng tôi chỉ tiến hành t́m hiểu thực trạng công tác chăm sóc trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn V́ vậy, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu là “Thực trạng chăm sóc trẻ mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn”
2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng chăm sóc trẻ mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh B́nh Định hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn gồm có: Trẻ mồ côi cả cha và
mẹ, trẻ mồ côi chỉ mồ côi cha hoặc mẹ; trẻ mồ côi đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại cộng đồng và trẻ mồ côi đang được chăm sóc nuôi dưỡng trong các trung tâm Bảo trợ
xă hội
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu thực trạng chăm sóc trẻ em mồ côi trong độ tuổi từ 1 đến dưới 16 tuổi đang sinh sống trong các gia đ́nh tại các xă, phường của thành phố Quy Nhơn, thuộc diện đối tượng bảo trợ
xă hội của Nghị định 67/2007/NĐ-CP, gồm: Trẻ mồ côi cha và mẹ, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người c̣n lại là cha hoặc mẹ mất tích hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật
Trang 45 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác chăm sóc trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn c̣n nhiều bất cập Trẻ em mồ côi chưa được quan tâm và chăm sóc đúng mức Các em chưa được đáp ứng các nhu cầu về nhà ở, thực phẩm, vệ sinh, học tập, chăm sóc y tế, vui chơi giải trí hay tham gia hoạt động xă hội…
Nếu công tác chăm sóc trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố được chính quyền, cộng đồng và chính người chăm sóc chú trọng và quan tâm nhiều hơn th́ trẻ em mồ côi
sẽ được hưởng cuộc sống tốt hơn
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số lư luận về trẻ em và trẻ em mồ côi, lư luận về công tác xă hội với trẻ em
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác chăm sóc trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Với phương pháp này, chúng tôi tiến hành phân tích một số tài liệu thống kê về trẻ em mồ côi thuộc đối tượng bảo trợ xă hội, những tài liệu liên quan đến công tác chăm sóc trẻ nói chung và trẻ mồ côi nói riêng, phân tích các thông tin thu thập được qua điều tra từ đó tổng hợp các thông tin để làm rơ vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp trưng cầu ư kiến: Chúng tôi tiến hành phát bảng hỏi trưng cầu ư kiến của người chăm sóc trẻ em mồ côi đang sinh sống tại các xă phường của thành phố Quy Nhơn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Bên cạnh phát bảng hỏi trưng cầu ư kiến, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu một số người chăm sóc và trẻ em mồ côi nhằm làm rơ hơn vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp quan sát: Trong quá tŕnh nghiên cứu và thu thập thông tin, chúng tôi luôn sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thêm thông tin, đồng thời
Trang 5kiểm tra độ chính xác của thông tin qua quan sát đời sống và thái độ của người được điều tra
- Phương pháp thống kê toán học: Sau khi kết thúc khảo sát, chúng tôi tiến hành thống kê và xử lư kết quả từ phiếu điều tra
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của khóa luận được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lư luận
Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực tiễn
Chương 3: Một số giải pháp
Trang 6PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lư luận của chăm sóc trẻ em mồ côi
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của đất nước V́ vậy “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là điều quan trọng và rất cần thiết” (Hồ Chí Minh - Di chúc); “Các em thiếu niên, nhi đồng ngày nay sẽ là người xây dựng CNXH và CNCS sau này Quan tâm đến thiếu niên, nhi đồng là quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới” (Chỉ thị số 197-CT/TƯ ngày 19/3/1960 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác thiếu niên nhi đồng); “Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của mọi công dân
và mỗi gia đ́nh” (Chỉ thị số 38-CT/TƯ ngày 30/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em)
Trên đây là một số quan điểm của Đảng về công tác BVCSGD trẻ em, quan điểm này xuyên suốt quá tŕnh xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Từ thời kỳ 1945-1960 Đảng ta đă chăm lo sức khỏe, học tập, vui chơi, chăm lo cho trẻ em bị lưu lạc trong chiến tranh Thời kỳ 1961-1979 chăm lo phát triển toàn diện cho trẻ em về học tập, sức khỏe, vui chơi, nghĩ ngơi và giáo dục đạo đức Thời kỳ 1980-1989 gia đ́nh, Nhà nước và xă hội có nhiệm vụ BVCSGD trẻ em theo các quyền của trẻ em Thời kỳ 1990 đến nay công tác BVCSGD trẻ em được thực hiện hài ḥa với Công ước LHQ về quyền trẻ em và các cam kết toàn cầu, khu vực
Trẻ em mồ côi là một trong những đối tượng thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Trẻ em mồ côi cũng như bao trẻ em khác đều có quyền được bảo
vệ, chăm sóc và được giáo dục, được hưởng các điều kiện sống, học tập, vui chơi và phát triển Tuy nhiên, trẻ mồ côi là những đứa trẻ mất cha, mất mẹ hoặc mất cả cha và
mẹ, không c̣n nguồn nuôi dưỡng hoặc người c̣n lại là cha hoặc mẹ không đủ khả năng nuôi dưỡng trẻ Các em không được sống trong một gia đ́nh hoàn thiện là đă thiếu thốn về mặt t́nh cảm Các em không những không được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cơ bản như: ăn, ở, vệ sinh, học tập, khám sức khỏe, vui chơi, tham gia hoạt động… mà c̣n phải lao động giúp gia đ́nh hay tự kiếm sống Hầu hết các em đang
Trang 7sống trong hoàn cảnh hết sức khó khăn và rất cần sự quan tâm chăm sóc của cả cộng đồng xă hội
Đảng và Nhà nước luôn quan tâm các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có trẻ em mồ côi Đảng ta đă có nhiều chính sách hỗ trợ cho trẻ em
mồ côi nhưng chưa có chính sách nào cụ thể mà thường là các chính sách chung cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Thời kỳ trước năm 1990 Đảng, Nhà nước quan tâm chăm sóc con em các liệt sĩ, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, đến khi Luật BVCSGD trẻ em ra đời, hàng loạt các chính sách về BVCSGD trẻ em đă được ban hành và thực thi trong cuộc sống Chính sách xă hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng cũng được thực thi như: Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ
em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010; Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 17/2/2010 bổ sung sửa đổi Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xă hội; Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/03/2004 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp kinh phí cho gia đ́nh, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi Bên cạnh những chính sách của Đảng và Nhà nước, các cơ quan đoàn thể, tổ chức cùng các cá nhân và cộng đồng xă hội đă có nhiều hoạt động hỗ trợ trẻ em mồ côi và người chăm sóc trẻ như hỗ trợ kinh phí ăn, ở, học tập, thăm hỏi động viên các em vào các dịp lễ tết, ngày quốc tế thiếu nhi…
Tại tỉnh B́nh Định, công tác BVCSGD trẻ em luôn được chú trọng, mỗi năm đều có báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ BVCSGD trẻ em của các pḥng LĐ-TB&XH các huyện, thành phố gửi về pḥng Bảo vệ chăm sóc trẻ em tỉnh Cùng với các huyện trong tỉnh, thành phố Quy Nhơn tiếp tục thực hiện các chính sách của Đảng
và Nhà nước về BVCSGD trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng, đẩy mạnh công tác thực hiện các quyền cho trẻ em Thành phố cũng đă có nhiều chương tŕnh, hoạt động v́ trẻ em như tổ chức các hoạt động tết trung thu và tháng hành động v́ trẻ em; phối hợp tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền trên Báo B́nh Định, Đài Phát thanh - Truyền h́nh tỉnh để đưa tin, bài, phóng sự phản ánh hoạt
Trang 8động BVCS trẻ em; tuyên truyền xây dựng xă, phường phù hợp với trẻ em…Riêng đối với trẻ em mồ côi, ngoài những hoạt động trên, tỉnh đă có nhiều hoạt động hỗ trợ: Thăm hỏi tặng quà vào các dịp tết, trung thu, tháng hành động v́ trẻ em (năm 2010 đă
có nhiều đợt thăm hỏi, tặng quà cho trẻ em mồ côi, mỗi phần quà trị giá khoảng 100.000 đồng) và tổ chức các điểm vui chơi, tổ chức dạy nghề cho trẻ mồ côi… Ngoài
ra, Sở LĐ-TB&XH c̣n phối hợp với các ngành, đoàn thể, tổ chức xă hội trong tỉnh như: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Chữ thập đỏ, Hội Doanh nghiệp trẻ, các văn pḥng…hỗ trợ kinh phí, tổ chức vui tết, tặng quà cho trẻ em khó khăn trong tỉnh và trẻ em mồ côi
Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu hay kết quả cụ thể nào về thực trạng công tác chăm sóc trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn V́ vậy để thấy được hoàn cảnh thực tế của trẻ mồ côi đang được chăm sóc nuôi dưỡng trong các gia đ́nh thay thế tại cộng đồng và hiệu quả hỗ trợ cho công tác chăm sóc trẻ mồ côi của các lực lượng xă hội th́ một đề tài nghiên cứu về thực trạng chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa bàn thành phố là rất cần thiết
1.2 Trẻ em
1.2.1 Khái niệm trẻ em
Theo các tài liệu từ Ủy ban Dân số Gia đ́nh và Trẻ em Việt Nam (2005): Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xă hội thuộc về một độ tuổi, trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người Đó là những người chưa trưởng thành, c̣n non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lư trước cũng như sau khi ra đời Về vị thế xă hội, trẻ em là một nhóm thành viên
xă hội ngày càng có khả năng hội nhập xă hội với tư cách là những chủ thể tích cực, có ư thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đ́nh và xă hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục
Cho đến nay thế giới vẫn chưa thống nhất về khái niệm và độ tuổi của trẻ em: Trong Công ước về quyền trẻ em th́ trẻ em là người dưới 18 tuổi, c̣n theo Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNEFA), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) th́ trẻ em là những người dưới 15 tuổi
Trang 9Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (6/2004) của Việt Nam: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi
Căn cứ vào những đặc điểm chung trong đời sống học tập, lao động sinh hoạt của trẻ em, các nhà nghiên cứu hoạt động xă hội đă phân chia trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thành các nhóm sau đây:
Nhóm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa
1.2.2 Đặc điểm tâm lư và nhu cầu của trẻ em
1.2.2.1 Đặc điểm tâm lư trẻ em
Con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi trăi qua nhiều giai đoạn phát triển tâm lư Theo Tâm lư học Mác xít th́ sự phát triển tâm lư của trẻ em không chỉ là sự tăng tiến về số lượng mà chủ yếu là một quá tŕnh biến đổi về chất Sự phát triển tâm
lư thường gắn liền với sự xuất hiện những cấu tạo tâm lư mới ở những giai đoạn lứa tuổi nhất định
Từ 0 đến 1 tuổi: Trẻ ra đời là một thực thể rất yếu ớt, nếu tách khỏi người lớn th́ không thể tồn tại được Ngay từ khi mới sinh ra trẻ đă có những phản xạ không điều kiện: thở, tiêu, tiểu, t́m đầu vú mẹ để bú, co người lại khi bị chạm vào da…và thời gian của trẻ chủ yếu là ngủ Trẻ đă có đầy đủ cơ quan phân tích, cảm nhận, thính giác, thị giác phát triển rất nhanh Trẻ thường nh́n chăm chú vào mặt người, vật chiếu sáng hay h́nh tṛn chuyển động chậm và mỉm cười hồn nhiên Trẻ luôn muốn được
mẹ ôm ấp, vỗ về, áp vào da thịt mẹ, thích nghe những âm thanh nhẹ nhàng từ lời ru của mẹ Cùng với sự lớn dần của cơ thể, trẻ bắt đầu biết lật, biết ḅ và đi chập chững,
Trang 10tay chân cử động cầm nắm các đồ vật, biết lạ quen, biết biểu lộ ư muốn, đặc biệt trẻ có thể phát âm đơn giản như ba ba hay ma ma T́nh cảm yêu thương của cha mẹ sẽ giúp trẻ có cảm giác an toàn, phát triển tâm lư t́nh cảm b́nh thường Ngược lại, trẻ sẽ luôn
có cảm giác sợ hăi mất an toàn, có thể dẫn đến những rối nhiễu tâm lư sau này
Từ 1 đến 3 tuổi: Hoạt động chủ đạo của trẻ lúc này là chơi với đồ vật Dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ bắt đầu biết sử dụng đồ vật theo đúng chức năng của nó
và trẻ tỏ ra thích thú với điều đó Ở trẻ h́nh thành tính tự chủ và ư muốn độc lập, thể hiện rơ nét qua các câu nói thường ngày của trẻ như “của con”, “để tự con làm cơ”… Trẻ hay ṭ ṃ và tỏ ra bướng bỉnh, rất thích được khen những việc ḿnh làm Giữa trẻ
và người lớn bắt đầu xuất hiện những mâu thuẫn khi người lớn cứ cố cấm cản và trẻ th́ cố gắng đ̣i tự làm bằng được Người ta gọi đây là thời kỳ “khủng hoảng của tuổi lên 3” và sự khủng hoảng này dài hay ngắn tùy thuộc vào mối quan hệ giữa trẻ và người lớn Dó đó cần tạo điều kiện cho trẻ thỏa măn nhu cầu độc lập một cách hợp lư, tránh để thời gian khủng hoảng quá dài dẫn tới h́nh thành nhân cách ở trẻ Quan hệ xă hội của trẻ phần lớn vẫn là quan hệ gia đ́nh, song đă xuất hiện sự chú ư và hợp tác với người khác
Từ 3 đến 6 tuổi: Người ta gọi đây là tuổi mẫu giáo Trẻ rất ṭ ṃ, muốn t́m hiểu mọi thứ xung quanh ḿnh V́ vậy, trẻ thường đặt ra rất nhiều các câu hỏi tại sao, v́ sao Quan hệ xă hội của trẻ đă bắt đầu vươn ra khỏi khuôn khổ gia đ́nh, hướng tới quan hệ với bạn bè cùng lứa tuổi Tṛ chơi đóng vai của trẻ đă thể hiện óc sáng tạo, tư duy h́nh ảnh trực quan, ngôn ngữ, cách biểu lộ t́nh cảm, một số phẩm chất, ư chí h́nh thành và phát triển Đồng thời, nó cũng giải quyết được mâu thuẫn muốn làm như người lớn nhưng khả năng c̣n non yếu của trẻ Lúc này, người lớn cần động viên, khuyến khích trí tưởng tượng, tính ṭ ṃ và tạo cơ hội cho trẻ khám phá thế giới xung quanh Không nên quá ngăn cấm hay la mắng trẻ, trẻ sẽ dễ có cảm giác tội lỗi, lo lắng dẫn đến rụt rè, nhút nhát Đặc biệt, gia đ́nh cần chuẩn bị cho trẻ tâm lư tự tin, thoải mái trước khi trẻ bước vào trường mẫu giáo
Từ 6 đến 12 tuổi: Ở tuổi này diễn ra sự phát triển toàn diện của các quá tŕnh nhận thức Trong đó đáng kể nhất là sự phát triển của tri giác, chú ư, trí nhớ, tư duy và tưởng tượng Hoạt động chủ đạo của trẻ lúc này là hoạt động học tập Trẻ hào hứng
Trang 11tiếp thu những kiến thức, kỹ năng mới và tin tưởng tuyệt đối vào người lớn (cô giáo), sách
vở Trẻ rất dễ xúc động và bộc lộ t́nh cảm một cách hồn nhiên khi nghe một câu chuyện hay xem một bộ phim buồn Có thể nói: Các em rất hồn nhiên, trong sáng, ngây thơ, cả tin, hiếu động, dễ vâng lời, sống giàu t́nh cảm
Từ 12 đến 15 tuổi: Người ta gọi đây là thời kỳ quá độ từ trẻ con sang người lớn Trẻ ở độ tuổi này biến đổi rất nhanh về sinh lư như chiều cao, thể lực Trẻ đă có khả năng tư duy trừu tượng và lập luận suy diễn Một lần nữa ư thức muốn độc lập, tự chủ lại nổi lên rất rơ rệt như ư muốn thoát khỏi sự quản lư của gia đ́nh, t́m niềm vui với bạn bè, quan hệ xă hội hướng ngoại rơ rệt Trẻ trăi qua rất nhiều trạng thái tâm lư t́nh cảm: lo sợ, e ngại về sự phát triển của cơ thể, muốn thể hiện bản thân, nảy sinh t́nh cảm khác giới… Người lớn bất đầu tin tưởng và giao cho trẻ nhiều nhiệm vụ Trẻ bước vào môi trường học thú vị và hấp dẫn hơn Trẻ tham gia nhiều hoạt động xă hội hơn Tuy nhiên đây cũng là tuổi cần có sự quan tâm và hướng dẫn của gia đ́nh nhất Cha
mẹ cần hướng dẫn trẻ suy luận lôgic khi xử lư khó khăn, nâng đỡ trẻ khi chúng gặp những mâu thuẫn về t́nh cảm, tạo điều kiện để chúng có được ḷng tự trọng
Từ 15 đến 18 tuổi: 16 tuổi, mọi người vẫn gọi là trẻ con v́ trẻ c̣n mang nhiều ảnh hưởng của thời kỳ khủng hoảng trước đó Trẻ ra dáng người lớn v́ chiều cao và một số tính cách phát triển như người lớn nhưng vẫn c̣n nhiều hành động của trẻ con như chơi đùa, chạy nhảy, ḥ hét, chơi súng gươm, búp bê… Các em lớn dần lên và người ta gọi các
em là thanh niên Những cô cậu dễ thương nhất về h́nh dáng, trong sáng nhất về tâm hồn, đẹp đẽ nhất về ước mơ và hoài băo Các em quan tâm đến t́nh yêu, nghề nghiệp tương lai
và lối sống, cách sống của ḿnh
1.2.2.2 Nhu cầu cơ bản chung của trẻ em
Nhu cầu vật chất: bao gồm thực phẩm, nước uống, nơi ở, điều kiện chăm sóc vệ sinh sức khỏe Tất cả các yếu tố này đảm bảo cho sự phát triển thể lực của các em
Nhu cầu mái ấm gia đ́nh: Đó là t́nh thương yêu của ông bà, cha mẹ và anh chị em,
họ hàng Gia đ́nh êm ấm là chỗ dựa vật chất và tinh thần, là sự an toàn đối với các em Gia đ́nh là cái nôi đầu tiên cho các em học cách xă hội hóa cá nhân, từ đây các em học cách làm người, học cách “cho” và “nhận” t́nh yêu thương nhân loại, học cách gánh trách nhiệm của người cha, người mẹ, người anh, người chị… Mối quan hệ xă
Trang 12hội sau này ở tuổi trưởng thành có thành công hay không là phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng mối quan hệ trong gia đ́nh của trẻ
Nhu cầu được vui chơi, học hành, được phát triển trí tuệ: Hoạt động vui chơi cũng như học hành sẽ giúp trẻ trải nghiệm cuộc sống, phát triển trí tuệ và tích lũy những hiểu biết, kiến thức cho mai sau
Nhu cầu được thừa nhận, được tôn trọng: Việc thừa nhận những đặc điểm, tính cách sẽ làm tăng tính tự tin ở trẻ, những lời khen, những công nhận thành tích của trẻ
sẽ làm tăng nghị lực của trẻ, giúp trẻ vượt qua những khó khăn mỗi khi vấp phải
1.3 Trẻ em mồ côi
1.3.1 Khái niệm trẻ em mồ côi
Theo khoản 1, điều 4, Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007: Trẻ em mồ côi là trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người c̣n lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại điều 78 của Bộ Luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của Pháp luật hoặc đang trong thời gian chấp hành h́nh phạt tù tại trại giam, không c̣n người nuôi dưỡng
1.3.2 Phân loại trẻ em mồ côi
Trẻ em mồ côi được xác định dựa trên 3 điểm sau:
Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, không người chăm sóc nuôi dưỡng, không c̣n ai nương tựa
Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người c̣n lại bỏ đi mất tích; hoặc không đủ khả năng nuôi dưỡng do ốm đau, bệnh tật…; hoặc lấy chồng, lấy vợ khác nhưng cũng không
đủ khả năng nuôi con; hoặc đang trong thời kỳ chấp hành án
Trẻ em mồ côi do bị bỏ rơi, không c̣n người thân thích để nương tựa, mất nguồn nuôi dưỡng
1.3.3 Đặc điểm tâm lư trẻ em mồ côi
1.3.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em mồ côi
Những trẻ em khi sinh ra và lớn lên không có được sự quan tâm, săn sóc của cha mẹ có nghĩa là chúng sẽ phải đương đầu với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Những khó khăn này gây ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển cả về thể chất và tinh
Trang 13thần của trẻ, trong đó khó khăn lớn nhất là thiếu thốn về đời sống vật chất và thiếu thốn t́nh yêu thương chăm sóc của cha mẹ
Những khó khăn đời sống vật chất như thiếu thực phẩm, không có nước sạch để
sử dụng, không có nhà ở hoặc có th́ là nhà tạm không an toàn hoặc nhà kiên cố nhưng quá chật chội không đủ phương tiện sinh hoạt hằng ngày, không được hưởng điều kiện chăm sóc vệ sinh… Khó khăn về đời sống vật chất không chỉ ḱm hăm sự phát triển thể chất của các em c̣n làm cho các em mất đi nhiều quyền cơ bản như học tập, vui chơi giải trí hay tham gia hoạt động xă hội Thay vào đó, các em phải tham gia lao động phụ giúp gia đ́nh hay để tự nuôi sống bản thân Chính những khó khăn này đă làm cho các em có cảm giác thua thiệt, từ đó có thái độ tiêu cực, tự ti, mặc cảm dẫn đến mất đi các động cơ kích thích học tập, rèn luyện và phấn đấu Tuy nhiên có những
em nhận thức được hoàn cảnh của ḿnh, nên khi có được sự hỗ trợ thích hợp bên ngoài các em rất trân trọng sự giúp đỡ đó và tỏ ra rất có ư chí vượt khó để phấn đấu lao động và học tập
Thiếu vắng đi t́nh thương yêu của cha mẹ, gia đ́nh, đặc biệt là ở những năm đầu trong quá tŕnh sống của trẻ có nghĩa là trẻ sẽ mất đi một môi trường xă hội hóa
cơ bản nhất, đầu tiên nhất của con người Quá tŕnh xă hội hóa là một quá tŕnh liên tục, nó bắt đầu ngay từ khi c̣n là hài nhi trong bụng mẹ Những năm đầu, cha mẹ là người xây những viên gạch nền tảng của quá tŕnh này Ví dụ như trẻ học cách thể hiện t́nh cảm của ḿnh đúng lúc, học cách giao tiếp trong xă hội, học các lễ nghi phong tục, tập quán Nếu không có cha mẹ, nghĩa là trẻ mất đi cơ hội học hỏi những vấn đề này và nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới việc tạo lập các mối quan hệ xă hội sau này của trẻ Chính v́ vậy đ̣i hỏi những người thân như họ hàng, cộng đồng và xă hội hăy quan tâm, d́u dắt các em ngay khi mà các em bị chia ĺa khỏi cha mẹ
Trẻ em cũng như tất cả mọi người chúng ta luôn cần tới sự nâng đỡ, an ủi mỗi khi gặp khó khăn và đối với trẻ mồ côi th́ điều đó càng quan trọng Do thiếu vắng cha
mẹ nên đời sống t́nh cảm của các em thường bị xáo trộn: những mất mát mà các em phải chịu, những khó khăn đời thường mà các em phải trải nghiệm nếu không có một
ai nâng đỡ, điều này dễ dẫn đến sự nghi hoặc, sự bất cần của các em vào cuộc sống Điều này cũng giải thích cho hiện tượng phạm pháp ở trẻ không có cha mẹ Nếu người
Trang 14chăm sóc cho trẻ thấy được sự quan tâm, tin yêu của ḿnh đối với trẻ, trẻ sẽ có một t́nh cảm rất sâu nặng, biết ơn với người đó, lấy đó làm niềm tin, nghị lực cho cuộc sống và mỗi khi gặp khó khăn các em sẵn sàng t́m đến chia sẽ và xin lời khuyên nhủ 1.3.3.2 Tâm lư trẻ em mồ côi
Cho đến nay vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu hay tài liệu cụ thể nào nói rơ
về tâm lư trẻ em mồ côi, thông thường người ta dựa trên tâm lư trẻ em và những nét biểu hiện thực tế của trẻ em mồ côi để phác họa một số nét tâm lư cơ bản của trẻ em
mồ côi
Điều đầu tiên trong tâm lư trẻ mồ côi là cảm giác cô đơn, trống trải Trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng, mặc cảm với số phận… Trẻ lo lắng sợ hăi, xa lánh không muốn quan hệ với bạn bè… Một số trẻ trở nên liều lĩnh, gan lỳ, mánh khóe cốt sao có tiền kiếm bữa cơm để tồn tại qua ngày Một số trẻ lại có khả năng tự lập từ rất sớm
Các em hoài nghi mọi người, hoài nghi cuộc sống, thù ghét mà không rơ lư do những đứa trẻ hơn nó về gia thế hay có đầy đủ cha mẹ Trẻ mồ côi sẽ hằn thù sâu đậm đàn ông hay đàn bà nếu trẻ sống với cha dượng, mẹ kế hay người chăm sóc đối xử tệ bạc và ngược đăi trẻ hoặc nhẫn tâm bỏ rơi trẻ
Tuy nhiên, các em biết chia sẽ, đồng cảm và giúp đỡ các bạn có cùng cảnh ngộ như ḿnh Trẻ luôn khao khát t́nh thương, luôn mơ ước có một gia đ́nh có cha mẹ Trẻ thèm được cha mẹ chở đi học, đi chơi và được yêu thương như bao trẻ em có cha mẹ Đối với các em ước mơ về một gia đ́nh tuy nhỏ bé nhưng lại rất xa vời
1.3.4 Cơ sở pháp lư về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em mồ côi
- Pháp luật quốc tế:
Điều 20, Công ước Quốc tế về quyền trẻ em:
1 Những trẻ em tạm thời hay vĩnh viễn bị tước mất môi trường gia đ́nh của ḿnh, hoặc v́ những lợi ích tốt nhất của chính bản thân ḿnh mà không được phép tiếp tục ở trong môi trường ấy, có quyền được hưởng sự bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt của Nhà nước
2 Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho các trẻ em như thế được hưởng sự chăm sóc thay thế tương ứng phù hợp với luật pháp quốc gia
Trang 153 Sự chăm sóc như thế có thể bao gồm nhiều h́nh thức, gồm việc gửi nuôi, h́nh thức Kafala của luật đạo Hồi, nhận làm con nuôi hoặc nếu cần thiết gửi vào các
cơ sở chăm sóc trẻ em thích hợp Khi cân nhắc các giải pháp, phải quan tâm thích đáng đến việc mong muốn liên quan đến xuất sứ dân tộc, tôn giáo, văn hóa và ngôn ngữ của trẻ em
Một trong những phương thức giúp đỡ hiệu quả cho nhóm trẻ này là việc cho nhận con nuôi và Điều 21 của Công ước đă có những quy định về thẩm quyền cho phép nhận nuôi con, điều kiện mà người nuôi phải tuân thủ…
- Pháp luật Việt Nam:
Điều 51, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em:
1 Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được Ủy ban nhân dân địa phương giúp đỡ để có gia đ́nh thay thế hoặc tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp trẻ em công lập, ngoài công lập
2 Nhà nước khuyến khích gia đ́nh, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức,
cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi
3 Nhà nước có chính sách trợ giúp gia đ́nh, cá nhân hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em ngoài công lập nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi
1.4 Chăm sóc trẻ em
Công ước quốc tế về quyền trẻ em đă đưa ra nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với trẻ em Nguyên tắc cơ bản là mọi trẻ em đều được hưởng quyền của ḿnh dù là gái hay trai, giàu hay nghèo, khỏe mạnh hay ốm đau, khuyết tật, đa số hay thiểu số, theo tôn giáo hay không tôn giáo…
Luật BVCSGD trẻ em Việt Nam quy đinh: Trẻ em là công dân dưới 16 tuổi Mọi trẻ em không phân biệt đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đó là trách nhiệm của gia đ́nh, nhà trường, các cơ quan Nhà nước và công dân, các quyền trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện, mọi hành vi xâm hại trẻ em đều bị nghiêm trị Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có trẻ em mồ côi là những mảnh đời bất hạnh trong xă hội Các em cũng được hưởng quyền bảo vệ, chăm sóc và giáo dục như bao
Trang 16trẻ em b́nh thường khác Ngoài ra, các em c̣n là đối tượng bảo trợ của xă hội V́ vậy, để các
em có thể sống và phát triển b́nh thường th́ Đảng, Nhà nước và cộng đồng xă hội mà trước hết là người chăm sóc cần quan tâm chăm sóc, đáp ứng các nhu cầu cơ bản tối thiểu để trẻ tồn tại và phát triển, thực hiện các quyền của trẻ em
1.4.1 Chăm sóc vật chất
1.4.1.1 Dinh dưỡng
Dinh dưỡng là những chất cung cấp cho cơ thể vất liệu xây dựng chất sống và năng lượng để cơ thể hoạt động Các chất dinh dưỡng được cơ thể tiếp nhận dưới dạng thức ăn, nước uống và được biến đổi trong các cơ quan tiêu hóa thành những chất đơn giản, các chất này được ḥa tan và mang đi cung cấp cho các mô và tế bào cơ thể
Cơ thể trẻ em c̣n non nớt, để cơ thể phát triển cân đối cần cung cấp đủ các chất dinh dưỡng T́nh trạng dinh dưỡng trong những năm đầu không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể về tầm vóc mà c̣n là nền tảng sức khỏe cho cả cuộc đời của trẻ Các em cần được ăn đủ no, đủ bữa và đủ các chất dinh dưỡng như chất đạm (prôtêin), chất béo (lipit), chất đường (gluxit), chất khoáng, vitamin và nước Ở đây, chúng ta không xem xét việc phải cung cấp cho trẻ một chế độ dinh dưỡng đúng tiêu chuẩn v́ việc này rất khó, ngay cả những người có điều kiện cho trẻ ăn uống vẫn chưa chắc đă làm được v́ người chăm sóc cần phải hiểu được quy tŕnh dinh dưỡng và phải tiến hành một cách khoa học Trong khi đó, trẻ mồ côi là những đưa trẻ thiệt tḥi Các em không có được sự chăm sóc trực tiếp của cha mẹ Các em đang sống trong những gia đ́nh thay thế mà hầu hết các gia đ́nh này có hoàn cảnh rất khó khăn
V́ vậy, chúng ta cần dựa vào hoàn cảnh thực tế của trẻ để đánh giá mức độ dinh dưỡng mà trẻ được cung cấp qua chế độ ăn uống thường ngày Có thể đánh giá t́nh trạng suy dinh dưỡng của trẻ qua quan sát h́nh dáng bên ngoài của trẻ, qua chế độ và thực phẩm trẻ được ăn uống hàng ngày Cần đánh giá được t́nh trạng thiếu dinh dưỡng của trẻ v́ nó nguyên nhân khiến trẻ chậm lớn; hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm đường hô hấp; giảm khả năng học tập và năng suất lao động kém khi trưởng thành
Dinh dưỡng là một trong những thành tố quan trọng nhất đối với sự phát triển thể chất, trí tuệ và tinh thần của trẻ em Ngoài trách nhiệm của cơ quan y tế các cấp th́
Trang 17nhận thức của người chăm sóc về vai tṛ của dinh dưỡng đối với sự phát triển của trẻ và điều kiện kinh tế của người chăm sóc là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến t́nh trạng dinh dưỡng của trẻ
1.4.1.2 Nhà ở
Nhà ở là ǵ? Theo cách hiểu thông thường th́ đó là nơi cư trú của con người, ở đó con người thực hiện các sinh hoạt cuộc sống để tồn tại và chia sẽ t́nh yêu thương, chăm sóc giữa những người sống chung Một ngôi nhà ở theo đúng nghĩa phải là ngôi nhà kiên
cố, đủ độ an toàn để che nắng, che mưa, có không gian tối thiểu cho những người sống trong nhà cảm thấy thoải mái và ḥa thuận
Tất cả mọi người đều mong muốn ḿnh có một ngôi nhà với không gian thoáng đăng
và đầy đủ tiện nghi nhưng điều đó phụ thuộc vào khả năng kinh tế của mỗi người Trẻ
em đối tượng rất cần một nơi cư trú an toàn để sống và phát triển và thông thường th́ đó là ngôi nhà mà gia đ́nh trẻ đang sinh sống Trong ngồi nhà đó, trẻ có một không gian an toàn không chỉ để che nắng, che mưa mà đó là nơi trẻ được ăn, ngủ, học tập, vui chơi và cảm nhận t́nh yêu thương của cha mẹ, của anh chị em trong gia đ́nh Một ngôi nhà kiên
cố, thoáng mát, rộng răi có đủ các điều kiện sinh hoạt chính là môi trường tốt cho trẻ phát triển cả về thể chất và tinh thần
Trên thực tế nhà ở vẫn là một vấn đề nhức nhối với những người có thu nhập thấp và những người có hoàn cảnh khó khăn trong xă hội Trong đó con em của những gia đ́nh này đă rất thiệt tḥi th́ những đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn càng bất hạnh hơn rất nhiều Trẻ em mồ côi đă thiếu đi sự bảo vệ, che chở của cha mẹ th́ việc trẻ được ở trong một ngôi nhà an toàn là rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ
Trẻ em mồ côi cần được sống trong chính ngôi nhà của ḿnh hoặc trong gia đ́nh thay thế Các em chỉ sống trong các cơ sở xă hội khi không c̣n nơi nương tựa, mất nguồn nuôi dưỡng và không thể có gia đ́nh thay thế V́ vậy, khi quan tâm, chăm sóc trẻ em cần chú ư đến không gian nhà ở của các em, không có được ngôi nhà khang trang và tiện nghi nhưng các em cần được sống trong ngôi nhà an toàn, kiên cố, có không gian để sinh hoạt
và học tập
1.4.1.3 Vệ sinh, nước sạch
Trang 18Vệ sinh, nước sạch là một trong những yếu tố cơ bản nhất của cuộc sống Có nhiều nguồn nước khác nhau được con người sử dụng: nước giếng, nước mưa, nước ao
hồ, nước sông suối, nước máy… nhưng nguồn nước phổ biến nhất không chỉ với người nông thôn mà cả với người thành thị đó là nguồn nước giếng Nguồn nước này
có thể sạch hơn các nguồn nước từ ao hồ, sông suối nhưng thực tế trong nước giếng có những chất gây hại cho con người khi vượt quá nồng độ cho phép Hiện nay, nước máy vẫn được xem là nguồn nước sạch, đủ tiêu chuẩn cho sức khỏe con người và chương tŕnh nước sạch quốc gia đang hướng đến đưa nước sạch đến cho mọi người trên đất nước mà trước tiên là cho người dân thành thị Tương tự, nhà tiêu hợp vệ sinh đang là một vấn đề quan trọng rất được chú ư Nhà vệ sinh là nơi tiềm ẩn nhiều vi sinh vật gây bệnh nhất trong không gian sống Nhà vệ sinh không sạch là nguy cơ lây lan bệnh trong cộng đồng và trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh nhất Nhà tiêu có nhiều loại:
tự đào và tự hoại, trong đó chúng ta đang hướng đến xóa bỏ nhà tiêu tự đào, xây dựng nhà tiêu tự hoại, đảm bảo vệ sinh của cá nhân và môi trường xung quanh
Trẻ em là đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh nhất của vấn đề vệ sinh nước sạch này Trẻ em không được sử dụng nguồn nước sạch, không được sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
và không được giáo dục cách giữ vệ sinh bản thân trở thành nguyên nhân cơ bản khiến trẻ dễ mắc các bệnh về tiêu chảy và đường hô hấp, đường ruột, tả, lỵ, thương hàn, các bệnh nhiễm kư sinh trùng, giun sán Ông John Hendra, điều phối viên thường trú LHQ ở Việt Nam phát biểu rằng: ở một phạm vi rộng, những tiến bộ đạt được trong y tế , dinh dưỡng và giáo dục phụ thuộc vào sự cải thiện điều kiện vệ sinh Ví dụ như lợi ích của tiêm chủng cho trẻ sẽ bị mất đi nếu đứa trẻ ấy bị tử vong v́ bị tiêu chảy do điều kiện vệ sinh yếu kém gây ra Do đó, mọi trẻ em cần được sử dụng nguồn nước sạch, điều kiện vệ sinh
và có những thói quen giữ ǵn vệ sinh đúng cách để đảm bảo sức khỏe và sự phát triển tốt nhất
Trẻ em mồ côi cũng như mọi trẻ em khác đều có quyền được hưởng điều kiện
vệ sinh nước sạch Tùy vào nơi trẻ sinh sống là nông thôn hay thành phố mà có sự đánh giá khác nhau về điều kiện vệ sinh nước sạch nhưng đặc biệt là trẻ ở thành phố th́ yêu cầu về vệ sinh nước sạch cũng phải cao hơn do điều kiện tiếp cận của trẻ dễ dàng hơn Người chăm sóc quan tâm và hướng dẫn trẻ sử dụng hợp lư nguồn nước và
Trang 19nhà vệ sinh, giáo dục trẻ tăng cường vệ sinh cá nhân như rữa tay bằng xà pḥng sau khi đi
vệ sinh và trước khi ăn Điều kiện vệ sinh nước sạch này không chỉ tại trường học, nơi công cộng mà quan trọng nhất vẫn là ngay trong ngôi nhà mà trẻ đang sinh sống và để làm được điều này cần có sự tích cực hơn nữa của các ban ngành liên quan để cung cấp hỗ trợ nguồn nước sạch, xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh cũng như thay đổi nhận thức của cộng đồng và người chăm sóc về vai tṛ của vệ sinh nước sạch đối với cuộc sống của con người nói chung và trẻ em nói riêng, thay đổi thói quen không tốt về vệ sinh, sử dụng nước sạch trong ăn uống và sinh hoạt
1.4.2 Chăm sóc tinh thần
Trẻ em có nhiều nhu cầu như nhu cầu vật chất, nhu cầu mái ấm gia đ́nh, nhu cầu được học tập, vui chơi, chăm sóc sức khỏe…Nhu cầu nào cũng cần thiết và quan trọng nhưng nhu cầu về mái ấm gia đ́nh, t́nh yêu thương của gia đ́nh được đánh giá
là nhu cầu cơ bản, quan trọng và then chốt trong quá tŕnh phát triển của trẻ Đó là cái nôi đầu tiên cho trẻ cảm giác an toàn, cảm nhận t́nh yêu thương chăm sóc và học cách làm người Trẻ học cách cho và nhận t́nh yêu thương, học cách gánh vác trách nhiệm, học cách quan hệ với mọi người… Sự thành công trong cuộc sống của trẻ sau này phụ thuộc rất lớn vào việc đáp ứng nhu cầu này của người chăm sóc Ngày nay, xă hội đang đề cao sự phát triển của trẻ là thông minh trong cảm xúc v́ cảm xúc là một nhân
tố quan trọng trong quá tŕnh phát triển, thiếu nó, các năng khiếu của trẻ có thể bị thui chột Trẻ được yêu thương và chăm sóc đầy đủ sẽ là điều kiện nền tảng tốt về nhân cách cũng như những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống để giúp trẻ có thể thành công vững chắc trong tương lai T́nh trạng thiếu cảm xúc có thể dẫn đến những trạng thái tâm lư trầm cảm, vô cảm và những hành động không đúng của trẻ như phạm tội T́nh trạng không thấu cảm này thường gặp nhiều ở những trẻ có hoàn cảnh bất hạnh như trẻ
mồ côi, trẻ bị bỏ rơi hay những đứa trẻ có cha mẹ li dị…
Trẻ mồ côi là một đối tượng thiệt tḥi trong xă hội Các em đă mất đi t́nh yêu thương cuả cha mẹ, tất cả những bù đắp về vật chất đều không thể nào xoa dịu nỗi đau mất đi t́nh yêu thương của cha mẹ và khao khát được yêu thương, chăm sóc của trẻ Tâm lư trẻ mồ côi luôn có cảm giác cô đơn, lo lắng, sợ hăi v́ thấy không an toàn Một
số em thường ganh tị, thù ghét những bạn có đủ cha mẹ Một số em rơi vào trạng thái
Trang 20hụt hẫng, trầm cảm, tủi hờn cho số phận của ḿnh Có em lại quá hồ hỡi để mong mọi người chú ư và quan tâm ḿnh Tất cả những tủi hờn, những khao khát t́nh yêu thương của trẻ nếu không được xoa dịu và đáp ứng th́ nó sẽ để lại những hậu quả to lớn trong quá tŕnh phát triển của trẻ Điều đó sẽ giải thích cho những cảnh sống “bất cần đời”, liều lĩnh, mánh khóe và hung hăn của trẻ em trong xă hội
Để trẻ em nói chung và trẻ mồ côi nói riêng không bị vô cảm và phát triển cảm xúc b́nh thường, những người chăm sóc hăy để cho trẻ cảm nhận được t́nh yêu thương của ḿnh bằng những cử chỉ, lời nói Tất cả những điều này chỉ có thể thực hiện khi cha
mẹ biết dành thời gian quan tâm chăm sóc, yêu thương trẻ
V́ vậy, ngoài những chăm sóc vật chất, người chăm sóc trẻ cần quan tâm chăm sóc sức khỏe tinh thần của trẻ Trẻ cần sự chăm sóc bằng chính ḷng yêu thương chân thành của người chăm sóc Chăm sóc sức khỏe tinh thần không quá khó khăn và tốn kém nhiều kinh phí như chăm sóc vất chất, người chăm sóc chỉ cần yêu thương, quan tâm, chăm sóc trẻ bằng chính những hành động thiết thực của ḿnh như an ủi trẻ; tṛ chuyện với trẻ; thường xuyên hỏi thăm t́nh h́nh học tập, bạn bè hay chính bản thân trẻ; vui chơi cùng trẻ; khuyến khích trẻ trong cuộc sống… Đồng thời, người chăm sóc cần h́nh thành cho trẻ biết quan tâm, chia sẽ với những người trong gia đ́nh, bạn bè… dạy trẻ tinh thần lạc quan để có thể vượt qua những t́nh huống khó khăn trong cuộc sống, dạy trẻ quan tâm tới cảm xúc của người khác, từ đó biết điều chỉnh cảm xúc và hành vi của ḿnh… Khi trẻ cảm nhận được t́nh yêu thương, sự quan tâm thực sự của người chăm sóc th́ nó sẽ giúp trẻ ổn định tâm lư, tin tưởng vào cuộc sống, vào t́nh yêu thương của mọi người trong xă hội và chính điều đó sẽ giúp trẻ vượt qua nỗi đau, vươn lên trong cuộc sống
1.4.3 Chăm sóc sức khỏe
Khoản 1, Điều 24, Công ước quốc tế về quyền trẻ em: Các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em được hưởng mức cao nhất có thể đạt được về sức khỏe Các quốc gia thành viên phải cố gắng đảm bảo rằng không có trẻ em nào bị tước đoạt quyền được hưởng những dịch vụ chăm sóc sức khỏa như vậy Đồng thời, khoản 2 của Công ước đă đưa ra những mục tiêu về chăm sóc sức khỏe trẻ em và nâng cao hiểu biết của người chăm sóc trẻ
Trang 21Điều 15, Luật BVCSGD trẻ em quy định: Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập Điều 27 của Luật này cũng quy định: Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám chữa bệnh cho trẻ em
Sức khỏe, ít nhất là tại Việt Nam hiện nay, thường được xem là t́nh trạng không có bệnh tật Đó là cách hiểu mang tính chất cơ học hoặc sinh học phổ biến trong dân chúng cũng như giới chuyên môn
Trẻ em là những người làm chủ đất nước trong tương lai Đảng và Nhà nước ta luôn muốn tạo cho trẻ em cuộc cuộc sống vật chất và tinh thần tốt nhất, chuẩn bị cho trẻ em hành trang đầy đủ cả về tri thức và sức khoẻ từ khi c̣n trong bào thai đến khi trưởng thành Muốn cho giống ṇi ngày càng tốt th́ phải quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của trẻ em nhưng t́nh trạng nghèo đói và chậm phát triển kinh tế xă hội của đất nước cản trở lớn đến điều kiện phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em Ngược lại một thế hệ trẻ em kém phát triển cả về trí lực và thể lực th́ sẽ không thúc đẩy được sự phát triển của đất nước mà c̣n làm chậm tốc độ phát triển, do đó phải dành nguồn lực đầu tư thích đáng cho công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em
Trẻ mồ côi cũng như trẻ em nói chung đều có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Mọi trẻ em sinh ra đều phải được tiêm chủng theo quy định, được khám chữa bệnh khi ốm đau Cha mẹ, người chăm sóc thay thế chịu trách nhiệm trực tiếp đến việc chăm sóc sức khỏe trẻ Các bệnh viện, cơ quan liên quan chịu trách nhiệm trong việc khám chữa bệnh, thực hiện các quy định của nhà nước về chăm sóc sức khỏe trẻ em, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi người cùng chung tay bảo vệ sức khỏe trẻ em Nhà nước hỗ trợ để mọi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó có trẻ em mồ côi được chăm sóc sức khỏe y tế
1.4.4 Giáo dục cơ sở
Tại Điều 28, Công ước quốc tế về quyền trẻ em th́ các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em được học hành và đưa ra những yêu cầu cần phải thực hiện để mọi trẻ em được học tập và có điều kiện học tập tốt như: thi hành giáo dục tiểu
Trang 22học bắt buộc, sẵn có và miễn phí cho tất cả mọi người; tiến hành các biện pháp khuyến khích việc đi học đều đặn ở trường và giảm tỷ lệ bỏ học…
Điều 16, Luật BVCSGD trẻ em quy định: Trẻ em có quyền được học tập Trẻ
em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí
Đảng ta rất quan tâm đến việc học tập của trẻ em Theo lời Bác Hồ nói: “Non sông Việt Nam có trở nên vẽ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn công lao học tập của các cháu” Do đó, mọi trẻ em đều phải được học tập; được đi học đúng độ tuổi; được học mẫu giáo, tiểu học, trung học…; học nghề; khuyến khích đi học đều đặn, không bỏ học và được tạo mọi điều kiện để phát huy hết khả năng của ḿnh
Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn th́ ít nhất trẻ phải được học hết tiểu học Các em được hỗ trợ học phí, sách vở, quần áo, dụng cụ học tập và tạo mọi điều kiện thuận lợi để được đi học Ngoài ra, nhà nước c̣n có các chính sách khuyến khích, động viên và hỗ trợ cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đi học như: năm 1997, Thủ tướng chính phủ đă ban hành Quyết Định số 1121/1997/Qđ-TTg về học bổng và trợ cấp xă hội đối và học bổng đối với học sinh, sinh viên các trường đào tạo công lập Theo đó, trẻ em
là người dân tộc và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ cấp đi học hàng tháng từ 100.000 đến 140.000 đồng/tháng và các mức trợ cấp này không ngừng được tăng lên theo thời gian, đến hiện nay là 360.000 đồng/tháng (được thực hiện từ 1/1/2008 theo Quyết định số 152/2007/Qđ-TTg)
Trẻ em mồ côi cần được học tập như bao trẻ em khác Đối với các em, học tập không chỉ là một quyền mà đó c̣n là cơ hội cho tương lai Đi học đối với các em cũng không chỉ đơn thuần là tiếp nhận kiến thức mà đó là môi trường quan trọng nhất để trẻ ḥa nhập xă hội V́ vậy, người chăm sóc và các ban ngành liên quan cần tạo mọi điều kiện để trẻ mồ côi được đến trường
1.4.5 Vui chơi giải trí
Điều 31, Công ước quốc tế về quyền trẻ em: Các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em được nghỉ ngơi và tiêu khiển, được tham gia vui chơi và các hoạt động giải trí phù hợp với lứa tuổi, được tham gia các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật
Trang 23Các quốc gia phải khuyến khích và tạo cơ hội b́nh đẳng cho mọi trẻ em được thụ hưởng quyền này
Điều 17, Luật BVCSGD trẻ em quy định: Trẻ em có quyền được vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao phù hợp với lứa tuổi
Hoạt động vui chơi giải trí của trẻ em gồm có hoạt động vui chơi với bạn bè, cha
mẹ, đọc sách báo thiếu nhi, các chương tŕnh truyền h́nh dành cho trẻ em,… những cơ hội vui chơi là những cơ hội thực sự cho trẻ học hỏi Thông qua đồ chơi, tṛ chơi, trẻ sẽ học, thực hành và phát triển kỹ năng xă hội, khả năng nhận thức như: cách giải quyết vấn đề, phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ, cũng như khả năng giáo tiếp với mọi người xung
quanh… Trẻ em được vui chơi giải trí lành mạnh là điều kiện phát triển thể chất và tâm
lư b́nh thường, tránh được những hụt hẫng sau này Do đó, gia đ́nh, chính quyền, nhà nước và cộng đồng xă hội cần tạo mọi điều kiện để trẻ được vui chơi giải trí lành mạnh,
tổ chức nhiều hoạt động vui chơi cho mọi trẻ em
Trong điều kiện hoàn cảnh trẻ mồ côi, vai tṛ của người chăm sóc trong hoạt động vui chơi của trẻ là rất lớn Người chăm sóc là người thay thế vai tṛ của những người làm cha mẹ trong việc vui chơi với trẻ, đưa trẻ đi chơi hay tạo điều kiện để trẻ được tham gia vui chơi giải trí như đọc sách báo, xem truyền h́nh…phù hợp với trẻ Đó chính là sự quan tâm chăm sóc của người chăm sóc đối với sự phát triển của trẻ Mặc dù, tùy vào hoàn cảnh mà mỗi người chăm sóc sẽ có điều kiện vui chơi giải trí khác nhau cho trẻ nhưng mọi trẻ em mồ côi đều cần được vui chơi giải trí
1.4.6 Tham gia hoạt động xă hội
Khoản 2, điều 20, Luật BVCSGD trẻ em quy định: Trẻ em được tham gia hoạt động xă hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của ḿnh Khoản 2, điều 32 của luật này cũng quy đinh: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nhà trường có trách nhiệm tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động xă hội và sinh hoạt tập thể phù hợp với nhu cầu và lứa tuổi
Qua hoạt động xă hội, cha mẹ, người chăm sóc có thể thấy được khả năng giao tiếp và xu hướng cư xử của trẻ với mọi người xung quanh Trẻ được tham gia hoạt động xă hội phù hợp với nhu cầu và năng lực của ḿnh sẽ giúp trẻ năng động, linh hoạt, học hỏi kỹ năng sống, cách giải quyết vấn đề và giao tiếp với mọi người Gia
Trang 24đ́nh, cộng đồng xă hội cần khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động đoàn, đội trong nhà trường, địa phương và ngoài xă hội, tham gia nhiều các hoạt động xă hội lành mạnh và
bổ ích
Tham gia hoạt động xă hội đặc biệt có ư nghĩa đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nó giúp trẻ thấy ḿnh được ḥa nhập, được mọi người đồng cảm, chia sẽ và quan tâm Quan trọng nhất là trẻ không tự ti, xấu hổ về hoàn cảnh của ḿnh, biết hỏi xin giúp đỡ khi gặp khó khăn Người chăm sóc là người gần gũi với trẻ, hăy dành thời gian nói chuyện, quan tâm và khích lệ trẻ em mồ côi tham gia hoạt động xă hội Đó là cách mà người chăm sóc giúp trẻ thoát khỏi mặc cảm số phận, phát huy khả năng và năng lực của ḿnh thông qua các hoạt động thiết thực
1.5 Chính sách xă hội
Theo Ts Lê Chi Mai: Chính sách là chương tŕnh hành động do các nhà lănh đạo hay các nhà quản lư đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi và thẩm quyền của họ
Theo PGS.Ts Phạm Hữu Nghị: Chính sách xă hội là hệ thống các quan điểm, cơ chế, giải pháp, biện pháp mà Đảng cầm quyền và nhà nước đề ra, tổ chức thực hiện trong thực tiễn đời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết các vấn đề xă hội
Theo PGS.Ts Lê Trung Nguyệt: Chính sách xă hội là loại chính sách được thể chế bằng pháp luật của Nhà nước thành một hệ thống quan điểm, chủ trương phương hướng
và biện pháp để giải quyết các vấn đề xă hội nhất định, trước hết là những vấn đề xă hội liên quan đến công bằng xă hội và phát triển an sinh xă hội nhằm góp phần ổn định, phát triển, tiến bộ xă hội
Đại hội của Đảng lần thứ IV đă khẳng định: Chính sách xă hội nhằm phát huy hết khả năng của con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất
1.6 Hỗ trợ xă hội
Là hệ thống các biện pháp nhằm duy tŕ những điều kiện tối thiểu đủ để tồn tại cho các cá nhân, nhóm yếu thế gặp khó khăn trong cuộc sống
1.7 Công tác xă hội với trẻ em
1.7.1 Khái niệm công tác xă hội với trẻ em
Trang 25Theo từ điển công tác xă hội (1995): Đó là một ngành khoa học xă hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lư xă hội của ḿnh một cách có hiệu quả
và tạo ra những thay đổi trong xă hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người
Nó c̣n là một nghệ thuật, một khoa học, một nghề nhằm giúp người dân giải quyết vấn đề
từ cấp độ cá nhân, gia đ́nh, nhóm, cộng đồng
Công tác xă hội với trẻ em?
Công tác xă hội với trẻ em là một phần trong các lĩnh vực chuyên biệt của ngành công tác xă hội với mục tiêu đem lại sự hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, giúp bảo vệ trẻ em và góp phần vào nền an sinh trẻ em
Công tác xă hội với trẻ em gồm những nội dung sau:
- Các chức năng của công tác xă hội và các nhu cầu đặc biệt của trẻ em: trị liệu, hỗ trợ, phục hồi, bảo vệ liên quan đến trẻ em có nhu cầu đặc biệt
- Các lĩnh vực thực thi công tác xă hội với trẻ em: cộng đồng, trường học, bệnh viện, các cơ sở xă hội
- Các vai tṛ của nhân viên xă hội trong công tác xă hội với trẻ em
Công tác xă hội với trẻ em thực thi trong bối cảnh gia đ́nh và môi trường sống toàn diện của trẻ Việc thúc đẩy an sinh của trẻ được thực hiện bằng cách làm việc với gia đ́nh trẻ; chính quyền, cộng đồng phải giúp gia đ́nh thực hiện điều đó
Công tác xă hội với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn - trong đó có trẻ em mồ côi
là một loại hoạt động xă hội có đối tượng là trẻ em nhằm phát hiện và can thiệp để giúp các em vượt qua hoàn cảnh khó khăn của ḿnh Tuy nhiên, trong công tác xă hội với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, làm việc với gia đ́nh và các cơ quan liên quan đến chính sách, dịch vụ cho các em là nội dung quan trọng hỗ trợ cho việc giải quyết các vấn đề của trẻ em
1.7.2 Vai tṛ của công tác xă hội với trẻ em
Công tác xă hội với trẻ em là việc t́m hiểu vấn đề trẻ em đang gặp phải, t́m ra nguyên nhân và khả năng giải quyết vấn đề thông qua gia đ́nh, chính sách của nhà nước hay sự hỗ trợ của cộng đồng
Nhân viên xă hội phối hợp cùng với trẻ, với gia đ́nh trẻ và các cơ quan chức năng liên quan giúp trẻ giải quyết vấn đề Đồng thời hướng dẫn trẻ và gia đ́nh cách
Trang 26pḥng tránh vấn đề tái diễn hoặc vấn đề mới nảy sinh Vai tṛ này đ̣i hỏi nhân viên xă hội phải
sử dụng hết các kiến thức và kỹ năng về công tác xă hội với trẻ em, thúc đẩy sự tham gia tích cực của trẻ và gia đ́nh, huy động các nguồn lực bên ngoài hỗ trợ gia đ́nh và trẻ giải quyết vấn đề
Công tác xă hội với trẻ em không chỉ giải quyết vấn đề về trẻ em mà c̣n giúp trẻ ḥa nhập với cộng đồng trong quá tŕnh tồn tại và phát triển, qua đó góp phần thực hiện an sinh trẻ em, làm cho xă hội ngày càng phồn vinh
Nhân viên công tác xă hội là người hoạt động chuyên nghiệp trong các tổ chức xă hội, có tŕnh độ hiều biết, kỹ năng hoạt động công tác xă hội, có phương pháp giúp đỡ hiệu quả để đối tượng tự phát huy những khả năng vốn có của ḿnh để giải quyết vấn đề của chính họ
Nhân viên công tác xă hội với trẻ em là người được đào tạo chuyên môn về công tác xă hội với trẻ em, có hiểu biết chung về trẻ em như: khái niệm trẻ em, đặc điểm tâm sinh lư của trẻ em, nhu cầu và quyền lợi của trẻ em; biết được các đối tượng của công tác xă hội với trẻ em như: trẻ em mồ côi, trẻ lang thang, trẻ khuyết tật, trẻ em nghèo…nói chung là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; có kiến thức về các lĩnh vực tâm lư, xă hội, môi trường… tác động đến vấn đề của trẻ; có những kỹ năng đặc thù về công tác xă hội với trẻ em, ví dụ như: kỹ năng tạo mối quan hệ với trẻ, kỹ năng đặt câu hỏi khi phỏng vấn trẻ, kỹ năng quan sát và tạo t́nh huống quan sát để biết vấn
đề của trẻ, kỹ năng khơi gợi cảm xúc và sự chia sẽ của trẻ, tạo niềm tin cho trẻ…
Nhân viên công tác xă hội với trẻ em có các vai tṛ:
- Là cầu nối quan trọng giúp trẻ em tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ Nhân viên xă hội làm công tác xă hội với trẻ em là người đại diện cho quyền lợi của trẻ
em không được đáp ứng hoặc bị xâm hại trước gia đ́nh, cộng đồng, các cơ quan thực hiện công tác trẻ em
- Nhân viên xă hội đánh giá t́nh h́nh của đối tượng trẻ em đang nghi ngờ là bị lạm dụng hay sao nhăng, bao gồm cả chính bản thân các em và tiềm năng các mối quan hệ gia đ́nh
- Nhân viên công tác xă hội có thể can thiệp vào đời sống của gia đ́nh và cộng đồng, sử dụng các phương pháp như tham vấn, liệu pháp gia đ́nh và giáo dục về mặt
Trang 27xă hội để giúp họ hiểu được nhu cầu của con em ḿnh và nâng cao kỹ năng chăm sóc và tăng cường khả năng ứng phó
- Giúp đứa trẻ hiểu về sự mất mát của trẻ và tham gia vào các kế hoạch tương lai một cách tích cực Đó là cách để trẻ tự vượt qua khó khăn của ḿnh và vươn lên trong cuộc sống
- Vai tṛ tuyên truyền, chuyển thông tin đến với trẻ và gia đ́nh, cộng đồng; giúp trẻ có cái nh́n tích cực về hoàn cảnh của ḿnh; giúp gia đ́nh, cộng đồng thấy được trách nhiệm và nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu của trẻ
- Huy động các nguồn lực giúp đỡ gia đ́nh thực hiện vai tṛ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong khả năng giới hạn của họ
- Vai tṛ là người hỗ trợ giải quyết vấn đề của trẻ dựa vào nguồn lực của trẻ,
của gia đ́nh và sự hỗ trợ cơ quan nhà nước, của cộng đồng xă hội
Tất cả những vai tṛ này được nhân viên xă hội thực hiện với mọi trẻ em, trong đó chú ư đến vai tṛ đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn_trẻ em mồ côi
Tiểu kết chương 1: Trẻ em là hạnh phúc của gia đ́nh, là tương lai của đất nước Trẻ em cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của gia đ́nh, nhà trường và cả cộng đồng
xă hội nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho sự phát triển b́nh thường của trẻ Công tác xă hội với trẻ em là một một trong những lĩnh vực chuyên biệt của ngành công tác xă hội nhằm đem đến sự hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, giúp bảo vệ trẻ em và góp phần vào nền an sinh trẻ em Trẻ em mồ côi là một đối tượng của công tác xă hội với trẻ em Trẻ em mồ côi là trẻ em mất cha, mất mẹ hoặc mất cả cha và mẹ Các em đang sống trong các gia đ́nh thay thế tại cộng đồng với hoàn cảnh thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần Các em cần được đáp ứng các nhu cầu về dinh dưỡng, nhà ở, vệ sinh nước sạch, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, vui chơi giải trí, hoạt động xă hội và chăm sóc tinh thần bằng t́nh yêu thương của người chăm sóc để phát triển b́nh thường và ḥa nhập xă hội
Trang 28Chương 2: Kết quả nghiên cứu thực tiễn
2.1 Tổng quan về thành phố Quy Nhơn tỉnh B́nh Định
B́nh Định là một trong 5 tỉnh nằm trong địa bàn vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.025,6 km2 (chiếm 1,8% diện tích cả nước), dân số khoảng là 1,6 triệu người (1,9% dân số so với cả nước) Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngăi, Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía nam trực thuộc tỉnh B́nh Định, có chiều dài
bờ biển hơn 40 km, diện tích tự nhiên khoảng 284,28 km2, dân số khoảng 284 ngh́n người, được chia thành 21 đơn vị hành chính (16 phường và 5 xă) trong đó có 04 xă đảo, bán đảo và 1 xă miền núi, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xă hội của cả tỉnh B́nh Định
Trang 29Ảnh 1 Bản đồ thành phố Quy Nhơn
- Lịch sử h́nh thành:
Quy Nhơn được h́nh thành từ rất sớm: cách đây trên 400 năm đă xuất hiện phủ Quy Nhơn Mảnh đất này đă có lịch sử h́nh thành phát triển cùng với nền văn hoá Chămpa từ thế kỷ 11, dưới triều đại nhà Tây Sơn và cảng Thị Nại từ đầu thế kỷ 18
Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra Chỉ dụ thành lập thị xă Quy Nhơn, đô thị tỉnh
lỵ, là một trong những đô thị hoạt động thương mại với nước ngoài khá sầm uất lúc bây giờ
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ngày 3/9/1945 Quy Nhơn được tổ chức theo quy chế thị xă, lấy tên là thị xă Nguyễn Huệ Thời ḱ 1954 - 1975, Quy Nhơn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng ḥa Ngày 30/9/1970, Thủ tướng Việt Nam Cộng ḥa ra Sắc lệnh thành lập thị xă Quy Nhơn gồm 2 quận và 16 khu phố
Ngày 31-3-1975,Quân đội nhân dân Việt Nam đă tiến công vào Quy Nhơn, giải phóng tỉnh B́nh Định Vào tháng 2/1976 hai tỉnh B́nh Định và Quảng Ngăi hợp nhất thành Nghĩa B́nh lấy thị xă Quy Nhơn làm tỉnh lị
Ngày 3/7/1986 Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập thành phố Quy Nhơn từ thị xă Quy Nhơn Khi đó thành phố Quy Nhơn có 8 phường, 7 xă, với diện tích 212 km² và dân số 174.076 người
Năm 1989, tỉnh B́nh Định được tái lập, lấy thành phố Quy Nhơn làm tỉnh lị Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra nghị quyết 558 công nhận Quy Nhơn là đô thị loại 2 Đến tháng 1 năm 2010, theo nghị quyết 159 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Quy Nhơn được nâng cấp lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh B́nh Định
Quy Nhơn được Thủ tướng Chính phủ xác định là một trong ba trung tâm thương mại và du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ (cùng với Đà Nẵng và Nha Trang) Quy Nhơn đang từng bước chỉnh trang đô thị, xây dựng và nâng cấp để trở thành một trong những trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xă hội và du lịch, là đô thị lớn nằm trong chuỗi đô thị của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Trang 30- Vị trí địa lí:
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam của tỉnh B́nh Định, phía đông là biển Đông, phía tây giáp huyện Tuy Phước, phía bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía nam giáp thị xă Sông Cầu của tỉnh Phú Yên
- Các đơn vị hành chính:
Thành phố có 16 phường: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Lê Hồng Phong, Trần Phú,
Lư Thường Kiệt, Nguyễn Văn Cừ, Đống Đa, Thị Nại, Hải Cảng, Ngô Mây, Ghềnh Ráng, Quang Trung, Nhơn B́nh, Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu và 5 xă: Nhơn Lư, Nhơn Hội, Nhơn Châu, Nhơn Hải và Phước Mỹ
Về định hướng phát triển địa giới hành chính thành phố, dự kiến đến năm 2020 Quy Nhơn sẽ có 7 quận gồm 30 phường, xă với diện tích lên đến 335 km2 tương ứng với quy
mô dân số 500 ngh́n người
- Địa lí tự nhiên:
Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lí như núi rừng, g̣ đồi, đồng ruộng, ruộng muối, băi, đầm, hồ, sông ng̣i, biển, bán đảo và đảo Bờ biển Quy Nhơn dài 42 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quư, có giá trị kinh tế cao Các ngành kinh tế chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ cảng biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch Vừa mở thêm khu kinh tế Nhơn Hội
- Kinh tế:
Những năm gần đây, nét nổi bật nhất trong quá tŕnh phát triển thành phố Quy Nhơn là tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng Năm 2005, tỷ trọng cơ cấu kinh tế trong GDP như sau: nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ lần lượt đạt: 8,9% - 46,7% - 44,4% Đến cuối năm 2007, tỷ lệ này là: 7,2% - 49,5% - 43,3% Đến 2010, dự kiến sẽ là: 5% - 50% - 45% Theo định hướng phát triển thành đô thị loại I, đến năm 2013 tỷ lệ này là: 3% - 52%- 45% Như vậy trong tương lai, Quy Nhơn sẽ trở thành thành phố Công nghiệp và dịch vụ
Trang 31Mục tiêu phát triển của thành phố là xây dựng Quy Nhơn đô thị loại I trực thuộc tỉnh từ đây đến năm 2020 trở thành đô thị trực thuộc Trung ương trên hành lang Bắc-Nam và Đông-Tây; một trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao dịch quốc tế
có vai tṛ tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế-xă hội của khu vực
- Giáo dục - Đào tạo:
Hiện nay thành phố Quy Nhơn có hệ thống trường lớp được đầu tư xây dựng khá toàn diện cả về quy mô và chất lượng Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và hệ thống trường học phổ thông ngày càng được chú trọng
về cơ sở vật chất và chất lượng giáo dục, nhiều h́nh thức đào tạo giúp cho mọi người dân đều có cơ hội học tập
- Văn hóa - thể thao:
Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao luôn được ban lănh đạo thành phố quan tâm và chú trọng; ngoài những hoạt động văn hóa, thể dục thể thao cho các cán bộ, nhân viên của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong thành phố th́ thành phố thường xuyên tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, lễ hội để người dân tham gia rèn luyện sức khỏe, nâng cao đời sống tinh thần
- Du lịch:
Quy Nhơn được xem là một thành phố du lịch êm đềm và thơ mộng với nhiều danh lam thắng cảnh như: Tháp Đôi, chùa Long Khánh, chùa Sơn Long, Nhà thờ Nhọn, Ghềnh Ráng Tiên Sa, biển Quy Ḥa, Cù Lao Xanh, cầu Thị Nại,… Đặc biệt, Quy Nhơn có món bún chả cá rất nổi tiếng được nhiều du khách thưởng thức và khen ngợi
- Y tế:
Sức khỏe người dân được ngày càng được nâng cao Các cơ sở khám, chữa bệnh cho người dân của nhà nước hay của tư nhân đều được mở rộng và đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị chất lượng cao nhằm phục vụ tốt hơn công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân
- An ninh trật tự:
Quy Nhơn là thành phố có t́nh h́nh an ninh trật tự khá ổn định
Trang 322.2 Thực trạng chăm sóc trẻ em mồ côi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn
2.2.1 Trẻ em mồ côi tại thành phố Quy Nhơn
Theo thống kê của Sở LĐ-TB&XH tỉnh B́nh Định, trên toàn tỉnh có khoảng
9690 trẻ em mồ côi, trong đó có 1820 trẻ mồ côi cả cha và mẹ Tại thành phố Quy Nhơn, theo thống kê không đầy đủ của Pḥng LĐ-TB&XH thành phố Quy Nhơn th́ thành phố có khoảng 1000 trẻ em mồ côi thuộc nhiều dạng mồ côi khác nhau
Số trẻ mồ côi trên địa bàn thành phố Quy Nhơn khá lớn, trung b́nh mỗi phường
xă trong thành phố có khoảng 40 trẻ mồ côi thuộc nhiều dạng mồ côi khác nhau Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến t́nh trạng mồ côi của trẻ như trẻ bị bỏ rơi, trẻ mất cha hoặc mẹ hoặc mất cả cha và mẹ do tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp, bệnh tật, thiên tai Trẻ em mồ côi của thành phố hiện đang sống trong trung tâm bảo trợ xă hội hoặc sống cùng cha, mẹ hoặc gia đ́nh thay thế Xem xét trẻ mồ côi đang được nuôi dưỡng tại cộng đồng th́ hiện nay có khoảng 54 trẻ thuộc diện đối tượng bảo trợ xă hội Một vấn đề nảy sinh là tại sao số trẻ mồ côi của thành phố khá nhiều nhưng lại chỉ có khoảng 54 trẻ mồ côi là đối tượng bảo trợ xă hội? Bởi v́: Hầu hết trẻ mồ côi chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người c̣n lại là cha hoặc mẹ vẫn có đủ khả năng để chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ b́nh thường C̣n 54 trẻ mồ côi là đối tượng xă hội khi có
đủ các tiêu chí theo các luật định, cụ thể: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em:
“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”, theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 17/2/2010 bổ sung sửa đổi cho Nghị định 67/2007 ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng xă hội: “Trẻ em mồ côi là trẻ em mồ côi cha và mẹ, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người c̣n lại là cha hoặc mẹ mất tích theo quy định tại điều 78 của bộ Luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật” Số lượng trẻ mồ côi thuộc đối tượng bảo trợ xă hội này luôn dao động qua các năm v́ mỗi năm có thêm những trẻ mồ côi mới thuộc diện bảo trợ và có những trẻ mồ côi hết tuổi hỗ trợ
Trang 332.2.1.1 Tỷ lệ trẻ em mồ côi tại các phường
Theo khảo sát tại 11 phường thành phố Quy Nhơn, cho thấy:
Bảng 1 Tỷ lệ trẻ mồ côi tại các phường
Thành phố Quy Nhơn có 21 xă phường nhưng trong danh sách trẻ em mồ côi
do pḥng LĐ-TB&XH thành phố Quy Nhơn cung cấp th́ chỉ có khoảng 54 trẻ mồ côi tại 17 xă phường của thành phố Trả lời thắc mắc này, chị Nga - cán bộ pḥng LĐ-TB&XH thành phố Quy Nhơn cho biết: “Trẻ mồ côi th́ có nhiều nhưng xét trẻ mồ côi theo đúng nghị định 67/2007 th́ chỉ có 54 trẻ mồ côi đang sống ở 17 xă phường trong thành phố, c̣n các xă phường khác không có v́ trẻ em mồ côi đă hết tuổi được hưởng trợ cấp xă hội”
2.2.1.2 Giới tính trẻ mồ côi
Trang 3451.2 48.8
Nam
Nữ
Biểu đồ 1 Giới tính trẻ mồ côi
Trong tổng số 41 trẻ mồ côi được khảo sát th́ hầu như không có sự chênh lệch giới tính trẻ mồ côi nam và trẻ mồ côi nữ, có 20 trẻ em mồ côi là nam, chiếm 48.8% và có 21 trẻ em mồ côi là nữ, chiếm 51.2%
2.2.1.3 Hiện trạng mồ côi của trẻ
Trẻ mồ côi có 3 trường hợp: mồ côi cha, mồ côi mẹ, mồ côi cả cha và mẹ Hầu hết trẻ mồ côi là mồ côi cả cha và mẹ - có 21 trẻ, chiếm 60% tổng số trẻ mồ côi; có 9 trẻ chỉ mồ côi cha, chiếm 25,7% và chỉ có 5 trẻ mồ côi mẹ, chiếm 14,3% Theo anh Hùng - cán bộ pḥng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em “Trẻ em chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người c̣n lại là cha hoặc mẹ bỏ đi, mất tích hoặc không có khả năng nuôi dưỡng như tàn tật, bệnh tật…th́ được xét là mất nguồn nuôi dưỡng và được hưởng trợ cấp xă hội” [Bảng 6, Phụ lục IV]
Trang 35Biểu đồ 2 Hiện trạng mồ côi của trẻ phân theo giới tính
Qua biểu đồ, trẻ mồ côi nữ mồ côi cả cha và mẹ chiếm tỷ lệ cao trong tổng số trẻ mồ côi cả cha và mẹ và chiếm 85.7% trong tổng số trẻ mồ côi là nữ Trẻ chỉ mồ côi cha hoặc mẹ lại chiếm tỷ lệ cao ở trẻ mồ côi là nam, cụ thể: nam mồ côi cha là 40%, nam mồ côi mẹ là 20% Theo khảo sát thực tế, trẻ chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng được xét vào diện đối tượng bảo trợ xă hội, nguyên nhân chủ yếu là cha hoặc mẹ đă bỏ các
em đi mất tích, chỉ có một vài trẻ là có mẹ th́ mẹ lại bị tâm thần hoặc bệnh tật không thể lao động để nuôi các em Nhưng dù trẻ mồ côi cả cha và mẹ hay chỉ mồ côi cha hoặc mẹ th́ sự thiệt tḥi của trẻ là gần như nhau, trẻ vẫn không có được t́nh yêu thương trọn vẹn của cha mẹ
Ảnh 2 Năm chị em trẻ mồ côi Phạm Thị Minh Hương, phường Thị Nại
Trang 362.2.1.4 Độ tuổi trẻ mồ côi
Độ tuổi của trẻ mồ côi có sự chênh lệch theo giới tính, số lượng trẻ mồ côi dưới
6 tuổi là ít nhất, chỉ có 6 trẻ, chiếm 14.6%; có 15 trẻ trong độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi, chiếm 36,6% và có đến 20 trẻ ở độ tuổi từ 12 đến dưới 16 tuổi, chiếm 48.8% trong tổng
số 41 trẻ được khảo sát [Bảng 6.2, Phụ lục IV]
Biểu đồ 3 Độ tuổi trẻ mồ côi phân theo giới tính
Trong số 6 trẻ mồ côi dưới 6 tuổi th́ đă có 4 trẻ mồ côi là nữ, chiếm 19% tổng
số trẻ mồ côi là nữ Ngược lại, 15 trẻ mồ côi ở độ tuổi 6 đến 11 th́ lại có tới 11 trẻ mồ côi là nam, chiếm 55% tổng số trẻ mồ côi là nam Trẻ mồ côi là nữ ở độ tuổi 12 đến dưới 16 tuổi cũng chiếm đa số trong tổng số trẻ mồ côi là nữ - 62% và gần gấp đôi số lượng trẻ mồ côi là nam có cùng độ tuổi Với tỷ lệ trẻ mồ côi dưới 6 tuổi thấp sẽ giảm bớt khó khăn cho người chăm sóc v́ trẻ càng nhỏ việc chăm sóc càng khó khăn
Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ mồ côi ở độ tuổi 12 đến dưới 16 tuổi cao, chiếm đến một nữa tổng số trẻ mồ côi được khảo sát, điều này sẽ là áp lực cho người chăm sóc v́ đây
là độ tuổi dậy th́ Độ tuổi này, trẻ có rất nhiều biến đổi về thể chất và tâm lư nên rất cần đến sự quan tâm và hướng dẫn của cha mẹ Cha mẹ sẽ là những người chia sẽ và giúp trẻ thích ứng với những thay đổi của cơ thể, hướng dẫn trẻ cách tự chăm sóc và bảo vệ bản thân Trẻ mồ côi cũng đang ở tuổi dậy th́ nhưng các em lại thiếu đi sự quan tâm và hướng dẫn của cha mẹ Các em e ngại và dấu diếm sự thay đổi của cơ thể với những người chăm sóc và nếu người chăm sóc không thực sự quan tâm đến trẻ th́ trẻ dễ rơi vào trạng thái tâm lư trầm cảm hoặc có những hành động sai lầm
Trang 372.2.2 Công tác chăm sóc trẻ em mồ côi
2.2.2.1 Giới tính người chăm sóc
28.6
Nam
Nữ 71.4
Biểu đồ 4 Giới tính người chăm sóc
Trẻ mồ côi hiện đang được nuôi dưỡng trong các gia đ́nh ở các xă phường của thành phố Quy Nhơn Trong số 35 người chăm sóc được khảo sát th́ có đến 25 người chăm sóc là nữ, chiếm 71.4% và chỉ có 10 người chăm sóc là nam, chiếm 28.6% Tuy nhiên lại không thể kết luận: người chăm sóc trẻ mồ côi chủ yếu là nữ Anh Hưng -cán bộ phường Quang Trung nói: “Theo danh sách người chăm sóc trẻ mồ côi tại phường cũng chủ yếu là nữ nhưng chưa thể kết luận là người chăm sóc trẻ mồ côi đa
số là nữ Bởi v́, ví dụ như ông bà cùng nuôi cháu, cô d́ chú bác cùng nuôi cháu nhưng khi đứng tên trong danh sách nuôi trẻ th́ chỉ có bà, d́ hoặc cô đứng tên Mặt khác, khi
đi khảo sát, chúng ta chỉ gặp người chăm sóc là nữ, nam đi làm hoặc ngại không trả lời nên thống kê đa số là người chăm sóc là nữ là điều đương nhiên Tuy nhiên, tôi công nhận rằng giới nữ vẫn là người chăm sóc trẻ mồ côi nhiều hơn cả”
2.2.2.2 Độ tuổi người chăm sóc
Hầu hết người chăm sóc đều đang ở độ tuổi từ 30 đến trên 50 tuổi, cụ thể: 14 người chăm sóc ở độ tuổi từ 30 đến 50, chiếm 40% và 18 người chăm sóc ở độ tuổi trên 50, chiếm 51.4%; chỉ có 3 người chăm sóc dưới 30 tuổi, chiếm gần 9% [Bảng 3, Phụ lục IV]
Trang 3860 60
Biểu đồ 5 Độ tuổi người chăm sóc phân theo giới tính
Trong số 3 người chăm sóc dưới 30 tuổi th́ có 2 người chăm sóc là nam, chiếm 20% tổng số nam là người chăm sóc Người chăm sóc là nữ lại chiếm đa số ở độ tuổi
từ 30 đến 50 với 9 người, chiếm 36% và độ tuổi trên 50 là 15 người, chiếm 60% trong tổng số người chăm sóc là nữ Người chăm sóc là nam tập trung chủ yếu ở độ tuổi từ
30 đến 50 với 5 người, chiếm 50% tổng số nam là người chăm sóc Với mối quan hệ này, người chăm sóc là nam giới dưới 30 tuổi có đủ sức khỏe, khả năng lao động và thu nhập để chăm sóc trẻ Ngược lại, người chăm sóc chủ yếu là nữ lại ở độ tuổi khá cao, sức khỏe không tốt, khả năng lao động kém trong khi việc nuôi dưỡng trẻ lại không đơn giản, điều này sẽ gây khó khăn cho người chăm sóc trong việc nuôi dưỡng
Cao đẳng - Đại học Trê n đại học
Biểu đồ 6 Tŕnh độ học vấn của người chăm sóc Biểu đồ cho thấy: Đa số người chăm sóc có tŕnh độ thấp, chủ yếu là tŕnh độ tiểu học và trung học cơ sở Trong đó, hơn một nữa người chăm sóc tŕnh độ tiểu học
Trang 39-19 người, chiếm 54.3%, gần một phần ba người chăm sóc khác có tŕnh độ trung học
cơ sở - 11 người, chiếm 31.4% Trong số 35 người chăm sóc th́ có đến 2 người mù chữ, chiếm 5.7%, bằng với số người chăm sóc có tŕnh độ trung học phổ thông, chỉ có một người duy nhất tŕnh độ trung cấp, chiếm gần 3% và không có ai tŕnh độ cao đẳng
- đại học hay trên đại học Như vậy, với tỷ lệ mù chữ gần 6% so với các tŕnh độ trung học phổ thông, trung cấp và cao đẳng - đại học th́ tỷ lệ này là khá cao
Theo tương quan giữa tŕnh độ và giới tính của người chăm sóc th́ 2 người mù chữ đều là nữ, chiếm 8% tổng số nữ và 100% trong tổng số người chăm sóc mù chữ Người chăm sóc là nữ có tŕnh độ tiểu học là chủ yếu, chiếm 64% tổng số nữ là người chăm sóc Ngược lại, người chăm sóc là nam giới lại có tŕnh độ chủ yếu là trung học cơ sở, chiếm 60% tổng số nam giới là người chăm sóc Tŕnh độ học vấn cao nhất là tŕnh độ trung cấp
và thuộc về một người duy nhất là nữ [Bảng 4, phụ lục V]
Tru ng học phổ thông
Tiể u học 11.1 Mù chữ 0
Từ 30 đế n 50 tuổi Trê n 50 tuổi
Biểu đồ 7 Tŕnh độ học vấn của người chăm sóc phân theo độ tuổi
Người chăm sóc ở độ tuổi dưới 30 có tŕnh độ trung học cơ sở và trung học phổ thông Người chăm sóc ở độ tuổi trên 50 có tŕnh độ thấp, đa số là tŕnh độ tiểu học, chiếm 72.2%; tŕnh độ trung học cơ sở rất ít, chỉ 16.7% và có 2 người mù chữ Người chăm sóc ở độ tuổi trên 50 nói rằng: “Không có điều kiện học tập, trước đây quá khổ
ăn cũng c̣n thiếu nói ǵ đến học hành, cố gắng lắm cũng chỉ học hết lớp 2, lớp 3, nam giới cũng vậy, nhà nào có điều kiện hơn th́ nam giới học tới lớp 6, lớp 7” Trong khi
đó, người chăm sóc ở độ tuổi từ 30 đến 50 lại có sự phân chia nhiều tŕnh độ khác nhau nhưng đa số vẫn là tŕnh độ tiểu học và trung học cơ sở, cùng 42.9%; có một người
Trang 40duy nhất trong tổng số 35 người chăm sóc có tŕnh độ trung cấp cũng ở độ tuổi này, chiếm 7.1%
Tŕnh độ học vấn thấp sẽ kéo theo đó hàng loạt vấn đề khó khăn cho người chăm sóc như việc làm, thu nhập, kiến thức chăm sóc trẻ… và đáng lưu ư là hiện trạng tuổi cao, tŕnh độ thấp lại rơi chủ yếu vào người chăm sóc là nữ, đó sẽ là một thách thức cho người chăm sóc trong quá tŕnh chăm sóc trẻ
2.2.2.4 Nghề nghiệp và thu nhập của người chăm sóc
Trong số 35 người chăm sóc chỉ có một người làm công nhân với tỷ lệ 2.9%, cùng tỷ lệ này cũng có một người làm cán bộ viên chức; có 20% người chăm sóc làm nghề buôn bán và có tới 74.2% người chăm sóc làm các nghề khác nhau trong xă hội [Bảng 8, Phụ lục IV]
Bảng 2 Nghề nghiệp của người chăm sóc phân theo giới tính
Giới tínhNghề nghiệp
Công nhânCán bộ viên chức Buôn bánNghề khác Tổng
y tế tại phường Người đi làm thuê nói rằng: “Tŕnh độ không có, cũng chẳng biết nghề ngỗng ǵ, xin việc th́ không ai nhận, sức khỏe không có th́ làm sao làm việc nặng được nên ở nhà ai thuê ǵ làm nấy” C̣n người làm nghề buôn bán th́ nói: “Buôn bán cho nó có việc, hơn nữa cũng có đồng ra đồng vào chứ biết làm ǵ bây giờ” và nhiều người chăm sóc khác cũng đang rất khổ sở với công việc không ổn định của ḿnh