“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” không chỉ là lời của những bài hát nổi tiếng mà còn là một thực tế tất yếu. Trẻ em là nguồn hạnh phúc, niềm hy vọng của người cha người mẹ và là tương lai của dân tộc. Một dân tộc để vững bước đi lên ở cả hiện tại cũng như tương lai thì thế hệ trẻ giữ một vai trò cực kỳ quan trọng bởi những mầm non đó đang hàng ngày tiếp bước truyền thống tốt đẹp của cha anh đi trước đồng thời cũng không ngừng học tập sáng tạo tu dưỡng rèn luyện về mọi mặt để trở thành những con người vừa có đức vừa có tài nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh như mong muốn của Bác Hồ kính yêu hàng mong ước cũng như mong muốn của hàng triệu người khác. Trẻ em sinh ra trong thế giới này đều có quyền mà Công ước Quốc tế đã ghi nhận và cũng được pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Thực hiên các quyền của trẻ cũng chính là trách nhiệm nghĩa vụ của Đảng nhà nước của mỗi gia đình và của toàn xã hội.Trong công cuộc CNHHĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thành tựu đạt được, Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề xã hội như: sự phân hoá giàu nghèo, vấn đề việc làm các tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng..... làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân nhất là đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó đối tượng đầu tiên chịu tác động là trẻ em mồ côi.Trẻ mồ côi là một hiện tượng xã hội, tồn tại ở tất cả quốc gia trên thế giới, là nhóm trẻ đặc thù của công tác xã hội, là nhóm trẻ dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi; trẻ mồ côi ít có cơ hội để phát triển và hoàn thiện nhân cách cũng như hoà nhập với cộng đồng. Hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chăm sóc và có nhiều chủ trương, chính sách dành cho trẻ em mồ côi. Đặc biệt, nhiều mô hình chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi đã hình thành để giúp các em có một gia đình thay thế như: Các trung tâm bảo trợ xã hội, mái ấm, nhà tình thương… Việc chuẩn bị cho trẻ mồ côi bước vào cuộc sống, thực chất là quá trình giáo dục đào tạo để hình thành kỹ năng sống và phát triển nhân cách toàn diện. Có rất nhiều vấn đề cần giáo dục để giúp trẻ mồ côi sau này trưởng thành, tự lập một cách tự tin, trong đó giáo dục kỹ năng hòa nhập cho trẻ mồ côi không nơi nương tựa là điều hết sức quan trọng, vì trước khi trẻ được đưa đến cơ sở trung tâm bảo trợ xã hội thì thường một thời gian dài trước đó trẻ thiếu sự quan tâm dạy bảo của người thân nên đã hình thành ở trẻ một số đặc điểm tâm lý mang tính tiêu cực như mặc cảm, nhút nhát, giao tiếp kém, thiếu niềm tin vào bản thân và người khác, không nhanh nhạy, quyết đoán…, trẻ hay nói tục, đánh nhau, và đó cũng là điểm yếu trong việc hình thành những phẩm chất đạo đức. Nhiều trường hợp các em có biểu hiện phớt lờ với đời sống, thiếu ý thức làm chủ cuộc đời mình và dễ bị bạn bè xấu lôi kéo. Vì vậy, cần giáo dục kỹ năng hòa nhập cho các em, giúp các em có tư tưởng ổn định, tâm lý phát triển lành mạnh, có niềm tin vào bản thân mình. Trung tâm Bảo Trợ xã hội Tỉnh Vĩnh Phúc là đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Sở lao động thương binh Tỉnh, có mục đích thành lập là tiếp nhận các đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, quản lý chăm sóc nuôi dưỡng, tổ chức giáo dục phục hồi chức năng theo chính sách quy định hiện hành, tổ chức hướng nghiệp, hướng dẫn đối tượng tăng gia sản xuất, tạo điều kiện học nghề, tìm việc làm và giúp đối tượng tái hoà nhập xã hội. Trung tâm Bảo trợ xã hội được phép đề nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xin giao nhận trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em ngoài giá thú đang nuôi trong hoặc nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam. Hiện nay, trẻ em mồ côi đang sống tại Trung tâm là 72 trẻ. Ở đây, trẻ mồ côi được chăm sóc được học tập, vui chơi giải trí. Tuy nhiên, vấn đề giáo dục kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ mồ côi ở Trung tâm vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Qua thực tế tiếp xúc trực tiếp thấy rằng, trẻ mồ côi sống tại đây vẫn còn một số biểu hiện như mặc cảm, nhút nhát, giao tiếp kém, thiếu niềm tin vào bản thân và người khác. Vấn đề dặt ra cho Trung tâm lúc này là cần phải làm tốt công tác giáo dục kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ mồ côi nhằm giúp cho các em có được cuộc sống tốt hơn sau khi ra khỏi Trung tâm hòa nhập với cộng đồng. Với lý do như vậy mà tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi sống trong Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”.Tôi mong rằng đề tài này sẽ mang đến cái nhìn chính xác hơn về khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ mồ côi ở TTBTXH tỉnh VP. Đồng thời cũng qua bài luận văn này này tôi mạnh dạn đưa ra góc nhìn mới về trẻ em mồ côi dưới con mắt của nhân viên công tác xã hội, cũng như vận dụng những kỹ năng, phương pháp của CTXH khi làm việc với đối tượng này.
Trang 1PHẦN I - MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” không chỉ là lời của những bài hát nổitiếng mà còn là một thực tế tất yếu Trẻ em là nguồn hạnh phúc, niềm hy vọng củangười cha người mẹ và là tương lai của dân tộc Một dân tộc để vững bước đi lên ở
cả hiện tại cũng như tương lai thì thế hệ trẻ giữ một vai trò cực kỳ quan trọng bởinhững mầm non đó đang hàng ngày tiếp bước truyền thống tốt đẹp của cha anh đitrước đồng thời cũng không ngừng học tập sáng tạo tu dưỡng rèn luyện về mọi mặt
để trở thành những con người vừa có đức vừa có tài nhằm xây dựng đất nước giàumạnh như mong muốn của Bác Hồ kính yêu hàng mong ước cũng như mong muốncủa hàng triệu người khác Trẻ em sinh ra trong thế giới này đều có quyền mà Côngước Quốc tế đã ghi nhận và cũng được pháp luật của mỗi quốc gia quy định Thựchiên các quyền của trẻ cũng chính là trách nhiệm nghĩa vụ của Đảng nhà nước củamỗi gia đình và của toàn xã hội
Trong công cuộc CNH-HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh nhữngthành tựu đạt được, Việt Nam đang phải đối mặt với những vấn đề xã hội như: sựphân hoá giàu nghèo, vấn đề việc làm các tệ nạn xã hội đang có chiều hướng giatăng làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân nhất là đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong đó đối tượng đầu tiên chịu tác động là trẻ
em mồ côi
Trẻ mồ côi là một hiện tượng xã hội, tồn tại ở tất cả quốc gia trên thế giới, lànhóm trẻ đặc thù của công tác xã hội, là nhóm trẻ dễ bị tổn thương và chịu nhiềuthiệt thòi; trẻ mồ côi ít có cơ hội để phát triển và hoàn thiện nhân cách cũng nhưhoà nhập với cộng đồng Hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, chăm sóc và
có nhiều chủ trương, chính sách dành cho trẻ em mồ côi Đặc biệt, nhiều mô hìnhchăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi đã hình thành để giúp các em có một gia đình thaythế như: Các trung tâm bảo trợ xã hội, mái ấm, nhà tình thương… Việc chuẩn bị
Trang 2cho trẻ mồ côi bước vào cuộc sống, thực chất là quá trình giáo dục đào tạo để hìnhthành kỹ năng sống và phát triển nhân cách toàn diện Có rất nhiều vấn đề cần giáodục để giúp trẻ mồ côi sau này trưởng thành, tự lập một cách tự tin, trong đó giáodục kỹ năng hòa nhập cho trẻ mồ côi không nơi nương tựa là điều hết sức quantrọng, vì trước khi trẻ được đưa đến cơ sở trung tâm bảo trợ xã hội thì thường mộtthời gian dài trước đó trẻ thiếu sự quan tâm dạy bảo của người thân nên đã hìnhthành ở trẻ một số đặc điểm tâm lý mang tính tiêu cực như mặc cảm, nhút nhát, giaotiếp kém, thiếu niềm tin vào bản thân và người khác, không nhanh nhạy, quyếtđoán…, trẻ hay nói tục, đánh nhau, và đó cũng là điểm yếu trong việc hình thànhnhững phẩm chất đạo đức Nhiều trường hợp các em có biểu hiện phớt lờ với đờisống, thiếu ý thức làm chủ cuộc đời mình và dễ bị bạn bè xấu lôi kéo Vì vậy, cầngiáo dục kỹ năng hòa nhập cho các em, giúp các em có tư tưởng ổn định, tâm lýphát triển lành mạnh, có niềm tin vào bản thân mình
Trung tâm Bảo Trợ xã hội Tỉnh Vĩnh Phúc là đơn vị hành chính sự nghiệpthuộc Sở lao động thương binh Tỉnh, có mục đích thành lập là tiếp nhận các đốitượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, quản lý chăm sóc nuôi dưỡng, tổ chứcgiáo dục phục hồi chức năng theo chính sách quy định hiện hành, tổ chức hướngnghiệp, hướng dẫn đối tượng tăng gia sản xuất, tạo điều kiện học nghề, tìm việc làm
và giúp đối tượng tái hoà nhập xã hội Trung tâm Bảo trợ xã hội được phép đề nghịvới các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xin giao nhận trẻ mồ côi, trẻ em bị bỏrơi, trẻ em ngoài giá thú đang nuôi trong hoặc nước ngoài theo quy định của phápluật Việt Nam Hiện nay, trẻ em mồ côi đang sống tại Trung tâm là 72 trẻ Ở đây,trẻ mồ côi được chăm sóc được học tập, vui chơi giải trí Tuy nhiên, vấn đề giáodục kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ mồ côi ở Trung tâm vẫn chưa mang lạihiệu quả như mong muốn Qua thực tế tiếp xúc trực tiếp thấy rằng, trẻ mồ côi sốngtại đây vẫn còn một số biểu hiện như mặc cảm, nhút nhát, giao tiếp kém, thiếu niềmtin vào bản thân và người khác Vấn đề dặt ra cho Trung tâm lúc này là cần phảilàm tốt công tác giáo dục kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ mồ côi nhằm giúp
Trang 3cho các em có được cuộc sống tốt hơn sau khi ra khỏi Trung tâm hòa nhập với cộng
đồng Với lý do như vậy mà tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi sống trong Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”.
Tôi mong rằng đề tài này sẽ mang đến cái nhìn chính xác hơn về khả nănghòa nhập cộng đồng của trẻ mồ côi ở TTBTXH tỉnh VP Đồng thời cũng qua bàiluận văn này này tôi mạnh dạn đưa ra góc nhìn mới về trẻ em mồ côi dưới con mắtcủa nhân viên công tác xã hội, cũng như vận dụng những kỹ năng, phương pháp củaCTXH khi làm việc với đối tượng này
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng là mối quan tâmlớn của Đảng, nhà nước và nhân dân ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội vàchiến lược phát triển con người Mối quan tâm này được thể hiện Việt Nam là nướcđầu tiên ở Châu á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ
em vào ngày 20/02/1990, Nhà nước đã công bố luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em, đã thông qua và đưa Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 1991 -
2000 và Chương trình hành động vì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn giaiđoạn 1999 – 2002; Quyết định số 65/ 2005/ QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt để án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏrơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học và trẻ em bị nhiễmHIV/ AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005 - 2010”
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em là tráchnhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội và công dân Trẻ em không phân biệt gái,trai, con trong giá thú con ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con chung con riêng,không phân biệt tôn giáo, thành phần địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặcngười nuôi dưỡng đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyềntheo quy định của pháp luật
Trang 4Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội thông qua ngày12/08/1991 có hiệu lực từ ngày 16/08/1991 Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em gồm 26 điều quy định cụ thể quyền, bổn phận của trẻ em và trách nhiệm củagia đình, nhà nước và xã hội phải đảm bảo thực hiện các quyền đó
Đối với trẻ em mồ côi Luật pháp nước ta nhấn mạnh:
+ Tránh mọi hình thức phân biệt đối xử với trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi đượcđăng ký khai sinh
+ Giúp đỡ để các em có điều kiện sống trong tình thương của gia đình, đượcchăm sóc và bảo vệ
Về đề tài về trẻ em luôn là đề tài được rất nhiều người quan tâm, ở lĩnh vựcnào cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu, bài viết về trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng Trong phạm vi các công trình nghiêncứu, bài viết có liên quan đến đề tài, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trìnhnghiên cứu, bài viết tiêu biểu:
“Khảo sát trẻ em mồ côi trên địa bàn Hà Nội” và “Mô hình chăm sóc trẻ em
mồ côi ở Hà Nội” của nguyên Giám đốc làng trẻ SOS Hà Nội Nguyễn Thị Thanh là
hai công trình cấp thành phố đề cập đến trẻ em mồ côi và những mô hình tương ứngchăm sóc đối tượng này một cách phù hợp Công trình đã góp phần nêu cái nhìntổng quan tình hình trẻ em mồ côi và công tác chăm sóc trẻ em mồ côi trên địa bànThành phố
“Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng – Những cơ sở xã hội và thách thức” là bài viết đồng tác giả Nguyễn Hồng Thái và
Phạm Đỗ Nhật Thắng đã tìm hiểu sự chuyển đổi cách tiếp cận trẻ em truyền thốngsang tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em hiện nay Theo đó, cách tiếp cận truyền thống
là tiếp cận dưới góc độ trẻ em là đối tượng cần được hỗ trợ và bảo vệ từ trên xuốngmang nặng tính từ thiện, bao cấp, còn tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em nhìn nhận trẻ
em là chủ thể của quyền, có quyền được chăm sóc, bảo vệ Trước bối cảnh số lượng
Trang 5trẻ em đặc biệt cần được bảo vệ ngày càng gia tăng trong khi các hình thức chămsóc tập trung đã và đang vượt quá nhu cầu đầu vào thì hình thức chăm sóc, bảo vệtrẻ em dựa vào cộng đồng ngày càng trở lên phù hợp hơn Tác giả đã rất cố gắngkhi chỉ ra những bất cập, trở ngại trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt dựa vào cộng đồng song vẫn chưa chú trọng đến các giải pháp để khắcphục những hạn chế, bất cập đó.
“Tìm hiểu ảnh hưởng của quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau và với trẻ tới sức khỏe của trẻ em trong các gia đình Việt Nam hiện nay”
của tác giả Mai Thị Kim Thanh đăng trên Kỉ yếu Hội nghị Khoa học nữ Đại họcQuốc gia Hà Nội lần thứ 6 năm 2001 Tác giả đã nhận định mức độ tâm sự củanhững người thân trong gia đình đối với trẻ em được thể hiện như sau: tâm sự giữa
bố, mẹ với con chiếm 46,2%, ông bà với cháu chiếm 24,8%, mẹ với con chiếm24,7%, ít tâm sự chiếm 8,0%, anh chị em với nhau chiếm 5,8%, bố với con chiếm4,6% và không tâm sự chiếm 4,5% Tỷ lệ tâm sự giữa bố, mẹ, ông, bà với con cáicàng thấp thì càng ảnh hưởng đến sức khỏe con cái, đặc biệt là sức khỏe tinh thần
Dưới góc độ tâm lý, tác giả Văn Thị Kim Cúc qua công trình “Tổn thương tâm
lý của trẻ 10-15 tuổi do ly hôn của bố mẹ” đã tập trung nghiên cứu các tổn thương
tâm lý của trẻ thơ trong các gia đình do bố mẹ ly hôn Các tổn thương này, theo tácgiả, là “các vết bầm của tâm hồn” và dù chỉ là những vết bầm, vết xước nhưng cùngvới những hoàn cảnh, những ký ức trẻ có trước và sau ly hôn sẽ có những tác độngtiêu cực suốt theo chiều dài cuộc đời của đứa trẻ Các tác động tiêu cực này thể hiệntrong nhận thức, hành vi, năng lực ứng xử, xu hướng hành động, mối quan hệ củatrẻ với người khác và với xã hội Các tác động này không hiện nguyên hình dướidạng hậu quả “hai năm rõ mười” của ly hôn, mà ngụy trang dưới các mặc cảm, cáchình thức tự vệ gây ra nhiều hạn chế trong cuộc đời và sự nghiệp của trẻ
“Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị Ngọc
Trang 6Phương nhận định tại Anh, Mĩ, Úc, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản,Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơquan nhà nước Tại các quốc gia này, cán bộ xã hội vẫn thực hiện chức năng thamvấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép với đánh giá các nhu cầu phúc lợi xã hội vàquản lý việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội đa dạng khác nhau Dịch vụ xã hội cũng
có thể bao gồm việc xem xét các nhu cầu phát triển của trẻ em, gia đình, cộng đồng
và lồng ghép với sự tham gia của cộng đồng
Công trình “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ
sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Dương
Hải Yến đã tìm hiểu và phân tích các quy định hiện hành về chăm sóc và bảo vệ trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt trên cơ sở nghiên cứu bản chất của quyền trẻ em trongpháp luật dân sự, để từ đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoànthiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt trong thực tiễn
“Một số giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” là bài viết
của tác giả Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Dân số, Giađình và Trẻ em, Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam Tác giả đã nêu bậtcác loại trẻ em thuộc đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt và tình hình trẻ em có hoàncảnh đặc biệt ở Việt Nam Dưới góc nhìn về vai trò và hiệu quả hoạt động bảo vệ,chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt của các hội, hiệp hội và cơ sở ngoài cônglập, TS Thanh đã đưa ra các khuyến nghị với cơ quan có thẩm quyền, tạo điều kiệnthuận lợi về cơ chế, chính sách hỗ trợ các tổ chức này hoạt động có hiệu quả hơn
Ở góc tiếp cận khác về trẻ em, tác giả Nguyễn Xuân Lập, Phó cục trưởng Cục
Bảo trợ xã hội qua bài viết “Một số giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” đã tổng quan tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và những chính
sách của Nhà nước vận dụng trong những năm qua Để thực hiện nhiệm vụ quản lýnhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, thúc đẩy thực hiện mục tiêu vì trẻ em, đảm
Trang 7bảo các quyền cơ bản cho trẻ em theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và luậtpháp Việt Nam, tác giả đã đưa ra bảy giải pháp về cần tập trung thực hiện trong thờigian tới Bảy giải pháp mà tác giả đưa ra đã bao trùm hầu hết những vấn đề tồn tại
cơ bản trong công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam
“Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với các lớp học linh hoạt” là bài viết của tác
giả Trần Thị Minh Đức giới thiệu mô hình lớp học linh hoạt phù hợp với các em cóhoàn cảnh đặc biệt không thể đến trường học văn hóa hay học nghề dẫn tới chậmphát triển về trí tuệ và có nguy cơ cao lây nhiễm các tệ nạn xã hội Các em tronglớp học linh hoạt thuộc những gia đình nghèo hoặc có bố mẹ nghiện hút, buôn bán
ma tuý, đánh bạc, bị tù v.v hoặc các em là trẻ mồ côi được ở trong các Mái ấm,Nhà tình thương của cộng động Tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu
là quan sát, quan sát có sự tham gia, phỏng vấn trẻ, giáo viên, tư vấn viên và cha mẹtrẻ đề giới thiệu một hình thức giáo dục không chính quy, không mang tính hàn lâm
sư phạm cho đối tượng học Vấn đề tác giả đặt ra là triển vọng của các lớp học linhhoạt ở Hà Nội sẽ ra sao nếu các nguồn tài trợ không còn để duy trì để trả lương chogiáo viên, miễn phí sách vở, khám chữa bệnh, thậm chí cả bữa ăn cho các em Đây
là một trong những khó khăn lớn khi triển khai mô hình lớp học linh hoạt trên diệnrộng ở Hà Nội
Từ những công trình nghiên cứu, những đánh giá, bài viết kể trên có thể nhậnthấy, các tác giả đã tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giá một số nội dung nhưquyền trẻ em, môi trường bảo vệ trẻ, sự hiểu biết về quyền trẻ em, mô hình chămsóc, bảo vệ trẻ em (chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng, nuôi con nuôi, lớp học linhhoạt…) Tiếp cận dưới góc độ quyền trẻ em, pháp luật dân sự được nhiều tác giả đềcập tới nhằm làm nổi bật vị trí, vai trò của trẻ em trong sự nghiệp CNH – HĐH đấtnước Các phương pháp chủ yếu được vận dụng trong quá trình nghiên cứu là điềutra, khảo sát, nghiên cứu có sự tham gia
Trang 8Quá tình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài tác giảnhận thấy trẻ em mồ côi là nhóm đối tượng đã được nhiều nhà khoa học, nhànghiên cứu, chuyên gia quan tâm tìm hiểu, phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độkhác nhau Tuy vậy, tiếp cận từ góc nhìn công tác xã hội với việc nâng cao kỹ năng
hòa nhập cộng đồng cho trẻ mồ côi ở Trung tâm bảo trợ xã hội thì hầu như chưa có
công trình nghiên cứu chính thức nào đề cập tới Đây là một trong những lý dochính để tác giả thực hiện nghiên cứu về vấn đề này
Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu và những trang bị kiến thức về công tác
xã hội, tác giả đã chọn cho mình đề tài“ Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi sống trong Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay”.
3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thiết thực, giúp cho trẻ mồ côi ở Trungtâm nâng cao kỹ năng hòa nhập, giúp các em có tư tưởng ổn định, tâm lý phát triểnlành mạnh, có niềm tin vào bản thân mình trước khi bước ra môi trường xã hội ởbên ngoài
- Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức cũng như phát huy vai tròcủa cán bộ, nhân viên trung tâm trong việc hỗ trợ trẻ mồ côi tham gia vào quá trìnhhọc tập, rèn luyện nhằm nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng trong bối cảnh xãhội có nhiều biến động như hiên nay
Trang 9- Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo trong việc
đề ra các chính sách hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồcôi sống ở trong các trung tâm bảo trợ nói riêng Ngoài ra, kết quả nghiên cứu làmột hình thức quảng bá, khẳng định vai trò và tầm quan trọng của ngành công tác
xã hội đối với tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và cả nước nói chung
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
”Nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi ở Trung tâm bảotrợ xã hội ”
4.2 Khách thể nghiên cứu
Những trẻ em mồ côi sống ở Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi khảo sát: Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm
2010 đến nay
- Phạm vi nghiên cứu: Theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [25].Tuy nhiên, trong
khuôn khổ của luận văn thạc sỹ này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu việc nâng cao
kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em môi côi trong độ tuổi từ 8 đến 16 tuổi Bởi
vì theo tác giả, ở tuổi này trẻ mồ côi thường hình thành một số đặc điểm tâm lýmang tính tiêu cực như mặc cảm, nhút nhát, giao tiếp kém, thiếu niềm tin vào bảnthân và người khác, không nhanh nhạy, quyết đoán…., trẻ hay nói tục, đánh nhau,thiếu ý thức làm chủ cuộc đời mình và dể bị bạn bè xấu lôi kéo Vì vậy, đây là lứatuổi cần được trang bị kỹ năng sống giúp các em có tư tưởng ổn định, tâm lý pháttriển lành mạnh, có niềm tin vào bản thân mình
6 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 10- Điều kiện và môi trường sống tại Trung tâm có đáp ứng được nhu cầu thamgia hòa nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi hay không?
- Khả năng hòa nhập trong cộng đồng của trẻ em đã và đang sống trongTrung tâm ra sao? Đâu là nhân tố chính khiến trẻ gặp khó khăn khi hòa nhập cộngđồng?
- Cần làm gì và làm như thế nào để nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồngcho trẻ em mồ côi đang sống tại Trung tâm?
7 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
7.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào tìm hiểu thực trạng và phân tích những yếu tố tác động đếnkhả năng hoà nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi sống tại Trung tâm, từ đó đưa ranhững biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em
mồ côi ở Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc Bên cạnh đó, đề tài giúp chonhân viên Trung tâm hiểu rõ hơn vai trò của mình trong việc nâng cao khả năng hòanhập cộng đồng cho trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng ở Trung tâm
7.2 Nhiệm vụ
- Thao tác hóa một số khái niệm và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liênquan đến vấn đề nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng khả năng hoà nhập cộng đồng của trẻ em mồ côi ở
Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
- Phân tích những yếu tố tác động đến khả năng hoà nhập cộng đồng của các
em, đồng thời chỉ ra những vai trò cơ bản của nhân viên Trung tâm trong việc nângcao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho các em
- Xây dựng kế hoạch và đưa ra những biện pháp hỗ trợ nhằm nâng cao khảnăng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi ở Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh VĩnhPhúc
8 Giả thiết nghiên cứu
- Điều kiện và môi trường sống tại Trung tâm đã có rất nhiều hoạt động thiết
Trang 11thực nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồcôi.
- Trong quá trình sinh hoạt và học tập, trẻ mồ côi gặp rất nhiều khó khăn khigiao tiếp với mọi người Sự mặc cảm, tự ti về bản thân, gia đình là nhân tố chínhkhiến trẻ gặp khó khăn khi hòa nhập cộng đồng
- Xóa bỏ sự mặc cảm, tự ti về bản thân, gia đình, tạo điều kiện cho trẻ mồ côi
được mở rộng mối quan hệ với bên ngoài Đồng thời nâng cao hoạt động giáo dụclao động và hướng nghiệp là giải pháp tốt nhất nhằm nâng cao kỹ năng hòa nhậpcộng đồng cho trẻ mồ côi đang sống tại Trung tâm
9 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp luận
Đề tài lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác - Lênin làm phương pháp luận nghiên cứu Theo chủ nghĩa duy vật lịch
sử tất cả mọi hiện tượng nảy sinh trong xã hội đều có quá trình phát sinh, phát triển,
sự phát triển của nó trong các thời kỳ khác nhau, dưới các hình thức kinh tế - xã hộikhác nhau sẽ có sự biến đổi khác nhau Việc sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử làđặt các hiện tượng xã hội, các quá trình xã hội trong hoàn cảnh lịch sử của đời sống
xã hội Dựa trên quan điểm đó có thể thấy nghiên cứu về trẻ em mồ côi cần phải đặt
nó trong điều kịên cụ thể về tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá của TTBTXHTVPcũng như trong điều kịên chung của cả nước Trong mỗi điều kiện này thì vấn đề vềtrẻ em mồ côi sẽ có những biến đổi khác với các hình thức khác nhau sao cho phùhợp với điều kiện cụ thể của địa phương, phù hợp vơi các nhu cầu cũng như nhữngkhó khăn của trẻ em mồ côi tại TT
Trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội sẽ có các yếu tố khác nhau tácđộng đến khả năng hoà nhập của các em Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự kiện xã hội này trong mối liên hệ vớicác sự kiện xã hội khác Không được tách riêng việc thực hiện quyền trẻ em ra khỏi
sự vận hành của đời sống xã hội, mà phải đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với
Trang 12kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và đặc biệt với các vấn đề xã hội khác như: Lạmdụng trẻ em, xâm hại trẻ em, ngược đãi trẻ em…
Tiếp cận theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin tức là trong bối cảnh thực tếtại TTBTXH phải xem xét việc thực hiện công tác hoà nhập cho trẻ em mồ côitrong tình hình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, sự biến đổi của nền kinh tế -văn hoá - xã hội đã có những tác động như thế nào trong quá trình hoà nhập của trẻ
em mồ côi
9.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Các phương pháp được sử dụng trong đề tài nghiên cứu bao gồm:
9.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
+ Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
- Đối tượng: Trẻ em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi có độtuổi từ 8 đến 16 tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh VP
- Dung lượng mẫu: Tất cả trẻ em hiện đang sống tại Trung tâm (29 em)
- Cơ cấu mẫu:
+ Giới tính
NamNữ + Cấp học:
Tiểu họcTHCSTHPT + Thời gian sống trong TT
Từ 1 đến 3 năm
Từ 4 đến 6 năm
Từ 7 đến 9 năm
Trên 9 năm
Trang 13- Nội dung bảng hỏi dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như: Thựctrạng hòa nhập; những khó khăn, trở ngại trong quá trình hòa nhập cộng đồng; cầnlàm gì để các em ở đây được hòa nhập tốt hơn với môi trường xã hội ở ngoài Trung
tâm
+ Phương pháp phỏng vấn sâu
- Đối tượng: Cán bộ quản lý, nhân viên chăm sóc và trẻ em sống tại Trungtâm bảo trợ
- Dung lượng mẫu: 10 mẫu
- Cơ cấu mẫu: Cán bộ quản lý (02), nhân viên chăm sóc (03), đối tượng (05)
- Nội dung phỏng vấn sâu dựa trên mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như:Thực trạng hòa nhập; những khó khăn, trở ngại trong quá trình hòa nhập cộng đồng;cần làm gì để các em ở đây được hòa nhập tốt hơn với môi trường xã hội ở ngoài
Trung tâm
9.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu sử dụng tư liệu từ các công trình sau:
- Các báo cáo: Báo cáo tóm tắt phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam 2010,báo cáo hoạt động của một số mô hình bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị
bỏ rơi: trung tâm, làng trẻ, mái ấm tình thương, gia đình thay thế…, báo cáo hoạt độngchăm sóc, bảo vệ trẻ em ở Vĩnh Phúc, báo cáo tình hình hoạt động chăm sóc, nuôidưỡng trẻ em của Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh VP
- Các kế hoạch: Kế hoạch số 912/KH-UBND ngày 29/3/2011 triển khai thựchiện Nghị quyết 34/2010/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về Chương trình hành động
vì trẻ em Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015, đồng thời xây dựng kế hoạch triển khaithực hiện các mục tiêu chương trình hành động vì trẻ em năm 2011; Kế hoạch số4806/KH-UBND ngày 15/11/2011 về thực hiện xây dựng xã, phường đạt tiêu chuẩnphù hợp với trẻ em tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2015 Tổ chức rà soát, đánh giákết quả thực hiện theo tiêu chuẩn mới ban hành kèm theo Quyết định số
Trang 1437/2010/QĐ-TTg ngày 22/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chuẩn xã,phường phù hợp với trẻ em
- Văn bản pháp lý: Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1990, LuậtBảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004, Luật Nuôi con nuôi năm
2010, Luật Phòng chống mua bán người, Nghị định 67/2007/NĐ-CP và Nghị định13/2010/NĐ-CP bổ sung Nghị định 67/2007/NĐ/CP
- Chương trình: Chương trình mục tiêu quốc gia bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt khó khăn 2005-2010, chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-
2010, chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015
- Các công trình nghiên cứu, sách, báo, đánh giá, bài viết về trẻ em, trẻ em cóhoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, mô hìnhchăm sóc, bảo vệ trẻ em mồ côi của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giảtrong cả nước
9.2.3 Phương pháp quan sát
- Quan sát thể trạng và các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử giữa trẻ với trẻ,giữa trẻ với cán bộ, nhân viên và với khách đến Trung tâm để biết được mức độ hòanhập của các em đến đâu
- Quan sát cơ sở vật chất, các trang thiết bị, dụng cụ, học tập, làm việc để biếtđược cách thức tổ chức, bố trí, sắp xếp của Trung tâm và các em
- Quan sát thái độ, hành vi của cán bộ, nhân viên đối với các em trong các hoạtđộng hằng ngày
9.2.4 Phương pháp công tác xã hội nhóm
Trong khuôn khổ đề tài, tác giả đã thực hành phương pháp công tác xã hộinhóm để tổ chức các hoạt động ngoại khóa như chơi trò chơi, thảo luận nhómnhằm mục đích quan sát và đánh giá mức độ hòa nhập của các em, những trợngại mà các em gặp phải khi tham gia
10 Đóng góp của luận văn
Trang 15Trình bày một cách có hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hòa nhậpcộng đồng của trẻ em tại TT Đồng thời đưa ra được một số biện pháp can thiệpnhằm nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng cho trẻ em mồ côi tại TT.
Trên bình diện nghiên cứu và những kết quả đã đạt được, tôi hy vọng luậnvăn sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo cho ngành công tác
xã hội nói chung và đề tài về trẻ em mồ côi nói riêng
PHẦN II – NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cở sở lý luận
1.1.1 Một số lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
a Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 - 1970) được xem như một trongnhững người tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn Năm 1943, ông đãphát triển một trong các học thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộngrãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đó là lý thuyết về thang bậcnhu cầu của con người Trong lý thuyết này ông sắp xếp các nhu cầu của conngười theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó các nhu cầu ở mức độ cao hơnmuốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước
Trong bài luận văn này tác giả đã vận dụng 5 nấc thang nhu cầu cơ bản củacon người theo giai đoạn đầu của lý thuyết Maslow
+ Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu này được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầusinh lý (physiological need), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn,uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái, đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Maslow cho rằng,những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bảnnày được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã mộtngười hành động khi nhu cầu cơ bản này chưa đạt được Ông bà ta cũng sớm nhận
Trang 16ra điều này khi cho rằng "có thực mới vực được đạo", cần phải được ăn uống, đápứng nhu cầu cơ bản để có thể hoạt động, vươn tới nhu cầu cao hơn Chúng ta có thểkiểm chứng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấycác nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu
+ Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khi con người đã đượcđáp ứng các nhu cầu cơ bản, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu đượckích hoạt Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiển trong cả thể chất lẫn tinh thần.Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm,các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặpthú dữ Trẻ con thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòicha mẹ, mong muốn được vỗ về Nhu cầu này được thể hiện qua các mong muốn về
sự ổn định trong cuộc sống, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở
+ Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầumong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó, hoặc nhu cầu về tình cảm,tình thương Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kếtbạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đichơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm
+ Nhu cầu về được quý trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng,
vì nó thể hiện hai cấp độ:
Một là: Nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả
của bản thân
Hai là: Nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có
lòng tự trọng, sự tin tưởng vào khả năng của bản thân
Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến một đứa trẻ học tập tích cựchơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn
+ Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
Maslow mô tả nhu cầu này như sau: nhu cầu của một cá nhân mong muốnđược là chính mình, được làm những cái mà mình " sinh ra để làm" Nói một cách
Trang 17đơn giản, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để
tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu tác giả tìm hiểunhu cầu của các em tại Trung tâm BTXH theo năm bậc thang về nhu cầu Từ đó xemxét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ởmức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tựcác bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow
Mặt khác, trên cơ sở lý thuyết nhu cầu, tác giả còn tìm hiểu xem Trung tâm đãđáp ứng những nhu cầu nào để công tác nâng cao kỹ năng hòa nhập cộng đồng chotrẻ mồ côi tại Trung tâm ngày một tốt hơn
Tóm lại, lý thuyết hệ thống, lý thuyết cấu trúc – chức năng, lý thuyết vai trò, lýthuyết nhu cầu là nền tảng lý luận cho phép nhóm nghiên cứu phân tích, lý giải mốiquan hệ giữa tương hỗ các thành phần, bộ phận của Trung tâm; chức năng của mỗithành phần, bộ phận ấy tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự hài hòa của cấu trúctổng thể; và mỗi thành phần, bộ phận đều có những vai trò cụ thể khi tham gia vàocác mối quan hệ trong cùng hệ thống hoặc với hệ thống khác xung quanh Ngoài ra,việc thể hiện nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu của trẻ cũng như của cán bộ, nhânviên trong Trung tâm cũng là một trong những vấn đề cần đặc biệt quan tâm bởihơn ai hết các em đã và đang chịu thiệt thòi hơn về cuộc sống, tình yêu thương sovới những trẻ em bình thường khác
b Lý thuyết hệ thống và sinh thái
Theo Barker “ hệ thống là một sự kết hợp các yếu tố có tính trao đổi, tương táclẫn nhau và những ranh giới dễ nhận biết Hệ thống có thể mang tính vật chất, cơhọc, sinh động và xã hội hoặc kết hợp những yếu tố này”
Hệ thống là một tập hợp các phần tử khác nhau, giữa chúng có mối liên hệ vàtác động qua lại theo một quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể, có khả năng
Trang 18thực hiện những chức năng cụ thể Mỗi hệ thống bất kỳ nào đều có các thành tố:hành vi, cấu trúc, văn hóa và diễn biến của hệ thống
Lý thuyết sinh thái được hiểu là những liên hệ, tác động, ảnh hưởng giữa cácthành tố cùng tồn tại trong một môi trường sống Những mối liên hệ này có tính haichiều và phụ thuộc vào nhau
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả hệthống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cánhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó
Lý thuyết hệ thống sinh thái cho rằng, một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu hệthống nhỏ trong nó đồng thời nó cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thốngrộng lớn hơn Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tốcàng đa dạng Giữa các thành tố có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự thayđổi, biến động của mỗi thành tố trong một hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đếncác thành tố khác và ngược lại Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống
và thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất
Cả lý thuyết hệ thống và lý thuyết sinh thái đã hỗ trợ cho nghề Công tác xãhội như cung cấp cho người thực hành một khuôn khổ để phân tích sự tương tácluôn thay đổi, không ổn định của con người trong môi trường của họ Hai côngtrình lý thuyết này tạo thuận lợi cho quá tình liên kết những lý thuyết đã có từ trướcnhư lý thuyết tâm lý-động học và lý thuyết hành vi lại với nhau, giúp cho nhữngngười thực hành hình dung quá trình của con người như một tổng thể Sau khi sựliên kết đã thiết lập những người thực hành nghề nghiệp lựa chọn ra những kháiniệm mà họ tán thành và sử dụng trong công việc theo một phong cách có tổ chức
và kỷ luật
Với trẻ em, lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, cácchính sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng lên trẻ em Lý thuyết hệthống sinh thái cho phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trẻ em và hệ thốngsinh thái – môi trường xã hội Mỗi cá nhân trẻ đều có một môi trường sống và một
Trang 19hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tácđộng, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh
Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, tác giả nhận thấy TTBTXH tỉnh VĩnhPhúc là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: nhân sự (cán bộ lãnh đạo,nhân viên chăm sóc, trẻ em), đối tác, chính sách, cơ sở vật chất, tài chính… Mặtkhác, Trung tâm cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng lớn hơn là
Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
Dưới cách nhìn nhận TTBTXH là một hệ thống và cũng là một tiểu hệ thống,khi tiến hành những can thiệp cụ thể tại Trung tâm tác giả không thực hiện nhữnghoạt động riêng lẻ, rời rạc đối với từng bộ phận mà thực hiện đồng bộ các bộ phậntrong Trung tâm Chẳng hạn, việc tiến hành thu thập thông tin, chúng tôi đã thựchiện các nhóm đối tượng khác nhau: nhóm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa,nhóm cán bộ làm công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em tại Trung tâm, nhóm giađình của các trẻ Do vậy, kết quả thu thập thông tin phản ánh thông tin khách quan
về thực trạng hòa nhập cộng đồng của các em tại tại Trung tâm
Bên cạnh đó, tìm hiểu thực trạng hòa nhập cộng đồng của trẻ em trên cơ sở lýthuyết hệ thống sinh thái, tác giả đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa trẻ với các cánhân, tổ chức, nhóm cộng đồng trong một hệ thống sinh thái, ở đó, các mối quan hệ
có sự tác động qua lại với nhau Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, taphải nghiên cứu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệphoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đếntoàn bộ hệ thống đó Lý thuyết hệ thống sinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến cácphương thức thực hiện trong công tác xã hội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổchức và phát triển cộng đồng
c Lý thuyết vai trò
Vai trò là khái niệm nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay
vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng trong xã hội ấy Mỗi một
Trang 20vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và nhóm đối tác đó có một hệ kỳ vọngriêng của họ.
Vai trò không chỉ đơn giản liên quan đến những hành vi được xã hội quan sát
mà trong thực tế còn bao gồm xã hội quan niệm những hành vi đó phải được thựchiện ra sao Những hành vi được thực hiện đúng với mong muốn của xã hội được gọi
là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó
Trong xã hội, mỗi người không phải chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảmnhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic,hài hòa sẽ dân đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòihỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò mà còn thểhiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xãhội hay không
Có hai khuynh hướng lý thuyết chính liên quan đến vai trò Khuynh hướng thứnhất cho rằng quá trình xã hội hóa chính là quá trình xã hội áp đặt các khuôn mẫuvai trò cho các thành viên trong đó Khuynh hướng thứ hai giải thích việc học
“đóng vai” ngoài đời giống như học theo một thứ kịch bản gợi ý, một thứ kịch bản
mở Loại kịch bản này buộc các “diễn viên” phải linh hoạt với hoàn cảnh thực tếhoặc tạo ra những chi tiết thích hợp để biết rằng mình cần phải làm gì, làm thế nào,làm cho ai
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, tác giả nhận thấy mỗi một bộphận tại Trung tâm bao gồm: cán bộ quản lý trung tâm, cán bộ làm công tác chămsóc, nuôi dưỡng, bản thân trẻ có những vai trò nhất định Mỗi một vai trò thể hiệnqua những công việc, nhiệm vụ cụ thể
Đối với cán bộ quản lý, vai trò thể hiện ở việc tổ chức, quản lý các hoạt độngcủa Trung tâm qua công việc như lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ, tổ chức thựchiện, giám sát, đánh giá các cán bộ làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em và các
em đang sinh sống tại Trung tâm Ngoài ra, cán bộ quản lý còn thực hiện báo cáo
Trang 21tình hình hoạt động của Trung tâm với Sở lao động thương binh và xã hội TỉnhVĩnh Phúc
Đối với cán bộ làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ, các vai trò của một nhânviên như vai trò là người “mẹ”, người chị quán xuyến, hướng dẫn, đốc thúc các emthực hiện chế độ, nội quy của Trung tâm; là người “thầy” dạy dỗ, giáo dục tư tưởngđạo đức cho các em, giúp các em có tư tưởng ổn định, tâm lý phát triển lành mạnh,
có niềm tin vào bản thân mình; là người “bạn” luôn quan tâm, chia sẻ, động viêncác em Bên cạnh đó còn có vai trò của một nhân viên Công tác xã hội khi thực hiệncác công việc hỗ trợ xác định nhân thân, kết nối tạo việc làm, giám hộ/biện hộ, chocác em khi cần thiết Đối với các em, các em lớn có vai trò hướng dẫn, chỉ bảo, giúp
đỡ học hành các em nhỏ hoặc những em mới đến Các em nhỏ có vai trò bảo ban khicác bạn vi phạm nội quy
1.1.2 Một số khái niệm công cụ trong nghiên cứu.
a Khái niệm Cộng đồng
Trong các tài liệu khoa học xã hội thuật ngữ cộng đồng được hiểu theo batuyến nghĩa:
- Cộng đồng được nhìn nhận với tư cách là một chỉnh thể của các mối quan
hệ xã hội (quan hệ huyết thống, quan hệ thân tộc, quan hệ tình cảm cộng đồng, quan
hệ láng giềng, quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, con người với môi trường )
- Cộng đồng được coi là một kiểu loại riêng biệt của quan hệ xã hội vớinhững tổ chức nhất định trên cơ sở tình cảm, tinh thần và ý thức cộng đồng
- Cộng đồng được hiểu như là một địa vực hay một vùng đất, trên đó có sựđịnh cư của một nhóm người, có sự chia sẻ giá trị văn hóa quần chúng
Với tư cách là một khái niệm được nhiều ngành khoa học xã hội &nhân vănnghiên cứu nên có rất nhiều khái niệm về cộng đồng
Theo J Fichter ông cho rằng có thể áp dụng rộng rãi cuộc sống tập thể cộngđồng gồm 4 yếu tố:
Trang 22+ Là những mối tương quan mật thiết đối với người khác, tương quan mặt đốimặt, thẳng thắn cởi mở và chân tình.
+ Có sự liên hệ về mặt tình cảm, cảm xúc một khi mà nó thực hiện các nhiệm
vụ hay công tác tập thể
+ Có sự hiến dâng hay một sự dấn thân để theo đuổi một giá trị xã hội
+ Yếu tố đoàn kết với những người khác trong cộng đồng và cho đến ngàynay đoàn kết vẫn là một mục đích đi lên của cộng đồng
Từ các quan điểm trên cho thấy cộng đồng là một khái niệm rộng tuy nhiêntrong CTXH cộng đồng cần được hiểu là một hình thức tổ chức với những đặctrưng cơ bản sau:
1- Tỷ lệ dân cư2- Tính đồng nhất và tính phụ thuộc3- ý thức chách nhiệm
4- Tính cộng đồng5- Tính đặc trưng
Đề tài này tập chung trong phạm vi một Làng trẻ Do đó khái niệm cộngđồng được giới hạn ở nghĩa cộng đồng trên một địa bàn dân cư, nó bao gồm cácquan hệ xã hội, các tính chất xã hội như quan hệ xóm giềng, tình cảm thôn xóm, cơ
sở đoàn thanh niên, hội phụ nữ
b Khái niệm trẻ em
Hiện nay, khái niệm “Trẻ em” không đồng nhất tại nhiều quốc gia trên thế
giới Ở Australia và Anh, trẻ em được quy định là dưới 18 Tại Singapore, trẻ em làngười dưới 14 tuổi Trong khi đó ở Hồng Kông, trẻ em là nhóm người dưới 16 tuổi
Sở dĩ có sự khác nhau này là do có sự khác biệt về điều kiện lịch sử, kinh tế, vănhóa, xã hội Một lập luận khác để giải thích về sự khác biệt đó là khả năng của nềnkinh tế của mỗi quốc gia, bởi vì việc quy định về độ tuổi trẻ em bao giờ gắn liền với
Trang 23trách nhiệm đảm bảo các quyền của trẻ em, ngoài ra còn đảm bảo quyền công dân,quyền con người nói chung ở mỗi quốc gia
Theo Điều 1, Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố
năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”
[19]
Tại Việt Nam, theo Điều 11, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì
“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [25].
Trong phạm vi của đề tài, tác giả vận dụng khái niệm Trẻ em theo Điều 11,Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Trên cơ sở đó, nhóm trẻ trong phạm vi nghiêncứu là những em mồ côi từ 8 đến 16 tuổi tại TTBTXH tỉnh Vĩnh Phúc
c Khái niệm trẻ em mồ côi
Hiện nay khái niệm trẻ em mồ côi vẫn còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
Đã có nhiều ngành, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đưa ra những cách hiểu khácnhau về khái niệm này Nhưng phổ biến nhất là hai khái niệm:
- Trẻ em mồ côi thực tế: Là một đứa trẻ chia ly vĩnh viễn với một người thân
(cha hoặc mẹ) do cha hoặc mẹ bị chết, hoặc cả cha và mẹ đều bị chết gọi là trẻ mồcôi thực tế
- Trẻ em mồ côi xã hội: Là đứa trẻ bị đột ngột chia ly vĩnh viễn hoặc tạm
thời trong một thời gian dài với cha, mẹ dù họ vẫn còn sống
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004 thì trẻ em
mồ côi được hiểu là những trẻ em có hoàn cảnh như sau [28]:
- Mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không cònngười thân thích ruột thịt (ông, bà nội, ngoại; bố, mẹ nuôi hợp pháp; anh, chị) đểnương tựa
- Mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo quyđịnh của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn