Lý do chọn đề tài Qua quá trình giảng dạy trong nhà trường Tiểu học, nhất là một số năm gần đây, tôi thường xuyên được nhà trường phân công nhiệm vụ chủnhiệm và giảng dạy lớp 4, tôi thấ
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Qua quá trình giảng dạy trong nhà trường Tiểu học, nhất là một
số năm gần đây, tôi thường xuyên được nhà trường phân công nhiệm vụ chủnhiệm và giảng dạy lớp 4, tôi thấy vốn kiến thức về Từ và Câu của các emcòn hạn chế Các em nắm bắt khái niệm còn mơ hồ , dẫn đến nhiều sai sót,nhầm lẫn trong quá trình làm bài Với suy nghĩ: Làm thế nào để các em dễdàng phát hiện ra kiến thức mà không bị nhầm lẫn? Tôi đã quyết định đi sâu
tìm hiểu và xây dựng đề tài: Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4.
II Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là tìm phương pháp tổ chức thíchhợp nhất trong quá trình dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu Từ đó vận dụnglinh hoạt vào hướng dẫn rèn kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu chohọc sinh một cách hiệu quả nhất
III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và thời gian thực hiện đề tài
1 Đối tượng: 32em học sinh lớp 4D.
2 Phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu tình hình học phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng việt lớp 4 Thực hành xác định phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu
Đề xuất một số biện pháp thực hiện trong khi dạy học sinh dạng bài này
3 Thời gian thực hiện đề tài:
Năm học 2011- 2012
IV Phương pháp nghiên cứu.
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu)
2 Phương pháp phân tích tổng hợp
3 Phương pháp điều tra,thống kê
4 Phương pháp thực nghiệm, kiểm chứng
Trang 25 Phương pháp đàm thoại, gợi mở.
6 Phương pháp thực hành
7 Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm
V Tiến trình nghiên cứu.
1 Trong quá trình giảng dạy, tôi tiếp xúc, gần gũi với học sinh và hiểu tìnhtrạng giải quyết làm các bài tập Luyện từ và câu học sinh trong lớp
2 Đề ra phương hướng để nâng cao chất lượng làm các bài tập Luyện từ vàcâu có hiệu quả hơn
3 Dạy thực nghiệm, áp dụng trên lớp đối chứng, phân tích các kết quả bằng
Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội
Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lênchút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôidưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắc dântộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội đối với nhữngthành viên của mình
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như mộtđiều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường Cả thế giới đang mở trướcmắt các em Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ đẳngnhất Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn học.Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thểmang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữcho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các môn họckhác Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa luyện tập nhuần nhuyễn trong quá trìnhgiải quyết các dạng bài tập trong môn Luyện từ và câu lớp 4
Trang 3II Cơ sở thực tiễn.
Việc giải quyết các dạng bài tập Luyện từ và câu lớp 4 có hiệu quả đặt ra chocác Giáo viên Tiểu học là một vấn đề không phải đơn giản Qua thực tế dạy tôi đãgặp phải không ít những khó khăn Bởi đây là chương trình thay sách lớp 4 mới.Cùng tồn tại với nó là từ ngữ và ngữ pháp của chương trình cải cách đều đảmnhiệm cung cấp vốn từ cho học sinh, việc hướng dẫn làm các bài tập Luyện từ vàcâu mang tính chất máy móc, không mở rộng cho học sinh nắm sâu kiến thức củabài Về phía học sinh, làm các bài tập chỉ biết làm mà không hiểu tại sao làm nhưvậy, học sinh không có hứng thú trong việc giải quyết kiến thức Do vậy việc tổchức cho học sinh trong các giờ giải quyết các bài tập Luyện từ và câu là vấn đềtrăn trở cho các giáo viên và ngay bản thân tôi
Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên, thông qua việc học tập,giảng dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn vềphương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4,nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vận dụng tốtnhất trong quá trình giảng dạy của mình Vì điều kiện, khả năng nghiên cứu có hạn
tôi xin trình bày kết quả nghiên cứu của mình thông qua đề tài “Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4”.
III Thực trạng dạy – học các dạng bài tập “Luyện từ và câu”.
1 Đối với chương trình sách giáo khoa.
Số tiết Luyện từ và câu của sách giáo khoa lớp 4 gồm 2 tiết/tuần Sau mỗitiết hình thành kiến thức là một số các bài tập củng cố bài Mà việc xác địnhphương pháp tổ chức cho một tiết dạy như vậy là hết sức cần thiết Việc xác địnhyêu cầu của bài và hướng giải quyết còn mang tính thụ động, chưa phát huy triệt đểvốn kiến thức khi luyện tập, thực hành
2 Đối với giáo viên.
- Phân môn “Luyện từ và câu” là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫn
học sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm
lý giáo viên ngại bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn
Trang 4- Giáo viên một số ít không chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu đểkhai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vào đáp
án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này
- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sáchgiáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh
- Một số giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn từcho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt
- Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mớiphương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này Đồng thời là tiền đềtrong việc phát triển bồi dưỡng những em có năng khiếu Nhưng kết quả giảng dạy
và hiệu quả còn bộc lộ không ít những hạn chế
3 Đối với học sinh.
Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân
môn “Luyện từ và câu” nên chưa dành thời gian thích đáng để học môn này.
Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó dẫn đếnviệc nhận diện phân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầmlẫn nhiều
Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏsót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài
Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôi chảy,chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài không đạt yêucầu Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ rayếu kém thiếu chắc chắn
Do vậy ngay khi dạy tới phần từ ghép, từ láy Tôi đã tiến hành khảo sát họcsinh lớp 4D bằng bài tập sau:
Đề bài: Cho đoạn văn sau:
Biển luôn luôn thay đổi tùy theo màu sắc mây trời Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề Trời ầm ầm dông gió, biển đục ngầu giận dữ Như một con người biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.
a Tìm từ ghép trong các từ in nghiêng ở đoạn văn trên, rồi xếp vào hainhóm: từ ghép có nghĩa tổng hợp và từ ghép có nghĩa phân loại
Trang 5b.Tìm từ láy trong các từ in nghiêng ở đoạn văn trên, rồi xếp vào ba nhóm:
từ láy âm đầu; từ láy vần; từ láy cả âm và vần
Qua khảo sát ở lớp tôi có 32 học sinh, kết quả khảo sát như sau:
Qua giảng dạy tôi nhận thấy kết quả chưa cao là do nguyên nhân cả hai phía:Người dạy và người học Do vậy tôi rất cần phải trau dồi kiến thức tìm ra phươngpháp đổi mới trong hướng dẫn giảng dạy để khắc phục thực trạng trên, để kết quảdạy học được nâng lên, thu hút sự chú ý của học sinh vào hoạt động học Đặc biệt
là gây hứng thú cho các em khi học phân môn Luyện từ và câu
4 Một số dạng bài tập “Luyện từ và câu” điển hình.
+ Phân tích cấu tạo của tiếng
+ Tìm các từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ nói về chủ đề
+ Giải nghĩa từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ
+ Tìm lời khuyên trong các câu tục ngữ, ca dao
+ Đặt dấu chấm phẩy vào đoạn văn cho phù hợp
+ Tìm từ đơn, từ phức và đặt câu với từ tìm được
+ Tìm từ ghép, từ láy và đặt câu với từ đó
+ Phân biệt động từ, danh từ, tính từ trong đoạn văn
+ Phân biệt các kiểu câu chia theo mục đích nói, tác dụng của nó
+ Viết thêm trạng ngữ cho câu
+ Xác định bộ phận chính ( CN, VN ) , bộ phận phụ (TN ) trong câu…
IV Biện pháp nghiên cứu.
Với đặc trưng của môn “Luyện từ và câu” cùng các mâu thuẫn giữa yêu cầu
của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy của giáo viên,việc học của học sinh trường tôi, đồng thời để củng cố nâng cao kiến thức, kỹ năng
Trang 6làm các bài tập “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp 4 Tôi đã nghiên cứu và đi sâu
vào một số vấn đề sau:
1 Nắm vững kiến thức cần ghi nhớ ở mỗi bài.
2 Nghiên cứu kĩ nội dung cần giảng dạy.
3 Tổ chức giảng dạy theo trình độ học tập của học sinh
4 Cung cấp một số mẹo để học sinh dễ nhớ bài.
5 Thiết kế trò chơi để củng cố bài và gây hứng thú học tập cho học sinh.
6 Tổ chức đánh giá kết quả học tập của học sinh theo đúng chuẩn KTKN của môn học
Còn đối với học sinh, trước hết tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau:
1 Đọc thật kỹ đề bài.
2 Nắm chắc yêu cầu của đề bài Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho
và yếu tố phải tìm.
3 Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt từng yêu cầu của đề bài.
4 Kiểm tra đánh giá.
Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đưa ra từng bước hướng dẫn các phương pháp
rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài tập “Luyện từ và câu” Muốn học sinh làm bài
một cách có hiệu quả, trước hết các em phải nắm chắc kiến thức, vì đó là bướcquan trọng cho cả giáo viên và học sinh
Mỗi một dạng bài tập cụ thể, bài tập riêng đều có một hình thức tổ chứcriêng Có thể theo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân Song song với cáchình thức đó là phương pháp hình thành giải quyết vấn đề cho học sinh
Muốn làm được việc đó trước tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội
dung các chủ điểm mà phân môn “ Luyện từ và câu” cần cung cấp.
- Qua các bài mở rộng vốn từ học sinh được:
Cung cấp thêm các từ ngữ mới theo chủ điểm hoặc nghĩa, các yếu tố hánviệt; rèn luyện khả năng huy động vốn từ theo chủ điểm ; rèn luyện sử dụng từ, sửdụng thành ngữ tục ngữ
- Thông qua các bài tập cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từ học sinh được:Tìm hiểu về cấu tạo của tiếng, nhận diện được hiện tượng bắt đầu từ vấn đề trongthơ, tìm hiểu phương thức tạo từ mới để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Học sinhcần tìm hiểu được:
Trang 7Có 2 cách để tạo từ phức:
1 Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép
2 Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giốngnhau đó là từ láy
- Thông qua các bài tập về từ loại: Học sinh được cung cấp kiến thức sơ giản
về danh từ, động từ, tính từ gắn bó với các tình huống sử dụng Cần lưu ý:
+ Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho
+ Thêm vào các từ rất, quá, lắm vào trước hoặc sau tính từ
+ Tạo ra phép so sánh
Thông qua các bài tập về câu, học sinh được rèn luyện năng lực sử dụng các kiểucâu tuỳ theo nhu cầu, lĩnh vực giao tiếp
Ví dụ: Nhiều khi ta có thể sử dụng câu hỏi để thực hiện:
1 Thái độ khen, chê
2 Sự khẳng định, phủ định
3 Yêu cầu, mong muốn
- Đặc biệt rất chú trọng đến việc dạy học sinh biết giữ phép lịch sự tronggiao tiếp Cụ thể: Khi hỏi chuyện người khác cần giữ phép lịch sự
1 Khi yêu cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự
2 Muốn cho lời yêu cầu, được đề nghị lịch sự, cần có cách xưng hô cho phùhợp và thêm vào trước hoặc sau động từ: Làm ơn, giùm, giúp
3 Có thể dùng câu hỏi, kiểu câu nếu yêu cầu đề nghị
V Phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập “Luyện từ và câu”.
Nội dung kiến thức và kĩ năng cần học trong phân môn “Luyện từ và câu”
được rèn luyện thông qua nhiều bài tập với các tình huống giao tiếp tự nhiên
1 Đối với dạng bài tập mở rộng vốn từ.
Trang 8Ví dụ: Tìm các từ ngữ:
- Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại
- Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương
- Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại
- Trái nghĩa với với đùm bọc hoặc giúp đỡ
Ngoài việc sử dụng hướng mẫu trong sách giáo khoa Giáo viên yêu cầu học
sinh làm việc theo nhóm (4 nhóm) Mỗi nhóm một yêu cầu, sau khi đại diện nhóm
trả lời cho học sinh làm việc ở lớp
Nhóm 1: Lòng thương người, đùm bọc, giúp đỡ
Nêu ý nghĩa của các từ em tìm được, đặt câu với một trong số các từ em vừatìm được Các nhóm cùng bổ sung, giáo viên chốt lại ý kiến đúng Qua việc thảoluận trong nhóm các em được đưa ra ý kiến của mình Ngoài ra, các em còn đượctích lũy vốn từ qua bạn hoặc giáo viên cung cấp thêm
Liên hệ giữa bài học với thực tế
2 Rèn luyện kĩ năng cấu tạo từ – dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy.
Ví dụ: Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây.
- Ngay
- Thẳng
- ThậtĐối với các dạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm trongphiếu Giáo viên có thể sử dụng phương pháp động não thu nạp rất nhiều từ, từ quátrình học sinh, mỗi nhóm hoạt động một nhiệm vụ với từ (Ngay, thẳng, thật)
Trang 9Cùng yêu cầu của bài đã cho học sinh chọn từ để đặt câu với từ đó Giáoviên cho học sinh làm việc cá nhân Khi chữa bài, giáo viên cần khen ngợi, biểudương các nhóm tìm được nhiều đáp án để kích thích các em động não nhiều hơn.
* Cho học sinh so sánh từ láy, từ ghép:
Giáo viên củng cố kiến thức:
- Từ là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu Khi dùng từ phải biết dùng từ có nghĩa
- Từ láy, từ ghép đều là từ có nghĩa Từ láy là phối hợp những tiếng có phụ
âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và giống nhau gọi là từ láy Từ ghép là ghép nhữngtiếng có nghĩa lại với nhau, đó là từ ghép Dựa vào cấu tạo trên mà học sinh có thểxác định từ ghép và từ láy
Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ:
+ Từ ghép: Cơn mưa, nhà cửa, bông hoa
+ Từ láy: Luộm thuộm, chăm chỉ
Một số em còn nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép Tôi đã chọn thêm một số bài tập
để các em luyện tập
Ví dụ: Các từ in đậm trong hai đoạn văn dưới đây là từ ghép hay từ láy? Vì sao?
a/ Nhân dân ghi nhớ công ơn Chử Đồng Tử, lập đền thờ ở nhiều nơi bên sông
Hồng Cũng từ đó hằng năm, suốt mấy tháng mùa xuân, cả một vùng bờ bãi sông Hồng lại nô nức làm lễ, mở hội để tưởng nhớ ông.
(Theo Hoàng Lê )
b/ Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người.
(Thép Mới )
Trong hai đoạn văn trên:
- Các từ ghép là: nhân dân, bờ bãi ( đoạn a ); dẻo dai, chí khí ( đoạn b ) Bởi vì các
tiếng trong từng từ có quan hệ với nhau về nghĩa Các từ này có hình thức âmthanh ngẫu nhiên giống từ láy, nhưng không phải là từ láy
- Các từ láy là: nô nức (đoạn a ); mộc mạc, nhũn nhặn, cứng cáp ( đoạn b ) Bởi vì
các tiếng trong từ có quan hệ với nhau về âm ( lặp lại phụ âm đầu )
Sau khi học xong khái niệm về từ ghép và từ láy, tôi đã cho học sinh làm một sốbài tập tổng hợp để rèn kĩ năng nhận biết từ ghép có nghĩa phân loại, từ ghép cónghĩa tổng hợp, các kiểu từ láy ( láy âm, láy vần, láy tiếng )
Trang 10Ví dụ: Cho đoạn văn sau:
Núi đồi, làng bản chìm trong biển mây mù Trước bản, rặng đào đã trút hết lá Trên những cành khẳng khiu đã lấm tấm những lộc non và lơ thơ những cánh
hoa đỏ thắm Lá thông vi vu một điệu đàn bất tuyệt Xen vào giữa những đám đá tai mèo, những nương đỗ, nương mạch xanh um, trông như những ô bàn cờ Chốc chốc một điệu hát Hmong lại vút lên trong trẻo
a/ Tìm từ ghép trong các từ in đậm, rồi xếp thành hai loại: Từ ghép có nghĩa tổnghợp và từ ghép có nghĩa phân loại
b/ Tìm từ láy trong các từ in đậm, rồi xếp thành ba loại: Từ láy âm đầu, từ láyvần, từ láy cả âm đầu và vần
Với bài tập này, tôi yêu cầu học sinh làm bài cặp đôi, một cặp làm vào giấykhổ to Sau đó chữa bài, thống nhất cả về đáp án và cách trình bày
a/ Từ ghép:
- Từ ghép có nghĩa tổng hợp: núi đồi, làng bản.
- Từ ghép có nghĩa phân loại: cánh hoa, đá tai mèo, xanh um.
b/ Từ láy:
- Từ láy âm đầu: khẳng khiu, vi vu, trong trẻo.
- Từ láy vần: lấm tấm, lơ thơ.
- Từ láy cả âm đầu và vần: chốc chốc.
3 Luyện tập các bài có dạng về tính từ, động từ, danh từ.
Trong đó chương trình sách giáo khoa cũng lựa chọn những tình huống giaotiếp gắn bó với cuộc sống gần gũi của học sinh
Ví dụ1: Viết họ và tên 3 bạn nam, 3 bạn nữ trong lớp em Họ và tên các bạn
ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? vì sao?
Với bài này tôi đã gợi ý cho học sinh: Xác định tên của bạn mình, viết, ghi
rõ họ, tên Lưu ý đó là danh từ chung hay danh từ riêng
Cho học sinh làm việc cá nhân, nêu miệng Phần học này học sinh thườnghay mắc lỗi ở vạch danh từ chung
Tôi yêu cầu các em nêu lại danh từ chung là gì? Dùng phép “suy” để học
sinh áp dụng vào bài của mình Ngoài ra, cần cho học sinh rèn luyện kĩ năng xácđịnh danh từ chung và danh từ riêng Chẳng hạn cho học sinh làm bài tập sau:
Trang 11 Đọc đoạn văn sau:
Gà Rừng và Chồn là đôi bạn thân nhưng Chồn vẵn ngầm coi thường bạn Một hôm, Chồn hỏi Gà Rừng:
- Câu có bao nhiêu trí khôn?
- Mình chỉ có một thôi.
a/ Tìm các danh từ chung và các danh từ riêng trong đoạn văn trên
b/ Dựa vào đâu mà em nhận biết được các danh từ riêng trong đoạn văn?
c/ Qua câu chuyện trên, em có suy nghĩ gì về tình bạn?
Yêu cầu học sinh làm bài cá nhân, sau đó chữa bài và chốt đáp án
a/- Danh từ chung: bạn, hôm, trí khôn.
- Danh từ riêng: Gà Rừng, Chồn.
b/ Để nhận biết được danh từ riêng, ngoài việc nắm vững định nghĩa ( danh từriêng là tên riêng của sự vật ), em còn phải căn cứ vào các đặc điểm sau củadanh từ riêng:
- Được viết hoa
- Nếu sự vật là con vật hoặc vật vô tri thì sự vật đó phải được nhân hóa ( có những biểu hiện như con người ), phải là nhân vật trong câu chuyện Danh
từ đó là tên riêng của nhân vật
Ví dụ 2: Gạch dưới các động từ trong đoạn văn sau:
Yiết Kiêu đến kinh đô yết kiến vua Trần Nhân Tông
Nhà vua: Trẫm cho nhà ngươi nhận một loại binh khí
Yết Kiêu: Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt
Lưu ý có 2 từ “dùi” từ nào là động từ ? Lấy ví dụ trường hợp khác như sau:
Tìm động từ ( trong các từ in đậm ) ở từng cặp câu dưới đây:
a/ - Nhân dân thế giới mong muốn có hòa bình.
- Những mong muốn của nhân dân thế giới về hòa bình sẽ thành hiện thực.
Trang 12b/ - Đề nghị cả lớp im lặng.
- Đó là một đề nghị hợp lí.
c/ - Bố mẹ hi vọng rất nhiều ở con.
- Những hi vọng của bố mẹ ở con là có cơ sở.
d/ - Yêu cầu mọi người giữ trật tự.
- Bài toán này có hai yêu cầu cần thực hiện.
Cho học sinh thảo luận cặp đôi, sau đó gọi học sinh nêu ý kiến và chốt đáp ánđúng
Ví dụ 3: Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất được
gạch chân trong đoạn văn sau:
Hoa cà phê thơm đậm và ngọt lên mùi hương thường theo gió bay đi rất xa.Nhà thơ Xuân Diệu chỉ có một lần đến đây ngắm nhìn của cà phê đã phải thốt lên
Hoa cà phê thơm lắm em ơi Hoa cùng một điệu với hoa nhài Trong ngà trắng ngọc, xinh và sáng.
Như miệng em cười đâu đây thôi
Đây là bài tập để rèn luyện về tính từ và bài này hơi trừu tượng với học sinhCho các em phân tích đề bài trước vì yều cầu của bài không quen thuộc với họcsinh ;các em đã hiểu
Tìm những từ biểu thị mức độ của đặc điểm tính chất của cá từ gạng chân cụthể : Hoà cà phê thơm như thế nào ? (thơm đậm và ngọt ) nên mùi hương bay đi rất
xa Lần lượt học sinh tìm (trả lời cá nhân theo phương pháp động não):
Thơm – lắmTrong – ngàTrắng – ngọc Như vậy các em thấy quen thuộc với cách làm của bài này Sau đó, cho họcsinh tìm thêm ở một số trường hợp khác:
đẹp lắm
xinh quá
tím ngắt
Trang 13rất gần
Khi học xong phần từ loại có thể cho các em làm bài tập tổng hợp để rèn kĩnăng xác định từ loại
Ví dụ:
Tìm danh từ, động từ, tính từ trong đoạn văn sau:
Trước mặt Minh, đầm sen rộng mênh mông Những bông sen trắng, sen hồng khẽ đu đưa nổi bật trên nền lá xanh mượt Giữa đầm, bác Tâm đang bơi thuyền đi hái hoa sen Bác cẩn thận ngắt từng bông, bó thành từng bó, ngoài bọc một chiếc
lá rồi để nhè nhẹ vào lòng thuyền.
4 Củng cố,khắc sâu mở rộng luyện các dạng bài tập về câu.
Với dạng bài này cũng được lựa chọn với thực tiễn sinh động hàng ngày đểhọc sinh biết đặt câu đúng, phù hợp với tình huống giao tiếp, đảm bảo lịch sự khiđặt câu
a Câu kể.
Ví dụ 1: Đặt một vài câu kể để:
a) Kể việc làm hàng ngày sau khi đi học về
b) Tả chiếc bút em đang dùng
c) Trình bày ý kiến của em về tình bạn
d) Nói lên niềm vui của em khi nhận được điểm tốt
Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân Kể về việc em làm
Lưu ý học sinh khi viết hết câu phải có dấu chấm Học sinh viết và đọc chohọc sinh trong lớp nhận xét bổ sung Sau đó cho học sinh nêu nhận xét sự khácnhau trong các cău kể trên
Nội dung của các câu kể trên khác nhau: Tả, bày tỏ ý kiến, nói lên niềm vui
Giáo viên hướng dẫn mẫu:
+ Tả kết hợp với dùng từ ngữ gợi tả, biện pháp nghệ thuật
+ Bày tỏ ý kiến – yêu mến, gắn bó như thế nào?
+ Nói lên niềm vui – vui sướng như thế nào khi được điểm tốt
Phần này giáo viên cần củng cố thêm cho học sinh về các kiểu câu kể:
- Câu kể Ai làm gì?