BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI TIỂU LUẬN UNG THƯ PHỔI VÀ CÁC LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ Môn học: Hóa trị liệu Học viên: Ngô Thị Mỹ Bình Mã học viên: 1211003 Lớp: Cao học 17 Hà Nội, tháng 4 năm 2013 ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi trên thế giới nói chung và cũng như ở Việt Nam nói riêng là bệnh phổ biến trong tất cả các loại ung thư. Đây là bệnh có tiên lượng xấu bởi tiến triển nhanh, di căn sớm, phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, những năm gần đây, tỉ lệ phát bệnh và tử vong vì ung thư phổi ở các nước trên thế giới ngày càng tăng rõ rệt, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. So với tất cả các loại ung thư khác, đây là loại ung thư có tần số tăng cao hơn cả. Cũng cần nhấn mạnh là loại ung thư này, trước đây ít gặp ở nữ giới thì nay lại là loại ung thư gây nhiều tử vong cho giới này, đứng hàng thứ 4 sau ung thư vú, ung thư đường tiêu hóa và ung thư tử cung. Mục tiêu của điều trị bệnh lý ung thư là loại bỏ tổ chức ung thư. Hiện nay có rất nhiều phương pháp điều trị khác nhau được phát triển và áp dụng trong thực tiễn điều trị bệnh nhân ung thư như: phẫu thuật (bao gồm cả ghép tạng), tia xạ (xạ trị liệu), phẫu thuật bằng tia gamma, điều trị bằng hóa chất (hóa trị liệu), điều trị bằng các phương pháp phân tử (tế bào gốc, gen trị liệu)… Nhưng dù áp dụng biện pháp điều trị nào thì để đạt được hiệu quả điều trị cao, vấn đề cốt lõi là phải phát hiện ra bệnh lý ung thư ở giai đoạn càng sớm càng tốt. Để có cái nhìn khái quát nhất về vấn đề này, tôi lựa chọn tiểu luận “Ung thư phổi và các liệu pháp điều trị” nhằm 2 mục đích: 1, Trình bày được những đặc tính cơ bản của bệnh ung thư phổi. 2, Trình bày được một số liệu pháp điều trị ung thư phổi hiện nay. UNG THƯ PHỔI Ung thư phổi là bệnh lý ác tính xuất phát tại phổi (ung thư phổi tiên phát) hoặc từ nơi khác di căn đến phổi (ung thư phổi thứ phát). Tùy thuộc vào hình dạng tế bào dưới kính hiển vi, ung thư phổi được chia làm hai loại chính: ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Mỗi loại ung thư phát triển và lan theo những cách khác nhau, do đó cũng được điều trị khác nhau. Ung thư tế bào nhỏ (smallcell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 20% các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm chỉ có 5%. Ung thư tế bào không nhỏ (non smallcell carcinoma): thường gặp hơn ung thư phổi tế bào nhỏ (khoảng 80%) và nó thường phát triển và lan chậm hơn. , được chia làm 3 loại và được đặt tên theo loại tế bào từ đó ung thư phát triển: Ung thư tế bào tuyến (adenocarcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 40 % các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 17%. Ung thư tế bào sừng (squamouscell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 25% các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 15%. Ung thư tế bào lớn (largecell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 15% các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 11%. 1. DICH TỄ HỌC 2;4;7 Hiện nay đã có những số liệu ghi nhận về ung thư tương đối chính xác và có thể đại diện cho tình hình ung thư của cả nước. Theo số liệu về tỷ lệ ung thư ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 1995 1996, và từ đó ước tính chung tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam năm 2000, nam giới có khoảng 36.021 người chiếm tỷ lệ 91,5100.000 dân và ở nữ giới có khoảng 32.786 người, chiếm tỷ lệ 81,5100.000 dân. Ung thư phổi đứng hàng đầu ở nam giới. Ước tính cả nước hàng năm có khoảng 6.905 ca ung thư phổi mới mắc. Trong số các trường hợp ung thư phổi nhập viện, 62,5% không còn khả năng phẫu thuật.
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Hà Nội, tháng 4 năm 2013
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi trên thế giới nói chung và cũng như ở Việt Nam nói riêng làbệnh phổ biến trong tất cả các loại ung thư Đây là bệnh có tiên lượng xấu bởi tiếntriển nhanh, di căn sớm, phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, những năm gần đây, tỉ lệ phátbệnh và tử vong vì ung thư phổi ở các nước trên thế giới ngày càng tăng rõ rệt, đặcbiệt là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, ở các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam
So với tất cả các loại ung thư khác, đây là loại ung thư có tần số tăng caohơn cả Cũng cần nhấn mạnh là loại ung thư này, trước đây ít gặp ở nữ giới thì naylại là loại ung thư gây nhiều tử vong cho giới này, đứng hàng thứ 4 sau ung thư vú,ung thư đường tiêu hóa và ung thư tử cung
Mục tiêu của điều trị bệnh lý ung thư là loại bỏ tổ chức ung thư Hiện nay córất nhiều phương pháp điều trị khác nhau được phát triển và áp dụng trong thựctiễn điều trị bệnh nhân ung thư như: phẫu thuật (bao gồm cả ghép tạng), tia xạ (xạtrị liệu), phẫu thuật bằng tia gamma, điều trị bằng hóa chất (hóa trị liệu), điều trịbằng các phương pháp phân tử (tế bào gốc, gen trị liệu)… Nhưng dù áp dụng biệnpháp điều trị nào thì để đạt được hiệu quả điều trị cao, vấn đề cốt lõi là phải pháthiện ra bệnh lý ung thư ở giai đoạn càng sớm càng tốt
Để có cái nhìn khái quát nhất về vấn đề này, tôi lựa chọn tiểu luận “Ung thưphổi và các liệu pháp điều trị” nhằm 2 mục đích:
1, Trình bày được những đặc tính cơ bản của bệnh ung thư phổi
2, Trình bày được một số liệu pháp điều trị ung thư phổi hiện nay
Trang 3UNG THƯ PHỔI
Ung thư phổi là bệnh lý ác tính xuất phát tại phổi (ung thư phổi tiên phát)hoặc từ nơi khác di căn đến phổi (ung thư phổi thứ phát)
Tùy thuộc vào hình dạng tế bào dưới kính hiển vi, ung thư phổi được chialàm hai loại chính: ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.Mỗi loại ung thư phát triển và lan theo những cách khác nhau, do đó cũng đượcđiều trị khác nhau
Ung thư tế bào nhỏ (small-cell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 20% các loạiung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm chỉ có 5%
Ung thư tế bào không nhỏ (non small-cell carcinoma): thường gặp hơn ungthư phổi tế bào nhỏ (khoảng 80%) và nó thường phát triển và lan chậm hơn , đượcchia làm 3 loại và được đặt tên theo loại tế bào từ đó ung thư phát triển:
- Ung thư tế bào tuyến (adenocarcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 40 % các loạiung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 17%
- Ung thư tế bào sừng (squamous-cell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 25%các loại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 15%
- Ung thư tế bào lớn (large-cell carcinoma): chiếm tỉ lệ khoảng 15% cácloại ung thư phổi, tỉ lệ sống sót sau 5 năm là 11%
1 DICH TỄ HỌC [2];[4];[7]
Hiện nay đã có những số liệu ghi nhận về ung thư tương đối chính xác và cóthể đại diện cho tình hình ung thư của cả nước Theo số liệu về tỷ lệ ung thư ở HàNội và Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 1995 - 1996, và từ đó ước tínhchung tỷ lệ mắc ung thư ở Việt Nam năm 2000, nam giới có khoảng 36.021 ngườichiếm tỷ lệ 91,5/100.000 dân và ở nữ giới có khoảng 32.786 người, chiếm tỷ lệ81,5/100.000 dân Ung thư phổi đứng hàng đầu ở nam giới Ước tính cả nước hàngnăm có khoảng 6.905 ca ung thư phổi mới mắc Trong số các trường hợp ung thưphổi nhập viện, 62,5% không còn khả năng phẫu thuật
Tại Khoa hô hấp bệnh viện Bạch Mai, số các trường hợp ung thư phổi nhậpviện tăng đều hàng năm: 1969 đến 1972 có 89 trường hợp ung thư phổi, từ 1974
Trang 4Một điều đáng ngạc nhiên là tỷ lệ tử vong do ung thư phổi bắt đầu giảm ởnam giới Có thể đây là hậu quả của việc tăng sử dụng thuốc lá ở phụ nữ [4]
2 NGUYÊN NHÂN [2];[7];[8];[9]
Các nguyên nhân chính gây ra ung thư phổi bao gồm các tác nhân gây ung(như khói thuốc lá), bức xạ ion hoá, và nhiễm virus Sự phơi nhiễm lâu dài với cácyếu tố này gây tích tụ các thay đổi trong DNA của mô lát bên trong phế quản củaphổi (tức biểu mô phế quản) Khi ngày càng nhiều mô bị tổn thương, cuối cùng sẽdẫn đến ung thư
2.1 Thuốc lá
Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi Tất cả các công trìnhnghiên cứu đều chứng minh rằng nguy cơ gây ung thư phổi tỉ lệ thuận với lượngkhói thuốc hít vào hàng ngày, tuổi bắt đầu hút thuốc lá, thời gian nghiện hút, sốlượng thuốc hút hàng ngày và việc nuốt khói thuốc
Trong khói thuốc lá có hơn 40 chất có khả năng gây ung thư đó là cáchydrocarbon thơm đa vòng như 3-4 Benzopyren, Dibenzanthracen; Polonium 40
và Selen trong giấy cuốn thuốc lá
Không chỉ chứa các hóa chất gây ung thư, thuốc lá còn giải phóng hệ thốngphòng vệ tự nhiên của phổi Đường hô hấp được bảo vệ bằng các sợi lông nhỏ gọi
là lông mao Những sợi lông này bảo vệ phổi bằng cách loại bỏ độc tố, vi khuẩn vàvirus ra khỏi cơ thể Khói thuốc lá làm tê liệt các lông mao, khiến chúng không thểhoạt động Điều này khiến cho các chất gây ung thư tích tụ trong phổi gây ung thư
2.2 Nghề nghiệp và môi trường
Trang 5Một số ngành nghề có thể làm tăng nguy cơ ung thư phổi ở cả người hútthuốc và người không hút thuốc Ung thư phổi liên quan nghề nghiệp chiếmkhoảng 9-15% Có 5 chất có vai trò quan trọng trong ung thư phổi nghề nghiệp:các chất phóng xạ, niken, chrome, amiang, và các chất phát sinh khi chưng cất hắc
ín Nguy cơ này càng tăng nếu có kèm nghiện thuốc lá
Các nhà nghiên cứu đã tìm ra mối liên hệ giữa bệnh ung thư phổi, và sự phơinhiễm với một số chất gây ô nhiễm không khí nhất định Người ta đã chứng minhtác dụng gây ung thư phần lớn là do benzopyren trong các chất hữu cơ của bụithành phố, khói xăng, niken…Hay các sản phẩm phụ sinh ra trong quá trình đốtdầu diesel và những nhiên liệu hoá thạch khác Tuy nhiên, mối quan hệ này vẫnchưa được xác định một cách rõ ràng, và vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu
2.5 6 Chế độ ăn
Vai trò của chế độ ăn đối với nguy cơ ung thư phổi cũng được nghiên cứunhiều Chế độ ăn nhiều rau và trái cây sẽ ít nguy cơ bị ung thư phổi hơn vì trongrau và trái cây có các chất vi lượng có hoạt tính chống oxy hóa, chống ung thư
2.6 Các bệnh ở phế quản phổi
+ Sẹo cũ của các tổn thương phổi
+ Lao phổi cũ: nhiều trường hợp ung thư phổi phát triển trên sẹo lao phổi cũ
đã được phát hiện
3 PHÂN LOẠI [5],[8],[10]
3.1 Phân loại mô bệnh học các khối u phổi năm 2001 của WHO
1- Ung thư biểu mô dạng biểu bì: gồm các phân typ: Dạng nhú, Tế bàosáng, Tế bào nhỏ, Dạng tế bào đáy
2- Ung thư biểu mô tuyến: gồm các phân typ
Trang 6- Dạng tuyến nang
- Dạng tuyến nhú
- Ung thư tiểu phế quản – phế nang
- Ung thư tuyến đặc chế nhầy
- Biểu mô tuyến với các typ hỗn hợp
- Các biến thể: tuyến phôi thai biệt hóa cao, tuyến nhầy, tuyến nang, biểu
mô tuyến tế bào sáng
- Ung thư tế bào nhỏ hỗn hợp
3- Ung thư tế bào lớn: gồm các phân typ
- Typ biểu mô thần kinh nội tiết tế bào lớn
- Biểu mô tế bào đáy
- Dạng lympho biểu mô
- Tế bào sáng
- Biểu mô tế bào lớn dạng cơ vân
4- Ung thư biểu mô tế bào nhỏ
5- Ung thư biểu mô tuyến – vẩy: Là loại ung thư có các thành phần cả ungthư biểu mô tuyến và của ung thư biểu bì
6- Ung thư biểu mô đa hình thái
- Ung thư biểu mô tế bào hình thoi hay tế bào khổng lồ
- Ung thư biểu mô sarcrom
- U nguyên bào
7- U carcinoid: Gồm 2 loại: u carcinoid điển hình và không điển hình8- Ung thư biểu mô tuyến phế quản
- Ung thư biểu mô biểu bì – nhầy
- Ung thư biểu mô tuyến nang
9- Ung thư biểu mô không xếp loại: là loại ung thư biểu mô không thể xếpđược vào 1 trong các loại trên
3.2 Phân loại TNM của WHO về ung thư phổi 2009
Tháng 2 năm 2009, dựa trên cơ sở dữ liệu 81.015 bệnh nhân được chẩn đoán
là ung thư phổi, Hội Nghiên cứu Ung thư phổi quốc tế (IASLC) đã đưa ra bản phânloại lần thứ 7 với một số thay đổi trong hướng điều trị và tiên lượng bệnh, đặc biệt
ở những giai đoạn sớm, có khả năng phẫu thuật
Hệ thống phân loại giai đoạn TNM được xây dựng trên 3 tiêu chí: T- u tiênphát (Primary Tumor), N- hạch vùng (Regional Lymph Nodes) và M- di căn xa(Distant Metastasis)
Bảng 1: Định nghĩa ký hiệu T, N, M theo AJCC và UICC 2009
T: u tiên phát ( 1 ) (Primary Tumor)
T Không thấy u tiên phát
Trang 7T1 U ≤ 3cm, được bao bọc bởi phổi hoặc màng phổi tạng,
không gần hơn phế quản thùy
T2
U > 3cm nhưng ≤ 7cm hoặc u có bất kỳ đặc điểm: (3)
Xâm lấn vào màng phổi tạng, tổn thương tại phế quản
gốc nhưng cách carina ≥ 2cm, xẹp phổi/ viêm phổi tắc
nghẽn lan đến rốn phổi nhưng không tổn thương toàn
Hoặc xâm lấn trực tiếp vào thành ngực, vòm hoành,
thần kinh hoành, màng phổi trung thất, hoặc màng
ngoài tim
Hoặc u ở phế quản gốc cách carina < 2cm (4)
Hoặc xẹp phổi/ viêm phổi tắc nghẽn toàn bộ phổi
U có đường kính bất kỳ xâm lấn vào tim, mạch máu
lớn, khí quản, thần kinh thanh quản quặt ngược, thực
quản, thân đốt sống, hoặc carina
Hoặc có những u khác ở thùy phổi khác cùng bên
T4 xâm lấn
T4 khác thùy, cùng bên
N: hạch vùng (Regional Lymph Nodes)
N0 Không di căn vào hạch vùng
N1
Di căn vào hạch lympho quanh phế quản và/hoặc hạch
quanh rốn phổi cùng bên và những hạch trong phổi, kể
cả tổn thương xâm lấn trực tiếp
N2 Di căn vào hạch lympho trung thất và/hoặc dưới carina
N3
Di căn vào hạch lympho trung thất đối bên, hạch rốn
phổi đối bên, hạch cơ bậc thang cùng hoặc đối bên,
hoặc hạch lympho thượng đòn
M: di căn xa (Distant Metastasis)
M Không có di căn xa
M1a
Có u khác ở thùy phổi đối bên
Hoặc u với những nốt (nodes) ở màng phổi hoặc sự lan
tràn màng phổi ác tính (dissemination) (5)
M1a nốt đối bên
M1a lan tràn màng phổi
Những tình huống đặc biệt
TX, NX,
MX Trạng thái T, M, N không có khả năng đánh giá
Trang 8T1ss Những u với bất kỳ kích thước lan đến bề mặt nhưngtiếp giáp với thành khí quản hoặc phế quản gốc. T
IIaIIa
IIIaIIIa
IIIbIIIb
T2b
IbIIa
IIaIIb
IIIaIIIa
IIIbIIIb
IIIaIIIaIIIa
IIIaIIIaIIIa
IIIbIIIbIIIb
T 4 T4 xâm lấn
T4 nốt khác thùy, cùng bên
IIIaIIIa
IIIaIIIa
IIIbIIIb
IIIbIIIb
IVIVIV
IVIVIV
IVIVIV
4 CHẨN ĐOÁN [3]
Trang 9a, Các triệu chứng đường hô hấp
- Ho khan: Ho có đờm trắng, kéo dài, điều trị kháng sinh không mấy kếtquả, dễ nhầm với bệnh nhân viêm phế quản
- Ho đờm lẫn máu: Số lượng ít
- Khó thở: Thường gặp ở giai đoạn muộn khi u to, chèn ép đường hô hấp
b, Các triệu chứng do chèn ép, xâm lấn trong lồng ngực và thành ngực:
- Đau ngực: Khối u phổi ở ngoại vi hay gây đau trong lồng ngực, đau daidẳng và cố định một vùng thành ngực là do u dính hoặc xâm lấn thành ngực
- Khàn tiếng hoặc giọng đôi: Khối u hoặc hạch to chèn ép thần kinh quặtngược, thường gặp do khối u vùng rốn phổi trái
- Phù cổ mặt: Do khối u chèn ép tĩnh mạch chủ trên (bên phải) hoặc chèn
ép thên tĩnh mạch cánh tay đầu (bên trái) gây phù thượng đòn trái
- Hội chứng Pancoat – Tobiat: Đau vai lan cánh tay phối hợp với hội chứngClaude – Bernard – Horner do u ở đỉnh phổi xâm lấn vùng thượng đòn gây tổnthương hạch giao cảm cổ và đám rối thần kinh cánh tay
- Nuốt nghẹn: U chèn ép thực quản
- Nấc: Tổn thương dây thần kinh hoành
- Đau và gãy xương sườn bệnh lý: U xâm lấn thành ngực
- Hội chứng 3 giảm (Gõ đục, rì rào phế nang giảm, Rung thanh giảm): Dotràn dịch màng phổi
c, Các triệu chứng di căn
- Hạch to vùng thượng đòn, hạch cảnh thấp, hạch nách
- Nốt di căn dưới da vùng ngực:
+ Di căn não: Hội chứng tăng áp lực nội sọ + liệt thần kinh khu trú
+ Di căn xương: Đau và gãy xương bệnh lý
+ Di căn phổi đối diện và di căn gan: Thường không có triệu chứng
d, Các triệu chứng cận ung thư
Một số trường hợp gây hội chứng cận ung thư, đặc biệt là ung thư khôngbiệt hóa tế bào nhỏ:
- Vú to hai bên - Phì đại khớp - Đau nhức xương khớp
- To đầu chi - Đái tháo nhạt
Trang 10MỘT SỐ LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
Tùy vào từng giai đoạn phát triển của bệnh mà bác sĩ xác định mục tiêu củaviệc điều trị là chữa trị, kiềm chế bệnh để kéo dài sự sống hoặc kiểm soát triệuchứng và ngăn ngừa bệnh tật nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống Cũng như đốivới phần lớn các ung thư khác, ta có trong tay 3 vũ khí để điều trị ung thư phổi, đólà: Phẫu thuật, tia xạ hoặc điều trị nội khoa bằng hóa trị liệu hoặc cho thuốc điều trịtriệu chứng [2], [3]
1. Phẫu thuật liệu pháp
Điều trị bằng phẫu thuật là cách điều trị đưa lại kết quả tốt nhất, vượt xa cáccách điều trị khác Song phương pháp này không phải áp dụng được cho tất cả cácbệnh nhân Chỉ định phẫu thuật: Bệnh nhân không quá già, có thể trạng tốt (đượcđánh giá bilan trước mổ); Độ lan tỏa của khối u (chưa có di căn trong trung thất,ngoài phổi);Tình trạng cơ năng của tim, phổi
Phương pháp này chỉ áp dụng với các giai đoạn O đến giai đoạn IIIa Từ giaiđoạn IIIb chống chỉ định mổ Có 3 loại hình phẫu thuật thường được áp dụng:
- Cắt thùy phổi: Áp dụng đối với ung thư ở thùy phổi mà nội soi xác địnhtổn thương phế quản ngoại vi Cắt thùy phổi kèm theo vét hạch vùng rốn thùy
- Cắt lá phổi: Thường kèm theo vét hạch rốn phổi và trung thất, áp dụng đốivới ung thư ở phế quản gốc và/hoặc ung thư đã xâm lấn cực phế quản thùy trên Cóthể cắt lá phổi kèm theo cắt một phần màng tim, thành ngực
- Phẫu thuật tiết kiệm nhu mô phổi bằng cắt phân thùy, cắt góc, cắt khôngđiển hình, áp dụng đối với ung thư nhỏ nằm ngoại vi và chức năng hô hấp hạn chế
Phẫu thuật cắt bỏ một bộ phận của phổi, cắt bỏ thùy phổi hay cắt cả lá phổitùy theo sự phát triển của khối u Theo xu hướng hiện nay các bác sĩ thường tìm
Trang 11cách cắt bỏ tối thiểu nhu mô phổi Cắt toàn bộ cả lá phổi chỉ nên thực hiện khi cầnthiết vì cắt thùy phổi có lợi hơn.
Sau 3 loại hình phẫu thuật này có thể phối hợp tia xạ hậu phẫu nhằm vàohạch trung thất, hạch thượng đòn hai bên và vùng thành ngực bị xâm lấn
2. Tia xạ liệu pháp
Nếu phẫu thuật giữ vị trí hàng đầu trong điều trị ung thư phổi thì tia xạ đứng
vị trí thứ hai Tùy theo mục đích sử dụng, có 2 phương pháp dùng tia xạ: Tia xạtriệt căn và tia xạ tạm thời
2.1 Tia xạ triệt căn
Phương pháp này được áp dụng từ giai đoạn O đến giai đoạn IIIa cho nhữngbệnh nhân còn mổ được nhưng lại từ chối mổ hoặc không thể mổ do tình trạng sứckhỏe Thực hiện tia xạ bằng máy telecobalt năng lượng cao, máy betatron vànhững máy gia tốc với liều vào khối u, hạch trung thất và hạch thượng đòn Liềutrung bình từ 55 – 65Gy trong 6-7 tuần
Kết quả tổng quát của tia xạ với mục đích triệt căn thua xa phẫu thuật cắt
bỏ Song nó thường cải thiện được chất lượng và thời gian sống cho bệnh nhân,
2.2 Tia xạ tạm thời
Phương pháp này được áp dụng ở giai đoạn IIIb và giai đoạn IV, nhằm làmgiảm hoặc hết những triệu chứng khó chịu gây nên bởi khối u đã tiến triển như hokhông dứt, đau ngực, khó thở, nuốt khó hay hội chứng về động mạch chủ trên Tia
xạ tạm thời cũng giúp ích rất nhiều khi có di căn xương gây đau đớn, và có thểphối hợp với phẫu thuật đối với những di căn vào xương dài
Dù là phương pháp triệt căn hay tạm thời thì tia xạ cần được theo dõi cẩnthận Thường phải phối hợp với kháng sinh hoạt phổ rộng với thuốc chống viêm vàthuốc loại atropin để chống tăng xuất tiết trong phế quản
Điều trị tia xạ chỉ có tác dụng làm giảm bớt thể tích u và các triệu chứng.Các trường hợp thất bại khi điều trị tia xạ chủ yếu do thể bệnh ít đáp ứng tia hoặc
do bệnh nhân bỏ cuộc Thời gian sống thêm phụ thuộc giai đoạn bệnh Sống thêm
5 năm với giai đoạn I khoảng 50%, giai đoạn II khoảng 30%, giai đoạn IIIa khoảng
10 - 15%, giai đoạn IIIb dưới 5% và giai đoạn IV chỉ 2%
3. Hóa chất liệu pháp
Hóa trị liệu trong ung thư phổi không phải là một phương pháp vạn năngnhư người ta thường nghĩ Đó chỉ là một cách điều trị tạm thời và không thể thaythế cho phẫu thuật hay cho điều trị tia xạ Phương pháp này được sử dụng trước hếtcho những bệnh nhân mà khối u đã lan rộng hoặc tái phát Tuy nhiên phương pháp