Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khâm phục trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. Năm 1993, Việt Nam vẫn còn khoảng 58% dân số sống trong nghèo đói. Năm 1998, con số này là 37% và năm 2002 đã giảm xuống 29%. Những con số này thể hiện một cách tập trung những nỗ lực cải cách của Việt Nam kể từ khi tiến hành đổi mới vào năm 1986. Trên cơ sở không ngừng nâng cao khả năng tiếp cận với các dịch vụ giáo dục và y tế, Việt Nam đã và đang tiếp tục đạt được những thành quả đáng kể trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Ngoài ra, Việt Nam đang ngày càng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và đóng một vai trò tích cực hơn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế của khu vực và toàn cầu. Xu hướng hội nhập toàn cầu cùng với sự gia tăng những ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã đặt ra những yêu cầu về sự phát triển bền vững về mặt xã hội và môi trường. Điều đó đã quy định cho khoa học xã hội học những nhiệm vụ nghiên cứu mang tính thực tiễn về sự phát triển bền vững ở Việt Nam, đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến chính sách. Phát triển bền vững là một khái niệm mang tính học thuật khá phức tạp, mặc dù nó đã và đang gây nhiều tranh cãi, nhưng mục tiêu cuối cùng mang tính khái quát hơn của sự phát triển bền vững lại mang tính xã hội và nhân văn, như được nêu trong Hiến chương của Liên hiệp quốc về quyền con người. Đó là“đảm bảo cho mỗi người quyền có được những điều kiện sống thích hợp cho sức khỏe và phúc lợi bao gồm đồ ăn, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết khác”. 10, tr.10. Về cơ bản, phát triển bền vững xã hội có cốt lõi nằm ở việc giải quyết những mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội, cũng như phát triển con người. Tuy nhiên, ngay cả với một cách hiểu sơ lược như vậy, thì sự phát triển bền vững về mặt xã hội vẫn còn là một chủ đề lớn và phức tạp. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững về mặt xã hội, bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, thì vẫn còn những quá trình và những yếu tố xã hội cần được chú ý xem xét đúng mức, chẳng hạn: (i) hệ thống chính sách cần thiết đầu tư cho con người, thúc đầy phát triển con người, đảm bảo các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ, (ii) cải thiện điều kiện sống, cơ sở hạ tầng thiết yếu của nhóm người nghèo, đặc biệt là nhóm xã hội nhạy cảm dễ bị tổn thương, (iii) huy động sự tham gia rộng rãi và có hiệu quả của cộng đồng và mọi người dân vào quá trình phát triển, và (iv) tăng cường về mặt thể chế các quá trình địa phương của xã hội dân sự. Đây cũng chính là những nhiệm vụ xuyên suốt mà Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo, giao phó và yêu cầu đối với khoa học xã hội nói chung và xã hội học nói riêng. Trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, để theo đuổi những mục tiêu phát triển đô thị, nhiều mục tiêu ưu tiên về phát triển kinh tế đã thách thức những ưu tiên về bảo vệ môi trường bền vững và bảo đảm đời sống cho người dân trong các khu vực khác nhau, đặc biệt là khu vực đô thị nơi phần lớn người dân đô thị bị hạn chế trong việc hưởng các ưu tiên chính sách về môi truờng đô thị, vốn bản thân nó cũng đã rất yếu kém do phải nhượng bộ những yêu cầu về tăng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng, trong đó những người nghèo đô thị là những người phải hứng chịu nhiều nhất. Họ thường sống tập trung tại những nơi nghèo khó, những nơi không có hệ thống thoát nước hoặc nếu có thì yếu kém, đường vào thu gom rác còn hạn chế, điều kiện vệ sinh nghèo nàn và môi trường ô nhiễm do chính họ gây ra từ do thói quen sinh hoạt và do môi trường bên ngoài tác động vào. Đây chính là một trong những mảnh đất nhiều tiềm năng cho các nghiên cứu xã hội học, để có thể tìm ra được điểm cân bằng giữa phát triển bền vững về kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Bởi để đạt được sự phát triển thống nhất đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, những quyết sách tưởng chừng như đúng đắn trong phát triển, lại mang lại mối đe dọa lớn về môi trường sống của người dân, và nó sẽ gây hậu quả về lâu dài có thể đe doạ xoá sạch những thành tựu phát triển kinh tế từ trước đến nay. Vấn đề xung đột giữa nhu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ngày càng trở thành mối quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách của Việt Nam và các nhà tài trợ trong các dự án phát triển, đặc biệt là dự án phát triển đô thị tại Việt Nam. Mối quan tâm đó không chỉ dừng lại ở phạm vi lý luận mà cả ở những vấn đề mang tính thực tiễn. Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đều nhận thức rõ về vấn đề này. Trong năm 2009, Ban giám đốc ADB đã phê duyệt Chính sách An toàn xã hội đề cao yêu cầu bảo vệ môi trường, tái định cư bắt buộc để phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong khu vực và người dân tộc thiểu số. Theo đó chính sách an toàn xã hội đã khuyến khích tác động phát triển trong các dự án ADB để tăng cường khả năng thích ứng và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong các dự án phát triển của ADB tại Việt Nam. ADB nêu rõ cần tránh tối đa việc tái định cư nhằm giảm thiểu tác động tới đời sống của bộ phận dân cư chịu tác động, nhất là người dân nghèo, hoặc giả nếu như không thể tránh khỏi thì cần có biện pháp phục hồi đời sống người dân tương đương với mức sống của họ trước khi có dự án, trong đó chú trọng cải thiện điều kiện sống của người nghèo bị thu hồi đất, cũng như các nhóm xã hội bị ảnh hưởng khác, ví dụ như nhóm dân cư bản địa xung quanh khu vực tái định cư. Như chúng ta biết, tự bản thân hoạt động tái định cư đã phá vỡ cấu trúc không gian sống của người dân, kể cả đối với người phải tái định cư và cả cộng đồng tiếp nhận người tái định cư. Trong đó có các mối tương tác, thích ứng xã hội về các mặt như không gian, kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, việc làm. Thực tế này đang đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu về tác động của các chính sách và hoạt động tái định cư thực tế trong các dự án phát triển của ADB – nhà tài trợ quốc tế lớn ở Việt Nam vừa mang ý nghĩa về mặt lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng lớn. Nghiên cứu này một mặt ứng dụng những lý thuyết xã hội học vào giải thích một vấn đề của thực tiễn là tác động của hoạt động tái định cư đối với người dân trong dự án Cải thiện môi trường đô thị miền Trung, góp phần kiểm chứng thêm tính đúng đắn của một số luận điểm về lý thuyết của Xã hội học. Mặt khác, nghiên cứu góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, chính quyền và đối tác địa phương hiểu rõ hơn về vấn đề môi trừơng trong phát triển và tác động tái định cư. Từ đó có biện pháp phù hợp nhằm phát huy tối đa nguồn lực và vai trò cũng các bên tham gia trong quá trình phát triển nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn để đạt tới mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững đồng thời bảo đảm môi trường được bảo vệ, tránh được những tác động không mong muốn về lâu dài. Với các lý do trên, tôi chọn đề tài “Tác động của việc tái định cư đến đời sống người dân trong vùng dự án của dự án ADB Cải thiện môi trường đô thị miền Trung Việt Nam (Dự án ADB)” làm đề tài luận văn thạc sỹ. Tác giả mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ những tác động của hoạt động phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng tới đời sống người dân trong vùng dự án nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động tái định cư hướng tới sự phát triển cân bằng và bền vững.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 10
2.1 Ý nghĩa khoa học 10
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 11
3.1 Mục đích nghiên cứu: 11
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 12
4.1 Đối tượng nghiên cứu 12
4.2 Khách thể nghiên cứu: 12
4.3 Phạm vi nghiên cứu 12
5 Câu hỏi Nghiên cứu, Giả thuyết nghiên cứu và Khung Lý thuyết 12
5.1 Câu hỏi Nghiên cứu 12
5.2 Giả thuyết nghiên cứu 13
5.3 Khung lý thuyết 14
6 Phương pháp nghiên cứu 14
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu 14
6.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin 15
6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu 15
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc 15
6.2.3 Nhóm phương pháp định tính 17
6.2.3.1 Phương pháp phỏng vấn sâu 17
6.2.3.2 Phương pháp quan sát 17
NỘI DUNG CHÍNH 18 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
Trang 21.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 18
1.1.1 Một vài lý thuyết Xã hội học được sử dụng trong nghiên cứu 18
1.1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội 18
1.1.1.2 Lý thuyết Phát triển bền vững 19
1.1.2 Thao tác hóa một số thuật ngữ và khái niệm chính của nghiên cứu 21
1.1.2.1 Tác động 21
1.1.2.2 Đời sống xã hội 24
1.1.2.3 Đời sống vật chất 26
1.1.2.4 Đời sống tinh thần 26
1.1.2.5 Môi trường 27
1.1.2.7 Tái định cư bắt buộc 28
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 31
1.2.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tái định cư .31
1.2.2 Chính sách của ADB đối với vấn đề Tái định cư 31
1.2.3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 33
1.2.4 Đặc điểm kinh tế-xã hội của địa bàn miền Trung trong vùng ảnh hưởng của dự án ADB 36
1.2.5 Đặc điểm kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu 38
1.2.5.1 Thành phố Tam Kỳ: 38
1.2.5.2 Thành phố Hà Tĩnh 39
1.2.6 Giới thiệu về dự án Cải thiện môi trường đô thị Miền Trung 40
2.1 Khung chính sách tái định cư của Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) 43
2.1.1 Khung chính sách tái định cư của Chính phủ Việt Nam 43
2.1.2 Khung chính sách tái định cư của ADB 46
2.2 Một vài nét về các đối tượng trực tiếp liên quan đến dự án ADB 47
2.2.1 Về đối tượng hưởng lợi từ dự án Cải thiện môi trường Miền trung 47
2.2.2 Về đối tượng bị ảnh hưởng buộc phải tái định cư 48
Trang 32.2.3 Về đối tượng tiếp nhận cư dân tái định cư 48CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÁI ĐỊNH CƯ ĐẾN
NGƯỜI DÂN TRONG VÙNG DỰ ÁN ADB TẠI HAI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH VÀ THÀNH PHỐ TAM KỲ 50
3.1 Sơ lược kết quả của hoạt động tái định cư cải thiện môi trường đô thị Miền Trung 50
3.1.1 Sơ bộ kết quả hoạt động trên toàn bộ dự án 503.1.2 Sơ bộ kết quả của hoạt động tái định cư trên địa bàn thành phố Tam Kỳtỉnh Quảng Nam 533.1.3 Sơ bộ kết quả của hoạt động tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh,tỉnh Hà Tĩnh 54
3.2 Hoạt động tái định cư và sự biến đổi của đời sống vật chất /kinh tế 55
3.2.1 Thu nhập và năng lực chi trả của người dân tái định cư 553.2.3 Đánh giá từ các đối tượng liên quan và mức độ hài lòng của người dântái định cư về thu nhập và năng lực chi trả 67
3.3 Tác động về văn hóa-giáo dục 70
3.3.1 Đánh giá chung của các đối tượng về sự duy trì các giá trị văn hóa vàtiếp cận học đường của người dân tái định cư 703.3.1.1 Về văn hóa 703.3.1.2 Về giáo dục 723.3.2 Mức độ hài lòng của người dân tái định cư về sự duy trì các giá trị vănhóa và tiếp cận học đường ở nơi ở mới 72
3.4 Tác động đến đời sống xã hội 73
3.4.1 Đánh giá chung của người dân tái định cư về mức độ liên kết cộng đồnggiữa nhóm xã hội tiếp nhận và nhóm cư dân tái định cư 733.4.2 Sự liên kết cộng đồng, liên kết xã hội của người dân tái định cư trước
và sau khi tái định cư 76
3.5 Tác động về môi trường 79
Trang 43.5.1 Những kết quả chung về môi trường đô thị trước và sau khi có dự án
theo quan điểm của chủ dự án 79
3.5.2 Đánh giá của các đối tượng liên quan về sự tác động của dự án ADB tại hai thành phố Hà Tĩnh và Tam Kỳ 79
3.5.2.1 Đánh giá của chính quyền địa phương 81
3.5.2.2 Đánh giá của nhóm xã hội tiếp nhận cư dân tái định cư 81
3.5.2.3 Đánh giá của những người dân tái định cư 82
1 Kết luận 87
2 Khuyến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 92
DANH MỤC BẢNG Bảng 1-1 Các giai đoạn chủ yếu và các hoạt động chính trong dự án tái định cư……… 29
Bảng 1-2 Biện pháp giảm thiểu theo từng loại thiệt hại……… 32
Bảng 3-1 Tình hình xây dựng các khu Tái định cư và số hộ thuộc diện tái định cư……… 52
Bảng 3-2 Số liệu tái định cư tại Tam Kỳ……… 53
Bảng 3-3 Thu nhập của các hộ tái định cư tại thời điểm năm 2010 (%)… 57 Bảng 3-4 Quy đổi mức thu nhập trung bình của các hộ tái định cư năm 2007 về năm 2010……… 58
Bảng 3-5 Mức thu nhập trung bình của các hộ tái định cư tại Tam Kỳ năm 2007……… 60
Bảng 3-6 Thu nhập trung bình hàng tháng của hộ tái định cư tại Tam Kỳ 60
Bảng 3-7 Mức thu nhập của hộ bị ảnh hưởng tại Hà Tĩnh năm 2007…… 61
Bảng 3-8 Thu nhập trung bình hàng tháng của hộ tái định cư tại Hà Tĩnh năm 2010……… 61
Bảng 3-9 Nghề nghiệp của các thành viên hộ tái định cư thành phố Hà Tĩnh……… 62
Bảng 3-10 Nghề nghiệp của các thành viên hộ tái định cư thành phố Tam Kỳ năm 2007……… 64
Bảng 3-11 Tương quan giữa nghề nghiệp và mức sống của hộ tái định cư tại thành phố Tam Kỳ năm 2010 (%)……… 66
Bảng 3-12 Nhận xét về mức sống của gia đình so với trước khi tái định cư (%) của hộ tái định cư tại thành phố Tam Kỳ năm 2010 (%)……… 67
Trang 5Bảng 3-13 Lý do chủ yếu cuộc sống kém hơn so với trước khi tái định cư
(%)……… 68Bảng 3-14 Khu tái định cư ở Hà Tĩnh và Tam Kỳ……… 78Bảng 3-15 Đánh giá của người dân về cơ sở hạ tầng cơ bản (%)………… 83Bảng 3-16 Hình thức xử lý rác thải của gia đình (chung của cả hai thành
điều tra năm 2010……… 63Hình 3-4 Biểu đồ cơ cấu nghề nghiệp hộ tái định cư thành phố Tam Kỳ
điều tra năm 2010 ……… 65Hình 3-5 Khu tái định cư Lò Mổ và khu Nam sông Cụt, Thành phố Hà
Tĩnh ……… 69Hình 3-6 Đánh giá mức độ thuận tiện theo thành phố (%)……… 73Hình 3-7 Đánh giá về các yếu tố tác động đến sự hòa nhập cộng đồng tại nơi ở mới (%)……… 74Hình 3-8 Mối quan hệ của người tái định cư đối với các chủ thể khác…… 76Hình 3-9 Tình trạng vệ sinh môi trường khu tái định cư mới Nam Sông
Cụt (Hà Tĩnh) 85
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
Dự án ADB Dự án Cải thiện môi trường Đô thị Miền
Trung Việt Nam
ODA Hỗ trợ Phát triển Chính thức
Trang 7PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đángkhâm phục trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo Năm 1993, Việt Nam vẫn cònkhoảng 58% dân số sống trong nghèo đói Năm 1998, con số này là 37% vànăm 2002 đã giảm xuống 29% Những con số này thể hiện một cách tập trungnhững nỗ lực cải cách của Việt Nam kể từ khi tiến hành đổi mới vào năm
1986 Trên cơ sở không ngừng nâng cao khả năng tiếp cận với các dịch vụgiáo dục và y tế, Việt Nam đã và đang tiếp tục đạt được những thành quảđáng kể trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Ngoài
ra, Việt Nam đang ngày càng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và đóng mộtvai trò tích cực hơn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế của khu vực vàtoàn cầu
Xu hướng hội nhập toàn cầu cùng với sự gia tăng những ảnh hưởng củanền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã đặt ra những yêu cầu về sự phát triểnbền vững về mặt xã hội và môi trường Điều đó đã quy định cho khoa học xãhội học những nhiệm vụ nghiên cứu mang tính thực tiễn về sự phát triển bềnvững ở Việt Nam, đặc biệt là những nghiên cứu liên quan đến chính sách.Phát triển bền vững là một khái niệm mang tính học thuật khá phức tạp,mặc dù nó đã và đang gây nhiều tranh cãi, nhưng mục tiêu cuối cùng mangtính khái quát hơn của sự phát triển bền vững lại mang tính xã hội và nhân
văn, như được nêu trong Hiến chương của Liên hiệp quốc về quyền con người Đó là“đảm bảo cho mỗi người quyền có được những điều kiện sống thích hợp cho sức khỏe và phúc lợi bao gồm đồ ăn, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết khác” [10, tr.10].
Về cơ bản, phát triển bền vững xã hội có cốt lõi nằm ở việc giải quyếtnhững mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội,cũng như phát triển con người Tuy nhiên, ngay cả với một cách hiểu sơ lược
Trang 8và phức tạp Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, để đảm bảo cho sự pháttriển bền vững về mặt xã hội, bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng về mặt kinh
tế, bảo vệ môi trường, thì vẫn còn những quá trình và những yếu tố xã hội cầnđược chú ý xem xét đúng mức, chẳng hạn: (i) hệ thống chính sách cần thiếtđầu tư cho con người, thúc đầy phát triển con người, đảm bảo các nhu cầu cơbản trong cuộc sống của họ, (ii) cải thiện điều kiện sống, cơ sở hạ tầng thiếtyếu của nhóm người nghèo, đặc biệt là nhóm xã hội nhạy cảm dễ bị tổnthương, (iii) huy động sự tham gia rộng rãi và có hiệu quả của cộng đồng vàmọi người dân vào quá trình phát triển, và (iv) tăng cường về mặt thể chế cácquá trình địa phương của xã hội dân sự
Đây cũng chính là những nhiệm vụ xuyên suốt mà Đảng và Nhà nướcquan tâm chỉ đạo, giao phó và yêu cầu đối với khoa học xã hội nói chung và
xã hội học nói riêng
Trong phát triển kinh tế xã hội nói chung, để theo đuổi những mục tiêuphát triển đô thị, nhiều mục tiêu ưu tiên về phát triển kinh tế đã thách thứcnhững ưu tiên về bảo vệ môi trường bền vững và bảo đảm đời sống cho ngườidân trong các khu vực khác nhau, đặc biệt là khu vực đô thị nơi phần lớnngười dân đô thị bị hạn chế trong việc hưởng các ưu tiên chính sách về môitruờng đô thị, vốn bản thân nó cũng đã rất yếu kém do phải nhượng bộ nhữngyêu cầu về tăng trưởng kinh tế một cách nhanh chóng, trong đó những ngườinghèo đô thị là những người phải hứng chịu nhiều nhất Họ thường sống tậptrung tại những nơi nghèo khó, những nơi không có hệ thống thoát nước hoặcnếu có thì yếu kém, đường vào thu gom rác còn hạn chế, điều kiện vệ sinhnghèo nàn và môi trường ô nhiễm do chính họ gây ra từ do thói quen sinhhoạt và do môi trường bên ngoài tác động vào Đây chính là một trong nhữngmảnh đất nhiều tiềm năng cho các nghiên cứu xã hội học, để có thể tìm rađược điểm cân bằng giữa phát triển bền vững về kinh tế xã hội và bảo vệ môitrường Bởi để đạt được sự phát triển thống nhất đối với một quốc gia đangphát triển như Việt Nam, những quyết sách tưởng chừng như đúng đắn trong
Trang 9phát triển, lại mang lại mối đe dọa lớn về môi trường sống của người dân, và
nó sẽ gây hậu quả về lâu dài có thể đe doạ xoá sạch những thành tựu pháttriển kinh tế từ trước đến nay
Vấn đề xung đột giữa nhu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ môi trườngngày càng trở thành mối quan tâm của các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nhàhoạch định chính sách của Việt Nam và các nhà tài trợ trong các dự án pháttriển, đặc biệt là dự án phát triển đô thị tại Việt Nam Mối quan tâm đó khôngchỉ dừng lại ở phạm vi lý luận mà cả ở những vấn đề mang tính thực tiễn.Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đều nhậnthức rõ về vấn đề này Trong năm 2009, Ban giám đốc ADB đã phê duyệt
Chính sách An toàn xã hội đề cao yêu cầu bảo vệ môi trường, tái định cư bắt
buộc để phục vụ phát triển kinh tế xã hội trong khu vực và người dân tộcthiểu số Theo đó chính sách an toàn xã hội đã khuyến khích tác động pháttriển trong các dự án ADB để tăng cường khả năng thích ứng và quản lý rủi romôi trường và xã hội trong các dự án phát triển của ADB tại Việt Nam ADBnêu rõ cần tránh tối đa việc tái định cư nhằm giảm thiểu tác động tới đời sốngcủa bộ phận dân cư chịu tác động, nhất là người dân nghèo, hoặc giả nếu nhưkhông thể tránh khỏi thì cần có biện pháp phục hồi đời sống người dân tươngđương với mức sống của họ trước khi có dự án, trong đó chú trọng cải thiệnđiều kiện sống của người nghèo bị thu hồi đất, cũng như các nhóm xã hội bịảnh hưởng khác, ví dụ như nhóm dân cư bản địa xung quanh khu vực tái định
cư Như chúng ta biết, tự bản thân hoạt động tái định cư đã phá vỡ cấu trúckhông gian sống của người dân, kể cả đối với người phải tái định cư và cảcộng đồng tiếp nhận người tái định cư Trong đó có các mối tương tác, thíchứng xã hội về các mặt như không gian, kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế, việclàm Thực tế này đang đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc nghiên cứu về tácđộng của các chính sách và hoạt động tái định cư thực tế trong các dự án pháttriển của ADB – nhà tài trợ quốc tế lớn ở Việt Nam vừa mang ý nghĩa về mặt
Trang 10ứng dụng những lý thuyết xã hội học vào giải thích một vấn đề của thực tiễn
là tác động của hoạt động tái định cư đối với người dân trong dự án Cải thiệnmôi trường đô thị miền Trung, góp phần kiểm chứng thêm tính đúng đắn củamột số luận điểm về lý thuyết của Xã hội học Mặt khác, nghiên cứu góp phầngiúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, chính quyền và đối tác địaphương hiểu rõ hơn về vấn đề môi trừơng trong phát triển và tác động tái định
cư Từ đó có biện pháp phù hợp nhằm phát huy tối đa nguồn lực và vai tròcũng các bên tham gia trong quá trình phát triển nhằm giải quyết những vấn
đề khó khăn để đạt tới mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững đồng thờibảo đảm môi trường được bảo vệ, tránh được những tác động không mong
muốn về lâu dài Với các lý do trên, tôi chọn đề tài “Tác động của việc tái định cư đến đời sống người dân trong vùng dự án của dự án ADB Cải thiện môi trường đô thị miền Trung Việt Nam (Dự án ADB)” làm đề tài luận văn
thạc sỹ Tác giả mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ nhữngtác động của hoạt động phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng tới đời sống ngườidân trong vùng dự án nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động tái định cưhướng tới sự phát triển cân bằng và bền vững
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác động của hoạt động tái định cư đến đời sống người dân vùng dự án ADB cải thiện môi truờng đô thị miền trung Việt Nam (Dự án ADB)”có một ý nghĩa khoa học nhất định Nghiên cứu đã ứng
dụng các lý thuyết xã hội học vào nghiên cứu vấn đề tái định cư đồng thờigóp phần vào mảng nghiên cứu xã hội học về nghiên cứu các tác động của dự
án tái định cư
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở khoa học cho việc hoạch định và hoànthiện chính sách về ổn định và nâng cao đời sống người dân tái định cư Đồngthời, qua đề tài này chúng tôi có cơ hội áp dụng những kiến thức lý luận,
Trang 11những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu xã hội học đã được học vào thực
tế Thông qua các kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần giúp các nhà quản lý,các cấp thực hiện cũng như các tổ chức có liên quan có cái nhìn khách quan
và toàn diện hơn về thực trạng của các hoạt động tái định cư cũng như tácđộng của hoạt động tái định cư đối với người dân tại địa phương, những khókhăn và thuận lợi, những kết quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế
Từ đó góp phần đề xuất thay đổi một số điểm còn chưa hợp lý trong chínhsách tái định cư
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tiến hành nghiên cứu phân tích và đánh giá quá trình thực hiệncác chính sách tái định cư đối với người dân vùng dự án, đồng thời tìm hiểunhững nhân tố tác động đến hiệu quả của việc thực hiện Từ đó, tác giả rút ranhững vấn đề chung nhằm tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả của công tác tái định cư đối với người dân vùng dự án về kinh tế xãhội và môi trường của vùng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phương phápnghiên cứu về phân tích đánh giá tác động của hoạt động tái định cư
- Xác định và mô tả chính sách tái định cư của Chính phủ Việt Nam vàADB và những vấn đề của người dân tái định cư chịu ảnh hưởng trực tiếp củacác chính sách tái định cư qua việc so sánh hiện trạng đời sống của người dântái định cư hiện nay so với trước khi thực hiện chính sách, ở các khía cạnh:
- Đánh giá mức độ hài lòng của người dân vùng tái định cư về các mặtcủa đời sống (Kinh tế, Văn hóa, Xã hội, Môi trường)
- Đưa ra kết luận nghiên cứu và đề xuất kiến nghị nhằm phát huy hiệuquả của các chính sách tái định cư và giảm thiểu bất lợi của các chính sáchnày lên đời sống người dân sau tái định cư trong thời gian tới
Trang 124 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của chính sách tái định cư và hoạt động tái định cư trong khuvực có dự án ADB đến đời sống người dân bị tái định cư
Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ sử dụng một số thông tin, dữ liệu thứ cấp
để dẫn chứng và so sánh thêm cho những giả thiết đã đưa ra, làm nổi bật vấn
Xã hội: Kết cấu xã hội mới, liên kết xã hội mới có gì thay đổi
Văn hóa: Một số giá trị văn hóa như tôn trọng, thừa nhận xã hội
Môi trường: Các vấn đề môi trường, mức độ đạt mục tiêu của dự án
5 Câu hỏi Nghiên cứu, Giả thuyết nghiên cứu và Khung Lý thuyết
5.1 Câu hỏi Nghiên cứu
- Việc thực hiện tái định cư trong dự án ADB đã mang lại những tác động
gì cho người bị ảnh hưởng bởi dự án?
Trang 13- Mức độ hài lòng của người dân tại vùng dự án như thế nào?
- Tác động của dự án (hoạt động tái định cư) có khả năng dẫn dắt ngườidân hướng tới phát triển bền vững hay không?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Hoạt động tái định cư trong dự án ADB mang lại một số ảnh hưởng về
kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường đối với những người bị ảnh hưởng bởi dự
án Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, có một số ảnh hưởng tiêu cực nảysinh
- Người dân đã chịu nhiều ảnh hưởng bởi hoạt động tái định cư về cácmặt kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường
- Người dân đã được tham gia vào các bước thực hiện hoạt động tái định
cư và hài lòng về quá trình tái định cư và ổn định đời sống
- Có nhiều sự khác biệt nào giữa đời sống người dân trước và sau tái định
cư, người dân cần có thêm thời gian và sự hỗ trợ từ bên ngoài để phát triển vàxây dựng cuộc sống mới
Trang 145.3 Khung lý thuyết
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng
- Đề tài áp dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng để tiếp
cận và phân tích tác động của các hoạt động tái định cư thuộc địa bàn dự ánvới tư cách là một hiện tượng kinh tế xã hội ra đời và vận hành trong một bốicảnh lịch sử cụ thể, có tính chất hệ thống; các yếu tố cấu thành chính sáchquan hệ và tác động biện chứng với nhau Trên cơ sở đó nhìn ra quy luật vậnđộng của nó
Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của địa
phương(hai thành phố Hà Tĩnh và thành phố Tam Kỳ)
Tác động của hoạt động tái định cư
tới đời sống người dân
Giới tính
Tuổi
Nghề nghiệpTrình độ học vấn
Trang 156.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Để tiếp cận nghiên cứu đạt kết quả đặt ra, luận văn sẽ phân tích các tàiliệu có liên quan như: văn kiện dự án, các báo cáo, tài liệu tham khảo có liênquan tới vấn đề tái định cư vv…để có những thông tin khái quát nhất về cácchính sách tái định cư của Nhà nước Việt Nam và nhà tài trợ về dự án này và
để có những đánh giá ban đầu của người trong cuộc để làm cơ sở so sánh chonhững đánh giá thực tế của người bị tác động
Tác giả đã tiến hành thu thập và phân tích các loại tài liệu liên quan như:
- Văn bản dự án của ADB và của Chính phủ Việt Nam
- Các báo cáo đầu kỳ, báo cáo tiến độ và báo cáo giám sát tái định cư của
dự án Cải thiện Môi trường Miền trung (Dự án ADB)
- Văn bản pháp luật của Chính phủ có liên quan đến các dự án phát triểncủa các nhà tài trợ quốc tế lớn
- Báo cáo tình hình kinh tế xã hội của địa phương
- Các tài liệu liên quan đến định hướng chiến lược phát triển kinh tế xãhội của địa phương
- Báo cáo hội thảo tiến độ
- Website của nhà tài trợ và chính phủ Việt Nam
- Và nhiều tài liệu khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi cấu trúc
Tổng số 168 hộ gia đình bị ảnh hưởng nghiêm trọng phải tái định cư tạicác khu tái định cư trong hai tiểu dự án: ở Thành phố Hà Tĩnh (Tỉnh HàTĩnh): hai khu là khu Nam Sông Cụt và khu Lò Mổ và Thành phố Tam Kỳ(tỉnh Quảng Nam) là năm khu (i) Khu Nam Quảng Nam, (ii) khu Đông Namtrường Nguyễn Huệ, (iii) khu Bắc trung tâm Thương mại (iv) khu phố 6phường An Sơn và khu tái định cư mang tên ADB tại khối phố Hồng Lư,
Trang 16phường Phước Hoà đã được phát phiếu điều tra thu thập thông tin để thu thậpthông tin định lượng
- Phương pháp chọn mẫu: 100% các hộ gia đình tái định cư trong các
khu tái định cư đều được khảo sát Ở tiểu dự án thành phố Hà Tĩnh có 5 hộthuộc diện tái định cư của dự án nhưng không chuyển vào khu tái định cư mà
đã đi sang nơi khác sinh sống, do điều kiện thời gian và kinh phí có hạn,chúng tôi đã không thể liên hệ với các hộ này mà chỉ tiến hành khảo sát 38 hộhiện đang sinh sống trong khu tái định cư của dự án Ở tiểu dự án thành phốTam Kỳ, có 130/130 hộ tái định cư đã chuyển vào 5 khu tái định cư kể trên do
đó số lượng mẫu là 130 phiếu
Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng, việc chọn mẫu trong nghiên cứu nàychưa thể suy rộng nếu xét trên phạm vi rộng của vấn đề nghiên cứu ở tất cảcác khu vực tái định cư trên cả nước Chính vì vậy, nghiên cứu này chỉ xemxét vấn đề trong phạm vi các trường hợp ở các khu tái định cư thuộc Thànhphố Hà Tĩnh (Tỉnh Hà Tĩnh) và thành phố Tam Kỳ (Tỉnh Quảng Nam) thuộc
dự án ADB
Các bảng hỏi phỏng vấn được kiểm tra (phỏng vấn thử) trước khi phỏngvấn chính thức Sau khi phỏng vấn xong, các bảng hỏi được làm sạch và xử lýbằng phần mềm SPSS 13.0
Cơ cấu mẫu khảo sát
Trang 176.2.3.2 Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin về tình hình cơ sở hạtầng ở địa phương, cơ sở vật chất và điều kiện sống của người dân dưới tácđộng của các chính sách và hoạt động tái định cư
Trang 18NỘI DUNG CHÍNHCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN
ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.1.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội
Nguyên lý phát triển của XHH Mác xít chỉ ra rằng phát triển là quá trìnhtrong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ, là hiện tượng diễn ra khôngngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Nguyên lý này chỉ ra rằng, mọi sự vật,hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhậnthức và hoạt động của bản thân, chúng ta phải có quan điểm phát triển Điều đó
có nghĩa là khi xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúngtrong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hóa củachúng
Thuyết này chỉ ra rằng cũng như giới tự nhiên, mọi xã hội, mọi nền vănhóa đều không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tươngđối, còn thực tế, nó không ngừng thay đổi từ bên trong bản thân nó Sự biếnđổi trong xã hội hiện đại càng rõ hơn, con người là một đơn vị cơ bản của xãhội, với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội, bản thân nó cũng luôn biến đổi.Biến đổi từ khi sinh ra đến khi trưởng thành rồi mất đi Biến đổi khi conngười phải thay đổi vị trí sống, thay đổi điều kiện và cấu trúc xã hội trong đó
họ là một thành tố chính Thuyết biến đổi xã hội ra đời coi xã hội là một sựvận động và tương tác không ngừng Chính sự vận động và tương tác này đãtạo ra sự đa dạng và phong phú của xã hội Như vậy, lý thuyết này lý giải rằng
sự biến đổi về nhận thức, mức sống, điều kiện cơ sở vật chất ở khu vực táiđịnh cư là một quá trình tất yếu
Trang 19Auguste Comte đã coi xã hội là sự chuyển hóa giữa hai mặt là mặt tĩnh(mặt cơ cấu của xã hội) và mặt động (mặt lịch đại của xã hội) Theo ông,trong xã hội, mọi cái đều vận động và biến đổi Tuy nhiên, sự biến đổi nàykhông diễn ra một cách đơn điệu Mỗi sự vật hiện tượng và sự kiện xã hội lại
có những cách thức và cường độ biến đổi khác nhau Sự biến đổi ít, biến đổinhiều và sự tĩnh tại cùng tồn tại đan xen với nhau Tĩnh tại cũng là một trạngthái của sự biến đổi [11, tr 119]
Còn nhà XHH theo thuyết biến đổi xã hội coi hành vi con người thôngqua các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa và giao tiếp là tác nhân của sựbiến đổi Nhà XHH Mỹ William Orburn đã đưa ra khái niệm “ độ chậm vănhóa” để chỉ sự biến đổi xã hội mà theo ông trong đó văn hóa vật chất thườngthay đổi nhanh hơn văn hóa phi vật chất Từ quan điểm này, quy chiếu vàonhững vấn đề tái định cư đối với đối tượng dân nghèo khu vực đô thị, ta cóthể thấy khi người dân chịu tác động của các hoạt động tái định cư, họ sẽ phảitìm cách thích ứng với hoàn cảnh mới dựa trên những thay đổi có tính vậtchất khác như điều kiện cơ sở hạ tầng tại địa phương, phương tiện sinh hoạtcủa họ
Khi thực hiện nghiên cứu này, tác giả chọn lý thuyết biến đổi xã hội làmột trong những lý thuyết làm nền tảng để phân tích khi đưa ra bốn lĩnh vực
để phân tích sự tác động của chính sách tái định cư tới đời sống người dânvùng dự án ADB, những người dân đang sống trong một xã hội Việt Namđang biến đổi một cách nhanh chóng và bản thân cuộc sống của họ trong xãhội thu nhỏ quanh họ đã bị thay đổi hoàn toàn trong quá trình di chuyển chỗ ở
và thay đổi về điều kiện sống và sinh kế được trình bày ở phần sau của luậnvăn
1.1.1.2 Lý thuyết Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là thuật ngữ mới xuất hiện gần đây Trong báo cáocủa Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển năm 1987, khái niệm phát
Trang 20triển bền vững mới được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế và
được định nghĩa như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Hay nói cách khác: Đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xãhội, môi trường nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người
ở các thế hệ hiện tại cũng như trong tương lai
Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằngnhững tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyênthiên nhiên và chất lượng môi trường
Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữamục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa – xã hội, cân đối tốc độtăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiênnhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch.Phát triển bền vững về xã hội là xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăngtrưởng nhanh và ổn định đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong
đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàndiện cho mọi đối tượng trong xã hội
Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường là các dạng tài nguyênthiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúngnhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyênkhông tái tạo được phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tựnhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên…) và môi trường xã hội(dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tậpcủa con người…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ônhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạtđược xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo, con ngườiđược sống trong môi trường trong sạch…
Trang 21Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự pháttriển bền vững của một xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sựphát triển sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững.
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tếhiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt đượcđiều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức
xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 4 lĩnh vựcchính: kinh tế - xã hội – văn hóa – môi trường
Bởi vậy nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách tái định cư đối vớingười dân vùng dự án ADB theo 2 nhóm tiêu chí của lý thuyết phát triển bềnvững: (1) Sự biến đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong vùng dự
án (2) Sự hài lòng của người dân đối với quá trình tái định cư thể hiện ở một
số tiêu chí cụ thể sẽ được trình bày ở phần sau của luận văn
1.1.2 Thao tác hóa một số thuật ngữ và khái niệm chính của nghiên cứu
1.1.2.1 Tác động
“Tác động” là kết quả đo được của một hành động đối với môi trường xãhội” (theo từ điển Xã hội học nguyên bản tiếng Pháp, Pierre Ansarb và AndreAkwoun, Paris, Nhà xuất bản Robert và Senil, 1999, trang 272) Thuật ngữ
“Tác động” chỉ kết quả, hệ quả của một hành động, một quyết định mộtthông điệp, một chính sách, một chương trình vv…đối với cá nhân, môitrường tự nhiên va môi trường xã hội Trong Xã hội học, thuật ngữ này đượcdùng để đo những hệ quả, phức hợp do con người cảm nhận trực tiếp hay giántiếp, trước mắt hay lâu dài của một hành động Như vậy, tái định cứ cải thiệnmôi trường cũng là một hành động Thuật ngữ ngày được sử dụng trong nước
để đo những cảm nhận và biến đổi của người dân trước và sau khi di cư có tổchức Ở đây, hệ quả của hoạt động tái định cư được đánh giá và đo ở bốn khía
Trang 22Khái niệm đánh giá tác động:
Theo nghĩa chung nhất, đánh giá tác động là quá trình xác định các tácđộng thực tế hoặc giả định của một quá trình can thiệp phát triển, trong đó cácnhân tố xã hội, kinh tế và môi trường trong đó các biện pháp can thiệp đượcthiết kế nhằm gây ảnh hưởng hoặc bị chịu ảnh hưởng ngược lại Điều này cóthể xảy ra trước khi một hành động can thiệp đượ chấp thuận, sau khi hoànthành, hoặc bất kỳ giai đoạn nào ở giữa Các đánh giá tiền can thiệp dự báotiềm năng tác động mà sau đó sẽ được sử dụng để lập kế hoạch, thiết kế vàphê duyệt một hành động can thiệp Đánh giá sau tác động xác định các tácđộng thực tế trong và sau khi thực hiện nhằm làm cơ sở cho hoạt động khắcphục nếu cần và cung cấp thông tin để cải tiến thiết kế cho các hoạt động canthiệp trong tương lai Các bước thực hiện hoạt động tái định cư của dự ánADB được trình bày khái quát ở hình sau:
Hình 1-2: Các bước thực hiện tái định cư trong dự án ADB
Trang 23Nguồn: Báo cáo tái định cư của Dự án ADB (2010)
Bước 1: Thiết kế, xin phép và phê duyệt dự án
Bước 2: Chuẩn bị thực hiện tái định cư (giao nhiệm vụ và đào tạo cán bộ chuyên trách, thành lập bộ máy chuyên trách vv)
Bước 3: Tiến hành khảo sát, xác định đối tượng chịu ảnh hưởng, kiểm đếm thiệt hại và giá trị đền bù, xác định đơn giá đền bù
Bước 4: Tham vấn lấy ý kiến người dân, lập dự thảo Kế hoạch tái định cư, xin phê duyệt kế hoạch tái định cư
Bước 5: Thực hiện tái định cư theo đúng kế hoạch đã phê duyệt
Bước 6: Thuê cơ quan giám sát độc lập tiến hành đánh giá tác động
xã hội của tái định cư
Trong đó: Mục tiêu chính của đánh giá tác động xã hội nhằm cung cấp một khung tích hợp cho việc phân tích xã hội phù hợp với quy trình hoạt động của nhà tài trợ Do có nhiều biến số xã hội có khả năng ảnh hưởng tới các hoạt động và sự thành công của dự án, do đó các đơn vị tư vấn đánh giá sẽ tập trung vào
những vấn đề liên quan tới hoạt động xây dựng và vận hành của
dự án Việc quyết định vấn đề nào là quan trọng và giải quyết chúng thế nào sẽ được tham vấn với các bên liên quan cũng như
sử dụng các phương pháp khác nhau để thu thập thông tin và phân tích số liệu Các bước đánh giá sẽ được thực hiện thông quaviệc thực hiện (a) Điều tra kinh tế xã hội ở khu vực dự án nhằm
Trang 24Việc đánh giá tác động sẽ được thực hiện bằng cách so sánh các yếu tốtại thời điểm lập đề xuất dự án và sau đó đem so sánh với các yếu tố xác địnhđược sau khi dự án đã tiến hành tác động sau một khoảng thời gian nhằm xácđịnh những yếu tố nào đã thay đổi, thay đổi vì lý do gì, những thay đổi nào làmong đợi và những thay đổi nào là không mong đợi Trong khuôn khổ luậnvăn này, tác giả sẽ áp dụng cách đánh giá tác động này để xác định các vấn đề
cụ thể liên quan đến bốn yếu tố kinh tế - xã hội – văn hóa – môi trường củacác hộ gia đình tái định cư trong dự án ADB sau một khoảng thời gian thựchiện hoạt động tái định cư, nhờ đó nhằm làm rõ giả thiết đã đặt ra của luậnvăn
Trong khi xem xét vấn đề phát triển bền vững, tất cả các tác động về mặtvăn hóa, xã hội, kinh tế và môi trường đều có mối quan hệ biện chứng vớinhau Đối với mỗi loại hình đánh giá tác động, tác giả sẽ có những nhận địnhbước đầu dựa trên các thông tin và số liệu thu thập được từ trước khi thựchiện hoạt động tái định cư và sau một khoảng thời gian nhất định để sử dụng
số liệu thống kê định lượng để đánh giá các tác động nhằm lượng hóa sựthành công của biện pháp can thiệp và mức độ của các tác động bất lợi
1.1.2.2 Đời sống xã hội
Đời sống xã hội là tổng thể các hiện tượng phát sinh do sự tác động lẫnnhau của các chủ thể xã hội và cộng đồng tồn tại trong những không gian vàthời gian nhất định, là tổng thể hoạt động xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầucủa con người Do vậy, đời sống xã hội đã trở thành mục tiêu phát triển củacác xã hội [5,tr.37]
Cơ sở của đời sống xã hội: Bản chất của đời sống xã hội là thỏa mãn cácnhu cầu đòi hỏi của mỗi thành viên Theo Maslow con người thường xuyênphát ra với xã hội 5 nhu cầu cơ bản là:
+ Nhu cầu sinh lý là những đòi hỏi về vật chất nhằm bảo đảm sự tồn tại
và phát triển của con người Đó là nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại Đây là nhu
Trang 25cầu cơ bản, hàng đầu đảm bảo sinh tồn cho mỗi cá nhân, vì vậy nó trở thànhđộng lực mạnh mẽ cho hoạt động xã hội.
+ Nhu cầu an sinh là nhu cầu ổn định bình an trong cuộc sống
+ Nhu cầu xã hội là nhu cầu giao tiếp xã hội để mỗi cá nhân thể hiện vịtrí, vị thế, vai trò xã hội của mình
+ Nhu cầu tôn trọng là những đòi hỏi mình nhận biết về người khác vàngười khác nhận biết về mình
+ Nhu cầu tự khẳng định mình là những đòi hỏi của cá nhân đối vớinhững vấn đề liên quan đến khả năng trong việc bộc lộ vai trò của mình trong
xã hội Thể hiện nhu cầu này là năng lực thành tích và sáng tạo
Nghiên cứu đời sống xã hội cho chúng ta thấy rõ được sự phát triển của
xã hội ở mực độ nào Đời sống xã hội là bằng chứng hiển nhiên để kiểm địnhtính đúng đắn của đường lối và các chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, nó còn
có vai trò to lớn đối với sự ổn định và phát triển xã hội Đời sống xã hội bảođảm sức khỏe, sự hình thành và phát triển từng cá nhân, đảm bảo sự hoạtđộng có hiệu quả của mỗi cá nhân đối với sự phát triển toàn diện của mỗi cánhân trong xã hội
Vấn đề mối quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần trongđời sống xã hội cũng là một đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xãhội, cụ thể là triết học Qua vận dụng vấn đề cơ bản của triết học về mối quan
hệ giữa tinh thần và tự nhiên, giữa ý thức và vật chất vào lĩnh vực xã hội,chúng ta thấy xuất hiện vấn đề mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xãhội
“Đời sống xã hội” ở đây được sử dụng như hai nhóm nhu cầu (sơ cấp vàcao cấp) của Maslow Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành xem xét sự biến đổicủa đời sống kinh tế vật chất đã đáp ứng nhu cầu của người dân trực tiếp haygián tiếp thụ hưởng dự án hay chưa, còn các biến đổi về văn hóa, xã hội vàmôi trường lại xem xét như là mức độ đáp ứng các nhu cầu cao cấp của người
Trang 261.1.2.3 Đời sống vật chất
Đời sống vật chất là phương tiện, phương thức thể hiện đời sống của conngười với tư cách là một sinh vật xã hội Nói cách khác, đời sống vật chất làphương tiện đo lường trình độ phát triển của con người xã hội trong xã hộiloài người trong đó nó thể hiện mặt bản thể luận của đời sống tinh thần.[11,tr.112] Chẳng hạn, những giá trị tinh thần bao giờ cũng phải được tồn tại,phát triển thông qua một số cơ sở, phương tiện vật chất như nhà in, đài phátthanh, đài truyền hình, thư viện, viện bảo tàng… và được vật chất hoá dướinhiều hình thức như sách báo, tranh ảnh, băng hình, băng nhạc, tượng đài,đình chùa… Đời sống vật chất của một nhóm đối tượng cụ thể thường được
đo lường bằng rất nhiều tiêu chí như nguồn sinh sống chính, mức sống so vớitiêu chí cụ thể, điều kiện sống được đo lường bằng các tiêu chí phụ như nhà ở,nước sạch, vệ sinh, môi trường, giao thông vv Chất lượng sống với các tiêuchí như cơ sở giáo dục, chăm sóc y tế, vui chơi giải trí, vv Ở các nước pháttriển, hệ thống an sinh xã hội rất phát triển đã tạo ra rất nhiều hệ thống xã hộigiúp đời sống người dân trở nên dễ chịu hơn và từ đó giúp nâng cao ý thức vàđời sống tinh thần của người dân, là điều mà các quốc gia đang phát triển,trong đó có Việt Nam đang hướng tới Ở đây tác giả sử dụng thuật ngữ đờisống vật chất để đo sự biến đổi về kinh tế và xã hội trước và sau khi thực hiện
dự án ADB tại vùng dự án
1.1.2.4 Đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần xã hội được hiểu bao gồm tất cả những gì liên quanđến lĩnh vực tinh thần: từ những giá trị, sản phẩm tinh thần đến những hiệntượng, quá trình tinh thần, từ những hoạt động tinh thần (sản xuất tinh thần,phân phôi, tiêu dùng giá trị tinh thần ) đến những quan hệ tinh thần (trongtrao đổi, giao tiếp tinh thần ) [29, tr.50] Nói đến đời sống tinh thần xã hội lànói đến tính liên tục về thời gian, tính rộng lớn về không gian của tất cảnhững hiện tượng, những quá trình tinh thần Với ý nghĩa như vậy, nội dung
Trang 27phạm trù đời sống tinh thần xã hội được chúng tôi hiểu như sau: Đời sốngtinh thần xã hội là tất cả những giá trị, sản phẩm, hiện tượng, những quá trình,những hoạt động, những quan hệ tinh thần của con người phản ánh đời sốngvật chất xã hội và được thể hiện như là một phương thức hoạt động và tồn tạitinh thần của con người trong những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định.
Có thể khẳng định rằng, đời sống tinh thần xã hội là một phạm trù rộng
Nó bao gồm ý thức xã hội, văn hoá tinh thần và nhiều hoạt động và quan hệtinh thần khác nữa Mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ phụ thuộc Điều
đó có nghĩa là ý thức xã hội và văn hoá tinh thần chỉ là một bộ phận của đờisống tinh thần xã hội Ở đây tác giả sử dụng thuật ngữ đời sống tinh thần để
đo sự biến đổi về xã hội và văn hóa trước và sau khi thực hiện dự án ADB tạivùng dự án
1.1.2.5 Môi trường
Trong “Luật Bảo vệ Môi trường” đã được Quốc hội Nước Cộng hòa Xãhội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 27 tháng 12năm 1993 định nghĩa khái niệm môi trường như sau:
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo,quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (Điều 1 Luậtbảo vệ môi trường của Việt Nam)
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tácđộng của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí,động, thực vật, đất, nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất
để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loạitài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng
Trang 28hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống conngười thêm phong phú
- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó lànhững luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định… ở các cấp khác nhaunhư: Liên hợp quốc, hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,… Môitrường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhấtđịnh, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sốngcủa con người khác với các sinh vật khác Vì thế, hệ môi trường rất nhạy cảmvới những thay đổi từ bên ngoài, điều này lý giải vì sao các vấn đề môi trườngmang tính vùng, tính toàn cầu, tính lâu dài (viễn cảnh) và nó chỉ được giảiquyết bằng nỗ lực của toàn thể cộng đồng, bằng sự hợp tác giữa các quốc gia,các khu vực trên thế giới với một tầm nhìn xa, trông rộng vì lợi ích của thế hệhôm nay và các thế hệ mai sau Ở đây tác giả sử dụng khái niệm môi trường
để đo sự biến đổi trong đời sống người dân tái định cư cùng với các mặt như
xã hội và văn hóa trước và sau khi thực hiện dự án ADB tại vùng dự án như làmột thước đo mức chất lượng cuộc sống của cộng đồng và đánh giá tính bềnvững của hoạt động tái định cư của dự án ADB
1.1.2.6 Tái định cư bắt buộc
Di dân tái định cư được hiểu là quá trình di chuyển chỗ ở của người dânđến lập cư ở một nơi khác Có hai dạng di dân chính Dạng thứ nhất là việc dichuyển tự phát của các cá nhân hoặc gia đình hoặc thậm chí cả toàn bộ cộngđồng nhưng không có kế hoạch và sự trợ giúp của các cơ quan nhà nước.Dạng thứ hai là tái định cư bắt buộc, đó là hoạt động tái định cư bắt buộcthuộc các chương trình hoặc dự án chính thức có kế hoạch được nhà nướcquản lý và cấp kinh phí Trong thực tế cả hai dạng di dân tái định cư này đều
có thể xảy ra nhưng ở đây tác giả chỉ đề cập đến các vấn đề di dân - tái định
cư mà có sự quản lý và quy hoạch của nhà nước
Trang 29Nghiên cứu tác động ở đây chủ yếu chọn khách thể là những người phải
di dân theo tổ chức Hay nói một cách khác, chỉ những thông tin của đốitượng hưởng lợi trực tiếp là được ưu tiên xử lý Do hạn chế về thời gian vàchi phí, nghiên cứu này không điều tra định lượng đối tượng đón nhận “dân dicư”, mà chỉ điều tra định tính Sự hình thành các dự án tái định cư là rất khácnhau, mặc dù việc đánh giá những tác động tiềm năng của các dự án là cầnthiết nhưng trong thực tế không thể xem xét toàn bộ vấn đề đã có như đánhgiá Điều quan trọng là hiểu được các lý do cơ bản là: tại sao lại đề xuất didân và tại sao những địa điểm nào đó và các hoạt động nào đó lại được chọncho dự án Bảng 1 chỉ ra nhiều giai đoạn đặc trưng của quá trình hình thành,lập kế hoạch và thực hiện các dự án tái định cư, các hoạt động chính liên quan
kiểm tra những khả năng tái địnhcư; xác định phạm vi của các dự
án tái định cư
Những khả năng có thể (vídụ,tăng cường độ phát triển
ở địa điểm hiện tại); sốlượng cần được tái định
cư ,những hoạt động chính Xác định những
người được tái
định cư
Ước định số lượng, bối cảnh kinh
tế xã hội và những yếu tố khác đòihỏi cân nhắc kỹ lưỡng trong hìnhthành dự án; ước định nhu cầu tàinguyên của người dân và các hoạtđộng kinh tế cơ bản của họ
Số lượng người sẽ được táiđịnh cư, tình trạng kiếnthức và kỹ xảo trong mỗiquan hệ với các địa điểm
dự kiến, những người định
cư, liệu họ có thích ứng vớimôi trường khác; các bệnh
Trang 30địa phương Xác định địa
điểm tái định
cư dự kiến
Đánh giá các đặc điểm tài nguyên
và chức nắng môi trường của các
hệ sinh thái để biết chắc các vị trí
đó có khẳ năng ổn định tái định cưhay không Xác định cách sử dụnghiện tại, chế độ sở hữu đất đai vàcác quyền sử dụng tài nguyên;
đánh giá các vị trí để lựa chọn
Sự phù hợp giữa vị trí vàcác hoạt động dự kiến, tiềmnăng tài nguyên để hố trợ
số người sẽ tái định cư;những mâu thuẫn với dân
Chất lượng của thiết kế kỹthuật, khả năng của nhữngngười thầu khoán, chấtlượng của việc kiểm tragiám sát
Khởi công Đưa dân đến, hỗ trợ tạo điều kiện
thuận lợi cho phép người dân bắtđầu xây dựng nhà cửa và thực hiệncác hoạt động kinh tế chính
Thời và chất lượng của sự
hố trợ
Giám sát Đánh giá định kỳ hoặc liên tục
từng giai đoạn của các biến động
Chủ yếu để biết chắc các hoạtđộng tái định cư có bền vững haykhông và cần thay đổi những điểmnào trong đề cương chính sáchquản lý vá các kỹ thuật quản lý
Việc sớm tìm ra các tácđộng có hại có thể được sửdụng để thay đổi phươngpháp quản lý dự án đểnâng cao chất lượng thựchiện dự án
Nguồn: Tổng hợp từ một số tài liệu
Qua bảng trên ta có thể thấy các đặc trưng cơ bản nhất của quá trình táiđịnh cư từ khi hình thành dự án cho tới khi hoạt động tái định cư đã hoànthành Dựa trên quy trình chung này, tác giả mong muốn đạt được sự nhất
Trang 31quán giữa lý thuyết và các hoạt động tái định cư trên thực tế diễn ra qua cácbước thực hiện Giữa lý thuyết và thực tiễn bao giờ cũng có khoảng cách nhấtđịnh, ở đây tác giả cho rằng những khoảng trống hoặc bất cập giữa mongmuốn thực hiện và thực tế thực hiện có thể được xác định rõ ở vị trí nào trong
cả quá trình thực hiện nhằm có cái nhìn tương đối khách quan về vấn đề didân tái định cư ở Việt Nam nói chung và ở dự án ADB nói riêng
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn
1.2.2 Chính sách của ADB đối với vấn đề Tái định cư
Các dự án do Ngân hàng tài trợ làm thay đổi phương thức sử dụng đất,nước và các tài nguyên thiên nhiên khác có thể gây nên hàng loạt các tác độngtái định cư Những thiệt hại từ tái định cư thường nảy sinh nhiều nhất do đất
bị chiếm dụng, thông qua việc trưng dụng và sử dụng đặc quyền của chínhphủ hay những biện pháp điều tiết khác để thu hồi đất Nhà cửa, các cấu trúc
và hệ thống cộng đồng, các mạng lưới và dịch vụ xã hội có thể bị phá vỡ Cácphương tiện sản xuất, bao gồm đất đai, các nguồn thu nhập và các kế sinh
Trang 32nhai có thể bị mất Đặc trưng văn hóa và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau cóthể bị triệt tiêu Tại các vùng đô thị, những người bị di chuyển có thể làm tăngthêm lượng dân cư sống trên đất lấn chiếm đang ngày một gia tăng Nhữngngười bị ảnh hưởng không còn sự lựa chọn nào và buộc phải tìm cách xâydựng lại cuộc sống, thu nhập và cơ sở vật chất của họ ở nơi ở mới.
Để đảm bảo cho một số người dân không gặp phải bất lợi trong quá trìnhphát triển Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cố gắng tránh hoặc giảm đếnmức thấp nhất các tác động tái định cư Trong trường họp tái định cư khôngthể tránh khỏi, ngân hàng giúp khôi phục chất lượng cuộc sống, đặc biệt đốivới những nhóm người dễ bị ảnh hưởng Tât cả các loại thiệt hại do Tái định
cư đều cần đến những biện pháp giảm thiểu như nêu trong bảng dưới
Bảng 1-2: Bi n pháp gi m thi u theo t ng lo i thi t h i ện pháp giảm thiểu theo từng loại thiệt hại ảm thiểu theo từng loại thiệt hại ểu theo từng loại thiệt hại ừng loại thiệt hại ại thiệt hại ện pháp giảm thiểu theo từng loại thiệt hại ại thiệt hại
Mất các phương tiện sản xuất, bao
gồm đất đai, thu nhập và sinh kế
Đền bù theo giá thay thế, hoặc thay thế những thu nhập và nguồn thu nhập bị mất Thay thế thu nhập và những chi phí chuyển đổi trong thời gian tái thiết cộng với các biện pháp khôi phục thu nhập trong trường hợp
bị mất sinh kếMất nhà cửa, có thể là mất toàn bộ
các cấu trúc và các hệ thống cộng
đồng và dịch vụ
Đền bù nhà cửa bị thiệt hại và những tài sản gắn liền với nó theo giá thay thế; các phương án di chuyển, kể cả xây dựng khu Tái định cư nếu cần, cộng với các biện pháp khôi phục mức sống
Mất các tài sản khác Đền bù theo giá thay thế hoặc thay
thếMất các tài nguyên của cộng đồng, Thay thế nếu có thể được, hoặc đền
Trang 33môi trường sống tự nhiên, các điểm
Trang 34Các yếu tố trong khung hướng dẫn tác động của dự án ADB cũng làmtiền đề, cơ sở và tiêu chí đáng giá tác động của dự án lên các mặt của đời sốngdân cư Những kết quả trái với khung này được coi là âm tính, phù hợp vớikhung thực hiện này là dương tính Xin xem thêm về khung pháp lý tái định
cư của ADB ở phần 2.1.2
1.2.3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề tái định cư ở nước ta là vấn đề được Đảng, Nhà nước, chínhquyền các ấp cũng như nhiều cơ quan, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ỞViệt Nam, chương trình di dân phục vụ phát triển kinh tế xã hội có kế hoạchtheo chủ trương của nhà nước đã được triển khai từ những năm 60 của thế kỷtrước Từ đó cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học, đề tài nghiêncứu, bài viết liên quan đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo được công bố, cụ thể
là các công trình sau:
Giáo sư Tương Lai, chủ nhiệm đề tài Hiện trạng và triển vọng cải thiện nhà ở, mức sống, môi trường sống của người nghèo đô thị - trường hơp Thành phố Hồ Chí Minh 1994.Với phương pháp điều tra Xã hội học, các tác
giả đã thành công trong việc mô tả, đánh giá mức sống của nhóm ngườinghèo đô thị
"Chính sách di dân châu Á" (Dự án VIE/95/ 2004 Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, 1998).Trong công trình này đã có nhiều bài viết đề cập ở những góc độ
khác nhau của việc di dời, giải toả, di dân tái định cư Cụ thể trong bài viết
"Chính sách tái định cư do kết quả của sự phát triển cơ sở hạ tầng ở ViệtNam" (từ trang 180-195), tác giả Trương Thị Ngọc Lan bàn đến thực trạngcông tác tái định cư hiện nay ở nước ta và tập trung trình bày những nội dungchính của các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù và tái định cư Ngoài ra,trong bài viết "Di dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị mới như thànhphố Hồ Chí Minh", tác giả Lê Văn Thành bước đầu đề cập đến những khókhăn, thiệt thòi về việc làm mà người dân tái định cư phải đương đầu
Trang 35Ngân hàng Phát triển Châu Á “Tái định cư bắt buộc” 1995 Trong tài
liệu này, việc tái định cư bắt buộc được xác định là chính sách đền bù và hỗtrợ ổn định lại cuộc sống Mục tiêu đặt ra cho việc tái định cư là phải đảm bảosau khi tái định cư, những người bị ảnh hưởng bởi dự án ít nhất đạt tới mứcsống như họ lẽ ra có được nếu không có dự án
Tiến sỹ Phạm Mộng Hoa – Tiến sỹ Lâm Mai Lan, “Tái định cư trong các
dự án phát triển: chính sách và thực tiễn" Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2000)
Với công trình này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của cácNghị định, Thông tư quy định về mặt pháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa vàtrách nhiệm của Nhà nước đối với người bị giải tỏa; đồng thời chỉ ra nhữngkhiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khácbiệt giữa chính sách TĐC của Việt Nam với chính sách TĐC của các tổ chứcquốc tế Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất, kiến nghị, bổ sung và điều chỉnhnhững chính sách hiện hành, làm cho những chính sách này phù hợp với yêucầu thực tiễn
Nguyễn Quang Vinh, Một số vấn đề xã hội học hàng đầu của việc cải tạo- chỉnh trang đô thị: giảm tổn thương cho nhóm dân cư nghèo nhất Tạp
chí Xã hội học, số 1-2001 Đây là một nghiên cứu Xã hội học về sự ảnhhưởng của các dự án cải tạo - CTĐT đến việc làm và mức sống của nhóm dân
cư nghèo ở TP Hồ Chí Minh Cách tiếp cận của tác giả đã gợi mở ra nhữnghướng nghiên cứu rất bổ ích về đề tài biến đổi mức sống của nhóm dân cư bịảnh hưởng bởi quá trình đô thị hoá
Trang 36Phạm Quang Tú, Phan Đình Nhã, Nguyễn Văn Sự, Ổn định cuộc
sống của người dân Tái định cư và bảo vệ môi trường trong các dự án thủy điện, Tạp chí số 3-2011 Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững, tác giả đã khẳng định để giảm thiểu tác động bất lợi và ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất và tái định cư, chủ trương chung của Đảng và Nhà nước xác định công tác di dân tái định cư là hợp phần quan trọng trong các dự án xây dựng công trình thủy điện và nhấn mạnh rằng công tác phải “đảm bảo cuộc sống vùng tốt hơn hoặc ít nhất là bằng nơi ở cũ”.
Nhìn chung các công trình trên đã bước đầu tiếp cận các vấn đề bức thiếtcủa thực tiễn đặt ra, cung cấp được các luận cứ làm cơ sở cho việc rà soát,đánh giá chính sách Đồng thời, còn có nhiều công trình khoa học khácnghiên cứu vấn đề tái định cư ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thể khẳngđịnh các công trình nghiên cứu về tái định cư ở nước ta có rất nhiều Có nhiều
ý kiến khẳng định tính cấp thiết, đúng đắn của các chính sách đền bù, hỗ trợtái định cư, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế xã hội song cũng cònkhông ít ý kiến nhận thấy hiệu quả của chính sách còn rất hạn chế, thiếu tínhbền vững vv
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về chính sách tái định cư trongthời gian gần đây, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiêncứu xã hội học đánh giá tác động của tái định cư tới đời sống người dân, đặcbiệt là người dân nghèo đô thị trên các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa
và môi trường
Đề tài nghiên cứu này mong muốn đóng góp thêm một phần nhỏ vào xuhướng nghiên cứu về các tác động của hoạt động tái định cư tới người dânnghèo đô thị ở nước ta
1.2.4 Đặc điểm kinh tế-xã hội của địa bàn miền Trung trong vùng ảnh hưởng của dự án ADB
Trang 37Khu vực miền trung Việt Nam còn gọi là Trung bộ dưới thời Pháp thuộc,nằm ở phần giữa lãnh thổ và là một trong ba vùng chính (gồm Bắc Bộ, Trung
Bộ và Nam Bộ) của Việt Nam Miền Trung Việt Nam (Trung Bộ) có phía Bắcgiáp khu vực đồng bằng Sông Hồng và Trung du miền núi vùng Bắc Bộ; phíaNam giáp các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu vùng NamBộ; phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp 2 nước Lào và Campuchia Dảiđất miền Trung được bao bọc bởi những dãy núi chạy dọc bờ phía Tây vàsườn bờ biển phía Đông, vùng có chiều ngang theo hướng Đông - Tây hẹpnhất Việt Nam (khoảng 50km) và nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Địa hình miền Trung gồm 3 khu vực cơ bản là Bắc Trung Bộ, TâyNguyên và Nam Trung Bộ
Bắc Trung Bộ bao gồm các dãy núi phía Tây, giáp Lào có độ cao trungbình và thấp Riêng miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hoá có độ cao từ 1000 -1500m Khu vực miền núi Nghệ An - Hà Tĩnh là đầu nguồn của dãy TrườngSơn có địa hình rất hiểm trở, phần lớn các núi cao nằm rải rác ở đây Cácmiền đồng bằng có tổng diện tích khoảng 6.200km2, trong đó đồng bằngThanh Hoá do nguồn phù sa từ sông Mã và sông Chu bồi đắp, chiếm gần mộtnửa diện tích và là đồng bằng rộng nhất của Trung Bộ
Tây Nguyên có diện tích khoảng 544737km2, nằm về vị trí phía Tây vàTây Nam Trung Bộ (phía Tây dãy Trường Sơn) Tây Nguyên có phía Tâygiáp 2 nước Lào và Campuchia, phía Đông giáp khu vực kinh tế Nam Trung
Bộ và phía Nam giáp khu vực Đông Nam Bộ Địa hình Tây Nguyên đa dạng,phức tạp, chủ yếu là cao nguyên với núi cao ở độ cao từ 250 - 2500m
Nam Trung Bộ thuộc khu vực cận giáp biển Địa hình ở đây bao gồmđồng bằng ven biển và núi thấp, có chiều ngang theo hường Đông - Tây(trung bình 40 - 50km), hạn hẹp hơn so với Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Có
hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bờ biển sâu với nhiều đoạn khúc khuỷu,
Trang 38phía Tây trải dọc theo hướng Nam tiến dần ra sát biển và có hướng thu hẹpdần diện tích lại Đồng bằng chủ yếu do sông và biển bồi đắp, khi hình thànhnên thường bám sát theo các chân núi.
Xét chung, địa hình Trung Bộ có độ cao thấp dần từ khu vực miền núixuống đồi gò trung du, xuôi xuống các đồng bằng phía trong dải cồn cát venbiển rồi ra đến các đảo ven bờ
Miền Trung được chia làm 3 tiểu vùng:
Bắc Trung Bộ Việt Nam gồm có 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế
Nam Trung Bộ Việt Nam gồm 8 tỉnh thành theo thứ tự Bắc-Nam: ĐàNẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, NinhThuận, Bình Thuận
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắc, Đắk Nông và LâmĐồng
Hai vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ được gọi chung làDuyên hải miền Trung Khối núi Bạch Mã, nơi có đèo Hải Vân được coi làranh giới giữa Bắc và Nam Trung Bộ
Kinh tế miền Trung với sự tập trung là 5 tỉnh kinh tế trọng điểm là ThừaThiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Đà Nẵng Các khu vựckinh tế này không chỉ có vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội của khu vực miền Trung và Tây Nguyên mà còn có vị trí quan trọng trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước về địa lý, kinh tế, chính trị, vănhóa và an ninh quốc phòng Trong những năm gần đây, nền kinh tế của khuvực miền Trung gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt tốc độ tăng trưởng tươngđối cao, khoảng 11,6% thời kỳ 2001-2009, trong đó tốc độ tăng trưởng củangành công nghiệp-xây dựng đạt 17,4%, ngành thương mại dịch vụ đạt 11,5%
và ngành nông nghiệp đạt 4,6% Tỷ lệ hộ nghèo trên toàn khu vực miền
Trang 39Trung là 22,23% vào đầu năm 2001 giảm xuống còn 17,12% vào cuối năm
2002 và đến đầu năm 2011 tỷ lệ này đã giảm xuống còn 14,2%, dù đã giảmđáng kể nhưng vẫn còn khó cao so với các vùng khác trong cả nước (khu vựcđồng bằng Sông Hồng là 6,5% Khu vực Tây Nguyên là 8,62%; Khu vựcĐồng bằng Sông Cửu Long có tỷ lệ 11,39% và khu vực Đông Nam Bộ có tỷ
lệ hộ nghèo thấp nhất trong cả nước với con số 1,70%) [Nguồn: quyết định
số 375/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộcận nghèo năm 2011] Từ đó, nhu cầu giảm nghèo bằng phát triển sinh kế bềnvững là nhu cầu nổi bật của khu vực miền Trung Chính phủ và ADB đã dànhnhiều chính sách và dự án phát triển kinh tế và môi trường cho khu vực này
1.2.5 Đặc điểm kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
1.2.5.1 Thành phố Tam Kỳ:
Thành phố Tam Kỳ được thành lập tại Nghị định số 113 ngày 29/9/2006của Chính phủ, bao gồm 9 phường, 4 xã của Thị xã Tam Kỳ, diện tích gần93km2, dân số gần 12 nghìn người Thành phố Tam Kỳ là một trung tâm hànhchính, văn hoá–khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Nam, nằm ở trung độ của
cả nước và vùng trọng điểm kinh tế ven biển miền Trung
Theo báo cáo phát triển kinh tế xã hội trong 9 tháng đầu năm 2011 củathành phố Tam Kỳ, Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 9 thángđạt 911 tỷ đồng, bằng 75,9% chỉ tiêu KH và tăng 26,9% so với cùng kỳ năm
2010 Đã thu hút một số doanh nghiệp có đầu tư mới và khuyến khích doanhnghiệp mở rộng sản xuất, giải quyết được nhiều lao động
Giá trị các ngành thương mại, dịch vụ thực hiện 9 tháng đầu năm 2011đạt 1.964 tỷ đồng, bằng 76,2% chỉ tiêu KH và tăng 27,2% so với cùng kỳ.Nhìn chung, hàng hóa phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu của nhân dân; giá
cả các mặt hàng chủ yếu vẫn ổn định, giá mặt hàng lương thực tăng nhẹnhưng không đáng kể Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu
Trang 40dùng trong 9 tháng đạt 4.039 tỷ đồng Tổng dân số của Thành phố Tam Kỳ là139.937, tổng số hộ khoảng 26911 hộ, trung bình mỗi hộ có 5,2 nhân khẩu.
Số hộ nghèo trên tổng số hộ năm 2010 là 7,93% Cả thành phố có 13 xãphường với 55 cán bộ y tế/bác sỹ, trung bình có 4,2 cán bộ y tế trên mộtxã/phường Thành phố có một bệnh viện đa khoa với tổng số cán bộ y tế vàbác sỹ là 90 người trong đó số bác sỹ chuyên khoa là 6 người Thành phố có
16 trường mầm non, 13 trường tiểu học, 10 trung học cơ sở và 6 trung họcphổ thông Trên địa bàn thành phố có một trường đại học Quảng Nam 4trường cao đẳng và 3 trường trung cấp Nhìn chung cơ sở vật chất vẫn còn rấtnghèo và cần có nhiều sự hỗ trợ của chính phủ và các tổ chức tài trợ khác
1.2.5.2 Thành phố Hà Tĩnh
Thành phố Hà Tĩnh ở vị trí từ 180 - 18024’ vĩ độ Bắc, 10o553’-10o556’kinh độ Đông, nằm trên trục đường Quốc lộ 1A cách thủ đô Hà Nội 340 km,thành phố Vinh 50km về phía Bắc; cách thành phố Huế 314 km về phía Nam
và cách biển Đông 12,5 km
Thành phố Hà Tĩnh nằm trên vùng đồng bằng ven biển miền Trung, cóđịa hình thấp, bằng phẳng, đất đai được tạo thành do bồi tích sông, biển, độcao từ 0,5m-3m
Tổng diện tích tự nhiên 56,32km2 Hà Tĩnh có 10 phường nội đô và 6 xãphụ cận với tổng số dân theo tổng điều tra dân số tính tới ngày 1 tháng 4 năm
2009 là 87.168 người trong đó có 45.513 nữ giới và 41.655 nam giới Tổngdân cư đô thị là 61.940 người Thành phố có 10 phường nội thị và 6 huyệnngoại thị Thành phố có một bệnh viện đa khoa, với 400 giường bệnh, tổng sốbác sỹ hơn 100 người trong đó có 11 bác sỹ chuyên khoa Thành phố có 16trường mầm non, 20 trường tiểu học, 10 trường trung học cơ sở và 9 trườngtrung học phổ thông, 1 trường đại học và 4 trường cao đẳng nghề Theo báocáo Kinh tế xã hội của thành phố Hà Tĩnh năm 2011, từ năm 2007 đến nay, cơcấu kinh tế của Thành phố đã có những bước chuyển dịch rất rõ nét theo