Trong quá trình đổi mới của đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục và đào tạo. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính. Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước , xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam...” (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI) Điều 3 chương I, Luật giáo dục 2005 ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”. Điều 93 đến Điều 98 chương VI cũng đã quy định trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội đối với công tác giáo dục và đã thể hiện ý nghĩa quan trọng của sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội. Sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội nếu được thực hiện một cách đồng bộ thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng lên, ngược lại, sự phối hợp này không ăn khớp thì sẽ gây cản trở hoặc khó khăn trong quá trình hình thành nhân cách học sinh. Thực tiễn giáo dục ở các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng cho thấy nhận thức về sự phối hợp nhà trường gia đình xã hội chưa thực sự có hiệu quả cao trong giáo dục đạo đức học sinh. Một số bậc phụ huynh còn xem nhà trường là môi trường giáo dục duy nhất cho trẻ, vì vậy trẻ hư thì đổ lỗi hoàn toàn cho nhà trường là “thầy cô dạy như thế…”, hoặc đổ lỗi cho xã hội “xã hội quá nhiều tiêu cực, cạm bẫy làm cho con tôi hư….”. Một bộ phận giáo viên ở các trường học thì chỉ tập trung cho chất lượng học tập, xem nhẹ giáo dục đạo đức, dẫn đến chỉ biết đổ lỗi cho gia đình và xã hội, chưa thấy mối quan hệ giữa nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục, chưa kết hợp “dạy chữ” với “dạy người”. Các lực lượng xã hội lại luôn kêu ca là nhà trường, gia đình chưa có giải pháp cho giáo dục, đưa ra xã hội nhiều “phế phẩm”, “sản phẩm của giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu xã hội….”. Việc đổ lỗi cho nhau giữa ba lực lượng trên xuất phát từ sự phối hợp lỏng lẻo giữa nhà trường gia đình – xã hội, là hiện tượng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”. Đây chính là thực trạng của nhiều địa phương trên đất nước ta và chính là nỗi bức xúc của nhiều nhà sư phạm, nhà nghiên cứu giáo dục. Nếu sự phối hợp nhà trường gia đình xã hội được tốt hơn thì những khó khăn trong giáo dục chắc rằng sẽ được hạn chế, những tồn tại được đẩy lùi. Trong thực tế, sự phối hợp nhà trường gia đình xã hội ở đây thực ra chỉ có tính bề nổi, còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là giải pháp phối hợp như thế nào để đạt hiệu quả, thường xuyên và đồng bộ. Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng” với hi vọng đề xuất được một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường gia đình xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức và giáo dục toàn diện của các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2MỤC LỤC
T
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu đồ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG – GIA ĐÌNH – XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
5 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
5 1.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
6 1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 7
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 7
1.3 Sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông
19 1.3.1 Trường trung học phổ thông trong công tác giáo dục học sinh 19
1.3.2 Gia đình trong công tác giáo dục học sinh 26
1.3.3 Xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh 28
1.3.4 Sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
29 1.4 Quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
33
Trang 31.4.1 Nội dung quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong
giáo dục đạo đức học sinh
34 1.4.2 Các biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
35 1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
37 1.5.1 Hiệu quả của việc quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
37 1.5.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
37 1.6 Cơ sở pháp lí của quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
39 Tiểu kết chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH - XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
43 2.1 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
43 2.1.1 Địa lí và dân số 43
2.1.2 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội 43
2.1.3 Tình hình văn hóa - giáo dục 43
2.2 Khái quát về các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng 45
2.2.1 Trường THPT An Lão 45
2.2.2 Trường THPT Quốc Tuấn 46
2.2.3 Trường THPT Trần Hưng Đạo 46
2.2.4 Trường THPT Trần Tất Văn 47
Trang 42.3 Thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo
dục đạo đức học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
47 2.3.1 Thực trạng về sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
47 2.3.2 Thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
54 2.3.3 Thực trạng về hiệu quả của các biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường- gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
57 2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
58 2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng
62 2.5.1 Mặt mạnh 62
2.5.2 Mặt hạn chế 63
2.5.3 Nguyên nhân 63
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH - XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
66 3.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính pháp chế 66
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 66
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 67
Trang 53.2 Một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội
trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão,
thành phố Hải Phòng
67 3.2.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lí, giáo viên, cha mẹ học sinh và các tổ chức xã hội về tầm quan trọng của sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
67 3.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh 71 3.2.3 Tăng cường nguồn lực cho hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
75 3.2.4 Thực hiện đa dạng các nội dung hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
76 3.2.5 Tăng cường kiểm tra - đánh giá sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
81 3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
83 3.3.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 83
3.3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 97
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Số lượng cán bộ giáo viên và học sinh ở các trường THPT
huyện An Lão (Năm học 2012-2013 ) 44Bảng 2.3 Kết quả xếp loại học lực 3 năm gần đây 45Bảng 2.4 Mẫu khảo sát thực trạng 47Bảng 2.5 Nhận thức của CB, GV và CMHS về tầm quan trọng của sự
phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
48Bảng 2.6 Nhận thức của CB, GV và CMHS về vai trò của sự phối hợp
nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
39Bảng 2.7 Mức độ thực hiện hoạt động phối hợp NT - GĐ - XH trong
giáo dục đạo đức học sinh
50Bảng 2.8 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp NT-GĐ trong giáo
dục đạo đức cho HS theo đánh giá của CB, GV
51Bảng 2.9 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp GĐ-NT theo đánh giá
của cha mẹ học sinh
52Bảng 2.10 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp NT-XH trong
GDĐĐ cho HS theo đánh giá của CB, GV
53Bảng 2.11 Đánh giá của CB, GV về các biện pháp phối hợp gia đình -
nhà trường trong giáo dục đạo đức học sinh
54Bảng 2.12 Đánh giá của CB, GV về các biện pháp phối hợp nhà trường -
xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
56Bảng 2.13 Đánh giá của CB, GV về hiệu quả quản lý các biện pháp phối
hợp trong giáo dục đạo đức cho học sinh 58Bảng 2.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý sự phối hợp NT-
GĐ-XH trong giáo dục đạo đức cho học sinh
Trang 759Bảng 3.1 Kết quả khảo về mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất 84Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 85Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đã xuất 87
Trang 9Điều 3 chương I, Luật giáo dục 2005 ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải đượcthực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao độngsản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục giađình và giáo dục xã hội” Điều 93 đến Điều 98 chương VI cũng đã quy định tráchnhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội đối với công tác giáo dục và đã thể hiện ýnghĩa quan trọng của sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội Sự phối hợp nhàtrường – gia đình – xã hội nếu được thực hiện một cách đồng bộ thì hiệu quả giáodục sẽ nâng lên, ngược lại, sự phối hợp này không ăn khớp thì sẽ gây cản trở hoặckhó khăn trong quá trình hình thành nhân cách học sinh
Thực tiễn giáo dục ở các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòngcho thấy nhận thức về sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội chưa thực sự cóhiệu quả cao trong giáo dục đạo đức học sinh Một số bậc phụ huynh còn xem nhàtrường là môi trường giáo dục duy nhất cho trẻ, vì vậy trẻ hư thì đổ lỗi hoàn toàncho nhà trường là “thầy cô dạy như thế…!”, hoặc đổ lỗi cho xã hội “xã hội quánhiều tiêu cực, cạm bẫy làm cho con tôi hư….” Một bộ phận giáo viên ở các trườnghọc thì chỉ tập trung cho chất lượng học tập, xem nhẹ giáo dục đạo đức, dẫn đến chỉbiết đổ lỗi cho gia đình và xã hội, chưa thấy mối quan hệ giữa nhiệm vụ giảng dạy
Trang 10và giáo dục, chưa kết hợp “dạy chữ” với “dạy người” Các lực lượng xã hội lại luônkêu ca là nhà trường, gia đình chưa có giải pháp cho giáo dục, đưa ra xã hội nhiều
“phế phẩm”, “sản phẩm của giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu xã hội….” Việc đổ lỗicho nhau giữa ba lực lượng trên xuất phát từ sự phối hợp lỏng lẻo giữa nhà trường -gia đình – xã hội, là hiện tượng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” Đây chính làthực trạng của nhiều địa phương trên đất nước ta và chính là nỗi bức xúc của nhiềunhà sư phạm, nhà nghiên cứu giáo dục Nếu sự phối hợp nhà trường - gia đình - xãhội được tốt hơn thì những khó khăn trong giáo dục chắc rằng sẽ được hạn chế,những tồn tại được đẩy lùi Trong thực tế, sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội
ở đây thực ra chỉ có tính bề nổi, còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là giải pháp phốihợp như thế nào để đạt hiệu quả, thường xuyên và đồng bộ
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý sự phối hợp nhà
trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng” với hi vọng đề xuất được
một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dụcđạo đức cho học sinh nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức và giáo dục toàndiện của các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng quản lý sựkết hợp nhà trường - gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở cáctrường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, đề xuất các biện pháp quản lý
sự phối hợp nhà trường - gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh cáctrường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục đạo đức và giáo dục toàn diện của các trường THPT trên địa bàn huyện AnLão, thành phố Hải Phòng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội tronggiáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng.3.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý sự phối hợp nhà trường – giađình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão,thành phố Hải Phòng
Trang 113.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hộitrong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phốHải Phòng.
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho họcsinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dụcđạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão thành phố Hải Phòng
5 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dụcđạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng đãđược thực hiện, song, còn mang tính hình thức, lỏng lẻo, do đó hiệu quả giáo dụcchưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội Nếu vận dụng hợp
lí các biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dụcđạo đức cho học sinh do tác giả đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáodục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường - giađình - xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường THPT huyện An Lãothành phố Hải Phòng trong 3 năm học: 2010-2011, 2011-2012, 2012-2013
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản, chỉ thị, nghị quyết, sách báo, có nội dungliên quan đến đề tài nghiên cứu; sàng lọc thông tin, tổng hợp những vấn đề cơ bảnlàm cơ sở lý luận cho đề tài
7.1 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, khảo sát thực tế
- Thống kê số liệu, phân tích thực trạng
- Tổng kết kinh nghiệm
Trang 12- Điều tra cơ bản bằng phiếu hỏi
- Lấy ý kiến chuyên gia, trao đổi, tọa đàm
7.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung chính của luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xãhội trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng về quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hộitrong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão,thành phố Hải Phòng
Chương 3: Một số biện pháp quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xãhội trong giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện AnLão, thành phố Hải Phòng
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỰ PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG – GIA ĐÌNH – XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục đạo đức đã và đang trở thành mối quan tâm củacác nhà sư phạm và các nhà quản lý giáo dục nói riêng Trong các văn kiện củaĐảng cộng sản Việt Nam đã thường xuyên thể hiện sự quan tâm đến việc xây dựngcon người Việt Nam, đặc biệt là đạo đức của con người Việt Nam qua từng thời kì
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phối hợpgiữa nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh, coi đó lànguyên tắc cơ bản đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường Các nhàgiáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độkhác nhau Một số công trình nghiên cứu về vấn đề này:
- “Sự kết hợp giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20Giáo trình Giáo dục học, Tập II, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1988 của tác giả
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
- “Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hộitrong điều kiện mới”, tập thể tác giả ở Trung tâm Giáo dục học, thuộc Viện Khoahọc Giáo dục, 1993
- “Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhàtrường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”,tác giả Nguyễn Thị Kỷ, Viện Khoa học Giáo dục, 1996
- “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hộikhác”, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, 1998
Những nghiên cứu trên đã đưa ra các cơ sở lý luận cơ bản và bước đầu đềxuất các mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhàtrường, gia đình, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Các tác
Trang 14giả đã dùng các khái niệm khác nhau: “thống nhất”, “hợp tác”, “kết hợp”, “phốihợp”, “liên kết”, các khái niệm về giáo dục (theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp), mối tươngquan giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục học sinh Các tác giả đã chỉ ranhững lý luận về sự cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và
xã hội, đã chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con em, việcgiáo dục học sinh và cần phải nâng cao tính thống nhất trong sự phối hợp nhàtrường - gia đình - xã hội
1.1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh
Những năm gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu vấn đề quản lý sự phốihợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh, như:
- “Tổ chức liên kết giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục họcsinh của một số trường trung học cơ sở ở thành phố Huế”, Lê Thị Hoa, Luận vănthạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Huế, 1999
- “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với giađình của Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Lấp Vò, tỉnh ĐồngTháp”, Nguyễn Minh Tâm, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạmHuế, 2007
- “Quản lý sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việcgiáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thị trấn Lương Bằng, huyệnKim Động, tỉnh Hưng Yên, Trần Thị Mai Hanh, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục,Đại học Giáo dục, 2010
Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản, những
đề xuất về mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp các lực lượng giáo dục: nhàtrường, gia đình và xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Nhữngnghiên cứu trên đồng thời cũng làm rõ các chức năng quản lý sự phối hợp nhàtrường – gia đình – xã hội và đưa ra các biện pháp tăng cường quản lý sự phối hợpnhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh Tuy nhiên, trên địabàn huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đềnày, đặc biệt trong bối cảnh vấn đề giáo dục đạo đức học sinh đang đặc biệt đượcquan tâm Vì vậy, trong điều kiện công tác của mình, tác giả thấy cần có sự nghiên
Trang 15cứu về “Quản lý sự phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội trong giáo dục đạo đứccho học sinh các trường trung học phổ thông huyện An Lão, thành phố Hải Phòng”,nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh trên địa bànhuyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm Nó xuất hiện từ khi conngười bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thểđạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ Nó là một yếu tố cần thiết để phốihợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung
Con người trải qua bao nhiêu giai đoạn phát triển với những hình thái xã hộikhác nhau thì cũng có bấy nhiêu kiểu quản lý Quản lý vừa là biện pháp hành chính,vừa là nghệ thuật Sau này khi khoa học phát triển, quản lý thành khoa học ứngdụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội
C.Mac đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay công đồng trực tiếp nào đượcthực hiện ở một quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sựquản lý Quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thànhnhững chức năng chúng xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ củanó” [26, tr 9] Như vậy, bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển laođộng Xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thìhoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng
Nhiều nhà nghiên cứu lí luận Liên bang Nga cho rằng: Quản lý là một hệ thống
xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động (của chủ thể quản lý) vào hệ thống, chủ yếu
là vào con người, nhằm đạt những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định [26, tr 9]
Các tác giả nghiên cứu quản lý phương Tây cũng có những định nghĩa quản
lý rất cụ thể như: “Quản lý chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phốihợp và kiểm tra” [17, tr 25]
Taylor PH.W (1856-1915) đã định nghĩa “Quản lý là biết được chính xácđiều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng học đã hoàn thành côngviệc một cách tốt nhất và dễ nhất” Đó cũng là tư tưởng của ông về quản lý
Trang 16Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau vềquản lý Theo Từ điển Tiếng Việt thì “Quản lý là hoạt động của con người tác độngvào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêuchung” [39, tr 880]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng quản lý là những tác động có địnhhướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức đểvận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý một hệ thống là quá trìnhtác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặctrưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn” [19, tr 225]
Từ các khái niệm quản lý khác nhau, có thể hiểu một cách khái quát: quản lý
là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lýtrong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra
Để đạt được những mục tiêu đã định, quản lý phải thông qua các chức năngquản lý Chức năng quản lý chính là những nội dung, những phương thức hoạt động
cơ bản mà trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý sử dụng nó tác động đến đốitượng quản lý để thực hiện mục tiêu quản lý
Quản lý có bốn chức năng cơ bản Các chức năng này luôn có mối quan hệmật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình quản lý, bao gồm: Chức năng Kếhoạch, chức năng Tổ chức, chức năng Chỉ đạo và chức năng Kiểm tra
Chức năng Kế hoạch: là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức vfa căn
cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kì, từnggiai đoạn, từ đó tìm ra con đường, biện háp, cách thức đưa tổ chức đạt được mụctiêu đó
Chức năng Tổ chức: là những nội dung phương thức hoạt động cơ bản trongviệc thành lập cấu trúc của tổ chức mà nhờ cấu trúc đó chủ thể quản lý tác động lêncác đối tượng quản lý một cách có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch
Chức năng Chỉ đạo: là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điềuhành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức, (đơn vị) vận hành theo đúng kế hoạch đểthực hiện mục tiêu quản lý
Trang 17Chức năng Kiểm tra: là những hoạt động của công tác quản lý tác động lênkhách thê quản lý nhằm đánh giá và xử lí các kết quả vận hành của tổ chức
Chức năng quản lý là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận quản lý, nógiữ vai trò to lớn trong thực tiễn quản lý Chức năng quản lý và chu trình quản lýthể hiện đầy đủ nội dung hoạt động của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý.Chính vì vậy, việc thực hiện đầy đủ các giai đoạn quản lý trong một chu trình quản
lý là cơ sở đảm bảo hiệu quả của toàn bộ hệ thống được quản lý
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội Bản chấtcủa hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xãhội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau pháttriển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên
cơ sở đó không ngừng phát triển
Trong Việt ngữ, quản lý giáo dục được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các
chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáodục và tất nhiên cả những cấu phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa
Do đó, quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các
chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản
lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái nàysang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [16, tr 61]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hànhtheo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhàtrường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế
hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [32 tr 31]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý giáo dục là quy trình tác động có
kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trìnhdạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mụctiêu giáo dục nhà nước đặt ra” [28, tr 16]
Trang 18Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt khácnhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản: Chủ thểquản lý giáo dục; khách thể quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục, ngoài racòn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống vănabnr quy phạm pháp luật) quản lý giáo dục
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của QLGD là quản lý nhà trường, vì nhà trường là cơ sở giáodục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Nó là tế bào căn bản của bất cứ hệthống giáo dục ở cấp nào
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là một tập hợp nhữngtác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác,nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và
do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhàtrường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mụctiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơquan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lựclượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực của giáo dục để nângcao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [41, tr 205]
Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luậtchung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trườngđược quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người thầy; bản chất của quátrình dạy học, giáo dục trong mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể của quản
lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường lànhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện theomục tiêu giáo dục và được xã hội thừa nhận
Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD&ĐT, nơi quản lýnhà trường bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là
Sở GD&ĐT ở các tỉnh/thành phố và Phòng GD&ĐT ở các huyện/quận Cấp quản lýquan trọng và trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhàtrường
Trang 19Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có lênmột trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽcác nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăngcường chất lượng giáo dục và tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo thế
hệ trẻ trở thành những người có tri thức, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống vàphấn đấu vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội
Tóm lại, quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch,hợp qui luật của chủ thể quản lý nhà trường, làm cho nhà trường vận hành theođường lối quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạocủa nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục “nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa- hiệnđại hóa đất nước” [7]
1.2.2 Đạo đức
Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc
về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong ba phạm vi:lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọigiá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học vànhững luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này
Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý
thức xã hội, bao gồm những nguyênlý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của conngười trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Căn cứ vào những quy tắc
ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện
ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự [25, tr 145]
Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩnmực xã hội [25, tr 12]
Dưới góc độ Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt
bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của conngười với con người [14, tr 170-171]
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chínhtrị, pháp luật, lối sống Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ
Trang 20mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá Đạo đức được biểu hiện ở cuộcsống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quảnhững mâu thuẫn Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đứccủa mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh
ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [25, tr 153-154]
Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái ýthức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, nhữngquy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của
xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợiích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa conngười với con người, giữa cá nhân và xã hội” [25, tr 12]
Bản chất đạo đức là những qui tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội
Nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và
tự giác thực hiện Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ
xã hội được hình thành trên cơ sở kinh tế, xã hội Mỗi hình thái kinh tế hay mỗi giaiđoạn đều có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng Vì vậy, đạo đức cótính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, thì khái niệmđạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới Tuy nhiên, không có nghĩa
là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới.Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức hiện nay là sự kếthợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thờiđại, của nhân loại Đó là tinh thần cần cù lao động, sáng tạo, tình yêu quê hương đấtnước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật,
có nếp sống văn minh lành mạnh, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả
Tóm lại, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệthống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội
Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điềuchỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến
bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xãhội” [25, tr 12]
Trang 211.2.3 Giáo dục đạo đức
1.2.3.1 Khái niệm giáo dục đạo đức
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “GDĐĐ là quá trình biến các
chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục”.
GDĐĐ là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội,nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng quantrọng nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội
Song, giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng “GDĐĐ cho học
sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa” [10, tr 128]
Ngày nay, GDĐĐ cho học sinh là GDĐĐ xã hội chủ nghĩa Nâng cao chấtlượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêunước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổchức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật
Quá trình GDĐĐ cho học sinh bao gồm tác động của nhiều yếu tố kháchquan và chủ quan, bên ngoài và bên trong Có thể hiểu rằng có bao nhiêu mối quan
hệ trong nhà trường và xã hội mà học sinh tham gia hoạt động thì có bấy nhiêu yếu
tố tác động đến học sinh Đó là gia đình, nhà trường và xã hội Mỗi lực lượng cótầm quan trọng, có nhiệm vụ, có phương pháp và tính ưu việt riêng
- Gia đình là một tế bào xã hội, là nơi lưu giữ và phát triển vững chắc nhấtgiá trị truyền thống Từ gia đình có thể giáo dục tất cả các lứa tuổi lòng kính yêucha mẹ, người thân trong gia đình, yêu thương đồng loại Gia đình hạnh phúc dựatrên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu thương quí mến nhau, giúp đỡnhau trong công việc và là chỗ dựa tinh thần cho mỗi thành viên
- Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, cónhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo nhân cách trẻ em theo những định hướngcủa xã hội
Quá trình thể hiện các chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động dạyhọc, hoạt động giáo dục, theo hệ thống chương trình, nội dung được tổ chức mộtcách chặt chẽ, có kế hoạch
Trang 22- Các lực lượng xã hội bao gồm: Các cơ quan, các tổ chức chính trị, xã hội,các tổ chức kinh tế, các tổ chức đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng…
Trong các lực lượng giáo dục nhà trường có vai trò chủ đạo, là trung tâm tổchức phối hợp và dẫn dắt công tác giáo dục bởi vì:
+ Nhà trường là cơ quan thuộc sự quản lý của Nhà nước, được sự lãnh đạotrực tiếp và chặt chẽ của Đảng, nắm quan điểm và đường lối giáo dục xã hội chủnghĩa, có đội ngũ chuyên gia sư phạm chuyên nghiệp
+ Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo nhân cách + Nhà trường có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được chọn lọc
và tổ chức chặt chẽ
+ Nhà trường có lực lượng giáo dục mang tính chất chuyên nghiệp
+ Môi trường giáo dục trong nhà trường có tính chất sư phạm, có tác dụngtích cực trong quá trình GDĐĐ
1.2.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức và nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
- Mục tiêu giáo dục đạo đức học sinh
Mục tiêu của giáo dục đạo đức là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng cácgiá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vìmọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ của xã hội và phồn vinh của đất nước
+ Về nhận thức: Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về các phẩmchất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp học sinh có nhận thức đúng đắn về bảnchất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời kì mớiphù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó, giúp các em hình thànhniềm tin đạo đức
+ Về thái độ tình cảm: Giúp học sinh có thái độ đúng đắn với các qui phạmđạo đức, có tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã hi sinh vìđộc lập tự do của Tổ quốc Khơi dậy ở học sinh những rung động, những cảm xúcđối với những hiện thực xung quanh, làm cho các em biết yêu, biết ghét và có thái
độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức, phi đạo đức trong xã hội, có thái độ đúngđắn về hành vi đạo đức của bản thân
Trang 23+ Về hành vi: Giúp học sinh có hành vi phù hợp với các chuẩn mực đạo đức,
có quan hệ xã hội lành mạnh, trong sáng, tích cực làm điều thiện, tránh điều ác làmtổn thương đến vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội vì mục đích động cơ “ích
kỉ hại nhân”
- Nhiệm vụ giáo dục đạo đức học sinh
Nhiệm vụ cơ bản của GDĐĐ cho học sinh nói chung và cho học sinh THPTnói riêng đó là:
+ Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục cho mọi người nhận thức đúng đắn cácchuẩn mực đạo đức, những giá trị chân chính của các chuẩn mực đó và có ý chí đạođức vững vàng
+ Giáo dục tình cảm đạo đức: Là khơi đậy ở người được giáo dục nhữngrung động, những cảm xúc đối với hiện thực xung quanh; biết yêu ghét rõ ràng và
có thái độ đúng đắn với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và tập thể
+ Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức: Hình thành cho đối tượng giáo dục cóhành vi và thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực đạo đức trong mỗi cộngđồng, mỗi xã hội, chúng được thể hiện trong các hoạt động hàng ngày, như: trong họctập, trong lao động, trong quan hệ với mọi người và môi trường xung quanh
- Nội dung giáo dục đạo đức
Nội dung giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa bao gồm các phẩm chất đạo đứcđược thể hiện dưới dạng các biểu hiện về hành vi đạo đức, các khái niệm về các quytắc đạo đức, các thói quen ứng xử trong các quan hệ đạo đức, Những yếu tố của trithức, tình cảm và thói quen đạo đức đó được chứa đựng trong nội dung của tất cảcác môn học trong nhà trường, trong yêu cầu về nội dung, thái độ của học sinh thamgia các loại hình hoạt động đa dạng trong và ngoài nhà trường, trong giao lưu vớitập thể trong nhà trường và ngoài xã hội, nơi học sinh học tập và sinh sống TheoPhạm Minh Hạc thì chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam thời kỳ côngnghiệp hoá - hiện đại hoá (có thể xác định một cách tương đối) được chia thành 5nhóm, phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị như: có lýtưởng xã hội chủ nghĩa, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tintưởng vào Đảng và Nhà nước
Trang 24+ Nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân như: tựtrọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biếtkiềm chế, biết hối hận.
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người và dân tộc khác:nhân nghĩa, hiếu đễ, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, lễ độ, tôn trọng mọingười, thuỷ chung, giữ chữ tín
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ đối với công việc đó là: tráchnhiệm cao, có lương tâm, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết
+ Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống (môi trường tựnhiên, môi trường văn hoá - xã hội) như: xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo
vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên, xây dựng xã hội dân chủ bình đẳng Mặt khác,
có ý thức chống lại những hành vi gây tác hại đến con người và môi trường sống;bảo vệ hoà bình, bảo vệ và phát huy truyền thống, di sản văn hoá của dân tộc và củanhân loại
Tóm lại, giáo dục đạo đức là trang bị cho đối tượng giáo dục những hiểu biết
và niềm tin về các chuẩn mực và quy tắc đạo đức, giáo dục ý thức về lối sống cánhân, ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể và ngoài xã hội, ý thức
về cuộc sống lao động sáng tạo, về trách nhiệm trong công việc, về nghĩa vụ laođộng và bảo vệ Tổ quốc
- Phương pháp giáo dục đạo đức học sinh
Phương pháp giáo dục đạo đức học sinh là cách thức tác động của nhà giáodục lên đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất cần thiết Cónhiều phương thức giáo dục đạo đức khác nhau, nhưng có thể tạm phân thành banhóm chính:
+ Nhóm phương pháp thuyết phục: là nhóm các phương pháp tác động vàomặt nhận thức và tình cảm của con người nhằm khai sáng cho họ ý thức, thái độ tốtđẹp với cuộc sống Nhóm này bao gồm các phương pháp khuyên giải, tranh luận,nêu gương
+ Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động: đây là nhóm phương pháp đưacon người vào hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện tạo nên các hành vi thóiquen Nhóm này bao gồm các phương pháp tập luyện, rèn luyện
Trang 25+ Nhóm phương pháp kích thích hành vi: đây là nhóm phương pháp tác độngvào mặt tình cảm của đối tượng giáo dục nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩytích cực hoạt động, đồng thời giúp cho những người có khuyết điểm nhận ra vàkhắc phục những sai lầm Nhóm này gồm các phương pháp khen thưởng, trách phạtthi đua.
Phương pháp giáo dục đạo đức rất đa dạng Nhà giáo dục cần vận dụng linhhoạt các phương pháp đó cho phù hợp với mục đích, với đối tượng giáo dục, vớitình huống cụ thể
bộ môn khoa học này có liên quan đến nhận thức những chuẩn mực giá trị đạo đức
và liên quan đến thái độ và cách ứng xử, hành vi đạo đức trong xã hội Các mônkhoa học tự nhiên cũng góp phần giáo dục đạo đức Nó có tác dụng giúp người họchình thành thế giới quan duy vật biện chứng, những phẩm chất xã hội như: Conđường tư duy hợp lý, tác phong làm việc, coi trọng nhân quả và ý thức nâng caokiến thức xã hội… Các môn khoa học khác như: Giáo dục thể chất, Giáo dục Quốcphòng…tạo cơ hội để người học phát triển những xúc cảm, rèn luyện ý chí kiêncường, lòng dũng cảm, những bổn phận và nghĩa vụ của người công dân
+ Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các hoạt động đoàn thể vàhoạt động xã hội Dựa vào đặc điểm tâm lý của học sinh là rất thích hoạt động, năngđộng và hứng thú với các hoạt động phong trào, vì vậy cần phải tổ chức các hoạtđộng theo từng chủ đề, mang nội dung giáo dục và phù hợp với đặc điểm tâm lý củahọc sinh để lôi cuốn họ tham gia, thông qua đó giáo dục đạo đức cho học sinh Cáchoạt động này được tổ chức bởi các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường,bao gồm: Chính quyền, Đoàn thể, các câu lạc bộ … Mỗi tổ chức đều có vai trò quantrọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Trang 26+ Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua con đường tự rèn luyện, tự tudưỡng, tự giáo dục của bản thân mỗi học sinh Mỗi học sinh từ chỗ là đối tượng củaquá trình giáo dục đạo đức sẽ trở thành chủ thể của quá trình giáo dục đạo đức Đặcbiệt đối với học sinh THPT, ở các em đã có những hiểu biết nhất định về nhữngkiến thức tự nhiên, xã hội, về mối quan hệ giữa con ng ười với con người thì nhàgiáo dục cần khơi dậy và kích thích họ tự giác, tự giáo dục bản thân là chính
+ Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua sự gương mẫu của người thầy.Hình ảnh của người thầy trên bục giảng, trong những buổi sinh hoạt mang tính tậpthể của nhà trường hoặc ngay trong đời sống hàng ngày và những ứng xử trong cáctình huống sư phạm có ý nghĩa giáo dục đạo đức cho học sinh thiết thực nhất Chính
vì vậy, mỗi thầy giáo, cô giáo phải thực sự là một tấm gương sáng về đạo đức chohọc sinh noi theo như Bác Hồ đã căn dặn
Các hình thức giáo dục trên muốn đạt kết quả phải được thực hiện với sựphối hợp hài hoà Các lực lượng giáo dục phải thực sự quan tâm và thực hiện theođúng chức năng và nhiệm vụ của mình Trong đó, giáo dục cho học sinh tự giácthực hiện việc tự giáo dục là hình thức cơ bản Có như vậy những mục tiêu của giáodục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng mới đạt kết quả cao
- Nguyên tắc giáo dục đạo đức
Một trong những yếu tố quan trọng để hoạt động giáo dục đạo đức có thể đạthiệu quả cao là phải đảm bảo các nguyên tắc giáo dục đạo đức, đó là:
+ Phải bảo đảm tính mục đích, tính thống nhất trong toàn bộ hoạt động giáodục;
+ Phải thông qua hoạt động thực tiễn;
+ Phải phù hợp với lứa tuổi, giới tính và đặc điểm riêng của từng học sinh;+ Phải phát huy tính tích cực, sáng tạo, khắc phục thiếu sót, nhược điểm;+ Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể;
+ Giáo dục gắn với đời sống xã hội, thực tiễn của đất nước và địa phương;+ Tôn trọng nhân cách và yêu cầu cao đối với học sinh;
+ Liên kết nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục học sinh
Trang 271.3 Sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
ở trường trung học phổ thông
1.3.1 Trường trung học phổ thông trong công tác giáo dục học sinh
1.3.1.1 Vai trò, đặc điểm của giáo dục nhà trường
Nhà trường là cơ sở thực tế diễn ra các hoạt động giáo dục giữa giáo viên vàhoạt động học tập của học sinh dưới sự quản lý của hiệu trưởng cùng với sự cộngtác của gia đình và xã hội Nhà trường trung học phổ thông là một cơ sở nằm trong
hệ thống giáo dục quốc dân Nhà trường luôn được gắn liền không thể tách rời hệthống giáo dục và chịu sự quản lý của ngành giáo dục Nhà trường, bản thân nócũng là một hệ thống, trong hệ thống này có ba thành phần chính: con người, các tổchức chính trị, những phương tiện vật chất kĩ thuật
Đặc trưng của giáo dục nhà trường bao gồm: nhà trường là một thiết chế xãhội, có kỉ luật chặt chẽ, có mục đích giáo dục đúng đắn; là nơi truyền thụ tri thức vàgiáo dục học sinh một cách toàn diện theo các nội dung giáo dục: đạo đức, trí tuệ,thể chất, thẩm mỹ, lao động hướng nghiệp Nhà trường có đội ngũ giáo viên có trình
độ chuyên môn cao, có nghiệp vụ sư phạm, hiểu biết và nắm được các đặc điểm tâmsinh lý của từng lứa tuổi; là những người biết tổ chức các hoạt động giáo dục chohọc sinh; là nơi tổ chức các hoạt động học tập, rèn luyện và giáo dục học sinh mộtcách có tổ chức, có kế hoạch, căn cứ vào các mục tiêu giáo dục cụ thể được Nhànước quy định Nhà trường phải thực hiện tốt nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi vớihành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” Nhàtrường là nơi đề ra nội dung, biện pháp phối hợp giáo dục, đóng vai trò chủ đạotrong việc phối hợp với gia đình và các lực lượng khác trong xã hội để cùng giáodục học sinh Môi trường giáo dục của nhà trường trong chừng mực nhất định tạođiều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành và phát triển tinh thần tập thể, tinh thần
kỷ luật, trách nhiệm đối với bản thân và với mọi người
Qua đó, ta thấy những mặt mạnh của giáo dục nhà trường đó là: tính mụcđích mang tính xã hội cao được quán triệt trong suốt quá trình giáo dục, hệ thống trithức, kỹ năng, nhất là phương pháp tư duy mang tính hệ thống cơ bản và có thể mởrộng, hệ thống phương pháp, phương tiện khoa học tạo cơ sở cho sự trưởng thànhcủa học sinh, sự lập nghiệp và thành đạt cả đời người
Trang 28Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh đó nhà trường cũng có những hạn chếlà: một số nhà trường chỉ chú ý nhiều đến việc cung cấp kiến thức, chưa thườngxuyên giáo dục đạo đức, nhất là trong quan hệ đối xử với gia đình, bạn bè, vớingười lớn tuổi Giáo dục nhà trường thường chú ý, quan tâm tình hình chung củahọc sinh nên chưa quan tâm và chưa đủ điều kiện quan tâm đúng mức đến giáo dục
cá biệt Giáo dục nhà trường nặng về lý thuyết, truyền đạt một chiều, chưa phát huyđược tính chủ động của học sinh, quan hệ thầy trò chủ yếu trong giờ học, việc giúp
đỡ, trao đổi, chuyện trò với học sinh ngoài giờ còn hạn chế
1.3.1.2 Vị trí, mục tiêu của trường trung học phổ thông
Trường trung học phổ thông là một loại hình trường học nằm trong tổng thểcác loại hình trường lớp trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta Trung họcphổ thông là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông Sau khi tốt nghiệp trunghọc phổ thông học sinh có thể thi vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấpchuyên nghiệp, dạy nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động
Mục tiêu của trường Trung học phổ thông: “Giáo dục trung học phổ thôngnhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ
sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật vàhướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triểntiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, nghề hoặc đi vào cuộcsống lao động.” [33] Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển nhữngnội dung đã học ở trung học cơ sở, bởi vì những nội dung, kiến thức ở bậc trung học
cơ sở chưa được đầy đủ và vững chắc, để giúp học sinh có thể tự giải quyết các vấn
đề ở mức độ phổ thông Mặt khác lứa tuổi trung học cơ sở chưa được phát triển đầy
đủ về mặt thể chất và tâm lý Vì vậy ở cấp học trung học phổ thông nhà trường phảihoàn thành nội dung giáo dục phổ thông giúp cho các em có năng lực, kiến thức cơbản để bước vào đời hay tiếp tục học lên các bậc học cao hơn Ngoài nội dung chủyếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông cơ bản toàn diện và hướng nghiệpcòn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyệnvọng của học sinh
1.3.1.3 Lực lượng tham gia giáo dục học sinh trong trường trung học phổ thông
Trang 29Lực lượng tham gia giáo dục học sinh trong trường trung học phổ thông baogồm:
- Cán bộ quản lý (Ban giám hiệu)
+ Hiệu trưởng là người đứng đầu nhà trường chịu trách nhiệm quản lý các
hoạt động của nhà trường, do cơ quan Nnước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: tổ chức bộ máy nhà trường;xây dựng kế hoạch và tổ chức nhiệm vụ năm học; quản lý giáo viên, nhân viên họcsinh; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra đánh giá, việc thực hiệnnhiệm vụ của giáo viên, nhân viên; quản lý tổ chức giáo dục học sinh; quản lý hànhchính, tài chính, tài sản của nhà trường; thực hiện các chế độ chính sách của Nhànước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủtrong hoạt động của nhà trường; được học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởngcác chế độ hiện hành
+ Phó hiệu trưởng thực hiện và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về nhiệm
vụ được hiệu trưởng phân công; cùng với hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấptrên về phần việc được giao; thay mặt hiệu trưởng điều hành hoạt động của nhàtrường khi được ủy quyền; được học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng cácchế độ hiện hành
- Giáo viên bộ môn
Giáo viên bộ môn có nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục theo đúng chươngtrình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, chuẩn bị thí nghiệm; kiểm tra đánh giátheo qui định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ; lên lớp đúng giờ; không tùy tiện bỏgiờ, bỏ buổi dạy; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổchức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; tham gia công tác giáo dục trunghọc cơ sở ở địa phương; rèn luyện đạo đức học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn
và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy và giáo dục; thực hiệnnghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; thực hiệnquyết định của hiệu trưởng; chịu sự kiểm tra của hiệu trưởng và các cấp quản lýgiáo dục; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước họcsinh; thương yêu, tôn trọng học sinh; đối xử công bằng với học sinh; bảo vệ cácquyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; phối hợp
Trang 30với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niênCộng sản Hồ Chí Minh, thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
- Giáo viên chủ nhiệm lớp
Giáo viên chủ nhiệm lớp có các nhiệm vụ như giáo viên bộ môn, ngoài racòn có nhiệm vụ sau đây: tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để
có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;cộng tác chặt chẽ với phụ huynh học sinh; chủ động phối hợp với các giáo viên bộmôn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan tronghoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh; nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinhcuối học kỳ và cuối năm học; đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh; đề xuất danhsách học sinh được lên lớp thẳng, phải thi lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểmtrong hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh; báocáo thường kỳ hoặc đột xuất (nếu có tình hình đặc biệt) về tình hình của lớp vớihiệu trưởng Bên cạnh các nhiệm vụ trên giáo viên chủ nhiệm lớp còn có nhữngquyền hạn như: được dự các giờ học, các hoạt động giáo dục khác của học sinh lớpmình; được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng và Hội đồng kỷ luật khi cáchội đồng này giải quyết những vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp mình; được
dự các lớp bồi dưỡng, các hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm; được quyềncho phép cá nhân học sinh nghỉ học không quá 3 ngày, nếu có lý do chính đáng
- Tổ chức Đảng và các đoàn thể trong trường trung học
+ Tổ chức Đảng Cộng Sản Việt Nam trong trường trung học lãnh đạo nhàtrường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
+ Các đoàn thể (tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ)trong trường trung học hoạt động theo qui định của pháp luật nhằm giúp nhà trườngthực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục
- Các lực lượng giáo dục khác: cán bộ công nhân viên… là những người hỗ
trợ đắc lực cho hoạt động giáo dục của nhà trường
1.3.1.4 Một số đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
Học sinh trung học phổ thông bao gồm các em ở độ tuổi 15 đến 18 là độ tuổiđầu của tuổi thanh niên, có những đặc điểm:
- Đặc điểm thể chất
Trang 31Các em đã có sự trưởng thành về mặt cơ thể Tuy sự khác biệt cơ thể giữathanh niên mới lớn và người lớn không đáng kể, nhưng sự phát triển thể lực của các
em còn kém so với người lớn Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối
êm ả về mặt sinh lý, được thể hiện ở các đặc điểm: sự phát triển của hệ xương đượchoàn thiện, những cơ bắp tiếp tục phát triển, nhịp độ tăng trưởng chiều cao và trọnglượng đã chậm lại, sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng docấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúccủa tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não củangười lớn, điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích,tổng hợp…, của võ bán cầu đại não trong quá trình học tập và lao động Đa số các
em đã qua thời kỳ phát dục, hoạt động của các tuyến nội tiết trở nên bình thường, sựkhông cân đối giữa trạng thái của các mạch máu với hoạt động của tim cũng mấtdần Ở tuổi thanh niên vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự thể hiện của nó nói chunggiống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên, ở tuổi thanh niên, tính dễ bị kích thíchkhông phải chỉ do nguyên nhân sinh lý (như ở tuổi thiếu niên), mà còn do cách sốngcủa cá nhân ở độ tuổi này
Nhìn chung, đây là lứa tuổi các em có sự phát triển cân đối, khỏe, đẹp, đa sốcác em có thể đạt những khả năng thành tích về cơ thể như người lớn
- Đặc điểm nhân cách
+ Sự phát triển của tự ý thức
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cáchcủa thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổithanh niên Quá trình này rất phong phú và phức tạp, nhưng vẫn có thể nêu lên một
số đặc điểm cơ bản: nhu cầu tự ý thức của các em được phát triển mạnh mẽ, các emchú ý đến hình dáng bên ngoài của mình, hình ảnh về thân thể mình là thành tố quantrọng của sự tự ý thức ở thanh niên mới lớn Sự hình thành tự ý thức là một quátrình lâu dài và trải qua những mức độ khác nhau, quá trình phát triển tự ý thức diễn
ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính đặc thù riêng Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu vàđánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích và hoài bãocủa mình Sự tự ý thức của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, nộidung của tự ý thức khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của
Trang 32mình như thiếu niên, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội trong tươnglai Thanh niên không chỉ đánh giá những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, từng thuộc tínhriêng biệt, mà biết đánh giá nhân cách mình nói chung trong toàn bộ những thuộctính nhân cách Trên cơ sở tự ý thức phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tự giáo dục ởthanh niên học sinh cũng được phát triển Tự giáo dục của các em không chỉ hướngvào việc khắc phục một số thiếu sót trong hành vi hay phát huy những nét tốt nào
đó, mà còn hướng vào việc hình thành nhân cách nói chung phù hợp với quan điểmkhái quát đang được hình thành ở các em Các em cũng có thể chưa thật có lòng tinvào tự giáo dục hoặc chưa thành công trong tự giáo dục Nhưng vấn đề là tự giáodục của học sinh trung học phổ thông thật sự cần thiết cho sự phát triển ở chính cácem; nó khiến cho vị trí của các em thay đổi Học sinh từ chỗ là đối tượng của giáodục thì dần dần đến giai đoạn này các em đã trở thành vừa là đối tượng, vừa là chủthể của giáo dục
+ Sự hình thành thế giới quan
Tuổi đầu thanh niên là lứa tuổi quyết định của sự hình thành thế giới quan Ởtuổi này, những điều kiện về mặt trí tuệ, nhân cách và xã hội để xây dựng một hệthống quan điểm riêng đã được hình thành và đang chín mùi Những cơ sở của thếgiới quan được hình thành rất sớm ngay từ khi còn nhỏ Suốt thời gian học tập ởphổ thông học sinh được lĩnh hội những tri thức khoa học, những chuẫn mực, thóiquen đạo đức, cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác…, dần dần những điều đó được ýthức và được quy vào hình thức, các tiêu chuẩn nguyên tác hành vi đó vào một hệthống hoàn chỉnh Sự hình thành thế giới quan được thể hiện ở tính tích cực nhậnthức Các em cố gắng xây dựng những quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học, đốivới các vấn đề xã hội, tư tưởng chính trị, đạo đức Chính nội dung các môn học ởtrung học phổ thông giúp các em xây dựng thế giới quan tích cực về tự nhiên xã hội.Nhìn chung học sinh trung học phổ thông có khuynh hướng sống một cuộc sốngtích cực vì xã hội, muốn mang lại lợi ích cho người khác, quan tâm đến đời sốngtinh thần nhiều hơn là phúc lợi vật chất Tuy vậy, một bộ phận thanh niên ngày naychưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, thế giới quan của họ còn chịu ảnhhưởng của những tiêu cực, sống không lành mạnh, đánh giá quá cao về cuộc sống
Trang 33hưởng thụ, hoặc một bộ phận khác lại chưa chú ý đến xây dựng thế giới quan, sốngthụ động, ít trách nhiệm
+ Giao tiếp và đời sống tình cảm
Tuổi học sinh trung học phổ thông là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất.Điều quan trọng đối với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi là cảmthấy mình cần của nhóm, có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm Trong các lớphọc dần dần xảy ra một sự “phân cực” nhất định, xuất hiện những người được lòngnhất (được nhiều người chọn lựa nhất) và những người ít được lòng nhất Những em
có vị trí thấp (ít được lòng các bạn) thường băn khoăn và suy nghĩ nhiều về nhâncách của mình Ở tuổi này, quan hệ với bạn cùng tuổi chiếm vị trí lớn hơn hẳn sovới quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn Điều này do lòng khao khátmuốn có vị trí bình đẳng trong cuộc sống chi phối Cùng với sự trưởng thành nhiềumặt, quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng được thay thế bằng quan
về vai trò nếu cá nhân phải lựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm
Đời sống tình cảm của học sinh phổ thông rất phong phú, nhu cầu về tìnhbạn tâm tình cá nhân được tăng lên rõ rệt Tình bạn ở các em trở nên sâu sắc hơn,các em có nhu cầu cao đối với tình bạn (yêu cầu sự chân thật, lòng vị tha, tin tưởngnhau) tình cảm có nội dung hơn, bao gồm những phạm vi hứng thú và hoạt độngrộng rãi Trong quan hệ với bạn các em cũng nhạy cảm hơn, không chỉ có khả năngxúc cảm thân tình, mà còn phải có khả năng đáp ứng lại xúc cảm của người khác(đồng cảm) Tình bạn của các em mang màu sắc xúc cảm nhiều hơn, rất bền vững.Các em thường lý tưởng hóa tình bạn, nghĩ về bạn thường giống với điều mìnhmong muốn ở bạn hơn là thực tế Sự quyến luyến mạnh mẽ về mặt cảm xúc khiến
Trang 34các em ít nhận thấy những đặc điểm thực tế ở bạn Một số các em ở lứa tuổi này có
sự xuất hiện tình yêu Tình yêu này thường trong trắng, tươi sáng hồn nhiên, giàucảm xúc và khá chân thành Tuy vậy, tình yêu mới nảy sinh này cũng có thể pháttriển không bình thường khiến các em có thể bị phân tán quá mức, sao nhãng việchọc tập
- Đặc điểm xã hội
Hoạt động của học sinh ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò xã hội
và hứng thú xã hội của các em không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà cònbiến đổi về chất lượng Ở các em ngày càng xuất hiện nhiều các vai trò của ngườilớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thần tráchnhiệm hơn
Ở gia đình, thanh niên đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm của người lớn,cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề trong gia đình Về phía mình,các em cũng biết quan tâm một cách thực sự đến nhiều mặt sinh hoạt trong gia đình
Ở tuổi học sinh trung học phổ thông các em có thểtham gia vào các tổ chức đoànthể, nhiều em đã bắt đầu lao động, các em đều có sự suy nghĩ về việc chọn nghề khiđứng trước quyết định đường đời của mình
1.3.2 Gia đình trong công tác giáo dục học sinh
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn Ngữ - 1992, “Gia đình là một tậphợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó vớinhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và concái” [40, tr 409]
1.3.2.1 Vai trò và đặc điểm của giáo dục gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội hết sức quan trọng, một đơn vị kinh tế, mộtđơn vị cơ sở, đồng thời là một nhóm tâm lý đặc thù Đó là nhân tố tích cực thúc đẩy
sự phát triển của xã hội và sự hoàn thiện của cá nhân, thông qua việc thực hiện cácchức năng quan trọng Một trong những chức năng hết sức quan trọng của gia đình
là giáo dục con cái Đây là sự đóng góp của gia đình vào sự phát triển của giáo dụcnói riêng, sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung
Giáo dục gia đình có những đặc trưng như: giáo dục gia đình là giáo dục củacha mẹ với con em mình, nhằm hình thành cho họ những năng lực, phẩm chất nhân
Trang 35cách Quá trình giáo dục gia đình có thể thường xuyên liên tục, có được tổ chức mộtcách có khoa học hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào sự quan tâm, trình độhiểu biết, khả năng, kinh nghiệm hoàn cảnh,… của gia đình Giáo dục gia đình là cơ
sở giáo dục đầu tiên, lâu dài và toàn diện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổicủa mỗi học sinh Giáo dục gia đình mang tính cá biệt rõ rệt, dựa trên cơ sở củacuộc sống tự nhiên, cởi mở trong gia đình Mỗi cá nhân sống trong gia đình thường
là thời gian lâu dài, nên rất thuận lợi và có hiệu quả trong việc giáo dục từ gia đình.Gia đình giáo dục con em mình từ mọi khía cạnh của cuộc sống và trong các mốiquan hệ vô cùng phong phú Cơ sở vật chất, trình độ văn hóa, sự hiểu biết của cha
mẹ, nề nếp, truyền thống của gia đình, quan hệ ông bà, cha mẹ và con cái…có tácđộng lớn đến quá trình học tập của con cái Ở gia đình trẻ được tiếp thu sự giáo dụccủa gia đình từ lúc còn thơ ấu, thời gian sống ở gia đình của trẻ là nhiều nhất chođến tuổi trưởng thành, trẻ được tiếp thu những hành vi, ứng xử của các thành viêntrong gia đình, trẻ có được những tình cảm mang tính huyết thống, tính sâu sắc Đó
là phương tiện thuận lợi để gia đình giáo dục trẻ Tuy nhiên, chính tình cảm nàycũng làm cho giáo dục gia đình đôi khi thiếu nghiêm khắc, có khi làm cho trẻ khôngngoan…
Động cơ thúc đẩy cha mẹ và các thành phần khác trong gia đình thực hiệnnhiệm vụ giáo dục con cái không phải chỉ do trách nhiệm trước pháp luật mà cònxuất phát từ lòng yêu thương con em mình, luôn tạo điều kiện tốt nhất trong chừngmực có thể để con em mình được học tập và rèn luyện để trở thành người tốt, có íchcho xã hội Vì vậy, mặt mạnh của giáo dục gia đình là mang tính xúc cảm, tình cảmnên có khả năng cảm hóa rất lớn
1.3.2.2 Nhiệm vụ của giáo dục gia đình
So với giáo dục nhà trường nhiệm vụ của giáo dục gia đình cũng theo mụcđích giáo dục toàn diện, nhằm thực hiện 5 nhiệm vụ:
- Giáo dục trí tuệ: giáo dục gia đình làm cơ sở cho sự phát triển trí tuệ của trẻ
từ mới lọt lòng, việc giúp trẻ quan sát đồvật xung quanh, tập nói, cho đến những kỹnăng sinh hoạt, lao động hàng ngày ở gia đình trong quá trình trẻ lớn lên là nhiệm
vụ hết sức cần thiết của gia đình Khi đến tuổi đi học gia đình có nhiệm vụ hướng
Trang 36dẫn trẻ thực hiện góc học tập, tổ chức học tập một cách khoa học, phân bố thời gianhọc tập là điều kiện để giáo dục trí tuệ
- Giáo dục đạo đức: gia đình đã thực hiện giáo dục đạo đức cho trẻ từ rấtsớm Nhân dân ta có câu “Tiên học lễ, hậu học văn”, nhiệm vụ giáo dục đạo đức ởgia đình luôn gắn với truyền thống của gia đình, những nề nếp gia phong có ảnhhưởng rất lớn đến tâm hồn và nhân cách của trẻ
- Giáo dục thẩm mỹ: ở gia đình được thể hiện qua quan điểm, nhận thức vềcái đẹp mà những thành viên trong gia đình cần phải giúp cho trẻ hình thành kiếnthức và quan niệm về thẩm mỹ
- Giáo dục thể chất ở mỗi gia đình việc đầu tiên là nuôi con khỏe, giúp chotrẻ nhận thức việc giữ gìn và bảo vệ sức khỏe trong học tập và trong lao động khilớn lên
- Giáo dục lao động - hướng nghiệp: gia đình tùy theo điều kiện, hoàn cảnh
mà giúp trẻ có những lao động phù hợp với lứa tuổi, giáo dục cho con em hiểu được
ý nghĩa của lao động, tôn trọng lao động và hướng tới nghề nghiệp cho tương laisau này
1.3.3 Xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách cá nhân bị chi phối và ảnhhưởng bởi các điều kiện khách quan và các yếu tố chủ quan như bẩm sinh - ditruyền, môi trường, giáo dục, tự giáo dục và hoạt động của cá nhân Trong đó, cácyếu tố sinh học là tiền đề, môi trường là điều kiện, giáo dục giữ vai trò chủ đạo vàhoạt động của cá nhân là yếu tố quyết định trực tiếp đối với sự phát triển nhân cách
Môi trường xã hội bao gồm: môi trường vĩ mô và môi trường vi mô Môitrường vĩ mô được coi là nguyên nhân chung của tính quyết định xã hội, còn môitrường vi mô là những hoàn cảnh xã hội trực tiếp, mang tính đặc thù của tính quyếtđịnh xã hội Đó có thể là hệ thống giáo dục địa phương, là nhà trường, gia đình Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội (trong đó cógia đình, nhà trường, bạn bè, ) có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu không có xã hộiloài người thì những tư chất của con người không thể phát triển được
Như vậy, có thể nói, sự hình thành và phát triển nhân cách là một quá trìnhlâu dài và phức tạp Trong quá trình đó, giữa các yếu tố bên trong và yếu tố bên
Trang 37ngoài, giữa cái sinh học và cái xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau và vai trò củamỗi yếu tố đó thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗi người Trong quátrình sống, con người có được những kinh nghiệm sống, niềm tin, thói quen vàngược lại, khi tiếp nhận bất cứ việc gì, nhân cách cũng dựa trên chuẩn mực xã hội
để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp Không chỉ thế, họ còn dựa vào nhữngcái bên trong, những kinh nghiệm của mình để đánh giá, tiếp nhận hay gạt bỏ cáibên ngoài Như thế, quá trình này luôn gắn với năng lực tự đánh giá, tự ý thức củamỗi người và do vậy, gắn với quá trình tự giáo dục, quá trình thường xuyên tự hoànthiện mình của nhân cách Nhân cách không phải là một cái gì đó đã hoàn tất, mà làquá trình luôn đòi hỏi sự trau dồi thường xuyên
Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta thấy, môi trường có ảnh hưởng khôngnhỏ tới sự hình thành và phát triển nhân cách Vì vậy việc tạo ra một môi trườngđảm bảo cho nhân cách có sự phát triển hài hòa trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là điều cần thiết Ngược lại, những nhâncách có đủ đức và tài sẽ là điều kiện để chúng ta đạt được mục tiêu "dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"
Qua sự phân tích trên có thể nhận định rằng: cả giáo dục nhà trường, giáodục gia đình và xã hội đều có những mặt mạnh và mặt hạn chế Vấn đề đặt ra chochúng ta là phải kế thừa, phát huy ưu điểm, đồng thời loại bỏ những nhược điểm,nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất, tạo môi trường giáo dục lành mạnh đểgiúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách của mình một cách toàn diện Mặtkhác, giáo dục nhà trường và gia đình là hai “mắt xích” quan trọng trong quá trìnhgiáo dục, nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì không thể tạo ra “sản phẩm conngười” như mong muốn Nhà trường, gia đình nằm trong xã hội và chịu sự tác độngcủa xã hội Vì vậy, cần tổ chức phối hợp và quản lý sự phối hợp nhà trường - giađình - xã hội như thế nào để thực hiện được sự thống nhất trong nhận thức và hànhđộng, giáo dục theo cùng một hướng, đồng tâm hiệp lực, tránh sự tách rời “trốngđánh xuôi kèn thổi ngược”, sự mâu thuẫn và vô hiệu hóa lẫn nhau, luôn thống nhất
về định hướng nhưng vẫn bao hàm, khuyến khích sự đa dạng, tính đặc thù của mỗiloại hình giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội
Trang 381.3.4 Sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗtrợ cho nhau thực hiện một công việc chung
Khi nói: Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng giáo dục là ta nói đến hoạtđộng của hiệu trưởng, của nhà trường trong việc tổ chức các lực lượng xã hội thựchiện xã hội hóa giáo dục, đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự chủ động, tích cực củanhà trường trong hoạt động này Để phối hợp có hiệu quả, hiệu trưởng phải xác địnhnhững lĩnh vực hoạt động chung; trong mỗi lĩnh vực ấy nội dung phối hợp là gì?Mỗi tổ chức phải làm gì? Có trách nhiệm nào?
Phối hợp các lực lượng giáo dục là tạo môi trường giáo dục thống nhất giữanhà trường – gia đình – xã hội cùng tham gia giáo dục học sinh
1.3.4.1 Ý nghĩa của sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội sẽ tạo nên sự thốngnhất với nhau nhằm giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người có tài, có đức, cónăng lực thực hành, năng động và sáng tạo… thành những người chủ tương laicủa đất nước Chính vì xuất phát từ tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc, tìnhthương yêu đối với con em mình mà nhà trường, gia đình và xã hội phải phốihợp, liên kết chặt chẽ với nhau để chăm sóc, giáo dục họ thành những người cóích cho nước nhà
Giáo dục nhân cách cho học sinh là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâudài, nếu nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội phối hợp thường xuyên vàchặt chẽ sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp, tạo nên sự thống nhất và liên tục Họcsinh sống và học tập không chỉ ở nhà trường mà còn ở gia đình, và tham gia cáchoạt động xã hội, cho nên phải phối hợp giáo dục để nâng cao tinh thần trách nhiệmcủa cả ba phía nhà trường, gia đình và xã hội, tạo điều kiện cho các em được giáodục mọi nơi, mọi lúc
Việc phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội nhằm tạo cho quá trình giáo dụcđược thống nhất và được tốt hơn Thực tiễn đã chứng minh ở đâu có sự phối hợpchặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, thì ở đó kết quả giáo dục sẽ tốt hơn,
Trang 39như Bác Hồ đã căn dặn: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sựgiáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trườngđược tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục tronggia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
1.3.4.2 Mục tiêu, nội dung của sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
Mục tiêu của sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội đó là những tiêuchuẩn định hướng ban đầu mà sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội cần phảiđạt được trong quá trình giáo dục học sinh Mục tiêu sự phối hợp là để có sự thốngnhất về quan điểm giáo dục, thống nhất về các nội dung và biện pháp giáo dục họcsinh của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm làm cho quá trình giáo dục đạt đượckết quả cao nhất, tránh được các hiện tượng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” tronggiáo dục, giúp cho các em trở thành những con người tốt, có ích cho xã hội Việcxác định mục tiêu phối hợp đúng giúp cho quá trình giữa nhà trường, gia đình vàcác lực lượng xã hội được thuận lợi, trôi chảy, nhịp nhàng và thường xuyên, hiệuquả sự phối hợp cao hơn Tuy nhiên, mục tiêu phối hợp cần phù hợp ở từng địaphương và tùy mức độ nhận thức của các thành viên Nếu mục tiêu quá khó và vượtkhả năng phối hợp thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình phối hợp
Nội dung của sự phối hợp là những công việc cần phải thực hiện của nhàtrường, gia đình và xã hội trong sự phối hợp giáo dục học sinh như là:
- Thống nhất quan điểm, nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục học sinhcho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh
- Đưa nội dung, mục tiêu giáo dục trong nhà trường vào các tổ chức xã hộitrong địa phương như Đoàn thanh niên , Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, câu lạc bộnhững người cao tuổi…nhằm thống nhất định hướng tác động đối với quá trình hìnhthành và phát triển nhân cách của trẻ
- Phát huy vai trò nhà trường là trung tâm văn hóa giáo dục của địa phương,
tổ chức việc phổ biến các tri thức khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội…đặc biệt lànhững kiến thức biện pháp giáo dục học sinh trong điều kiện xã hội phát triển theo
cơ chế thị trường đang rất phức tạp cho các bậc cha mẹ, giúp họ hiểu được đặc điểmtrong đời sống, tâm sinh lý của trẻ hiện nay
Trang 40- Phối hợp với địa phương tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào cáchoạt động văn hóa xã hội như: xóa đói giảm nghèo, dân số kế hoạch hóa gia đình,đền ơn đáp nghĩa, xây dựng gia đình văn hóa mới…nhằm góp phần cải tạo môitrường gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
- Giúp địa phương theo dõi tiến trình, đánh giá kết quả của việc giáo dụcthanh thiếu niên, phân tích các nguyên nhân, đề xuất các biện pháp nhằm nâng caohiệu quả và sự phối hợp chặt chẽ giữa các môi trường giáo dục
- Nhà trường theo định kỳ hoặc thường xuyên thông báo cho gia đình họcsinh kết quả học tập, rèn luyện của học sinh
- Nhà trường làm cho gia đình hiểu rõ nhiệm vụ, chức năng của giáo dục giađình, tạo điều kiện để cha mẹ học sinh nhận thức đúng về trách nhiệm phối hợp vớinhà trường
- Nhà trường lập kế hoạch phối hợp giữa nhà trường - gia đình - các tổ chứcđoàn thể xã hội, tổ chức thực hiện kế hoạch, tổng kết đánh giá việc thực hiện kếhoạch
- Nhà trường tư vấn cho cha mẹ học sinh kiến thức về tâm lý học, và giáodục học và bồi dưỡng phương pháp giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh
- Nhà trường huy động khả năng tiềm lực của gia đình và các tổ cức xã hộivào công tác giáo dục học sinh…
1.3.4.3 Phương pháp phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục đạo đức học sinh
Sự phối hợp của nhà trường với gia đình và các lực lượng xã hội trong việcgiáo dục đạo đức học sinh cần có những cách thức phù hợp bổ sung cho nhau:
- Phương pháp phối hợp bằng văn bản: biên bản cuộc họp giữa phụ huynhhọc sinh với nhà trường, triển khai những văn bản chỉ đạo của cấp trên Điều lệ Hội,những Quyết định của Nhà nước về tổ chức hội phụ huynh học sinh, Luật Giáo dụcViệt Nam….), văn bản về kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình, sổ liênlạc của học sinh, gửi thư, thông báo về gia đình học sinh khi cần thiết
- Phương pháp tuyên truyền cho giáo viên, phụ huynh học sinh và các tổchức đoàn thể xã hội về hoạt động giáo dục Tổ chức các buổi hội thảo hướng dẫn,