1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển thị trường giáo dục đại học ở mỹ, nhật bản và bài học kinh nghiệm cho việt nam

70 622 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 398,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục đào tạo luôn được xác định là chính sách hàng đầu trong chiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia. Bước vào thời đại kinh tế tri thức, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao càng đòi hỏi các quốc gia đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học. Đối với Việt Nam, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ.” Đổi mới giáo dục đào tạo trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và trước xu thế hội nhập quốc tế cần thiết phải coi giáo dục đào tạo như một thị trường đặc biệt, nó vừa chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nước nhằm đảm bảo định hướng quốc gia về phát triển nguồn nhân lực, đồng thời phải vận hành theo cơ chế thị trường nhằm huy động tối đa nguồn lực trong và ngoài nước, đảm bảo sự phát triển năng động và hiệu quả của lĩnh vực đặc biệt quan trọng này. Chuyển đổi mô hình quản lý giáo dục đào tạo từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường ở Việt Nam là phù hợp với xu thế thời đại, tuy nhiên đây là một quá trình phức tạp, cần được thực hiện với một lộ trình hợp lý. Trong giai đoạn trước mắt, nên tập trung đổi mới giáo dục đại học, bởi ở bậc học này, người học đã có một trình độ nhất định để tham gia thị trường như những người tiêu dùng hiểu biết. Chuyển đổi mô hình quản lý giáo dục đào tạo ở Việt Nam, mà trước hết là giáo dục đại học, cần được tiến hành một cách thận trọng trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn phát triển thị trường giáo dục đại học ở các quốc gia đi trước, đồng thời so sánh với điều kiện thực tiễn và mục tiêu phát triển của Việt Nam để có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp. Mặc dù có điều kiện rất khác biệt về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội, song Mỹ và Nhật Bản đều phát triển rất thành công thị trường giáo dục đại học, và hơn thế, hai quốc gia này đã biến thành tựu giáo dục của mình thành động lực quan trọng tạo ra sự phát triển đột phá về kinh tế. Kinh nghiệm phát triển thị trường giáo dục đại học của Mỹ và Nhật Bản là những bài học quý, có giá trị tham khảo trong quá trình phát triển nền giáo dục đại học nước ta. Với ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Phát triển thị trường giáo dục đại học ở Mỹ, Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị của mình.

Trang 1

1.1.2 Những đặc trưng của thị trường giáo dục đại học 91.2 Tính tất yếu khách quan và nội dung phát triển thị trường giáo dục

đại học

11

1.2.1 Tính tất yếu khách quan phát triển thị trường giáo dục đại học 111.2.2 Nội dung phát triển thị trường giáo dục đại học 131.3 Các điều kiện chi phối sự phát triển thị trường giáo dục đại học 21

Chương 2 Thực trạng phát triển thị trường giáo dục đại học ở Mỹ và

Nhật Bản

25

2.1 Tạo lập môi trường phát triển thị trường giáo dục đại học 25

2.2 Xây dựng và phát triển các yếu tố cấu thành thị trường giáo dục đại

học

30

2.2.1 Xây dựng và phát triển hệ thống trường đại học 30

Trang 2

2.2.2 Xây dựng và phát triển các dịch vụ giáo dục đại học 33

2.3 Định hướng và điều tiết sự phát triển thị trường giáo dục đại học 41

Chương 3 Những bài học kinh nghiệm từ phát triển thị trường giáo dục

đại học ở Mỹ, Nhật Bản và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam

Trang 3

Danh mục các bảng

1 Bảng 2.1 Quy mô giáo dục đại học Nhật Bản năm 2004 32

2 Bảng 2.2 Các trường đại học hàng đầu của Mỹ phân theo ngành

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục đào tạo luôn được xác định là chính sách hàng đầu trongchiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia Bước vào thời đại kinh tế trithức, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao càng đòi hỏi các quốc gia đẩymạnh phát triển giáo dục - đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học Đối với ViệtNam, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Đểđáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trongbối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mớicăn bản, toàn diện, mạnh mẽ.”

Đổi mới giáo dục đào tạo trong quá trình phát triển nền kinh tế thịtrường và trước xu thế hội nhập quốc tế cần thiết phải coi giáo dục đào tạonhư một thị trường đặc biệt, nó vừa chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nướcnhằm đảm bảo định hướng quốc gia về phát triển nguồn nhân lực, đồng thờiphải vận hành theo cơ chế thị trường nhằm huy động tối đa nguồn lực trong

và ngoài nước, đảm bảo sự phát triển năng động và hiệu quả của lĩnh vực đặcbiệt quan trọng này

Chuyển đổi mô hình quản lý giáo dục đào tạo từ cơ chế tập trung sang

cơ chế thị trường ở Việt Nam là phù hợp với xu thế thời đại, tuy nhiên đây làmột quá trình phức tạp, cần được thực hiện với một lộ trình hợp lý Trong giaiđoạn trước mắt, nên tập trung đổi mới giáo dục đại học, bởi ở bậc học này,người học đã có một trình độ nhất định để tham gia thị trường như nhữngngười tiêu dùng hiểu biết

Chuyển đổi mô hình quản lý giáo dục đào tạo ở Việt Nam, mà trước hết

là giáo dục đại học, cần được tiến hành một cách thận trọng trên cơ sở tổngkết lý luận và thực tiễn phát triển thị trường giáo dục đại học ở các quốc gia đi

Trang 5

trước, đồng thời so sánh với điều kiện thực tiễn và mục tiêu phát triển củaViệt Nam để có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp.

Mặc dù có điều kiện rất khác biệt về văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội,song Mỹ và Nhật Bản đều phát triển rất thành công thị trường giáo dục đạihọc, và hơn thế, hai quốc gia này đã biến thành tựu giáo dục của mình thànhđộng lực quan trọng tạo ra sự phát triển đột phá về kinh tế Kinh nghiệm pháttriển thị trường giáo dục đại học của Mỹ và Nhật Bản là những bài học quý,

có giá trị tham khảo trong quá trình phát triển nền giáo dục đại học nước ta

Với ý nghĩa đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Phát triển thị trường giáo dục đại học ở Mỹ, Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài luận

văn thạc sỹ Kinh tế chính trị của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Phát triển giáo dục đào tạo được rất nhiều nhà khoa học trên thế giớiquan tâm nghiên cứu từ hàng vạn năm nay Phát triển giáo dục đại học “kiểuhiện đại” cũng đã được nghiên cứu từ thế kỷ XII, ở châu Âu, và trên dưới 400năm trở lại đây, ở nước Mỹ Theo đó, lý luận khoa học của thế giới về pháttriển giáo dục – đào tạo nói chung, phát triển giáo dục đại học nói riêng thực

sự là một kho tàng đồ sộ Tuy nhiên, ngoại trừ một số lý luận mang tính kháiquát có giá trị tham khảo chung, điều kiện phát triển riêng biệt không chophép các quốc gia sao chép nguyên mẫu một mô hình phát triển giáo dục đạihọc sẵn có nào Trong quá trình tìm tòi, khảo nghiệm để có một mô hình pháttriển giáo dục đại học theo hướng thị trường, phù hợp với Việt Nam, các nhàkhoa học nước ta đã thực hiện thành công một số công trình như:

- “Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam”,luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Lê Phước Minh Đề tài tiếp cậntheo hướng bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển giáo dục đại học ởViệt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tác giả

Trang 6

đã đề xuất những chính sách nhằm huy động sự đóng góp tài chính của nhiềuthành phần kinh tế, theo cơ chế thị trường, cho việc phát triển giáo dục đạihọc ở Việt Nam, giai đoạn hiện nay.

- “Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trướcnhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, đề tài cấp Nhà nước do PGS TS TrầnQuốc Toản chủ nhiệm đề tài Tuy không trực tiếp nghiên cứu về giáo dục đạihọc, nhưng đề tài này đã đánh giá một cách tổng quan và đi tới kết luận: tồntại trên thực tế một thị trường giáo dục đào tạo ở Việt Nam, mà rõ nét nhất làthị trường giáo dục đại học

- “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ”, Kỷyếu Hội thảo khoa học tổ chức tại Đại học Hoa Sen, Thành phố Hồ Chí Minh,tháng 12/2008 Cuốn sách tập hợp bài nghiên cứu của nhiều tác giả với nộidung xoay quanh việc đánh giá cao những đổi mới mạnh mẽ, sáng tạo, dứtkhoát về môi trường giáo dục đại học Việt Nam đầu thế kỷ XX và yêu cầu đổimới môi trường giáo dục đại học giai đoạn hiện nay Trong tham luận củamình, các nhà khoa học cũng đề cập, mang tính gợi mở, về một môi trườnggiáo dục đại học vận hành theo cơ chế thị trường

- “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳngViệt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Ban liên lạc các trường đại học vàcao đẳng Việt Nam tổ chức tháng 2/2011 Cuốn sách tập hợp bài nghiên cứucủa nhiều tác giả xoay quanh việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản

lý nhà nước đối với giáo dục đại học, cao đẳng ở Việt Nam nhằm đảm bảochất lượng dạy học và nâng cao tính hiệu quả về kinh tế

Ngoài những công trình lớn kể trên, có rất nhiều bài nghiên cứu độc lậpcủa các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập tới việc phát triển thị trườnggiáo dục đại học ở Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có ý kiến

Trang 7

ủng hộ và có cả những ý kiến phản đối việc phát triển thị trường giáo dục đạihọc.

Như vậy, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng chưa côngtrình nào khai thác một cách có hệ thống kinh nghiệm phát triển thị trườnggiáo dục đại học ở Mỹ và Nhật Bản, đối chiếu với điều kiện thực tiễn và mụctiêu phát triển của Việt Nam để rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thamkhảo, vận dụng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Thông qua khảo sát thực tiễn phát triển thị

trường giáo dục đại học ở Mỹ, Nhật Bản, đối chiếu với điều kiện thực tiễn vàmục tiêu phát triển của Việt Nam, rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trịtham khảo và đề xuất một số gợi ý chính sách nhằm góp phần phát triển thànhcông thị trường giáo dục đại học ở Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Khái quát những vấn đề lý luận về phát triển thị trường giáo dục đạihọc

- Chỉ ra những bài học kinh nghiệm trong phát triển thị trường giáo dụcđại học ở Mỹ và Nhật Bản

- Khái quát bối cảnh phát triển thị trường giáo dục đại học ở Việt Namhiện nay, chỉ rõ những điểm tương đồng và sự khác biệt so với điều kiện pháttriển thị trường giáo dục ở Mỹ, Nhật Bản

- Đưa ra những gợi ý về chính sách phát triển thị trường giáo dục đạihọc ở Việt Nam trên cơ sở các bài học kinh Nghiệm của Mỹ và Nhật Bản

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: thị trường giáo dục đại học đặt trong mối quan

hệ với các nhân tố tác động tới sự vận động, phát triển của nó

Trang 8

Phát triển thị trường giáo dục đại học là đối tượng nghiên cứu củanhiều môn khoa học khác nhau, mỗi môn khoa học có góc độ tiếp cận,phương pháp và mục đích nghiên cứu khác nhau Dưới góc độ kinh tế chínhtrị, đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa các lực lượng xã hội trực tiếp tham giahoặc có lợi ích liên quan tới phát triển thị trường giáo dục đại học như: nhànước, các trường đại học, đội ngũ sinh viên, các tổ chức và doanh nghiệp sửdụng người lao động trình độ đại học, … Đề tài nghiên cứu sự phát triển thịtrường giáo dục đại học đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với lực lượngsản xuất xã hội, kiến trúc thượng tầng xã hội.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài khảo sát sự phát triển thị trường giáo dục

đại học ở Mỹ, Nhật Bản và những điều kiện tiền đề tác động trực tiếp tới sựphát triển thị trường này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Sở dĩ lựa chọn phạm vi nghiên cứu như vậy bởi, tác giả nhận thấy, Mỹ

là quốc gia có thị trường giáo dục đại học phát triển nhất hiện nay, được cảthế giới công nhận, còn Nhật Bản là quốc gia đạt được sự phát triển kinh tếthần kỳ trong một vài thập niên gần đây, mà một trong những nguyên nhânmang lại sự phát triển thần kỳ đó chính là việc cải cách hệ thống giáo dục.Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học của những quốc gia nóitrên sẽ cung cấp những bài học bổ ích cho việc phát triển thị trường giáo dụcđại học ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duyvật của chủ nghĩa Mác – Lênin Do phạm vi nghiên cứu rộng và phức tạp, tácgiả sử dụng phổ biến phương pháp trừu tượng hóa khoa học nhằm gạt bỏnhững vấn đề ít liên quan, tập trung làm rõ đối tượng nghiên cứu là thị trườnggiáo dục đại học

Trang 9

Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứuthường dùng trong lĩnh vực khoa học xã hội như: kết hợp lôgic với lịch sử,thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, …

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống những vấn đề lý luận về phát triển thị trường giáo dục đạihọc

- Rút ra những bài học kinh nghiệm phát triển thị trường giáo dục đạihọc ở Mỹ, Nhật Bản

- Đưa ra một số gợi ý về chính sách phát triển thị trường giáo dục đạihọc ở Việt Nam hiện nay

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận vănđược kết cấu thành 3 chương (8 tiết)

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển thị trường giáo dục đạihọc

Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường giáo dục đại học ở Mỹ vàNhật Bản

Chương 3: Những bài học kinh nghiệm từ phát triển thị trường giáo dụcđại học ở Mỹ, Nhật Bản và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam

Trang 10

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1 Khái niệm, đặc trưng của thị trường giáo dục đại học

1.1.1 Khái niệm thị trường giáo dục đại học

Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hóa, nộihàm khái niệm thị trường trong khoa học kinh tế cũng thay đổi cùng với sựphát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Nếu khoa học kinh tế cổ điển coithị trường là nơi diễn ra hoạt động trao đổi hàng hóa, thì trong khoa học kinh

tế hiện đại, thị trường được hiểu là tổng thể các quan hệ kinh tế phức tạp gắnkết người sản xuất với người tiêu dùng dựa trên sự điều tiết của các quy luậtkinh tế khách quan

Dù hiểu theo nghĩa nào, thị trường luôn được cấu thành bởi các yếu tố

cơ bản như người bán, người mua, hàng hóa, cung, cầu, giá cả và các quy luậtkinh tế Người bán, người mua đóng vai trò chủ thể của các quan hệ kinh tếthị trường, hàng hóa là đối tượng của thị trường, là nhân tố kết nối các chủ thểthị trường Cung, cầu, giá cả luôn biến động dưới sự chi phối của các quy luậtkinh tế, phản ánh mối quan hệ kinh tế phức tạp giữa các chủ thể thị trường

Có nhiều cách tiếp cận để phân loại thị trường Theo phạm vi, quy môcủa các quan hệ kinh tế (đặt trong địa giới hành chính), có thị trường trongnước, thị trường khu vực và thị trường toàn cầu Theo tính chất của các quan

hệ kinh tế có thị trường cạnh tranh tự do, thị trường độc quyền Theo đốitượng hàng hóa, thị trường được phân loại đa dạng nhất, có thị trường hànghóa và dịch vụ thông thường (phục vụ sinh hoạt), thị trường sức lao động, thịtrường khoa học công nghệ, thị trường tài chính, … thị trường giáo dục là mộtloại thị trường theo cách phân loại này

Trang 11

Thị trường giáo dục đào tạo là tổng hợp các quan hệ kinh tế gắn kếtngười cung cấp với người sử dụng dịch vụ giáo dục đào tạo dựa trên sự điềutiết của các quy luật kinh tế khách quan Giáo dục đào tạo cũng được chia rathành nhiều bậc học, từ mầm non, tiểu học, trung học tới đại học và sau đạihọc Trong phạm vi nghiên cứu luận văn của mình, tác giả chỉ đề cập tới thịtrường giáo dục đại học

Để làm rõ nội hàm khái niệm thị trường giáo dục đại học cần chỉ ra cácyếu tố cấu thành nó Thị trường giáo dục đại học cũng giống các loại thịtrường khác bởi đều chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, tuynhiên nó được phân biệt với các loại thị trường khác bởi đối tượng được traođổi trên thị trường và chủ thể thị trường

Đối tượng được trao đổi trên thị trường giáo dục đại học chính là dịch

vụ giáo dục đại học, với tư cách là một hàng hóa đặc biệt Giáo dục đại họctrong cơ chế thị trường cũng là một hàng hóa bởi nó là sản phẩm do lao độngcủa con người tạo ra, người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ lànhững chủ thể độc lập Giống như mọi hàng hóa khác, dịch vụ giáo dục đạihọc có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị dịch vụ giáo dục đào tạo chính là hao phí lao động xã hội cầnthiết để tạo ra nó, bao hàm cả hao phí lao động quá khứ kết tinh trong trường

sở, tài liệu nghiên cứu, phương tiện dạy học, các công cụ hỗ trợ cần thiết vàhao phí lao động sống của giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ trongnhà trường …Giá trị sử dụng của dịch vụ giáo dục đại học chính là công dụngcủa nó, có khả năng trang bị tri thức, bồi dưỡng kĩ năng, củng cố tâm lý chongười học, giúp đào tạo họ thành người lao động có trình độ cao

Trang 12

Chủ thể của thị trường giáo dục đại học chính là người cung cấp vàngười sử dụng loại hình dịch vụ này Người cung cấp dịch vụ là nhà trường(các trường cao đẳng và đại học), người sử dụng dịch vụ là sinh viên Tuynhiên, do tính chất đặc biệt của loại hình dịch vụ này, giáo dục đại học gópphần thực hiện mục tiêu chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực nênđối tượng thụ hưởng gián tiếp lợi ích từ nó còn là các doanh nghiệp sử dụngngười lao động (có trình độ cao đẳng, đại học) và toàn xã hội Mặt khác, sinhviên là người trực tiếp sử dụng dịch vụ, nhưng hầu hết sinh viên chưa phải làngười lao động, chưa có khả năng trả chi phí để sử dụng dịch vụ nên gia đìnhsinh viên phải thực hiện khoản chi phí này Như vậy, ngoài nhà trường vàsinh viên, chủ thể trên thị trường giáo dục đại học còn bao hàm gia đình sinhviên, các doanh nghiệp sử dụng người lao động trình độ cao đẳng, đại học vànhà nước Nhà nước xuất hiện trên thị trường giáo dục đại học không chỉ với

tư cách là cơ quan quản lý hoạt động này theo hiến pháp và pháp luật, mà nhànước còn tham gia thị trường với tư cách là người cung cấp và chi trả mộtphần chi phí dịch vụ do sự cần thiết và những lợi ích mà dịch vụ giáo dục đạihọc mang lại cho toàn xã hội

Từ những phân tích trên đây ta có thể định nghĩa Thị trường giáo dục đại học là tổng thể các quan hệ giữa nhà trường, sinh viên, gia đình sinh viên, các doanh nghiệp và nhà nước trong việc cung ứng và sử dụng dịch vụ giáo dục đại học đặt trong sự chi phối bởi các quy luật kinh tế khách quan.

1.1.2 Những đặc trưng của thị trường giáo dục đại học

Thứ nhất, Thị trường giáo dục đại học có mối quan hệ gắn bó mật thiết

và trực tiếp giữa người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ Đối với các

hàng hóa thông thường, quá trình sản xuất tách rời quá trình tiêu dùng, và khibàn tới việc phát triển thị trường các hàng hóa này, đôi khi người ta chỉ chủ ý

Trang 13

đến lĩnh vực sản xuất, cung ứng mặt hàng đó Thị trường giáo dục đại học có

sự khác biệt, là một loại hình dịch vụ, quá trình "sản xuất" gắn liền với quátrình "tiêu dùng" Nói cách khác, kết quả của quy trình sản xuất (cung cấpdịch vụ) được thể hiện ngay trên sự biến đổi người tiêu dùng về tri thức, kĩnăng, bản lĩnh, thái độ, Nhận thức đặc trưng này là cơ sở xác định nội dungphát triển thị trường giáo dục đại học, luôn có sự gắn bó mật thiết giữa pháttriển hệ thống các trường đại học, các loại hình dịch vụ giáo dục đại học vớiphát triển đội ngũ sinh viên

Thứ hai, thị trường giáo dục đại học luôn gắn bó mật thiết với thị trường sức lao động Thị trường sức lao động xuất hiện từ rất sớm để đáp ứng

nhu cầu khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực xã hội phục vụ sản xuất,

và khi thị trường sức lao động phát triển tới mức đặt ra nhu cầu về một nguồnnhân lực trình độ cao, nó đòi hỏi sự ra đời của thị trường giáo dục đại học,bằng cách đưa các quan hệ thị trường vào cải tạo lĩnh vực giáo dục đại họctheo mô hình quản lý hành chính truyền thống Như vậy, ngay từ đầu, thịtrường giáo dục đại học ra đời đã gắn bó mật thiết với thị trường sức laođộng, và trong toàn bộ quá trình phát triển, những vận động, biến đổi trên thịtrường sức lao động đều nhanh chóng làm gây ra những chuyển biến rõ ràngtrên thị trường giáo dục đại học Nhận thức đặc trưng này, cho phép các quốcgia xây dựng chính sách phát triển thị trường giáo dục đại học đồng bộ vớiphát triển thị trường sức lao động để mang lại hiệu quả hoạt động cao nhấtcho cả 2 loại thị trường này

Thứ ba, người sử dụng không hoàn toàn được tự do lựa chọn dịch vụ theo ý mình Đối với hàng hóa thông thường, người trực tiếp tiêu dùng hàng

hóa thường là người duy nhất thụ hưởng giá trị sử dụng của hàng hóa, do vậy

họ toàn quyền tự do lựa chọn loại hàng hóa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của

Trang 14

bản thân mình Thị trường giáo dục đại học không cung cấp loại hàng hóanhư vậy, dịch vụ giáo dục đại học không chỉ trang bị tri thức và kĩ năng laođộng cho sinh viên, nó còn có nhiệm vụ trang bị cho họ những phẩm chất cầnthiết để trở thành một công dân có ích cho xã hội, một thành viên biết sống cótrách nhiệm với cộng đồng Theo đó, cùng với việc hỗ trợ một phần kinh phícung cấp dịch vụ, xã hội cũng can thiệp vào quá trình cung cấp dịch vụ bằngcách đặt ra những yêu cầu bắt buộc đối với loại hình dịch vụ này Như vậy,trong chương trình giáo dục đại học, bên cạnh các môn học tự chọn, luôn cócác môn học bắt buộc như giáo dục công dân, pháp luật, đạo đức, …và thôngqua nhà nước, xã hội thực hiện sự kiểm soát nội dung của dịch vụ giáo dụcđại học không hoàn toàn để bảo về lợi ích cho cá nhân người tiêu dùng dịch

vụ, mà còn đảm bảo các lợi ích cho xã hội

1.2 Tính tất yếu khách quan và nội dung phát triển thị trường giáo dục đại học

1.2.1 Tính tất yếu khách quan phát triển thị trường giáo dục đại học

Tính tất yếu phát triển thị trường giáo dục đại học là một phạm trù lịch

sử, nó có thể là yêu cầu khách quan của một quốc gia ở một thời kỳ lịch sửnhất định và có thể không đặt ra với các quốc gia khác, trong giai đoạn lịch sửkhác Đối với các quốc gia đã phát triển thành công thị trường giáo dục đạihọc, đây là vấn đề đã được giải quyết, không còn gây tranh cãi Trong phạm

vi luận văn này, tác giả bàn tới tính tất yếu phát triển thị trường giáo dục đạihọc ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.2.1.1 Do yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại

Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kiểu tổ chức kinh tếsản xuất hàng hóa, ở đó, hầu hết các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra của

Trang 15

sản xuất đều mang hình thái hàng hóa, tức là được trao đổi, mua bán trên thịtrường trước khi đi vào phục vụ sản xuất hoặc sinh hoạt Trong cơ cấu củanền kinh tế thị trường hiện đại xuất hiện một loạt các thị trường mới như vốn,khoa học công nghệ, sức lao động, …làm cho các đối tượng này dịch chuyểnmột cách năng động dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, đạtđược hiệu quả khai thác, sử dụng cao Nền kinh tế thị trường hiện đại đã thừanhận và khẳng định sự cần thiết coi khoa học công nghệ và sức lao động làđối tượng hàng hóa, thì việc sản sinh ra sản phẩm khoa học công nghệ vànguồn nhân lực trình độ cao cũng cần được vận hành theo cơ chế thị trường.Nói cách khác, việc phát triển thị trường giáo dục đại học là đòi hỏi kháchquan để phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại.

1.2.1.2 Do tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốctế

Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, giáo dục nói chung, giáo dụcđại học nói riêng, được nhiều quốc gia coi là loại hình dịch vụ xuất khẩumang lại giá trị gia tăng cao Các nước phát triển đứng đầu là Mỹ, Anh, Úc,Đức đã xuất khẩu giáo dục đại học ra toàn thế giới Ở Đông Nam Á,Singapore và Thái Lan cũng đang tìm cách chiếm lĩnh thị trường khu vực đốivới loại hình dịch vụ này Trên thị trường Việt Nam, mấy năm gần đây, hộithảo du học luôn đứng đầu bảng về mật độ, với sự cạnh tranh của các nhàxuất khẩu giáo dục Theo thống kê của Cục Đào tạo với nước ngoài (BộGD&ĐT), nước ta hiện có trên 100.000 du học sinh theo học tại 49 quốc gia,vùng lãnh thổ, trong đó khoảng 90% đi học bằng kinh phí tự túc [28] Nhưvậy, người Việt Nam đang bỏ tiền ra để sử dụng dịch vụ giáo dục đại học củanước ngoài, và các nhà xuất khẩu giáo dục cũng tìm mọi cách để phục vụ tậnnơi đối với nhu cầu du học tại chỗ của sinh viên Việt Nam Thực tiễn trên đòihỏi chúng ta phải phát triển thị trường giáo dục đại học càng sớm càng tốt,

Trang 16

một mặt nhằm phát huy mọi nguồn lực để đáp ứng nhu cầu học tập của sinhviên trong nước, mặt khác giúp nền giáo dục đại học nước ta có thể hội nhậpvới khu vực và toàn cầu.

1.2.1.3 Do yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực chophát triển giáo dục đại học

Giáo dục đại học là yếu tố giữ vai trò quyết định đối với việc đào tạo,bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Do vậy, giáo dục đại học cần được đầu tư những nguồnlực xã hội tương xứng với vai trò của nó Trong cơ chế bao cấp, ngân sáchnhà nước là nguồn cung cấp kinh phí chủ yếu, phần đóng góp của sinh viên làkhoản phụ thêm để giảm bớt gánh nặng cho xã hội, tuy nhiên cơ chế này tỏ rakhông còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay Nhu cầu học đại học gia tăngnhanh chóng, vượt quá khả bao cấp của ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, cơchế bao cấp được duy trì quá lâu trong khối trường công lập làm cho chấtlượng giáo dục đại học công lập ngày càng giảm sút Thực tế đó đòi hỏi phảixác lập cơ chế thị trường để huy động các nguồn lực xã hội tham gia cungứng loại hình dịch vụ này, bản thân khối trường công lập cũng cần được vậnhành theo cơ chế thị trường để khắc phục những hạn chế do cơ chế bao cấpsinh ra

1.2.2 Nội dung phát triển thị trường giáo dục đại học

1.2.2.1 Tạo lập môi trường phát triển

Muốn phát triển thị trường giáo dục đại học, trước hết cần tạo lập cácmôi trường cần thiết như môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trườngvăn hóa xã hội

Trang 17

Môi trường pháp lý cho phát triển thị trường giáo dục đại học là tổng

thể các quy tắc pháp quy cùng với hoạt động của các lực lượng thực thi phápluật nhằm điều chỉnh hành vi của người cung cấp và người sử dụng dịch vụgiáo dục đại học với mục đích đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi bên Trong

hệ thống các quy tắc pháp quy này, luật giáo dục đại học là bộ phận cơ bản vàquan trọng nhất Môi trường pháp lý quy định chuẩn chất lượng dịch vụ giáodục đại học, xác định nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các chủ thể thịtrường, ngăn chặn các hành vi gian lận trong quá trình cung cấp và sử dụngdịch vụ này Môi trường pháp lý cũng đồng thời là công cụ để nhà nước quản

lý, điều tiết thị trường giáo dục đại học nhằm định hướng các mục tiêu quốcgia về giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Tạo lập môi trườngpháp lý là xây dựng, củng cố hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực hoạt độngcủa cơ quan hành pháp và giáo dục nhận thức, hình thành thói quen hànhđộng theo pháp luật của các chủ thể trên thị trường giáo dục đại học

Môi trường kinh tế cho phát triển thị trường giáo dục đại học là tổng

thể các quan hệ về mặt lợi ích giữa người cung ứng và người sử dụng dịch vụgiáo dục đại học cùng với những quan hệ phức tạp về mặt lợi ích giữa các lựclượng tham gia cung ứng và phân phối loại hình dịch vụ đặc biệt này Môitrường kinh tế lành mạnh tạo điều kiện huy động và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực để phát triển thị trường giáo dục đại học, trái lại môi trường kinh tếthiếu lành mạnh sẽ kìm hãm sự phát triển của thị trường này Tạo lập môitrường kinh tế lành mạnh cho phát triển thị trường giáo dục đại học thực chất

là tạo điều kiện để các lực lượng xã hội tham gia thị trường này một cách tự

do, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh dưới sự chi phối của các quy luật kinh tếkhách quan, nhất là quy luật giá trị Khi môi trường kinh tế lành mạnh đượcxác lập, người học sẽ được hưởng dịch vụ tương xứng với giá cả của nó, cáclực lượng tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục đại học sẽ được hưởng lợi ích

Trang 18

kinh tế tương xứng với kết quả lao động của mình, sự cạnh tranh tự do cũnglàm cho chất lượng dịch vụ giáo dục đại học ngày càng được nâng cao.

Môi trường văn hóa xã hộicho phát triển thị trường giáo dục đại học là

tổng thể các giá trị truyền thống, thói quen ứng xử, phong tục tập quán của xãhội có liên quan tới hoạt động giáo dục đại học Giáo dục nói chung và giáodục đại học nói riêng, bản thân nó đã là bộ phận cấu thành của nền văn hóa,chịu sự chi phối trực tiếp của môi trường văn hóa Quan điểm văn hóa truyềnthống của một quốc gia có thể thừa nhận hoặc không thừa nhận thị trườnggiáo dục đại học, dư luận xã hội có thể ủng hộ hoặc phản đối việc phát triểnthị trường giáo dục đại học Tạo lập môi trường văn hóa xã hội cho phát triểnthị trường giáo dục đại học là thống nhất nhận thức và tạo ra sự đồng thuận xãhội nhằm phát triển một nền giáo dục đại học vận hành theo cơ chế thị trườngkhông làm mất đi nét bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc

Trong nền kinh tế, các môi trường kể trên tồn tại đan xen và có tácđộng tổng hợp chi phối sự ra đời, phát triển của thị trường giáo dục đại học.Những tác động này bao hàm cả mặt tích cực và tiêu cực, nếu chúng được tạolập một cách đồng bộ, phù hợp với thực tế sẽ giúp phát huy tác động tích cực

và hạn chế những tác động tiêu cực của nhau

1.2.2.2 Phát triển các yếu tố cấu thành thị trường giáo dục đại học.Các yếu tố cấu thành thị trường giáo dục đại học bao gồm chủ thể thịtrường, đối tượng được trao đổi trên thị trường, các cơ quan quản lý nhà nước

và hệ thống quy phạm pháp quy chi phối các hành vi kinh tế trên thị trường.Trong đó, hệ thống pháp luật và hoạt động của cơ quan hành pháp đã được đềcập trong môi trường pháp lý (mục 1.2.2.1), ở đây chỉ đề cập tới các chủ thểthị trường và đối tượng được trao đổi trên thị trường giáo dục đại học

Trang 19

Thứ nhất, phát triển hệ thống các trường đại học, cao đẳng với tư cách

là chủ thể trực tiếp cung cấp dịch vụ giáo dục đại học Trong mô hình quản lý

giáo dục đại học theo cơ chế tập trung, nhà trường được coi là đơn vị sựnghiệp nhà nước, được thành lập theo quyết định của nhà nước, thực hiệnnhiệm vụ pháp lệnh và được nhà nước bao cấp về kinh phí Đội ngũ giảngviên và cán bộ quản lý giáo dục trong các nhà trường là cán bộ thuộc biên chếnhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và do cơ quan quản lý nhànước về giáo dục tuyển chọn, phân công công tác Chỉ tiêu tuyển sinh củatừng trường do nhà nước quy định Nhà trường không có quyền tự chủ cả vềkinh tế và nhân sự nên việc chịu trách nhiệm của người đứng đầu nhà trườngđối với chất lượng đào tạo chỉ mang tính hình thức Các trường không phảicạnh tranh với nhau nên không có động lực để nâng cao chất lượng đào tạo

Phát triển hệ thống các trường cao đẳng, đại học trong cơ chế thị trườngđòi hỏi coi nhà trường là một chủ thể độc lập, có quyền tự chủ về kinh tế,nhân sự và nội dung chương trình đào tạo Tức là, bên cạnh khối trường cônglập, nhà nước cần có cơ chế thông thoáng và tạo điều kiện thuận lợi cho mọithành phần kinh tế được thành lập các trường cao đẳng, đại học khi hội đủnhững tiêu chí cần thiết Các trường có quyền tuyển chọn, đãi ngộ và sử dụngđội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục theo cơ chế thị trường Ngoàikhung chương trình bắt buộc, các trường được tự do xác định nội dung,chương trình đào tạo và cạnh tranh lành mạnh để thu hút sinh viên bằng chínhthương hiệu, chất lượng đào tạo và mức học phí riêng Như vậy, phát triển hệthống trường cao đẳng, đại học là tạo ra cơ chế thông thoáng để huy động mọithành phần kinh tế tham gia thành lập trường nhằm có một hệ thống nhàtrường phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, lĩnh vực đào tạo, mứchọc phí, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của mọi đối tượng sinhviên

Trang 20

Thứ hai, phát triển đội ngũ sinh viên, với tư cách là chủ thể tiêu dùng dịch vụ giáo dục đại học Nhu cầu học đại học đang gia tăng rất nhanh trong

thời gian gần đây, tuy nhiên để có một thị trường giáo dục đại học hoạt độnghiệu quả, đáp ứng đòi hỏi việc đào tạo một nguồn nhân lực chất lượng caocho xã hội thì đội ngũ sinh viên cần được phát triển một cách tự giác chứkhông phải nảy sinh tự phát

Phát triển đội ngũ sinh viên là nhằm tạo ra một đội ngũ sinh viên có sốlượng phù hợp, chất lượng đảm bảo, cơ cấu cân đối theo chiến lược quốc gia

về phát triển nguồn nhân lực

Phát triển số lượng sinh viên là làm tăng lượng người có đủ điều kiện

về kiến thức, kinh tế để tham gia học đại học Để tăng số người có đủ điềukiện kiến thức, giáo dục phổ thông cần được mở rộng, thậm chí phổ cập giáodục phổ thông nếu trình độ phát triển và điều kiện bảo đảm của nền kinh tếcho phép làm điều này Mặt khác, cần hỗ trợ về mặt kinh tế đối với những họcsinh có điều kiện khó khăn, nhưng ham học và học giỏi, dưới hình thức trợcấp học phí hoặc cho vay ưu đãi

Nâng cao chất lượng đội ngũ sinh viên là chuẩn bị cho người họcnhững phẩm chất cần thiết cả về thể lực, trí lực, đạo đức và sự hiểu biết về thịtrường giáo dục đại học Việc chuẩn bị thể lực, trí lực và đạo đức cho sinhviên được tiến hành từ khi họ còn là học sinh phổ thông và việc làm này đòihỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình, nhà trường và xã hội Phát triển độingũ sinh viên với tư cách là chủ thể của thị trường giáo dục đại học đòi hỏitrang bị cho họ những hiểu biết cần thiết về thị trường này để họ trở thànhmột “người tiêu dùng” thông thái, thay vì việc học đại học theo trào lưu, tâm

lý tự phát Trước khi tham gia và trở thành người tiêu dùng trên thị trườnggiáo dục đại học, người học cần hiểu rõ về các “hàng hóa”, “nhà sản xuất”,

Trang 21

“giá thành”, tức là hiểu rõ về từng loại dịch vụ giáo dục đại học của từng nhàtrường, từ lĩnh vực chuyên ngành đào tạo, chất lượng đào tạo đến mức họcphí Để làm được điều này, sự chủ động tìm hiểu của người học và gia đình làchưa đủ, nhà nước cần có cơ chế buộc các trường phải công khai minh bạchnhững thông tin cơ bản về hoạt động của mình, đồng thời phải có cơ quan, tổchức đủ uy tín đứng ra kiểm định chất lượng hoạt động và giám sát việc côngkhai thông tin của nhà trường.

Quy hoạch đội ngũ sinh viên theo cơ cấu cân đối với chiến lược quốcgia về phát triển nguồn nhân lực là việc chủ động điều tiết, phân bổ sinh viênvào các nhóm ngành đào tạo khác nhau, sự điều tiết này cũng phải tuân thủ cơchế thị trường và nó phụ thuộc trực tiếp vào nội dung phát triển đối tượng củathị trường giáo dục đại học

Thứ ba, phát triển các dịch vụ giáo dục đại học với tư cách là đối tượng của thị trường giáo dục đại học Phát triển các dịch vụ giáo dục đại học

là làm phong phú về số lượng, nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ giáodục đại học phù hợp với yêu cầu tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế

Phát triển các dịch vụ giáo dục đại học trong cơ chế thị trường đòi hỏiphát huy tối đa những tác động tích cực của cơ chế thị trường trên cơ sở nângcao tính tự chủ của các trường đại học Nhu cầu trên thị trường sức lao động

sẽ là tín hiệu để người học lựa chọn loại dịch vụ giáo dục đại học, và nhu cầucủa người học là tín hiệu để nhà trường cung cấp loại hình dịch vụ phù hợp.Việc tự do lựa chọn ngành học, trường học của sinh viên cũng tạo ra cơ chếcạnh tranh lành mạnh buộc các trường phải nâng cao chất lượng phục vụ củamình

Trang 22

Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực, cơ chế thị trường tất yếucũng tồn tại nhiều hạn chế mà điều dễ nhận thấy nhất là khả năng mất cân đốitrong cơ cấu nhân lực Việc chạy theo các ngành đào tạo được cho là hấp dẫnvới kỳ vọng về một công việc tốt và mức thu nhập cao sẽ dẫn tới một sốngành đào tạo phát triển vượt quá nhu cầu thực tế của xã hội, trong khi một sốlĩnh vực đào tạo thiết yếu lại không được đầu tư tương xứng Do vậy, pháttriển các dịch vụ giáo dục đại học đòi hỏi có sự can thiệp của nhà nước bằngcách hỗ trợ, khuyến khích phát triển những loại hình dịch vụ đào tạo cần thiết,tạo ra một cơ cấu cân đối về các ngành, lĩnh vực đào tạo, phù hợp với yêu cầuphát triển nguồn nhân lực của xã hội.

1.2.2.3 Định hướng, điều tiết sự phát triển thị trường giáo dục đại học

Lý thuyết kinh tế thị trường hiện đại khẳng định không tồn tại một thịtrường tự do thuần túy, nhà nước luôn phải can thiệp để định hướng về mụctiêu phát triển, điều tiết để khắc phục những hạn chế nảy sinh một cách tựphát, đảm bảo thị trường hoạt động lành mạnh

Định hướng phát triển thị trường giáo dục đại học là xác định mục tiêuchiến lược và sử dụng tổng hợp các nguồn lực của nhà nước để tác động theohướng dẫn dắt các lực lượng tham gia thị trường giáo dục đại học hành độngnhằm đạt tới mục tiêu chiến lược đã xác định Việc xác định mục tiêu chiếnlược về giáo dục đại học phải cắn cứ vào điều kiện, tình hình cụ thể và phảiphù hợp với chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực Công cụ đểnhà nước tác động nhằm định hướng sự phát triển của thị trường giáo dục đạihọc bao gồm cả công cụ kinh tế, công cụ pháp lý và sự tham gia trực tiếp củanhà nước vào thị trường như một chủ thể cung cấp dịch vụ, nhưng dù sử dụngcông cụ nào cũng phải tuân thủ các quy luật kinh tế khách quan

Trang 23

Điều tiết sự phát triển của thị trường giáo dục đại học là sự can thiệpcủa nhà nước vào thị trường này nhằm phát huy những tác động tích cực vàhạn chế, khắc phục hậu quả của những tác động tiêu cực nảy sinh tự phát trênthị trường.

Cơ chế thị trường với sự hoạt động tự do, thông thoáng, cạnh tranh sẽcho phép thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội phục vụ mục tiêuphát triển giáo dục đại học Để phát huy ưu thế này, nhà nước cần hoàn thiện

hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan quản lýnhà nước về giáo dục đại học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần

xã hội có thể tham gia thị trường, đồng thời đảm bảo lợi ích chính đáng củacác chủ thể thị trường, loại bỏ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Bên cạnh mặt tích cực, cơ chế thị trường, với động cơ chủ yếu là lợi íchkinh tế sẽ làm nảy sinh một loạt các hậu quả tiêu cực như xuất hiện các chủthể cung cấp dịch vụ không đảm bảo chất lượng, các hành vi gian lận trongtuyển sinh, đào tạo và công nhận trình độ người học, cố ý cắt giảm khungchương trình bắt buộc, sự phát triển tự phát gây mất cân đối về cơ cấu ngànhnghề đào tạo, …nhà nước phải quản lý, điều tiết nhằm khắc phục những tiêucực này Để quản lý chất lượng giáo dục đại học, điều quan trọng thiết yếu làxây dựng được các tổ chức kiểm định chất lượng hoạt động độc lập, kháchquan, minh bạch Để điều tiết, cân đối cơ cấu loại hình dịch vụ giáo dục đạihọc, nhà nước cần trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ bằng cách tổ chức cáctrường công lập; đồng thời có chính sách hỗ trợ, khuyến khích, ưu đãi về kinh

tế đối với một số lĩnh vực, ngành nghề đào tạo cần thiết

1.3 Các điều kiện chi phối sự phát triển thị trường giáo dục đại học

Trang 24

1.3.1 Mô hình và trình độ phát triển kinh tế

Thị trường giáo dục đại học tất nhiên chỉ nảy sinh trong nền kinh tế thịtrường, tuy nhiên tùy vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau mà cácquốc gia đã phát triển kinh tế thị trường theo những mô hình khác nhau, mỗi môhình kinh tế này chi phối khác nhau tới sự phát triển của thị trường giáo dục đạihọc Mô hình kinh tế thị trường tự do ở Mỹ, Anh, Úc tạo ra điều kiện thuậnlợi cho việc phát triển thị trường giáo dục đại học bằng cách trao quyền tự chủrộng rãi cho các nhà trường Mô hình kinh tế thị trường xã hội phúc lợi ởĐức, Thụy điển và các nước Bắc Âu lại gần như bao cấp hoàn toàn lĩnh vựcgiáo dục, thậm chí, sinh viên Đức được hoàn toàn miễn phí khi học trường đạihọc đầu tiên Mô hình kinh tế thị trường nhà nước phát triển ở Nhật Bản, mặc

dù nhà nước can thiệp trực tiếp, nhưng vẫn tạo ra sự thông thoáng nhất địnhcho sự phát triển thị trường giáo dục đại học

Trình độ phát triển kinh tế tác động trực tiếp tới thị trường giáo dục đạihọc, không có thị trường giáo dục đại học hoạt động hiệu quả trong một nềnkinh tế kém phát triển Lịch sử phát triển giáo dục đại học ở nhiều quốc giaghi nhận sự xuất hiện từ rất sớm các trường đại học tư, hoạt động theo môhình doanh nghiệp, tuy nhiên thị trường giáo dục đại học chỉ thực sự pháttriển khi nền kinh tế đạt ra yêu cầu về một nguồn nhân lực trình độ cao Bêncạnh đó, trình độ phát triển kinh tế luôn song hành với trình độ phát triểnkhoa học công nghệ, mà sự phát triển khoa học công nghệ lại chi phối trựctiếp tới chất lượng các dịch vụ giáo dục đại học

1.3.2 Truyền thống văn hóa

Truyền thống văn hóa cũng chi phối mạnh mẽ tới sự phát triển thịtrường giáo dục đại học, mà rõ nhất là sự ảnh hưởng của văn hóa tới nhu cầu

Trang 25

học đại học của người dân Ở các nước phương Tây, nhu cầu học đại học chỉthực sự gia tăng nhanh khi thị trường sức lao động hình thành một mức cầucao về loại lao động có trình độ đại học Một bộ phận không nhỏ học sinh tốtnghiệp phổ thông, mặc dù có điều kiện học đại học nhưng không chọn hướng

đi này, họ thường lựa chọn một lĩnh vực nghề nghiệp theo sở thích cá nhân.Trong quan niệm của đông đảo người dân phương Tây, trình độ học vấnkhông phải là tiêu chí phân biệt đẳng cấp xã hội Ở phương Đông thì khác, doảnh hưởng tàn dư của hệ tư tưởng Nho giáo, người phương Đông phân biệtđẳng cấp giữa lao động trí óc và lao động chân tay, nhiều khi trọng danh tiếnghơn cả lợi ích kinh tế Đặc điểm văn hóa này khiến người phương Đông cónhu cầu học đại học rất cao, ngay cả khi nền kinh tế thiếu trầm trọng nhữngngười lao động có tay nghề giỏi và dư thừa lực lượng lao động có trình độ đạihọc

Truyền thống văn hóa cũng chi phối trực tiếp việc thừa nhận hay không

sự tồn tại của thị trường giáo dục đại học Người phương Tây coi nghề dạyhọc bình thường như bao nghề khác, và giáo dục nói chung, giáo dục đại họcnói riêng cũng là một loại hình dịch vụ, thị trường giáo dục đại học ra đời vàtrở thành một bộ phận của nền kinh tế thị trường như một lẽ tự nhiên Ngườiphương Đông coi giáo dục là một lĩnh vực thiêng liêng, nghề dạy học là nghềcao quý và khó chấp nhận việc dùng đồng tiền làm thước đo giá trị của việctruyền thụ tri thức Do vậy, mặc dù nhu cầu học đại học đặt ra rất cao và thịtrường giáo dục đại học vẫn hình thành một cách tự phát, nhưng một bộ phậnkhông nhỏ người phương Đông vẫn cố tình không chịu thừa nhận nó Việcthừa nhận hay không sự tồn tại của thị trường giáo dục đại học ảnh hưởngtrực tiếp tới sự phát triển của thị trường này

1.3.3 Chính sách quốc gia về giáo dục đào tạo

Trang 26

Thế giới đã và đang chuyển từ mô hình phát triển kinh tế theo chiềurộng sang mô hình phát triển kinh tế theo chiều sâu, và trước ngưỡng cửa củanền kinh tế tri thức, nhu cầu về một nguồn nhân lực chất lượng cao buộc cácquốc gia đặt nhiệm vụ giáo dục đào tạo lên hàng đầu Tuy nhiên, tùy vào đặcđiểm tình hình, mỗi quốc gia có chính sách phát triển giáo dục đào tạo riêngcủa mình.

Một số quốc gia quan niệm giáo dục đào tạo nói chung là phúc lợi xãhội, họ xây dựng chính sách giáo dục đào tạo trên cơ sở coi đây trách nhiệmcủa nhà nước nhằm đảm bảo quyền học tập bình đẳng của mọi công dân,đồng thời đảm bảo định hướng quốc gia về phát triển nguồn nhân lực Vớichính sách này, lĩnh vực giáo dục đào tạo là độc quyền và hoạt động giáo dụcđào tạo là hoạt động phi kinh tế, thị trường giáo dục đại học không thể hìnhthành và phát triển

Một số quốc gia khác quan niệm giáo dục phổ thông là phúc lợi xã hội,còn giáo dục đại học và đào tạo nghề là dịch vụ, mọi công dân có quyền tự dolựa chọn dịch vụ và phải trả phí để được hưởng dịch vụ Với chính sách này,thị trường giáo dục đại học phát triển hoàn toàn tự do, những nguồn lực xãhội được huy động và sử dụng có hiệu quả, các chủ thể trên thị trường giáodục đại học có điều kiện phát huy sự năng động, sáng tạo và cạnh tranh vớinhau thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của thị trường này Tuy nhiên, sựphát triển tự phát của thị trường giáo dục đại học cũng nảy sinh nhiều hệ quảtiêu cực như sự mất cân đối trong cơ cấu nhân lực sau đào tạo, xuất hiệnnhiều dịch vụ giáo dục đại học chất lượng kém, sự thiếu tương đồng giữatrình độ học vấn và trình độ văn hóa ở người học, …

Với những quốc gia thực hiện chính sách xã hội hóa hoạt động giáodục đại học, nhà nước cho phép và khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham

Trang 27

gia cung cấp dịch vụ giáo dục đại học như một hoạt động kinh tế, trong đónhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo Chính sách này vừa tạo ra sự phát triểnnăng động của thị trường giáo dục đại học, vừa phát huy vai trò quản lý củanhà nước nhằm định hướng, điều tiết thị trường giáo dục đại học, khác phụcđược những tác động tiêu cực nảy sinh tự phát trên thị trường.

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Ở MỸ VÀ NHẬT BẢN

2.1 Tạo lập môi trường phát triển thị trường giáo dục đại học

2.1.1 Tạo lập môi trường kinh tế

Nước Mỹ có điều kiện kinh tế hết sức thuận lợi khi phát triển thị trườnggiáo dục đại học trên cơ sở kế thừa mô hình kinh tế thị trường tự do của nướcAnh Các trường đại học đầu tiên ở Mỹ xuất hiện trước khi ra đời nhà nước

Trang 28

liên bang và hầu hết là trường tư thục, các trường này xuất hiện từ nhu cầukhách quan của nền kinh tế, hoạt động cung cấp dịch vụ đào tạo nhân lựctrình độ cao và ít chịu sự chi phối của chính quyền bang Trên cơ sở các quan

hệ kinh tế thị trường tự do, nền kinh tế Mỹ bùng phát sau thế chiến II vừa đặt

ra yêu cầu vừa tạo điều kiện tốt để thị trường giáo dục đại học phát triển mạnh

mẽ Như vậy, ở Mỹ, giáo dục đại học xuất hiện trong nền kinh tế thị trường vàngay từ đầu đã vận hành theo cơ chế thị trường

Khác với Mỹ, hệ thống giáo dục đại học Nhật Bản ra đời và phát triểntrong thời kỳ phong kiến, khi nền kinh tế còn ở trình độ kém phát triển Cáctrường đại học không xuất hiện từ nhu cầu khách quan của nền kinh tế vềnguồn nhân lực khoa học, nó được thành lập bởi nhà nước và có nhiệm vụđào tạo đội ngũ quan lại cho chính quyền phong kiến trung ương tập quyền.Tiền đề kinh tế cho thị trường giáo dục đại học Nhật Bản được đánh dấu bằngcải cách Minh Trị 1866-1869, hệ thống giáo dục đại học bắt đầu chịu ảnhhưởng lớn của mô hình giáo dục châu Âu cả về nội dung và hình thức tổchức Thời kỳ này, ở Nhật Bản đã xuất hiện các trường đại học tư, hoạt động

vì lợi nhuận, tuy nhiên tính đến trước thế chiến thứ hai, Nhật Bản chưa thực

sự có thị trường giáo dục đại học, các trường đại học công lập hoạt động dựavào nguồn cung cấp kinh phí của nhà nước vẫn giữ địa vị chi phối tuyệt đối.Sau thế chiến thứ hai, mặc dù là nước thua trận, nhưng nhờ sản xuất hàng quânnhu xuất khẩu, phục vụ chiến tranh Triều Tiên, chỉ sau 10 năm, nền kinh tế NhậtBản khôi phục được mức sản xuất trước Đại chiến, và đến khoảng năm 1980 thìmức thu nhập trên đầu người trong nước đã vượt qua các quốc gia châu Âu Sựthịnh vượng của nền kinh tế đã tạo ra một giai đoạn vàng son cho nền đại họcNhật Bản trong giai đoạn 1950-1980, nhu cầu sử dụng người tốt nghiệp đại họcgia tăng bởi sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất khiến hệ thống giáo dục đại họcquốc lập không đáp ứng kịp và Nhật Bản đã nhanh chóng chuyển đổi mô hình

Trang 29

giáo dục đại học theo cơ chế thị trường, huy động nhiều thành phần kinh tế thamgia cung cấp dịch vụ giáo dục đại học nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguồn nhânlực trình độ cao cho nền kinh tế.

2.1.2 Tạo lập môi trường chính trị, pháp lý

Ở giai đoạn đầu thành lập, dường như một thể chế chính trị với quyềnlực nhà nước liên bang yếu lại tạo ra điều kiện thuận lợi cho nền giáo dục đạihọc Mỹ được tự do phát triển theo cơ chế thị trường Ngay sau khi được bầulàm tổng thống đầu tiên, G Washington đã chủ trương thiết lập một hệ thốnggiáo dục đại học quốc gia mạnh bắt đầu bằng đề xuất trước Quốc hội thànhlập một trường đại học quốc gia kiểu mẫu cho cả liên bang, nhưng ý kiến của

G Washington đã không được các đại biểu ủng hộ vì điều họ quan tâm lúcnày là chủ quyền từng bang chứ không phải sức mạnh của nhà nước liên bangnon trẻ [22] Thất bại của G Washington đồng nghĩa với việc không có ngaymột hệ thống giáo dục đại học mạnh dưới sự chi phối của nhà nước liên bang,nhưng nó tạo ra điều kiện hoạt động hoàn toàn tự do, độc lập và tự chủ chocác trường đại học ở từng bang, và đây là tiền đề quan trọng cho một thịtrường giáo dục đại học phát triển bậc nhất thế giới sau này

Tuy không trực tiếp thành lập được một hệ thống giáo dục đại họcmạnh, nhưng chính quyền liên bang đã dần hoàn thiện một hệ thống quyphạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cần thiết cho sự phát triển thị trườnggiáo dục đại học, đồng thời phát huy vai trò điều tiết thị trường này bằng cảcông cụ pháp luật và kinh tế Hiến pháp liên bang quy định quyền tự chủ caocủa các chủ thể kinh tế, trong đó có các trường đại học Một trong những sựkiện pháp lý minh chứng cho điều này là thắng lợi của trường đại học tưDarmouth trong vụ kiện của bang New Hampshire ở Tòa án Tối cao năm

1819 về quyền điều hành nhà trường Tòa án tối cao cho rằng giấy phép thành

Trang 30

lập mà nhà trường được chính quyền bang cấp chính là một hợp đồng kinh tế

và theo Hiến pháp, chính quyền bang không được phép ra bất kỳ một dự luậtnào “có tác hại đến nhiệm vụ quy định bởi các hợp đồng” [22] Dưới thờitổng thống A Lincoln, năm 1862, Quốc hội Mỹ đã ban hành đạo luật Morrillquy định việc cấp đất công cho các bang để xây dựng các trường đại học phục

vụ cho việc phát triển nông nghiệp và cơ khí, theo đó mỗi đầu thượng nghị sĩđại diện cho bang được cấp 30 nghìn acre (tương đương khoảng 12 nghìn ha)

để xây dựng các trường đại học Đến năm 1890, đạo luật Morrill 2 ra đời chophép các trường đại học từng được cấp đất được hưởng tiếp một khoản trợcấp hàng năm của chính phủ liên bang Đạo luật này có ý nghĩa quan trọngthể hiện sự quan tâm của chính quyền liên bang đối với việc điều tiết cơ cấungành nghề trên thị trường giáo dục đại học [25] Vào thời điểm sắp kết thúcthế chiến II, Quốc hội Mỹ tiếp tục ban hành đạo luật “GI Bill”, trong đó cócác điều khoản bảo đảm cho cựu quân nhân được nhập học các chương trìnhkhác nhau trong các trường đại học Đạo luật này vừa giúp thực hiện chínhsách của chính phủ liên bang quan tâm tới các cựu binh, vừa giúp đẩy nhanhquá trình đại chúng hóa giáo dục đại học, vào các thập niên sau đó, giáo dụcđại học Hoa Kỳ đã được nâng lên trình độ phổ cập, tạo điều kiện thuận lợi đểnước này tiến vào thời đại kinh tế tri thức [25]

Khác với Mỹ, hệ thống giáo dục đại học Nhật Bản hình thành và pháttriển dưới sự chi phối trực tiếp của chính quyền nhà nước phong kiến trungương tập quyền Giai đoạn này tồn tại khá dài nên giáo dục đại học bị bó hẹp

cả về mục tiêu, nội dung và hình thức đào tạo Tiền đề chính trị cho sự ra đời

và phát triển thị trường giáo dục đại học Nhật Bản cũng được đánh dấu bằngcải cách Minh Trị Cùng với sự thay đổi thể chế chính trị, nhiều cải cách quantrọng về giáo dục được thi hành trong đó có việc thành lập các trường đại học

để đào tạo tầng lớp lãnh đạo chính quyền và kinh doanh Giáo dục đại học

Trang 31

được cởi trói làm xuất hiện một loạt các trường đại học tư theo nhu cầu củathị trường nhân lực Sự phát triển năng động của các đại học tư buộc cáctrường công phải đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế vận hành để nâng caosức cạnh tranh, thị trường giáo dục đại học Nhật bản hình thành và khôngngừng phát triển.

Cùng với việc cải cách thể chế chính trị, hệ thống pháp luật của NhậtBản cũng dần được thiết lập tạo điều kiện pháp lý cần thiết cho sự phát triểnthị trường giáo dục đại học Năm 1871, chỉ 3 năm sau khi thành lập, chínhphủ duy tân đã ban hành nghị định trao quyền cho các trường đại học đượcquyền quyết định lựa chọn và cử sinh viên đi du học [26] Nghị định mới này

có ý nghĩa quan trọng vì nó đánh dấu một giai đoạn mới trong quá trình pháttriển giáo dục đại học Nhật bản, khi các chính sách của nhà nước từng bướcđược luật hóa Ngoài các điều khoản cơ bản liên quan đến giáo dục đã đượcghi trong Hiến pháp, hàng loạt các đạo luật chi tiết cũng đã được ban hành để

tổ chức và quản lý các hoạt động giáo dục và hệ thống giáo dục đại học Sauhơn 100 năm xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhật Bản đã thực hiệnthành công chính sách phi tập trung hóa và phân quyền trong quản lý giáo dụcđại học Theo chính sách này, Bộ giáo dục Nhật Bản thực hiện đúng chứcnăng quản lý nhà nước về giáo dục bằng việc hoạch định chính sách, xâydựng thể chế, ban hành các chuẩn mực giáo dục và chịu trách nhiệm thanhkiểm tra, các đại học, kể cả đại học công lập được toàn quyền tự chủ hoạtđộng [2, tr 5]

2.1.3 Tạo lập môi trường văn hóa, xã hội

Mỹ là quốc gia của những người nhập cư, đặc điểm này quy định tínhcởi mở của văn hóa Mỹ Người Mỹ ít bị gò bó bởi những truyền thống cũ, tráilại sự sáng tạo và tự do cá nhân được đề cao Xã hội Mỹ không phân biệt

Trang 32

đẳng cấp, mọi người có quyền bình đẳng và có cơ hội phát triển ngang nhau.Nước Mỹ cũng không có quan niệm “đẳng cấp nghề nghiệp”, mọi công việc

có thể mang lại thu nhập đều được coi trọng Người Mỹ thường không gắn bólâu dài với một công việc cố định, họ thích sự thay đổi, thích tìm kiếm cáimới trong cuộc sống Đặc điểm văn hóa, xã hội này ảnh hưởng lớn tới sự pháttriển của thị trường giáo dục đại học theo cả hai chiều hướng, một mặt nó tạo

ra sự tự do làm cho thị trường giáo dục đại học phát triển phong phú về loạihình dịch vụ, đa dạng về hình thức tổ chức dạy học, mặt khác nó hạn chế việcquy định những chuẩn mực đạo đức, văn hóa trong các chương trình giáo dụcđại học

Nhật Bản có đặc trưng văn hóa xã hội khác với Mỹ khi phát triển thịtrường giáo dục đại học Trước cải cách Minh Trị, giáo dục đại học Nhật Bảnchịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Trung Hoa Ý thức hệ Nho giáo cùng với tinhthần võ sĩ đạo Samurai chi phối đời sống tinh thần xã hội, xã hội phân hóađẳng cấp rõ rệt, trong đó tầng lớp võ sĩ, quý tộc giữ địa vị thống trị Thời kỳnày, giáo dục đại học gần như được tổ chức để phục vụ riêng giới thượng lưu,

và mục đích chủ yếu là đào tạo đội ngũ quan lại từ những người có xuất thândòng dõi quý tộc, những người có thân phận bình thường trong xã hội khó cóđiều kiện học đại học Hệ tư tưởng Nho giáo cũng coi giáo dục là lĩnh vựcthiêng liêng và không chấp nhận đưa vào đó các quan hệ hàng hóa – tiền tệcủa cơ chế thị trường

Với mong muốn đuổi kịp phương Tây, Nhật Bản đã tiến hành nhữngcải cách mạnh mẽ và toàn diện, bao hàm cả lĩnh vực văn hóa, xã hội Hệ tưtưởng Nho giáo dần mất vị trí thống trị, và thay vào đó là các giá trị văn hóaphương Tây mang tính tự do, không phân biệt đẳng cấp và đề cao vai trò của

cá nhân Quá trình cải cách văn hóa là quá trình đấu tranh kịch liệt giữa 3 hệ

Trang 33

tư tưởng chủ đạo: Nho giáo, võ sĩ đạo và duy tân, tuy nhiên hệ tư tưởng duytân nhanh chóng chiếm ưu thế do đáp ứng được đòi hỏi phát triển nền kinh tếthị trường hiện đại Để tạo ra sự đồng thuận xã hội, chính phủ duy tân chấpnhận việc đền bù kinh tế cho những tổn thất tinh thần của tầng lớp võ sĩ (vìbãi bỏ đẳng cấp xã hội cao của họ) Và chỉ trong vòng hai, đến ba thế hệ,nước Nhật đã từ chỗ coi trọng thân phận con người theo nguồn gốc dòng dõi,chuyển sang cất nhắc cán bộ theo trình độ giáo dục (tân học).

2.2 Xây dựng và phát triển các yếu tố cấu thành thị trường giáo dục đại học

2.2.1 Xây dựng và phát triển hệ thống trường đại học

Trước khi Mỹ tuyên bố độc lập vào năm 1776, ở một số bang đã cónhiều trường đại học được thành lập, nhưng nhìn chung cơ sở hạ tầng cònnghèo nàn và đội ngũ giáo chức còn rất yếu Sự thất bại của G Washingtontrong chủ trương thiết lập một hệ thống đại học quốc gia mạnh bằng nguồnđầu tư từ ngân sách liêng bang, lại tạo ra điều kiện hình thành tự phát một loạtcác đại học nhỏ theo nhu cầu thị trường Sự phát triển đa dạng và nhanhchóng của hệ thống các trường đại học Mỹ, không phải bởi một sự chỉ đạo tậptrung của nhà nước liêng bang, mà theo cơ chế cạnh tranh của thị trường.Trong giai đoạn 1969 đến 1975 đã có khoảng 800 trường đại học được thànhlập mới và cũng có khoảng 300 trong số đó phải đóng cửa hoặc sát nhập.[22] Chính cơ chế cạnh tranh của thị trường đã sàng lọc, loại bỏ bớt cáctrường yếu kém và thúc đẩy các trường khác mạnh lên Đến đầu thế kỷ XXI,

Mỹ có khoảng 4000 trường đại học, trong đó khoảng 1700 trường công và

2300 trường tư [23]

Trang 34

Khác với Mỹ, hệ thống các trường đại học Nhật Bản không hình thànhmột cách tự phát mà hình thành gắn liền với vai trò của nhà nước Đầu thế kỷXIX, một số trường đại học quốc lập theo mô hình châu Âu xuất hiện như Đạihọc Tokyo , Kyoto, Tohoku, Osaca… Tiếp đó, nhiều cơ sở giáo dục đại họccủa nhà nước, trường công của các địa phương (public local) và nhiềutrường tư (private) cũng được tiếp tục thành lập Đến 1943, Nhật Bản có 49trường đại học (trong đó 28 trường tư) và 216 trường chuyên ngành (trong đó

134 trường tư) [21] Sau chiến tranh thế giới thứ hai, để đáp ứng nhu cầu vềnguồn nhân lực trình độ cao, nhu cầu học đại học ở Nhật tăng lên nhanhchóng và đây cũng là thời kỳ 1 loạt các trường đại học theo mô hình kiểu Mỹ

ra đời với vai trò tổ chức của cả nhà nước và tư nhân Đến năm 1949, hệthống giáo dục đại học Nhật Bản đã có thêm 70 trường đại học quốc gia, 17trường đại học công ở địa phương và 81 trường đại học tư cùng hàng trămtrường cao đẳng Hệ thống các trường cao đẳng (Junior College) cũngđược mở rộng theo nhiều lĩnh vực như sư phạm, kỹ thuật, kinh tế Đặc biệt là từ năm 1961 đã hình thành loại hình cao đẳng công nghệ 5năm (College of Techonogy) dành cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở(lower secondary schools) Cho đến nay, Nhật Bản đã có hơn một nghìntrường đại học và cao đẳng, với hơn 200.000 giảng viên, trong đó phầnlớn là ở loại hình trường tư (xem bảng 2.1)

Bảng 2.1 Quy mô giáo dục đại học Nhật Bản năm 2004

Loại hình Số trường (trường tư) Số giảng viên (ở trường tư)

Ngày đăng: 21/07/2014, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam (2010), Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳng Việt
Tác giả: Ban liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam
Năm: 2010
2. Trần Khánh Đức (2008), "Cải cách giáo dục đại học Nhật Bản và Đại học Hiroshima trong quá trình tập đoàn hóa", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn (24), Tr. 3-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách giáo dục đại học Nhật Bản và Đại học Hiroshima trong quá trình tập đoàn hóa
Tác giả: Trần Khánh Đức
Năm: 2008
3. Hayward, M. Fred (2009), Tổng quan về hệ thống giáo dục đại học và cao đẳng của Mỹ, Nxb Thanh Niên, Hà Nội. (Nguyễn Vạn Phú dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về hệ thống giáo dục đại học và cao đẳng "của Mỹ
Tác giả: Hayward, M. Fred
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2009
4. Nguyễn Minh Hiển, Trần Quốc Toản, Tạ Ngọc Châu (2005), "Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế", Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Minh Hiển, Trần Quốc Toản, Tạ Ngọc Châu
Năm: 2005
5. Mai Quang Huy (2005), "Đổi mới giáo dục đại học nhìn từ kinh nghiệm cải cách giáo dục đại học của Nhật Bản", Tạp chí Giáo Dục, (108). Tr. 47-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giáo dục đại học nhìn từ kinh nghiệm cải cách giáo dục đại học của Nhật Bản
Tác giả: Mai Quang Huy
Năm: 2005
6. Vương Thanh Hương (2005), "Tìm hiểu về Công ty Đại học Quốc gia Nhật Bản trong xu thế đổi mới giáo dục đại học", Tạp chí Phát triển Giáo dục, (1). Tr. 38-40 7. Trần Thị Bích Liễu, Nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở Mỹ: Những giải pháp mang tính hệ thống và định hướng thị trường, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về Công ty Đại học Quốc gia Nhật Bản trong xu thế đổi mới giáo dục đại học
Tác giả: Vương Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2005
8. Trần Thị Bích Liễu (2005), "Chất lượng giáo dục đại học của Mỹ và Nhật Bản", Tạp chí Phát triển Giáo dục, (4). Tr. 35-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng giáo dục đại học của Mỹ và Nhật Bản
Tác giả: Trần Thị Bích Liễu
Năm: 2005
9. Phạm Thị Ly (2009), "Vai trò của nhà nước trong việc xây dựng một đại học đỉnh cao cho Việt Nam: Bài học thành công và thất bại", Báo cáo tại Hội thảo “Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học ở Việt Nam” do Văn phòng Quốc hội tổ chức vào ngày 22-23/12/2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nhà nước trong việc xây dựng một đại học đỉnh cao cho Việt Nam: Bài học thành công và thất bại", Báo cáo tại Hội thảo “Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Ly
Năm: 2009
10. Lê Phước Minh (2005), Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học "Việt Nam
Tác giả: Lê Phước Minh
Năm: 2005
11. Bùi Trân Phượng, Nguyễn Phương Ngọc, Vũ Thế Khôi (2009), Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giáo "dục đại học Việt Nam, hai thời khắc đầu thế kỷ
Tác giả: Bùi Trân Phượng, Nguyễn Phương Ngọc, Vũ Thế Khôi
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2009
12. Bùi Thiên Sơn (2004), "Nhìn lại chi tiêu cho nền giáo dục đại học ở một số nước và ở Việt Nam", Tạp chí Tài chính, (12). Tr. 55-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại chi tiêu cho nền giáo dục đại học ở một số nước và ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Thiên Sơn
Năm: 2004
13. Lâm Quang Thiệp, Johnstone, D. Bruce, Altbach, G. Philip (2006), Giáo dục đại học Hoa Kỳ. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục "đại học Hoa Kỳ
Tác giả: Lâm Quang Thiệp, Johnstone, D. Bruce, Altbach, G. Philip
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
14. Phạm Đỗ Nhật Tiến (2007), "Chuẩn thị trường giáo dục dưới góc nhìn của giáo dục so sánh", Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Giáo dục so sánh lần 1”, Viện nghiên cứu giáo dục, Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn thị trường giáo dục dưới góc nhìn của giáo dục so sánh", Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Giáo dục so sánh lần 1
Tác giả: Phạm Đỗ Nhật Tiến
Năm: 2007
15. Phạm Thụ (2005), "Dịch vụ giáo dục đại học và cơ chế thị trường", Tạp chí Đông Nam Á, (8). Tr. 9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ giáo dục đại học và cơ chế thị trường
Tác giả: Phạm Thụ
Năm: 2005
16. Hoàng Thụy (2005), "Giáo dục đại học trước áp lực thương mại hóa", Tạp chí Tia sáng, (5). Tr. 30-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học trước áp lực thương mại hóa
Tác giả: Hoàng Thụy
Năm: 2005
17. Trần Quốc Toản (2011), Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Đề tài khoa học cấp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị "trường và trước nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trần Quốc Toản
Năm: 2011
18. Văn phòng Ủy ban quốc gia – Hợp tác kinh tế quốc tế (2005), Các văn kiện gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới của Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn kiện gia
Tác giả: Văn phòng Ủy ban quốc gia – Hợp tác kinh tế quốc tế
Năm: 2005
19. Phan Việt (2006), "Những điều có thể học từ hệ thống giáo dục đại học Mỹ", Tạp chí Tia Sáng, (4). Tr. 45-46Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều có thể học từ hệ thống giáo dục đại học Mỹ
Tác giả: Phan Việt
Năm: 2006
20. Altbach, & J. Baslan (Eds.), World class worldwide: Transforming research universities in Asia and Latin America (pp.1-28), Baltimore, MD: The Johns Hopkins University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: World class worldwide: Transforming research "universities in Asia and Latin America
22. Martin A. Trow, American Higher Education: Past, Present and future. (Trích theo Lâm Quang Thiệp, D. Bruce Johnstone, Phillip G. Altbach (2006), Giáo dục đại học Hoa Kỳ, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, Tr. 22-23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Higher Education: Past, Present and future". (Trích theo Lâm Quang Thiệp, D. Bruce Johnstone, Phillip G. Altbach (2006), "Giáo dục "đại học Hoa Kỳ
Tác giả: Martin A. Trow, American Higher Education: Past, Present and future. (Trích theo Lâm Quang Thiệp, D. Bruce Johnstone, Phillip G. Altbach
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Các trường đại học hàng đầu của Mỹ phân theo ngành đào tạo Thứ - Phát triển thị trường giáo dục đại học ở mỹ, nhật bản và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 2.2. Các trường đại học hàng đầu của Mỹ phân theo ngành đào tạo Thứ (Trang 37)
Bảng 2.3. Nguồn kinh phí học tập của sinh viên ở các trường đại học tư - Phát triển thị trường giáo dục đại học ở mỹ, nhật bản và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 2.3. Nguồn kinh phí học tập của sinh viên ở các trường đại học tư (Trang 41)
Bảng 2.4. Nguồn kinh phí học tập của sinh viên ở các trường đại học công - Phát triển thị trường giáo dục đại học ở mỹ, nhật bản và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 2.4. Nguồn kinh phí học tập của sinh viên ở các trường đại học công (Trang 42)
Bảng 2.5. Phân bổ sinh viên Nhật Bản theo loại hình sở hữu trường - Phát triển thị trường giáo dục đại học ở mỹ, nhật bản và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 2.5. Phân bổ sinh viên Nhật Bản theo loại hình sở hữu trường (Trang 43)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w