Nhìn tổng thể, sau 25 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển đổi thành công từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế mới này, chế độ sở hữu và cơ cấu các thành phần kinh tế được đổi mới một cách cơ bản. Trước đây, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể là chủ yếu. Hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được dựa trên nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, đan xen hỗn hợp, gồm có: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế tư nhân được xác định có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế. Các loại hình doanh nghiệp của tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm. Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế tư nhân ở nước ta đã phát triển khá mạnh, đặc biệt là từ năm 2001 đến nay. Những đóng góp nổi trội của kinh tế tư nhân thể hiện ở chỗ đã tạo thêm nhiều việc làm; huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh; tỷ trọng của kinh tế tư nhân trong GDP ngày càng tăng; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh, tăng thêm số lượng công nhân và doanh nhân Việt Nam… Tuy nhiên, kinh tế tư nhân ở nước ta đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém: phần lớn có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lí thấp, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu; mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân cũng đang khó tiếp cận các nguồn lực nhất là về vốn, còn gặp nhiều trở ngại về mặt bằng sản xuất kinh doanh, về môi trường pháp lí và môi trường tâm lí xã hội ... Là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, Thái Bình có vị trí quan trọng, gần các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc như Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương… và lại nằm trên trục đường 10 nối liền với các cảng biển, rất thuận tiện trong giao thông vận tải. Kinh tế tư nhân ở Thái Bình trong những năm vừa qua đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của cả tỉnh: giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn,… Tuy nhiên, kinh tế tư nhân ở Thái Bình cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém, đặc biệt là trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt của cơ chế thị trường. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân ở địa phương này chỉ có quy mô nhỏ, hiệu quả sản xuất kém, môi trường kinh doanh còn nhiều bất cập, khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển còn nhiều vướng mắc,... Tình hình nói trên đòi hỏi phải nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân, chỉ ra xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình; trên cơ sở đó xác định phương hướng và các giải pháp thích hợp để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển, phát huy tốt hơn vai trò của thành phần kinh tế này ở tỉnh Thái Bình trong những năm tới.
Trang 1MỤC LỤC
1.1.3.1 Về đặc điểm, bản chất của kinh tế tư nhân 12
1.1.3.2 Vai trò của kinh tế tư nhân 17
Vị trí, địa hình và khí hậu 34
Tài nguyên thiên nhiên 34
Biểu 2.1: Số lượng, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp ở Thái Bình những năm gần đây 39
Công ty cổ phần xe khách Hoàng Hà- thương hiệu mạnh ngành vận tải hành khách Thái Bình 42
Bệnh viện Đa khoa Lâm Hoa 44
Bảng biểu 2.2: Vốn đầu tư phát triển theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế giai đoạn 2001 – 2010 49
Biểu 2.3 : Tỷ trọng ngành nông nghiệp của các tỉnh đồng bằng sông Hồng ( năm 2003) 50
Biểu 2.4: Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế 50
Biểu 2.5: Trình độ kỹ thuật công nghệ của ngành công nghiệp Thái Bình 55
(tính theo tỷ lệ % ) 55
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nhìn tổng thể, sau 25 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển đổi thànhcông từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế mới này, chế độ sởhữu và cơ cấu các thành phần kinh tế được đổi mới một cách cơ bản Trướcđây, sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể làchủ yếu Hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam được dựa trên nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, đanxen hỗn hợp, gồm có: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, vàkinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Kinh tế tư nhân được xác định có vai tròquan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế Các loại hình doanhnghiệp của tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy môtrong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quantrọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế tư nhân
ở nước ta đã phát triển khá mạnh, đặc biệt là từ năm 2001 đến nay Nhữngđóng góp nổi trội của kinh tế tư nhân thể hiện ở chỗ đã tạo thêm nhiều việclàm; huy động ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội đầu tư vào sản xuấtkinh doanh; tỷ trọng của kinh tế tư nhân trong GDP ngày càng tăng; góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy cạnh tranh, tăngthêm số lượng công nhân và doanh nhân Việt Nam… Tuy nhiên, kinh tế tư nhân
ở nước ta đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém: phần lớn có quy mô nhỏ,vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lí thấp, hiệu quả và sức cạnhtranh yếu; mặt khác, hầu hết các doanh nghiệp tư nhân cũng đang khó tiếp cậncác nguồn lực - nhất là về vốn, còn gặp nhiều trở ngại về mặt bằng sản xuất kinhdoanh, về môi trường pháp lí và môi trường tâm lí xã hội
Trang 3Là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, Thái Bình có vị trí quantrọng, gần các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc như Hải Phòng, QuảngNinh, Hải Dương… và lại nằm trên trục đường 10 nối liền với các cảng biển,rất thuận tiện trong giao thông vận tải Kinh tế tư nhân ở Thái Bình trongnhững năm vừa qua đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chungcủa cả tỉnh: giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn,…
Tuy nhiên, kinh tế tư nhân ở Thái Bình cũng còn nhiều hạn chế, yếukém, đặc biệt là trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt của cơ chế thịtrường Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân ở địa phương này chỉ có quy mônhỏ, hiệu quả sản xuất kém, môi trường kinh doanh còn nhiều bất cập, khảnăng tiếp cận các nguồn lực phát triển còn nhiều vướng mắc,
Tình hình nói trên đòi hỏi phải nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng,tìm ra nguyên nhân, chỉ ra xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân trên địabàn tỉnh Thái Bình; trên cơ sở đó xác định phương hướng và các giải phápthích hợp để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển, phát huy tốt hơn vai trò củathành phần kinh tế này ở tỉnh Thái Bình trong những năm tới
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự tồn tạikhách quan, vai trò, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình xâydựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàndiện về phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong quá trìnhđổi mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh TháiBình trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường (tập trung vào giai
Trang 4đoạn 2001 - 2010); từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp phát triểnthành phần kinh tế này trên địa bàn của địa phương ở giai đoạn 2011 - 2020.
3.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá, góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản;chủ trương, quan điểm, chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam vàNhà nước Việt Nam về kinh tế tư nhân; nghiên cứu kinh nghiệm của một sốtỉnh, thành phố trong nước về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới
và rút ra những vấn đề có thể tham khảo cho tỉnh Thái Bình
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh TháiBình trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường (tập trung vào giaiđoạn 2001 - 2010)
- Đề xuất và luận chứng cơ sở khoa học về phương hướng và giải phápgóp phần thúc đẩy kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình phát triển mạnh mẽ và cóhiệu quả hơn trong giai đoạn 2011 - 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về sự phát triển kinh tế tư nhân ở Thái Bình trongquá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, luận văn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu phùhợp với đối tượng, nhiệm vụ đã xác định, như logic kết hợp với lịch sử, thống
Trang 5kê, xử lý các số liệu, tư liệu; phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hóa; kếthừa các kết quả nghiên cứu đã có…
6 Đóng góp của luận văn
- Phân tích đặc điểm của kinh tế tư nhân nhìn từ góc độ sở hữu để thấyđược tầm quan trọng của sở hữu tư nhân
- Phân tích sự tồn tại khách quan và chỉ ra tính phổ biến của kinh tế tưnhân trong nền kinh tế thị trường thế giới
- Nghiên cứu việc phát triển kinh tế tư nhân của các tỉnh Hưng Yên vàHải Dương để rút ra bài học kinh nghiệm cho Thái Bình
- Dự báo những tác động về mặt kinh tế- xã hội tới sự phát triển củakinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình
- Đưa ra những giải pháp mới thúc đẩy sự phát triển và nâng cao vai tròhiệu quả của kinh tế tư nhân ở Thái Bình giai đoạn 2011- 2020
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát
triển kinh tế tư nhân
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Thái Bình trong
giai đoạn 2001 – 2010
Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa
bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2011 – 2020
Trang 6CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1 KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CỦA NHÂN LOẠI
1.1.1 Đặc điểm của kinh tế thị trường nhìn từ góc độ sở hữu
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển khôngngừng của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, đồng thời cũng làquá trình thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất xã hội Nhưng bất
cứ nền sản xuất xã hội nào cũng đều phải giải quyết ba vấn đề cơ bản: Sảnxuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai? Để giải quyết những vấn đềnày, về cơ bản, có ba kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, đó là kinh tế tự nhiên, kinh
tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế hàng hóa mà giai đoạn phát triển cao của
Trang 7phát triển của chủ nghĩa tư bản, kinh tế hàng hóa giản đơn phát triển thànhkinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường như chúng ta đã biết là kinh tế hàng hóa đạt đến trình
độ xã hội hóa cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó toàn bộ hay hầu hết cácyếu tố đầu vào và đầu ra của nền sản xuất xã hội đều phải thông qua thịtrường Kinh tế thị trường tồn tại trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến,trong chế độ tư bản chủ nghĩa và cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa Trong cácthời kỳ lịch sử và ở những nước khác nhau, kinh tế thị trường có những đặcđiểm riêng cụ thể; nhưng dù ở đâu và lúc nào cũng phải vận động, phát triển theonhững nguyên tắc phổ biến có tính quy luật, trong đó nổi bật là: tự do trong sảnxuất kinh doanh (tự do đầu tư), tự do trong quan hệ trao đổi (tự do thương mại),
tự do trong tiêu dùng (mua hàng hóa hay không mua, mua ở đâu, của ai là dongười tiêu dùng tự quyết định); cạnh tranh trong nội bộ từng ngành, cạnh tranhgiữa các ngành bên trong nền kinh tế thị trường của một nước, cạnh tranh giữacác nước cùng sử dụng phương tiện kinh tế thị trường…
Lịch sử phát triển của nền kinh tế thị trường đến nay cho thấy nó có
mặt ở nhiều chế độ kinh tế - xã hội khác nhau, mà điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của nó là sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu Sở hữu làquan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất, phản ánh quátrình chiếm hữu của cải vật chất, mà ở đó sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vaitrò quyết định Sở hữu là mặt cơ bản của quan hệ sản xuất, vận động và biếnđổi cùng với hệ thống kinh tế - xã hội, đặc biệt là có quan hệ mật thiết với quátrình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
Khi nhà nước xuất hiện, các quan hệ sở hữu được thể chế hoá bằngpháp luật, hình thành nên chế độ sở hữu Chế độ sở hữu quy định các quyền:
sử dụng, định đoạt, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…, và là cơ sởkinh tế và pháp lý để bảo đảm việc thực hiện các lợi ích của các chủ thể kinh
Trang 8tế Quan hệ sở hữu còn chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội gắn liền với quan
hệ tổ chức - quản lý; với quan hệ phân phối thông qua các lợi ích kinh tế.Hình thức sở hữu là cơ sở khách quan của chế độ sở hữu tương ứng vớinhững trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượngsản xuất Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ
sở hữu bộ lạc đến các hình thức sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội Trên thực
tế, cho đến nay, chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu công cộng, sởhữu tư nhân (sở hữu tư nhân nhỏ và sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa), sở hữuhỗn hợp Trong một hình thái kinh tế - xã hội, sự tồn tại cùng lúc nhiều hìnhthức sở hữu là một tất yếu khách quan Sự tác động lẫn nhau giữa sở hữu vàcác hình thức kinh tế được nối liền qua khâu trung gian là lợi ích kinh tế Sựtương tác lẫn nhau giữa các lợi ích điều chỉnh các hình thức sở hữu cho phùhợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khơi dậy độnglực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Sở hữu không phải là động lực trực tiếpnhưng chính quan hệ sở hữu lại quyết định bản chất, cơ cấu hệ thống lợi íchkinh tế và trở thành nguồn gốc sâu xa của động lực kinh tế
Như vậy, xét từ góc độ sở hữu thì kinh tế thị trường có những đặc điểm sau:
- Kinh tế thị trường tất yếu phải dựa trên sự tồn tại khách quan của
nhiều hình thức sở hữu, trong đó quan trọng nhất là sở hữu tư nhân Lịch sử
phát triển của kinh tế thị trường cho thấy nó có mặt ở nhiều chế độ kinh tế
-xã hội khác nhau mà điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của nó là
sự hiện diện của nhiều hình thức sở hữu Trong một nền kinh tế, có nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều chủ thể kinh tế, sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ thúc đẩykinh tế phát triển Động lực chung của mọi nền kinh tế thị trường là lợi íchkinh tế - nói cách khác, là lợi nhuận Khả năng tạo ra lợi nhuận cao hay thấplại phụ thuộc chặt chẽ vào tính hợp lý và minh bạch của quan hệ sở hữu Khicác nguồn lực đầu tư là sở hữu của tư nhân, thì các nhà đầu tư tư nhân phải
Trang 9bằng mọi cách để bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó nhằm tạo ralợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch Lịch sử của kinh tế thị trường hơn 200năm qua ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cho thấy, khu vực kinh tế tưnhân bao giờ cũng có hiệu quả cao hơn so với khu vực kinh tế nhà nước trongviệc sử dụng các nguồn lực đầu tư.
- Bắt nguồn từ tính xác định và minh bạch của quan hệ sở hữu, lợi ích
kinh tế được hình thành và trở thành động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh Với tư cách là người sở hữu, mọi chủ thể hoạt
động trong kinh tế thị trường đều hướng vào mục tiêu lợi ích mà trước hết làlợi ích kinh tế của chính mình Bởi vậy, trong nền kinh tế thị trường lợi nhuậnđược coi là mục đích, là động lực của hoạt động kinh doanh và cạnh tranh làmôi trường và điều kiện tất yếu
- Trên cơ sở tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, đặc biệt là
sở hữu tư nhân, cơ chế thị trường hình thành và chịu sự chi phối, điều tiết của các quy luật kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh
tranh, quy luật lưu thông tiền tệ…
- Do được đảm bảo về phương diện sở hữu, các chủ thể thị trường đều
có tính độc lập Người sản xuất – kinh doanh có quyền tự do kinh doanh, tự
chủ trong việc ra các quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sảnxuất cho ai; họ có quyền tự quyết định lựa chọn loại hình tổ chức và quản lýsản xuất – kinh doanh thích hợp; độc lập trong gánh vác rủi ro và tự chịutrách nhiệm lỗ - lãi trong sản xuất kinh doanh; theo đó, họ phải lấy lợi nhuậnlàm động lực và mục tiêu của hoạt động kinh tế Còn người tiêu dùng đượcchủ động trong lựa chọn hàng hóa trên thị trường và được xem là “thượngđế”, người quyết định “ bỏ phiếu” cho việc mở rộng hay thu hẹp việc sảnxuất, kinh doanh một mặt hàng nào đó
Trang 10- Tính đa sở hữu là cơ sở để thị trường giữ vai trò quyết định phân bổ
các nguồn lực của xã hội Các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất phải
được lưu thông tự do trên thị trường Muốn vậy, hệ thống thị trường các loạiphải được hình thành đồng bộ và vận hành trôi chảy theo tín hiệu của thịtrường, gồm: Thị trường tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và các sản phẩmdịch vụ; thị trường tài chính; thị trường sức lao động; thị trường đất đai và bấtđộng sản; thị trường khoa học và công nghệ… Để các thị trường này vậnhành thông suốt và làm tròn chức năng quyết định phân phối tài nguyên thìphải có chủ thể thị trường đông đảo, nhằm khắc phục tình trạng cơ cấu độcquyền từ phía người bán hoặc từ phía người mua Điều đó gắn liền với hệthống pháp luật đảm bảo quyền tự do sản xuất – kinh doanh và tự do tiêudùng của các chủ thể thị trường
- Bắt nguồn từ quyền tự do trong hoạt động sản xuất – kinh doanh cuả
các chủ thể sở hữu, giá cả hàng hóa, dịch vụ hình thành tự do trên thị trường, phụ thuộc vào hao phí lao động xã hội cần thiết và sự điều tiết của cung cầu thị trường Theo đó, tính cạnh tranh của nền kinh tế được đề cao, tạo động lực
phát triển, điều tiết và điều chỉnh các hoạt động kinh tế, để các nguồn lực cóhạn của xã hội được phân bổ hợp lý, hiệu quả Mọi sự can thiệp của conngười không tương thích với thị trường trong việc hình thành giá đều dẫn tớibóp méo các tín hiệu thị trường và làm tổn hại đến sự vận hành trôi chảy vàhiệu quả của cả nền kinh tế
- Sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, mà trong đó “ hạt nhân” là sở hữu tư nhân cũng đóng vai trò là cơ sở để tạo nên thuộc tính nổi bật của nền kinh tế thị trường – đó là nền kinh tế mở (cả bên trong và với bên ngoài),
thị trường dân tộc thông suốt, gắn liền với thị trường quốc tế Điều đó xuất phát từquyền được tự do kinh doanh của các chủ thể thị trường và tính lưu động của cácnguồn lực xã hội: Vốn, hàng hóa, sức lao động do thị trường điều tiết
Trang 11- Trên cơ sở thừa nhận, tôn trọng sự tồn tại tất yếu của nhiều hình thức
sở hữu, và nhất là sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường, các chính phủ quản lý vĩ mô nền kinh tế: Do bản thân cơ cấu thị trường có tính tự phát, khó
đảm bảo được sự cạnh tranh hoàn hảo và khắc phục những bất ổn về xã hội,nên trong nền kinh tế thị trường hiện đại cần có sự quản lý của nhà nước đểkhắc phục các khuyết tật của thị trường Chính phủ tập trung thực hiện quản
lý các cân đối vĩ mô, sử dụng rộng rãi các công cụ, kế hoạch định hướng, hệthống luật pháp, chính sách và các đòn bẩy kinh tế mà không can thiệp sâuvào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
1.1.2 Sự tồn tại khách quan và tính phổ biến của kinh tế tư nhân trong các nền kinh tế thị trường trên thế giới
Xã hội loài người trải qua nhiều hình thức sở hữu khác nhau, từ sở hữu
bộ lạc đến các hình thức sở hữu tư nhân và sở hữu xã hội Trên thực tế, chođến nay, chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu công cộng, sở hữu tưnhân và sở hữu hỗn hợp Trong đó, sở hữu tư nhân, xét về nguồn gốc lịch sử
là hình thức sở hữu tồn tại lâu dài qua nhiều phương thức sản xuất Nó là hệquả trực tiếp của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và của quyền tự do cánhân, phát huy mọi tiềm năng vốn có của mỗi cá nhân Sở hữu tư nhân làquan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong chiếm hữu, quyếtđịnh cách thức tổ chức sản xuất, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quátrình sản xuất Cho đến nay, những động lực do sở hữu tư nhân tạo ra khó cóhình thức nào thay thế được nó Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất là cơ sở
ra đời khu vực kinh tế tư nhân Thực tế cho thấy chưa có nước nào thành côngtrong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường lại thiếu khu vực kinh tế tưnhân Kinh tế thị trường tồn tại dưới nhiều mô hình khác nhau ở các quốc gia.Chẳng hạn như mô hình kinh tế thị trường xã hội ở Cộng hòa liên bang Đức,
mô hình kinh tế thị trường kiểu Thụy Điển, mô hình kinh tế thị trường kiểu
Trang 12Nhật Bản, mô hình kinh tế thị trường tự do kiểu Ăng lô – xắc xông ở Anh và
Mỹ, mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, mô hình kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… Song các mô hìnhkinh tế thị trường đều có đặc điểm chung là sự hình thành, phát triển đều phảidựa trên tính chất tư nhân của sản xuất, hay nói cách khác là dựa trên sự đadạng hóa các chủ thể kinh tế Nền kinh tế thị trường phát triển càng cao, cácloại chủ thể kinh tế hay các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất càng đa dạng.Điều đó đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế: cho phép khai thác những tiềmnăng đa dạng của nền kinh tế; tạo quan hệ cạnh tranh; thúc đẩy cải tiến kỹthuật, phát triển lực lượng sản xuất; người tiêu dùng được quan tâm…
Sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu tạo điều kiện phát huy mọi tiềmnăng, nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tính chủ động sáng tạo,linh hoạt của các chủ thể kinh tế ( phản ứng nhanh nhạy, kịp thời nắm bắt nhucầu của thị trường, thường xuyên cải tiến phương pháp quản lý, áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật…) Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động hơn
Như vậy, kinh tế tư nhân tồn tại một cách khách quan và phổ biến trongcác nền kinh tế thị trường trên thế giới, nó là một động lực thúc đẩy sản xuất
xã hội phát triển trong nền kinh tế thị trường Ngược lại, nền kinh tế thịtrường chính là môi trường hoạt động và phát triển của các thành phần kinh tếtrong đó có kinh tế tư nhân Hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa đều lấy khuvực kinh tế tư nhân làm nền tảng, là “ xương sống” của nền kinh tế thị trường;tạo điều kiện ngày càng thuận lợi thúc đẩy khu vực này phát triển, qua đókhông ngừng tăng cường sức mạnh kinh tế quốc gia, mở rộng nguồn thu chongân sách quốc gia để đầu tư ngày càng lớn cho phát triển lực lượng sản xuất,phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, quốc phòng, an ninh, giải quyết các phúclợi xã hội đa dạng khác và phát triển nền kinh tế mới – kinh tế tri thức… Nhưvậy, bằng cách dựa hẳn vào và khai thác ngày càng triệt để vai trò, nhất là khả
Trang 13năng sinh lợi cao của khu vực tư nhân, chính các nước tư bản chủ nghĩa pháttriển nhất trên thế giới hiện nay đã nâng cao dần trình độ xã hội hóa của nềnkinh tế thị trường, tạo lâp được trên thực tế những tiền đề, điều kiện vật chấtcho chủ nghĩa xã hội và những “thành tố” mang tính chất xã hội chủ nghĩa thểhiện ở việc phát triển con người, chăm sóc các đối tượng thuộc các nhóm
“yếu thế” thông qua hệ thống chính sách an sinh xã hội… Tuy nhiên, đối vớingay cả các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất hiện nay, khoảng cách để
có thể đi tới chủ nghĩa xã hội đích thực như Mác dự báo cũng còn rất xa
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp với nềnkinh tế nông nghiệp lạc hậu, chiến tranh tàn phá nặng nề Trước mắt, ViệtNam phải phát triển những cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội bằng cáchthực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần Việt Nam muốn phát triển thành công nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa tất yếu phải đa dạng hóa các hình thức sởhữu, tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong đó có kinh tế tư nhân Chính vì thế
từ Đại hội Đảng VI (1986) đến Đại hội XI (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam
đã khẳng định một cách nhất quán chủ trương, chính sách đa dạng hóa cáchình thức sở hữu, tạo cơ sở cho nền kinh tế thị trường ở Việt Nam phát triểntheo định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1.3 Đặc điểm, bản chất và vai trò của kinh tế tư nhân
1.1.3.1 Về đặc điểm, bản chất của kinh tế tư nhân
Xung quanh quan niệm về kinh tế tư nhân hay khu vực kinh tế tư nhân,hiện nay có nhiều ý kiến chưa thống nhất Theo quan niệm phổ biến trên thếgiới, nền kinh tế thị trường thường được phân chia thành hai khu vực: Kinh tếnhà nước và kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế được hìnhthành và phát triển dựa trên nền tảng chủ yếu là sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất và lợi ích cá nhân Ở nước ta, có quan niệm cho rằng, kinh tế tư nhân
Trang 14đồng nghĩa với kinh tế tư bản tư nhân Có quan niệm đồng nhất kinh tế tưnhân với kinh tế ngoài quốc doanh Có quan niệm cho rằng kinh tế có 100%vốn nước ngoài (thuộc sở hữu tư nhân) nằm trong kinh tế tư nhân Ở ViệtNam, Đại hội X của Đảng, xác định khu vực kinh tế tư nhân gồm: kinh tế cáthể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động với hình thức hộ kinh doanh
cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân Trong đó, kinh tế cá thể,tiểu chủ dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất quy mô nhỏ, dựa vào sứclao động của chính họ giá trị thặng dư không đáng kể Kinh tế tư bản tư nhân
là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân lớn về tư liệu sản xuất của mộthay nhiều chủ, có sử dụng lao động làm thuê, hoạt động độc lập, chủ thể tưbản đồng thời là chủ doanh nghiệp Đến Đại hội XI, tất cả các bộ phận nàyđược “gộp” lại, gọi chung là kinh tế tư nhân
Sở hữu tư nhân có quy mô lớn ra đời trên cơ sở tích tụ tư bản và sửdụng nhiều lao động làm thuê Phần lớn giá trị thặng dư (m) được nó tích luỹ
để tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích không ngừng phát triển sản xuất kinhdoanh và tạo ra ngày càng nhiều hơn giá trị thặng dư (m) Theo LuậtDoanh nghiệp năm 1999, sau đó được hoàn thiện thành Luật Doanhnghiệp năm 2005, có hiệu lực vào 01/07/2006, thì việc tổ chức quản lýsản xuất của kinh tế tư bản tư nhân được biểu hiện ở mô hình doanhnghiệp gồm có: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công tyhợp doanh, doanh nghiệp tư nhân
Về quan hệ phân phối, trong kinh tế tư nhân, các hình thức tổ chức sảnxuất kinh doanh khác nhau có quan hệ phân phối khác nhau Đối với kinh tế
cá thể, do dựa vào sức lao động của bản thân nên sản phẩm và kết quả laođộng chủ yếu thuộc về hộ gia đình hay cá nhân Đối với kinh tế tư bản tưnhân, chủ sở hữu tư liệu sản xuất chiếm phần sản phẩm thặng dư (m) vàngười lao động được hưởng phần sản phẩm tất yếu (v) Khi nền kinh tế pháttriển theo chiều rộng, các yếu tố khoa học – công nghệ và quản lý chưa có vai
Trang 15trò quan trọng mà dựa vào khai thác tài nguyên và sức lao động thì quan hệphân phối chủ yếu dựa trên sự đóng góp về vốn, tư liệu sản xuất, sức lao độnglàm cho toàn bộ sản phẩm thặng dư thuộc về nhà tư bản Trong nền kinh tế thịtrường hiện đại, các yếu tố khoa học công nghệ, tổ chức quản lý của chủdoanh nghiệp, trình độ và tay nghề của người lao động cùng với thị trường…đóng vai trò ngày càng quan trọng Chủ doanh nghiệp không còn là người sởhữu duy nhất, bên cạnh đó, vai trò điều tiết phân phối của nhà nước tăng lênthì quan hệ phân phối trong các doanh nghiệp trở nên phức tạp hơn, bằngnhiều hình thức khác nhau Dù kinh tế tư nhân có nhiều trình độ phát triểnkhác nhau nhưng có bản chất chung là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, vềcác nguồn lực sản xuất Những doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân
có đặc trưng mang tính bản chất là họ sử dụng đồng vốn của chính họ và họ
có quyền được hưởng thành quả lao động do họ làm ra Tự bỏ vốn, tự tổ chức,
tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ là nguyên tắc hoạt động của các loại hìnhkinh tế tư nhân Đó là điểm khác biệt quan trọng giữa khu vực kinh tế tư nhân
và khu vực kinh tế nhà nước, là đặc trưng cốt lõi của kinh tế tư nhân Tuynhiên kinh tế tư nhân cũng bộc lộ mặt tiêu cực là bóc lột giá trị thặng dư màmức độ bóc lột phụ thuộc vào bản chất của chế độ chính trị, vì vậy vẫn còntồn tại một bộ phận doanh nghiệp tư nhân chạy theo lợi nhuận mù quáng gâythiệt hại cho xã hội
Xét về nguồn gốc, sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ra đời là kết quảtất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng sảnxuất là nguồn gốc cơ bản và trực tiếp ra đời của chế độ tư hữu
Từ đó, nhìn chung, kinh tế tư nhân có những đặc điểm cơ bản:
- Kinh tế tư nhân gắn liền với lợi ích cá nhân mà lợi ích cá nhân trong
lịch sử phát triển của xã hội loài người là động lực trước hết và chủ yếu thúcđẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, kinh tế tư nhân có sức sống mãnhliệt, nó xuất hiện một cách tự nhiên để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con
Trang 16người nên luôn chứa đựng bên trong những nhân tố ổn định tự có và ngaytrong môi trường đào thải khắc nghiệt kinh tế tư nhân vẫn tồn tại Trong cácnền kinh tế không có sự cấm đoán đối với kinh tế tư nhân thì các doanhnghiệp thuộc loại hình tế tư nhân được hình thành rất linh hoạt, dễ dàng, thíchứng theo nguyên tắc “ở đâu có cầu, ở đó có cung”.
- Kinh tế tư nhân với mô hình tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là
tổ chức kinh doanh của nền sản xuất hàng hoá ở giai đoạn cao.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân, gắn liền với kinh tế hànghoá Cùng với sự phát triển của sở hữu tư nhân và phân công lao động xã hội,kinh tế hàng hoá ra đời Kinh tế hàng hoá có hai giai đoạn phát triển: Kinh tếhàng hoá giản đơn và kinh tế thị trường Trong nền sản xuất hàng hoá giảnđơn, khu vực kinh tế tư nhân có quy mô nhỏ chiếm tỉ trọng lớn gắn liền vớisản xuất nhỏ mà gia đình là đơn vị cơ bản dựa trên cơ sở huyết thống hoặccông trường thủ công Khi kinh tế hàng hoá giản đơn phát triển thành kinh tếhàng hoá tư bản chủ nghĩa (thực chất là kinh tế thị trường) có nền tảng là sởhữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, hoạt động trên cơ sở thuêmướn lao động, thì kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ với quy mô lớn và khảnăng ứng dụng khoa học và công nghệ ngày càng sâu rộng, cao, trở thànhđộng lực phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gắn liền với sản xuất lớn,hiện đại dựa trên cơ sở của mô hình tổ chức doanh nghiệp có mục tiêu caonhất và cuối cùng là tạo ra giá trị thặng dư và không ngừng chuyển giá trịthặng dư thành tích luỹ tăng thêm của sự phát triển kinh tế Trong điều kiệnchủ nghĩa tư bản, sự thống trị của kinh tế tư nhân không làm cho sở hữu tưnhân cá thể và các hoạt động của kinh tế tiểu chủ bị thủ tiêu mà ngược lại vẫntồn tại và phát triển Sự phát triển của lực lượng sản xuất và của kinh tế thịtrường đã làm phong phú, phức tạp thêm các hình thức biểu hiện của sở hữu
tư nhân và kinh tế tư nhân Sự đan xen của sở hữu nhà nước với sở hữu tưnhân ngày càng phổ biến, nền kinh tế có thêm các loại hình sở hữu hỗn hợp
Trang 17Lịch sử ra đời và phát triển của kinh tế tư nhân cho thấy hình thức điềutiết tự nhiên của các hoạt động kinh tế tư nhân là cơ chế thị trường Cơ chế thịtrường hiện đại là dạng thức sinh tồn của kinh tế tư nhân mà điển hình là môhình tổ chức doanh nghiệp - sản phẩm tự nhiên của cơ chế thị trường - tự nólớn lên trong cơ chế thị trường nên nó có một sức sống mạnh mẽ Ngược lại,bất kỳ một nền kinh tế nào hoạt động theo cơ chế thị trường đều phải thừanhận và khuyến khích mô hình tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tư nhân như
là một tự nhiên Trong cơ chế thị trường - một kiểu tổ chức kinh tế mà ngườitiêu dùng và nhà sản xuất tác động lẫn nhau thông qua thị trường – các hoạtđộng của chủ thể đều phải tuân theo và phù hợp với những quy luật kinh tếnên năng động và hiệu quả, chỉ những doanh nghiệp thích ứng được mới tồntại và phát triển, ngược lại thì phá sản, qua đó các nguồn lực xã hội được sửdụng ngày càng có hiệu quả Trong khi đó, kinh tế quốc doanh được sinh rabởi các mục đích chính trị, vận hành theo mệnh lệnh của Nhà nước gắn với cơchế kế hoạch hóa tập trung, dù được hướng dẫn, động viên, chỉ thị phải ứng
xử theo cơ chế thị trường nhưng vẫn khó thích ứng Vì vậy, phát triển kinh tếthị trường chính là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế tư nhân nóiriêng và nền kinh tế nói chung Ngược lại, sự phát triển của kinh tế tư nhân lànền tảng của kinh tế thị trường
Kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay có đặc điểm khác so với kinh tế tư nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện ở các mặt như sau:
- Sự tái lập kinh tế tư nhân ở nước ta là sản phẩm của đổi mới, là kếtquả của chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, là bộ phận hữu cơcủa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các chủ hộ kinhdoanh cá thể và doanh nghiệp phần lớn xuất thân từ những đảng viên, đoànviên, cán bộ quân đội, tầng lớp tri thức sinh ra và trưởng thành trong chế độmới Người lao động cũng được hình thành trong xã hội mới Lực lượng xãhội tham gia kinh tế tư nhân là đông đảo các tầng lớp nhân dân Trong các
Trang 18doanh nghiệp, đã và đang hình thành tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộngsản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo.
- Kinh tế tư nhân ở nước ta phát triển theo định hướng do Đảng Cộngsản Việt Nam đề ra được thể chế hoá thành hệ thống chính sách, pháp luật củaNhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ý chí nhân dân và vìlợi ích của đông đảo nhân dân
- Kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời kỳ đổi mới đã mang những yếu
tố có tính chất xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng vào giải phóng lựclượng sản xuất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tham gia giải quyết nhiều vấn
đề xã hội bức xúc
- Các doanh nghiệp của kinh tế tư nhân thông qua hoạt động của mìnhgóp phần tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, gắn kết các giai tầng xã hội vìmục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Quan hệ trực tiếp giữa chủ doanh nghiệp với công nhân, người lao động trongtừng doanh nghiệp không còn là quan hệ đối kháng mà mang tính chất hợp tác
1.1.3.2 Vai trò của kinh tế tư nhân
Ở nước ta, tư duy về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân gắn liền với quátrình đổi mới cũng là quá trình Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn vềkinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩatrong điều kiện quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội không phải là quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa và do Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý dưới sựlãnh đạo của Đảng Từ chỗ là một khu vực kinh tế phải “cải tạo” đến đượccông nhận ( Nghị quyết Trung ương 6 khoá VI ngày 29/3/1989, chính thức sửdụng khái niệm kinh tế tư nhân) được khuyến khích phát triển, được xem làmột bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và khẳng địnhphát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa; được xácđịnh rõ vị trí góp phần quan trọng trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng
Trang 19tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực củađất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế (Nghị quyết Trung ương 5 khoá 9tháng 3/2002) Đại hội XI của Đảng (1/2011) đã khẳng định: Kinh tế tư nhân
có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế Đồng thờinhấn mạnh: Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phậnhợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lànhmạnh Văn kiện Đại hội XI đã vạch rõ định hướng cơ bản: Phát triển mạnhcác hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân Đồng thờixoá bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi chocác loại hình doanh nghiệp của tư nhân, phát triển không hạn chế quy môtrong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quantrọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm Về đối tượng tham gia vàokhu vực kinh tế tư nhân, đã mở rộng hơn: Mọi công dân có quyền tham giacác hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự dokinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinhdoanh, tiếp cận các cơ sở, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin
Về chính sách phát huy các nguồn lực, Đại hội XI chủ trương: Khuyến khíchphát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinhdoanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần Hoàn thiện cơchế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân theo quy hoạch và quyđịnh của pháp luật, thúc đẩy hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân, khuyếnkhích tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước Thu hút đầu tưnước ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường và tăng cường sựliên kết với các doanh nghiệp trong nước Thực hiện Chương trình quốc gia
về phát triển doanh nghiệp gắn với quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp Hỗ trợ
Trang 20phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tạo điều kiện để hình thànhcác doanh nghiệp lớn, có sức cạnh tranh trên thị trường.
Từ khi đổi mới đến nay vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng được thểhiện rõ, đặc biệt là đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và đời sống
xã hội ở Việt Nam
Vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thể hiện ở những điểm sau:
- Sự phát triển của kinh tế tư nhân là nền tảng của kinh tế thị trường.Điều kiện tiên quyết cho sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường
là đa dạng hóa các hình thức sở hữu, tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế tư nhân là thành phần rất quan trọng Bất kỳ một nền kinh tế nàohoạt động theo cơ chế thị trường đều phải thừa nhận và khuyến khích mô hình
tổ chức doanh nghiệp của kinh tế tư nhân như là một tự nhiên Các doanhnghiệp tư nhân gắn liền với lợi ích kinh tế sát sườn của mình nên họ luônnăng động sáng tạo và hoạt động đạt hiệu quả cao Sự tham gia của cácdoanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thúc đẩy các chủ thể kinh tế kháccùng cạnh tranh phát triển nhờ đó vừa cho phép khai thác có hiệu quả caotiềm lực vốn, tay nghề, tư liệu sản xuất … của mỗi cá nhân trong xã hội đểkích thích năng lực nội sinh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tậndụng triệt để những ưu thế của thị trường, vừa hạn chế được những khuyếttật của kinh tế thị trường
- Sự tồn tại của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường còn gópphần thúc đẩy cho phân công lao động xã hội phát triển, hàng hóa tạo ra ngàycàng nhiều, đa dạng về mẫu mã, chất lượng, chủng loại đáp ứng ngày mộttốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng Sự tồn tại của kinh tế tư nhân thúcđẩy sự cạnh tranh mạnh mẽ, làm cho kinh tế thị trường phát triển ngày
Trang 21càng sâu rộng hơn không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà lan rộng
ra mang tính quốc tế
- Phát triển kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy mạnh mẽ các yếu tố củathị trường phát triển, đặc biệt là hệ thống các loại thị trường như thị trườnghàng hóa và dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính, thị trườngkhoa học công nghệ… Làm cho nền kinh tế thị trường vận hành có hiệu quả
Vai trò của kinh tế tư nhân đối với đời sống xã hội:
Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân phát triển ngàycàng mạnh mẽ với sức sống mãnh liệt, thể hiện nhiều ưu thế, vị thế ngày cànggia tăng đối với đời sống xã hội Kinh tế tư nhân trên phạm vi cả nước năm
2009 đã tạo ra 45,7% tổng sản phẩm trong nước, đã thu hút gần 91% lựclượng lao động xã hội, tạo 90% việc làm mới chiếm 32% tổng đầu tư toàn xãhội, cải thiện đời sống nhân dân, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, gópphần to lớn vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, thực hiệnmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh
Bên cạnh những thành tựu đạt được, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt
Nam còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết:
- Khu vực kinh tế tư nhân còn ở trình độ thấp của sự phát triển, chủ yếu
là loại hình kinh tế cá thể, loại hình doanh nghiệp tư nhân gần đây tuy pháttriển mạnh nhưng chủ yếu vẫn là quy mô nhỏ
- Khả năng huy động và tích tụ vốn còn hạn chế, trình độ công nghệ cònthấp, nhiều công nghệ lạc hậu thải loại từ khu vực kinh tế khác được khu vựckinh tế tư nhân tái sử dụng, việc ứng dụng khoa học công nghệ còn nhiều hạn chế
- Trình độ và kinh nghiệm quản lý còn yếu, không thu hút được laođộng tay nghề cao, chưa quan tâm đào tạo cơ bản đội ngũ tay nghề cao
Trang 22- Một số hoạt động của một bộ phận kinh tế tư nhân còn mang tính
“chụp giật” không ổn định, chưa xác định được chiến lược kinh doanh.Tínhliên kết hợp tác trong sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp còn thấpnên khó tạo được sức mạnh chung trên cơ sở phát huy lợi thế của mình
- Nhiều doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân không thực hiệnthường xuyên chế độ báo cáo tài chính, kê khai nộp thuế, trốn lậu thuế…
- Tình trạng một số doanh nghiệp làm “hàng nhái, hàng giả, hàng kémchất lượng”… vi phạm bản quyền về sở hữu công nghiệp, cạnh tranh khônglành mạnh, buôn lậu, gian lận thương mại có chiều hướng gia tăng
- Định mức khu vực kinh tế tư nhân thường rất cao kéo dài thời gianlao động, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân không áp dụng chế độ phụ cấp
do Nhà nước quy định, điều kiện bảo hộ và an toàn lao động không đảm bảo,không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động …Hiện nay còn nhiều doanhnghiệp kinh doanh loại hình dịch vụ văn hóa, vui chơi giải trí đã lợi dụng biến
cơ sở kinh doanh thành nơi chứa chấp các tệ nạn xã hội
Như vậy, chúng ta cần thấy rõ vai trò tích cực, nhưng cũng không được
mơ hồ trước những tiêu cực và khiếm khuyết của khu vực kinh tế tư nhân.Một mặt, cần từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách để tạo môitrường pháp lý thông thoáng bình đẳng cho các thành phần kinh tế phát triểnsản xuất kinh doanh và hợp tác bình đẳng trong cơ chế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa Mặt khác, phải có cơ chế quản lý và chỉ đạo thực tiễn để hỗtrợ, kiểm tra, ngăn ngừa và xử lý kịp thời
1.2 CHỦ TRƯƠNG, QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI KINH TẾ TƯ NHÂN
Trang 231.2.1 Khái quát về chủ trương, quan điểm, chính sách đối với kinh
tế tư nhân ở thời kỳ trước đổi mới và hệ quả
Kinh tế tư nhân thời kỳ “ cải tạo xã hội chủ nghĩa ” nền kinh tế 1960) và tới năm 1976
(1958-Từ năm 1958, miền Bắc nước ta chuyển sang thời kỳ phát triển kinh tếvới mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết Trong thờigian này, với quan niệm chủ nghĩa xã hội là công hữu hóa về tư liệu sản xuất,trên thực tế, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể giữ vai trò gần như độc tôn.Đảng và Nhà nước đặt ra nhiệm vụ là phải cơ bản hoàn thành cải tạo xã hộichủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư nhân, tiểu thủ công nghiệpnhững người làm ăn cá thể
Hội nghị Trung ương 14 khóa II (tháng 11-1956) đề ra chủ trương: Đẩymạnh công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm trước mắt là đẩymạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể củanông dân, thợ thủ công và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế
tư bản tư nhân, đồng thời ra sức phát triển kinh tế quốc doanh
Tháng 4-1958, Quốc hội thông qua kế hoạch ba năm phát triển và cảitạo xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, phát triểnvăn hóa (1958-1960)
Với chủ trương như vậy đã đưa đến một số tình hình sau:
- Các xí nghiệp tư bản tư nhân bị cải tạo dưới hai hình thức công ty hợpdanh đối với tư bản lớn và hợp tác xã đối với tư sản nhỏ Theo số liệu thống
kê trong những năm 1958-1960, ở miền Bắc đã cải tạo 2.135 xí nghiệp với13.500 công nhân làm thuê Như vậy, có thể nói thành phần kinh tế tư bản tưnhân lúc đó ở miền Bắc đã bị xóa bỏ hoàn toàn
Trang 24- Đối với kinh tế tiểu nông, cá thể, tiểu chủ thì vận động đưa vào làm
ăn tập thể dưới các hình thức như: Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, sản xuấttiểu thủ công nghiệp và tổ hợp tác mua bán …
Ở miền Nam, năm 1976 riêng ngành công nghiệp có tới 94.857 hộ tưnhân, cá thể Trong đó ngành chế biến lương thực và thực phẩm 29.530 hộ, cơkhí 23.312 hộ …
Kinh tế tư nhân thời kỳ 1976-1985:
Đất nước thống nhất, công cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệsản xuất được thực hiện trên phạm vi cả nước, kế hoạch 5 năm 1976-1980ngoài nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo kinh tếmiền Nam theo mô hình kinh tế miền Bắc, tiếp tục cải tạo xã hội chủnghĩa đối với những người sản xuất nhỏ ở miền Bắc, đồng thời triển khaimạnh mẽ ở miền Nam
Nhưng kinh tế tư nhân vẫn tồn tại Trong công nghiệp, vẫn có trên 60vạn người sản xuất cá thể, chiếm 20% tổng số lao động ngành công nghiệp vàtạo ra khoảng 15% giá trị sản lượng toàn ngành Số người kinh doanh thươngnghiệp trong những năm 80 cũng ở mức 60 vạn Trong nông nghiệp, hộ nôngdân là xã viên hợp tác xã nông nghiệp thu nhập từ kinh tế tập thể thường chỉchiếm 30-40%, kinh tế phụ gia đình chiếm 60-70% - thực chất là khu vựckinh tế tư nhân
Việc xóa bỏ kinh tế tư nhân, không chấp nhận các quan hệ hàng hóa tiền tệ và thị trường đã để lại những hậu quả nặng nề Vào những năm 80,lương thực thực phẩm thiếu hụt triền miên, nạn đói xảy ra ở nhiều vùng vàNhà nước đã phải rất khó khăn mới xin được những khoản viện trợ lươngthực ít ỏi từ các nước trong khối xã hội chủ nghĩa Đứng trước tình hình đóĐảng ta đã đề ra đường lối đổi mới
Trang 25-Những số liệu trên cho thấy sức sống của kinh tế cá thể nói riêng vàkinh tế tư nhân nói chung rất bền bỉ, sự hiện diện của thành phần kinh tế nàytrong suốt thời gian dài như một tất yếu khách quan Vì vậy, Nhà nước khôngchỉ thừa nhận mà còn phải biết khai thác những tiềm năng của nó vào mụctiêu dân giàu, nước mạnh Đối với sự phát triển kinh tế tư nhân thì tư duy lýluận của Đảng cũng không ngừng phát triển thể hiện qua các nhiệm kỳ Đạihội của Đảng.
1.2.2 Chủ trương, quan điểm, chính sách đối với kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới (từ Đại hội VI đến Đại hội XI của Đảng) và tác động đến thực tế phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã đánh dấu bước ngoặt mớitrong đổi mới tư duy lý luận, tư duy kinh tế Đại hội đã thẳng thắn chỉ ranhững sai lầm chủ quan nóng vội, muốn “đốt cháy giai đoạn” trong việc cảitạo các thành phần kinh tế “phi xã hội chủ nghĩa”, và khẳng định đặc điểmcủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế với cơ cấunhiều thành phần Việc thừa nhận sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiềuthành phần kinh tế là bước chuyển quan trọng nhất trong đổi mới tư duy kinh
tế của Đảng tại Đại hội VI
Đại hội VII, VIII, IX, X, XI tiếp tục khẳng định đường lối phát triểnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Cùng với sự phát triển trong nhận thức của Đảng, Nhà nước đã banhành Hiến pháp năm 1992, cùng với các nội dung văn bản pháp luật và cácnghị định, chính sách khác để xác nhận sự tồn tại khách quan lâu dài của nềnkinh tế nhiều thành phần, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân Nhưng nhữngchính sách, chủ trương đó được thường xuyên bổ sung, điều chỉnh nhằm “cởitrói” cho lực lượng sản xuất và các thành phần kinh tế hướng vào thực hiệncác mục tiêu nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước đã định ra Đặc biệt cuối năm
Trang 261999, Nhà nước ban hành Luật Doanh nghiệp và có hiệu lực thi hành từ đầunăm 2000, đã tạo nên một khí thế mới, một sức bật mới cho khu vực kinh tế
tư nhân nói riêng và các khu vực kinh tế khác cùng phát triển ngày càng mạnh
mẽ và vững chắc hơn
Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân:
Cùng với bước chuyển mới sang tư duy kinh tế nhiều thành phần, Đảng
ta cũng đã từng bước thực hiện quan điểm của mình về kinh tế tư nhân Kể từbước chuyển tư duy đầu tiên ở Đại hội VI ( năm 1986) đến đại hội XI, trảiqua nhiều nghị quyết, quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân được tập trung
ở một số điểm chủ yếu sau:
- Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốcdân Ở đây kinh tế tư nhân không còn được coi là bộ phận đối lập với chủnghĩa xã hội, mà là khu vực kinh tế hoàn toàn cần được khuyến khích và tạođiều kiện phát triển, nó là điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng thànhcông nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quantrọng trong tăng trưởng kinh tế, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhậpkinh tế quốc tế
- Kinh tế tư nhân có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, được bìnhđẳng, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các thành phần kinh tế khác; đượcNhà nước bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp, khuyến khích, hỗ trợ, tạođiều kiện thuận lợi cho phát triển theo pháp luật
- Trong khu vực kinh tế tư nhân, phải bảo vệ lợi ích hợp pháp, chínhđáng của người lao động và người sử dụng lao động Xây dựng mối quan hệtốt đẹp giữa hai bên trên tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái phấn đấu vì
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 27- Kinh tế tư nhân phát triển theo phương hướng: Kinh tế cá thể, tiểu chủđược Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển, khuyến khích các hộliên kết hình thành các tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho doanhnghiệp hoặc phát triển lớn hơn; Kinh tế tư bản tư nhân thường hoạt động dướihình thức doanh nghiệp của tư nhân, được Nhà nước tạo môi trường kinhdoanh thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý xã hội để phát triển rộng rãitrong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, không hạn chế về quy mô,trình độ, nhất là trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước Nhà nước cũngkhuyến khích những doanh nghiệp của tư nhân chuyển thành doanh nghiệp cổphần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, kinh tếtập thể và kinh tế nhà nước trở thành kinh tế tư bản nhà nước.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các tổ chứcchính trị- xã hội và các hiệp hội doanh nghiệp đối với kinh tế tư nhân nóichung cũng như từng doanh nghiệp nói riêng
Những quan điểm nêu trên được xác định từ Đại hội VI, qua thực tiễnđổi mới đã dần dần được điều chỉnh Chắc chắn rằng sự phát triển ấy sẽ còntiếp tục cùng với sự phát triển của thực tiễn đổi mới trong thời gian tới
Kết quả phát triển của khu vực kinh tế tư nhân những năm đầu thời kỳ đổi mới:
Cùng với quá trình đổi mới tư duy, trong suốt chặng đường phát triểncủa đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước đã ban hành nhiềuchính sách, biện pháp để phát triển kinh tế tư nhân Vì vậy, kinh tế tư nhân đãphát triển nhanh thu hút đông đảo các tầng lớp dân cư tham gia Trong giaiđoạn 1990-1995 kinh tế cá thể, tiểu chủ trong lĩnh vực phi nông nghiệp tăngrất nhanh, nếu năm 1990 mới có khoảng 800 nghìn cơ sở kinh doanh cá thể,
Trang 28tiểu chủ, thì đến năm 1995 lên tới khoảng 2 triệu cơ sở; tốc độ tăng bình quânkhoảng 20%/năm Giai đoạn 1996-2000 số hộ kinh doanh cá thể tăng chậmhơn nhưng vẫn giữ ở mức tăng bình quân là 6%/năm.
Ở nông thôn, với việc thực hiện chủ trương giao ruộng đất ổn định chonông dân, đã dẫn đến hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ Về thựcchất, đó là kinh tế cá thể, hoặc kinh tế tiểu chủ Hiện nay, ở Việt Nam có gần
12 triệu hộ nông dân Thành tựu của khu vực kinh tế tư nhân góp phầnvào lĩnh vực nông nghiệp rất nổi bật Từ một nước phải nhập khẩu hàngnăm gần một triệu tấn lương thực (vào giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX),Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo vào hàng thứ 2 trên thế giới.Đáng lưu ý là, những năm gần đây, ở nông thôn đã xuất hiện mô hìnhkinh tế mới, đó là kinh tế trang trại
Cùng với kinh tế cá thể, tiểu chủ, các doanh nghiệp tư nhân, công tyTNHH và công ty cổ phần có sự phát triển rất nhanh, từ 132 doanh nghiệpnăm 1991 lên đến 70 nghìn doanh nghiệp năm 2001 Đáng chú ý là ở giaiđoạn 2006-2010, số lượng doanh nghiệp đăng ký đã tăng lên gấp bội, nhiềuhơn số doanh nghiệp 5 năm trước đó cộng lại Điều đó nói lên tiềm năng pháttriển của khu vực này rất lớn
Trong cơ cấu các loại hình doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh, sốlượng doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất 58,76%; công tyTNHH chiếm 38,68%; còn lại là công ty cổ phần và hợp danh Số liệuthống kê cho thấy đa số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân nóichung và khu vực doanh nghiệp tư nhân nói riêng hoạt động trong lĩnhvực thương mại dịch vụ Cụ thể, số doanh nghiệp kinh doanh thương mại
và dịch vụ chiếm 59,34%, còn lại là các ngành khác như xây dựng, giaothông vận tải…chiếm tỷ trọng 17,03%
Trang 29Quy mô của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở ViệtNam hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa Số doanh nghiệp lớn cònrất hiếm Trong các doanh nghiệp phi nông nghiệp số doanh nghiệp có dưới
200 lao động chiếm 97,7%, số doanh nghiệp có vốn thực tế sử dụng dưới 10
tỷ đồng chiếm 94,9%
Nhìn lại quá trình đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân đã góp phần đáng kể vào pháttriển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội cho sản xuất, kinh doanhtạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng nguồn thu cho ngânsách nhà nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh
Những đóng góp của kinh tế tư nhân vào xây dựng và phát triển đấtnước được thể hiện chủ yếu trên các mặt sau:
- Thứ nhất, thời gian qua khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã đóngvai trò tích cực và có hiệu quả đối với giải quyết việc làm Theo thống kê năm
2010, lĩnh vực phi nông nghiệp cả nước có hơn 4,6 triệu người làm việc trongkhu vực kinh tế tư nhân Trong đó, số người làm việc trong các doanh nghiệp,công ty chiếm khoảng 18%, kinh doanh cá thể, tiểu chủ chiếm khoảng 82%
So với tổng lao động toàn xã hội thì khu vực này chiếm 12%, và chiếm gần70% lực lượng lao động xã hội trong khu vực phi nông nghiệp Trong giaiđoạn 2006-2010 tốc độ tăng lao động bình quân trong các hộ kinh doanh cáthể, tiểu chủ là 2,01%/năm Còn trong các doanh nghiệp và công ty tư nhân là24,15%/năm Hiện nay, ở Việt Nam hàng năm số người bổ sung vào lựclượng lao động khoảng 1,4 triệu Số lao động dồi dào từ các cơ quan doanhnghiệp nhà nước do tinh giảm biên chế và sắp xếp lại doanh nghiệp khá lớn,khoảng gần 1 triệu người Do đó, việc thu hút lực lượng lao động trong thờigian qua của khu vực kinh tế tư nhân có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng
Trang 30- Thứ hai, từ năm 2006 trở lại đây tỉ trọng GDP của khu vực kinh tế tưnhân giữ ở mức 37%, tức là chiếm khoảng 2/5 GDP toàn quốc Khu vực kinh
tế tư nhân có ưu thế là tỷ xuất đầu tư thấp, dễ chuyển đổi phương hướng sảnxuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường…Vì vậy, tốc độ tăng trưởng của khuvực kinh tế tư nhân khá ổn định Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng nămtrong giai đoạn 2006-2010 của khu vực kinh tế tư nhân là 7,2% Năm 2008tăng trưởng chung của cả nước đạt 6,3% thì khu vực kinh tế tư nhân trongnước tăng 19% Khu vực kinh tế tư nhân còn góp phần làm tăng phần thu chongân sách nhà nước, góp phần giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội
- Thứ ba, sự hình thành và phát triển khu vực kinh tế tư nhân đã tạo nên
cơ chế cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN Nó buộc doanh nghiệp nhà nước cũng phải đổimới để cạnh tranh tạo nên động lực mới trong kinh tế, làm cho kinh tế thịtrường ngày càng thể hiện rõ hơn
1.3 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA CHO TỈNH THÁI BÌNH
1.3.1 Những trường hợp được lựa chọn nghiên cứu
1.3.1.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên
Tỉnh Hưng Yên diện tích 923.09 km², giáp tỉnh Thái Bình về phía Nam,dân số: 1.128.702 người Trong những năm đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân
ở địa phương này phát triển khá mạnh mẽ Năm 2001 có 350 doanh nghiệpvới số vốn đầu tư 2.115 tỷ đồng, đã tăng lên 600 doanh nghiệp năm 2009 với
số vốn đầu tư là 11.218 tỷ đồng Hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đãtăng từ 12.586 cơ sở (năm 2001) lên 34.112 cơ sở (năm 2009) Khu vực kinh
tế tư nhân đã sử dụng 78% lao động xã hội vào năm 2006
Từ khi Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty (1990) ra đời, sau đó
là Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực năm 2000) đã tác động tạo môi trường kinhdoanh thuận lợi thúc đẩy nhanh sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân
Trang 31UBND tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp cụ thể, trong đó có một số giải phápđạt hiệu quả như:
- Dựa trên sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ, các ban ngành của tỉnh
đã phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện đúng, hiệu quả các chủ trươngchính sách, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh, xử lý các phát sinh trong thực tế,làm cho công tác đăng ký kinh doanh ngày càng được cải tiến và hoàn thiện,rút ngắn thời gian
- Quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân phải tuân thủnguyên tắc quản lý bằng pháp luật, không được can thiệp vào công việc củadoanh nghiệp Đồng thời có phương thức giám sát, quản lý thích hợp vừakhông gây phiền hà doanh nghiệp, vừa kiểm soát được hành vi vi phạm củadoanh nghiệp, có chế tài để răn đe những trường hợp vi phạm pháp luật
- Thực hiện chương trình xúc tiến đầu tư và thương mại như: hỗ trợ cácdoanh nghiệp xuất khẩu vào các thị trường mục tiêu, cung cấp thông tin cóhiệu quả, miễn phí, tổ chức huấn luyện, hội thảo nâng cao sức cạnh tranh, hộinhập; xúc tiến đầu tư và quảng bá hình ảnh và thương hiệu tỉnh Hưng Yên
- Thực hiện chương trình hỗ trợ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tưnhân phát triển
- Lựa chọn cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, chuyên môn sâu, đãingộ thích đáng để hạn chế tiêu cực phát sinh
- Xây dựng cơ chế phối hợp, hợp tác với tư nhân để mở rộng thị trường
và thu nhập, cung cấp thông tin
1.3.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương
Tỉnh Bình Dương, diện tích tự nhiên 2695,5km², dân số 1.481.550người Trong những năm đổi mới, cùng với khu vực kinh tế FDI, khu vựckinh tế tư nhân đã phát triển mạnh mẽ Năm 2001, có 1.134 doanh nghiệp tưnhân với số vốn 5.783 tỉ đồng, đã tăng lên 3.459 doanh nghiệp với số vốn15.733 tỉ đồng vào năm 2005- tăng 3,05 lần về số doanh nghiệp và 2,72 lần vềvốn so với năm 2001 Hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp đã tăng từ
Trang 3223.995 cơ sở năm 2002 lên 40.885 năm 2005, với số vốn trên 900 tỉ đồng.Khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã sử dụng 450.894 laođộng, chiếm trên 90,5% lao động xã hội vào năm 2004 Trước đổi mới, tỉnhBình Dương là tỉnh nông nghiệp nhưng đến cuối năm 2005 đã có cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp, hiện đại: công nghiệp chiếm 63,8%, dịch vụchiếm 28,2%, nông nghiệp 8% trong GDP Triển vọng phát triển doanhnghiệp nói chung và doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương córất nhiều lợi thế Hiện nay, trên địa bàn tỉnh, đã có 23 khu công nghiệp đượcquy hoạch, trong đó 16 khu được phê duyệt với 3.241ha; 13/16 khu côngnghiệp đang hoạt động đạt 69,5% diện tích, có 7 khu công nghiệp có 90%diện tích đã cho thuê, tiêu biểu là sự thành công của khu công nghiệp ViệtNam – Singapore
- Đảng bộ, chính quyền các cấp thống nhất quan điểm: “Coi thu hút đầu
tư và phát triển doanh nghiệp là yếu tố quyết định phát triển kinh tế - xã hội,
là đối tượng mà bộ máy chính quyền các cấp phải đồng hành” Điều đó, được
cụ thể hoá trong quy chế làm việc của cấp uỷ, chính quyền và các sở, ban,ngành các cấp: tỉnh, huyện, xã Trong đó, thẩm quyền và cách thức giải quyếttừng loại công việc được quy định rõ ràng theo tinh thần chủ trương bàn vàquyết tập thể, điều hành và quyết định chỉ một người; mặt khác, tỉnh đã vậndụng đến mức có lợi nhất cho doanh nghiệp và nhà đầu tư trong khuôn khổcác chính sách khen thưởng và tuyên dương các doanh nghiệp làm ăn tốt.Doanh nghiệp tin cậy chính quyền, vừa yên tâm làm ăn vừa kêu gọi đồngnghiệp đầu tư Người dân thấy được, ở đâu có đầu tư, có doanh nghiệp pháttriển thì đời sống được nâng lên và giảm nghèo (đến cuối năm 2005, tỉ lệ hộnghèo còn 1,9%)
- Làm những việc nhà đầu tư và doanh nghiệp cần là phương châmhành động thống nhất của bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở Từ chỗ chờdoanh nghiệp đến “xin” để giải quyết “cho” doanh nghiệp, chính quyền biếtđược những bức xúc của họ và quy tụ bộ máy tập trung làm đúng những vấn
Trang 33đề bức xúc Điều này thể hiện ở việc giải quyết tốt 3 vấn đề cơ bản: (1) Coitrọng giải quyết các thủ tục hành chính một đầu mối; chọn cán bộ thạo việc,lịch sự, văn minh; cung cấp thông tin pháp luật cần thiết; công tác thanh tra,kiểm tra tập trung vào một đầu mối, cải tiến công tác thuế (2) Cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, thuê đất, và giao đất đúng tiến độ theo hướng dânchủ, công khai, minh bạch (3) Huy động mọi nguồn vốn tập trung xây dựngkết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông, điện, nước cho các khu công nghiệp.
1.3.2 Một số bài học rút ra cho tỉnh Thái Bình trong việc phát triển kinh tế tư nhân
- Rất cần xác lập và bảo đảm trên thực tế sự chỉ đạo thống nhất và phốihợp chặt chẽ của các ban ngành nhằm thực hiện đúng, hiệu quả các chủtrương, chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển Làm những việcnhà đầu tư và doanh nghiệp cần là phương châm hành động thống nhất của bộmáy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở
- Quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân phải tuân thủnguyên tắc quản lý bằng pháp luật, không được can thiệp vào công việc củadoanh nghiệp Lắng nghe ý kiến phản hồi từ phía các doanh nghiệp nhằm tháo
Trang 34tranh lành mạnh, tạo ra nhiều sản phẩm mới có giá trị gia tang ngày càng lớn,đóng góp cho ngân sách của nhà nước và địa phương
Như vậy, từ những vấn đề đã đề cập và phân tích ở trên, có thể rút ramột số kết luận bước đầu:
Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệusản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân hoạt động dướihình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân.Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại của kinh tế tư nhân là tất yếu kháchquan và mang tính phổ biến
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Namhiện nay, sự tồn tại của kinh tế tư nhân là tất yếu xuất phát từ yêu cầu của quyluật kinh tế khách quan, từ đặc điểm thời kỳ lên chủ nghĩa xã hội và quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Quan điểm của Đảng ta coi kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thànhnền kinh tế thị trường Kinh tế tư nhân được tồn tại lâu dài, tự do kinh doanhtheo pháp luật, không bị phân biệt đối xử, được tạo điều kiện khuyến khíchphát triển trong các lĩnh vực ngành nghề pháp luật không cấm nhằm tạo ranhiều của cải cho xã hội, làm giàu cho bản thân, và đất nước Thực tiễn đổimới trong những năm qua cho thấy kinh tế tư nhân có vai trò to lớn trong việcthúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như đóng góp nhiều mặt cho xã hội Về bảnchất, kinh tế tư nhân luôn mang tính hai mặt, bên cạnh mặt tích cực là độnglực thúc đẩy mỗi cá nhân làm giàu cho bản thân, làm giàu cho xã hội; mặtkhác nhiều trường hợp kinh tế tư nhân đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích cộngđồng gây ra nhiều thiệt hại đối với xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, kinh tế tư nhân đang đứng trước nhiều cơ hộiphát triển và nhiều thách thức Kinh nghiệm về phát triển kinh tế tư nhân củatỉnh Hưng Yên và tỉnh Bình Dương cho thấy vai trò quản lý kinh tế tư nhâncủa Nhà nước là hết sức quan trọng
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỀN KINH TẾ TƯ NHÂN CỦA TỈNH THÁI
Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và thành phố Hải Phòng,phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam, phía Đông giápvịnh Bắc Bộ
Thái Bình là tỉnh đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng với độdốc nhỏ hơn 1%; cao trình biến thiên phổ biến từ 1 – 2m so với mực nướcbiển, thấp dần từ bắc xuống đông nam, lợi thế về giao thông, nông nghiệp vàphát triển các khu công nghiệp
Khí hậu, thuỷ văn Thái Bình thuận hoà cho sự phát triển, ít gió bão, ít
lũ lụt, hệ thống sông hồ đa dạng thuận tiện cho công nghiệp, nông nghiệp,giao thông vận tải, xây dựng Ngày mưa không nhiều (120 – 170 ngày trongnăm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10) Nhiệt độ trung bình trong năm là 23 -24ºC Độ ẩm trung bình vào khoảng 85 – 90%
Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất rất dồi dào Đất đai Thái Bình phì nhiêu, màu mỡ dođược bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Tổng diện tích câytrồng hàng năm 94.187 ha, ao hồ đã đưa vào sử dụng 6.018ha Hầu hết đất đai
Trang 36đã được cải tạo, hằng năm có thể cấy trồng được 3 – 4 vụ, diện tích có khảnăng làm vụ đông khoảng 40.000 ha.
Tài nguyên nước: tiềm năng và nguồn lợi thủy sản là một trong nhữngthế mạnh của tỉnh Thái Bình Thái Bình có 3 thủy vực khác nhau: nước ngọt,nước lợ, nước mặn Nguồn nước ngọt cho nhu cầu dân sinh và công nghiệptương đối dồi dào, chủ yếu là nguồn nước của các sông lớn, tổng diện tích cókhả năng nuôi thủy sản là 9.256 ha Ngoài ra còn có trên 3.000 ha vùng lúaruộng trũng cấy một vụ năng suất thấp, có thể chuyển sang nuôi thủy sản.Diện tích bề mặt của nước mặn có khoảng 17 km², chủ yếu dành cho hoạtđộng khai thác thủy sản, với tổng trữ lượng hải sản vùng ven biển khoảng26.000 tấn, phần lớn là nguồn cung cấp nguyên liệu để chế biến các mặt hàngtruyền thống như nước mắm, mắm tôm và chế biến thức ăn thủy sản Vùngnước lợ có các nguồn phù du sinh vật, các loại tảo thực vật thủy sinh phongphú làm thức ăn tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản
Tài nguồn rừng: Thái Bình có các cồn cát ven biển như cồn Vành, cồnThủ, cồn Đen, và vùng đất ngập mặn rất thích hợp trồng tập trung cây Sú, câyVẹt bần Hiện tại có gần 5.000 ha rừng vừa giữ đất, chắn sóng, vừa tạo môitrường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên phát triển du lịch ven biển
Tài nguyên khoáng sản ở Thái Bình chủ yếu là khí đốt và nước khoáng(cả hai đều tập trung chủ yếu ở Tiền Hải) phục vụ cho phát triển công nghiệpcủa tỉnh; mỏ nước nóng ở Hưng Hà đang được đầu tư khai thác phục vụ pháttriển du lịch và chữa bệnh cho nhân dân; trong lòng đất Thái Bình còn có thannâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng
Nguồn nhân lực
Đến cuối năm 2010, dân số tỉnh Thái Bình có 1.870,6 nghìn người phân
bố trên 7 huyện, 1 thành phố, có mật độ dân số 1.183 người/ km² Năm 2010
tỷ lệ dân thành thị là 18,2%, dân số nông thôn chiếm 81,8%; số dân trong độ
Trang 37tuổi lao động là 1.074 ngàn người (57,66% dân cư) thể hiện dân số trẻ, có khảnăng cung ứng lao động dồi dào cho các ngành kinh tế.
Lao động qua đào tạo chiếm 27,5% được cơ cấu như sau: công nhân kỹthuật và nghiệp vụ chiếm 15,5% lực lượng lao động; trung cấp chiếm 6,5%lực lượng lao động; cao đẳng, đại học và trên đại học chiếm 5,5% lực lượnglao động
Hằng năm Thái Bình có khoảng 19.000 học sinh tốt nghiệp phổ thôngtrung học là lao động trẻ, có trình độ văn hoá chưa có điều kiện học tiếp lênđại học, lực lượng này có thể học tiếp ở các trường trung cấp, công nhân kỹthuật trong tỉnh hoặc được đào tạo tại chỗ, ở các đơn vị sản xuất kinh doanhtrong tỉnh sẽ là nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có cáckhu công nghiệp
Kết cấu hạ tầng kinh tế
Đã được cải thiện có nhiều thuận lợi, hệ thống giao thông gồm: đường
bộ, đường thủy nối liền các tỉnh, thành phố trong khu vực như quốc lộ 10,đường 29, cảng Diêm Điền… kết cấu hạ tầng điện và nước đáp ứng cơ bảnnhu cầu sản xuất và sinh hoạt Hạ tầng bưu chính viễn thông phát triển tốt, đạt20,79 máy điện thoại/ 100 dân, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
2.1.2 Nhận xét về điều kiện phát triển của kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình (so sánh với một số địa phương lân cận)
Với những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội nêu trên, tỉnh TháiBình có thuận lợi hơn nhiều địa phương khác trong phát triển kinh tế theohướng đa dạng hoá ngành nghề mà ngành công nghiệp nhẹ có ưu thế mạnhnhất, và có khả năng hình thành vùng chuyên canh nông sản hàng hoá lớn chotiêu dùng và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu Đây là nhữngngành nghề đòi hỏi vốn ít, lao động dồi dào nhưng cần khả năng cạnh tranhcao,nhạy bén với cơ chế thị trường Lĩnh vực này kinh tế tư nhân rất có lợi
Trang 38thế, họ rất năng động, linh hoạt nhanh chóng thích nghi với cơ chế thị trường,khả năng ứng dụng khoa học công nghệ cao Trong quá trình đổi mới họ đãđạt được nhiều thành tựu lớn Đó là những bài học kinh nghiệm quý báu đểkinh tế tư nhân Thái Bình phát triển nhanh, mạnh, vững chắc trong thời giansắp tới Đồng thời Thái Bình nằm trong khu vực kinh tế phát triển năng động Thái Bình có triển vọng trở thành vùng công nghiệp phụ trợ nếu biết phối hợpchặt chẽ với tam giác vàng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Đây là ưu thếrất lớn của tỉnh Thái Bình mà không phải địa phương nào cũng có được Nếubiết tận dụng những ưu thế này và tỉnh có những chính sách ưu tiên phù hợpthì kinh tế tư nhân tỉnh Thái Bình trong thời gian sắp tới sẽ có bước phát triểnvượt bậc đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách địa phương, giải quyếtđược ngày càng nhiều việc làm cho người lao động,chuyển dịch cơ cấu kinh
tế tỉnh theo hướng ngày càng hiện đại
2.2 KINH TẾ TƯ NHÂN Ở THÁI BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN 2001 –
Trang 39vi cả nước, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể chiếm địa vị độc tôn, kinh tế
tư nhân bị đưa vào đối tượng cải tạo
Từ Đại hội VI (tháng 12 năm 1986), với đường lối đổi mới của Đảng,chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân được khôi phục và phát triển mạnh mẽ trênphạm vi cả nước nói chung và tỉnh Thái Bình nói riêng Tuy nhiên, phải đếnkhi Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ra đời và có hiệu lực năm
1991, kinh tế tư nhân mới được cởi trói để phát triển, đặc biệt Luật Doanhnghiệp ra đời năm 1999 và có hiệu lực năm 2000 thay thế Luật Công ty vàLuật Doanh nghiệp tư nhân, kinh tế tư nhân mới thật sự phát triển mạnh mẽ.Kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình phát triển cả về số lượng, quy môvốn và lĩnh vực kinh doanh, thu hút lao động cũng như những đóng góp tíchcực vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế
2.2.1.1 Về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời kỳ 2001 – 2010
đã lớn mạnh cả về số lượng và đa dạng về loại hình doanh nghiệp, ngày càngthích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Số liệu thống kê cho thấy, kinh tế tư nhân tăng mạnh cả về số lượng và
tỉ trọng so với tổng số doanh nghiệp trên toàn tỉnh Số doanh nghiệp nhà nướcgiảm dần từ 110 doanh nghiệp năm 2000 xuống còn 40 năm 2009, giảm tỉtrọng từ 33,33% năm 2000 xuống còn 1,58% năm 2009 Trong khi đó, sốdoanh nghiệp ngoài nhà nước tăng từ 220 năm 2000 lên 2.145 năm 2009, tăng
tỉ trọng từ 66,67% năm 2000 lên 96,83% năm 2009 Tỉ trọng vốn đầu tư trêntổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh của khu vực kinh tế tư nhân tăng
từ 638.993 triệu đồng năm 2000 lên 3.670.000 triệu đồng năm 2009 Điều đóchứng tỏ sự đóng góp ngày càng tăng của kinh tế tư nhân vào tốc độ tăngtrưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình
Trang 40Biểu 2.1: Số lượng, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp ở Thái Bình những năm gần đây
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Thái Bình
Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Thái Bình ngày càng lớn mạnh
về số lượng và đa dạng về loại hình ngành nghề kinh doanh:
Trong lĩnh vực công nghiệp
Khu vực kinh tế tư nhân đã thể hiện khá rõ vai trò quan trọng đối với sựphát triển của công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong thời kỳ đổi mới Giá trịsản lượng công nghiệp của khu vực tư nhân tăng đều trong giai đoạn 2001
- 2010 Cụ thể, so với năm trước, năm 2001 giá trị sản lượng công nghiệp