Văn hoá là sản phẩm của con người, của cộng đồng người, gắn liền với cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội, được xác định bao gồm tất cả các giá trị vật chất và tinh thần, tính cách và lối sống, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội. Nó tồn tại qua thời gian và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thấm sâu vào lối sống của cộng đồng dân cư và trở thành bản sắc riêng của mỗi dân tộc, quốc gia. Là quốc gia đa dân tộc thống nhất “nền văn hoá Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc…” 20, tr.57. Những năm gần đây, vấn đề văn hóa nói chung và văn hóa các DTTS nói riêng được sự quan tâm nhiều của xã hội. Nhận thức về vai trò quyết định của văn hóa đối với sự phát triển ở nước ta cũng được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Ngay từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Nó vừa là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, vừa là một trong những mục tiêu của chúng ta. Nhằm bổ sung và hòan thiện tư tưởng được nêu trong Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII, Đảng ta đã đề ra chính sách văn hóa trong kinh tế “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội 20, tr.55. Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển trở thành vấn đề được quan tâm, nhận thức và vận dụng vào thực tiễn đổi mới ở nước ta. Cùng với phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, Đảng ta nhấn mạnh phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Xét về mặt lý luận, kinh tế xã hội phát triển, đời sống của người dân được nâng cao đó là tiền đề, điều kiện cho phát triển văn hóa, đồng thời hoạt động văn hóa lại có tác động trở lại để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững. Để phát huy có hiệu quả hơn vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế xã hội và xử lý đúng đắn sự tác động qua lại giữa kinh tế và văn hóa, Đảng ta trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội X, XI chỉ rõ phải gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn nữa giữa văn hóa và kinh tế. Trong tính đa dạng thống nhất của nền văn hóa Việt Nam, văn hóa bản địa các DTTS ở Lâm Đồng do những đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, mang những nét đặc trưng riêng có, những đặc điểm khác biệt. Những yếu tố văn hóa đặc trưng của các tộc người bản địa trở thành những tiềm năng đặc biệt, những nguồn tài nguyên quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội ở Lâm Đồng. Đặc biệt là tiềm năng kinh tế, du lịch từ nguồn tài nguyên văn hóa bản địa. Đó là niềm tự hào của các tộc người bản địa ở Nam Tây Nguyên cần được các nhà khoa học nghiên cứu để phát huy, phát triển. Tuy vậy, văn hóa bản địa các DTTS bản địa Lâm Đồng trong những năm qua chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát huy được vai trò động lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Nhiều yếu tố văn hóa đang ngày càng mai một, thậm chí một số loại hình, lĩnh vực có nguy cơ mất hẳn, có những yếu tố đã trở nên lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp, có những yếu tố mang tính chất hiện đại. Sự tác động của cơ chế thị trường và ảnh hưởng của các tôn giáo mới, một mặt làm cho văn hóa bản địa các dân tộc đang có những biến đổi, đã có những nét văn hóa riêng bị phai nhạt, bị đồng hóa, mất đi bản sắc riêng, một mặt làm cho văn hóa bản địa có biểu hiện lai căng, hoặc biến các di sản văn hóa truyền thống của cư dân bản địa Lâm Đồng thành những sản phẩm lạc hậu, không phù hợp với cuộc sống hiện tại, cơ cấu xã hội và quan hệ giữa các thành viên trong buôn làng nay đã có nhiều biến đổi lớn, làm cho sinh hoạt cộng đồng ít gắn bó hơn, không còn tác dụng nuôi dưỡng nền văn hóa truyền thống và ảnh hưởng đến củng cố khối đoàn kết dân tộc. Do vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, trong xu thế mở cửa, hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa, cần phát phát huy các giá trị văn hóa với những bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc để làm phong phú nền văn hóa chung của cả nước góp phần nâng cao tính thống nhất đa dạng của văn hóa Việt, đấu tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa để chia rẽ, phá họai khối đại đoàn kết các dân tộc. Lâm Đồng hiện vẫn còn là tỉnh nghèo, quy mô nền kinh tế nhỏ; chưa khai thác và phát huy tốt tiềm năng và lợi thế của tỉnh; chưa phát huy được vai trò động lực của văn hóa đối với sự phát triển. Thời gian qua, những yếu tố văn hóa bản địa Lâm Đồng mới chỉ được khai thác phục vụ cho yêu cầu trước mắt, chứ chưa chú ý tới việc nghiên cứu, nhằm khẳng định và bảo tồn cũng như đề ra các giải pháp phát huy các giá trị văn hóa phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội, nhất là phục vụ cho phát triển kinh tế du lịch ở địa phương. Giữ gìn, bào tồn và phát huy các giá trị văn hóa địa các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng là một trong những nhân tố quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bản địa ở nam Tây Nguyên, làm cho nền tảng tinh thần của xã hội ngày càng vững chắc góp phần phát triển kinh tế xã hội. Xuất phát từ tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển, để đánh giá đúng vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm đồng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, phát hiện ra những xu hướng biến đổi và đưa ra những giải pháp thích hợp, tích cực cho việc bảo tồn và phát huy vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số, biến các giá trị văn hóa của các dân tộc bản địa Lâm Đồng thành tài sản văn hóa góp phần phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, học viên đã chọn đề tài “Phát huy vai trò văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá là sản phẩm của con người, của cộng đồng người, gắn liền vớicuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội, được xác định bao gồm tất
cả các giá trị vật chất và tinh thần, tính cách và lối sống, truyền thống của mỗidân tộc, mỗi cộng đồng xã hội Nó tồn tại qua thời gian và lưu truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác, thấm sâu vào lối sống của cộng đồng dân cư và trở thànhbản sắc riêng của mỗi dân tộc, quốc gia
Là quốc gia đa dân tộc thống nhất “nền văn hoá Việt Nam là nền văn hóathống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc tháiriêng Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóaViệt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc…” [20, tr.57] Những năm gần đây,vấn đề văn hóa nói chung và văn hóa các DTTS nói riêng được sự quan tâmnhiều của xã hội Nhận thức về vai trò quyết định của văn hóa đối với sự pháttriển ở nước ta cũng được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó Ngay từNghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đãkhẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiềusâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹpnhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Nó vừa
là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, vừa là một trong những mụctiêu của chúng ta Nhằm bổ sung và hòan thiện tư tưởng được nêu trong Hội nghịlần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 5, khóa VIII, Đảng ta đã đề ra chính sách văn hóa trong kinh tế “Văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội [20, tr.55]
Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển trở thành vấn đề được quan tâm,nhận thức và vận dụng vào thực tiễn đổi mới ở nước ta Cùng với phát triển kinh
tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, Đảng ta nhấn mạnh phát triển văn
Trang 2hóa là nền tảng tinh thần của xã hội Xét về mặt lý luận, kinh tế - xã hội pháttriển, đời sống của người dân được nâng cao đó là tiền đề, điều kiện cho pháttriển văn hóa, đồng thời hoạt động văn hóa lại có tác động trở lại để thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững Để phát huy có hiệu quả hơn vaitrò của văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội và xử lý đúng đắn sự tác độngqua lại giữa kinh tế và văn hóa, Đảng ta trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội X,
XI chỉ rõ phải gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn nữa giữa văn hóa và kinh tế
Trong tính đa dạng thống nhất của nền văn hóa Việt Nam, văn hóa bản địacác DTTS ở Lâm Đồng do những đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội
và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, mang những nét đặc trưng riêng có,những đặc điểm khác biệt Những yếu tố văn hóa đặc trưng của các tộc ngườibản địa trở thành những tiềm năng đặc biệt, những nguồn tài nguyên quan trọngcho sự phát triển kinh tế - xã hội ở Lâm Đồng Đặc biệt là tiềm năng kinh tế, dulịch từ nguồn tài nguyên văn hóa bản địa Đó là niềm tự hào của các tộc ngườibản địa ở Nam Tây Nguyên cần được các nhà khoa học nghiên cứu để phát huy,phát triển Tuy vậy, văn hóa bản địa các DTTS bản địa Lâm Đồng trong nhữngnăm qua chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát huy được vai trò động lựcđối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nhiều yếu tố văn hóa đang ngày càng maimột, thậm chí một số loại hình, lĩnh vực có nguy cơ mất hẳn, có những yếu tố đãtrở nên lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp, có những yếu tố mang tính chất hiệnđại Sự tác động của cơ chế thị trường và ảnh hưởng của các tôn giáo mới, mộtmặt làm cho văn hóa bản địa các dân tộc đang có những biến đổi, đã có nhữngnét văn hóa riêng bị phai nhạt, bị đồng hóa, mất đi bản sắc riêng, một mặt làmcho văn hóa bản địa có biểu hiện lai căng, hoặc biến các di sản văn hóa truyềnthống của cư dân bản địa Lâm Đồng thành những "sản phẩm lạc hậu", khôngphù hợp với cuộc sống hiện tại, cơ cấu xã hội và quan hệ giữa các thành viêntrong buôn làng nay đã có nhiều biến đổi lớn, làm cho sinh hoạt cộng đồng ít gắn
bó hơn, không còn tác dụng nuôi dưỡng nền văn hóa truyền thống và ảnh hưởngđến củng cố khối đoàn kết dân tộc Do vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội, trong xu thế mở cửa, hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa, cần phát phát huy
Trang 3các giá trị văn hóa với những bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc để làmphong phú nền văn hóa chung của cả nước góp phần nâng cao tính thống nhất đadạng của văn hóa Việt, đấu tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa đểchia rẽ, phá họai khối đại đoàn kết các dân tộc Lâm Đồng hiện vẫn còn là tỉnhnghèo, quy mô nền kinh tế nhỏ; chưa khai thác và phát huy tốt tiềm năng và lợithế của tỉnh; chưa phát huy được vai trò động lực của văn hóa đối với sự pháttriển Thời gian qua, những yếu tố văn hóa bản địa Lâm Đồng mới chỉ được khaithác phục vụ cho yêu cầu trước mắt, chứ chưa chú ý tới việc nghiên cứu, nhằmkhẳng định và bảo tồn cũng như đề ra các giải pháp phát huy các giá trị văn hóaphục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phục vụ cho phát triển kinh tế dulịch ở địa phương Giữ gìn, bào tồn và phát huy các giá trị văn hóa địa các dântộc thiểu số ở Lâm Đồng là một trong những nhân tố quan trọng, góp phần nângcao chất lượng cuộc sống của người dân bản địa ở nam Tây Nguyên, làm chonền tảng tinh thần của xã hội ngày càng vững chắc góp phần phát triển kinh tế -
xã hội
Xuất phát từ tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển, để đánh giáđúng vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm đồng đối với sự phát triểnkinh tế- xã hội của tỉnh, phát hiện ra những xu hướng biến đổi và đưa ra nhữnggiải pháp thích hợp, tích cực cho việc bảo tồn và phát huy vai trò của văn hóa bảnđịa các dân tộc thiểu số, biến các giá trị văn hóa của các dân tộc bản địa LâmĐồng thành tài sản văn hóa góp phần phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội ở địa phương, học viên đã chọn đề tài “Phát huy vai trò văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay”.
2 Tình hình nghiên cứu
Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, vấn đề văn hóa đã có nhiều họcgiả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh và góc độ khác nhau Sau đây là một
số công trình, bài viết cơ bản về văn hóa, văn hóa tộc người
Những nghiên cứu về văn hóa nói chung có các công trình: “Văn hóa và
đổi mới” (Nxb Chính trị quốc gia H, 1994) của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng,
trong đó tác giả đề cập đến văn hóa một cách có hệ thống, công trình đã nêu lên
Trang 4mối quan hệ giữa văn hóa và đổi mới “Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hóa
Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1989) của GS.TS Đỗ Huy, PGS.
Trường Lưu “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” (2001) của GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn - TS Phạm Văn
Đức - TS Hồ Sĩ Quý, Nxb Chính trị quốc gia; Chương trình Khoa học - Công
nghệ cấp nhà nước mã số KX-05 “Phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân
lực trong thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá” giai đoạn 2001-2005, do GS,VS
Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm gồm 12 đề tài Các công trình này đã tập trunglàm rõ 3 chủ đề lớn đó là: Văn hoá và văn hoá Việt Nam đầu TK XXI; con người
và con người Việt Nam đầu TK XXI; phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhânlực Việt Nam đầu TK XXI Trong đó đáng chú ý là những phương pháp tiếp cậnmới và những kết quả mới nhất trong nghiên cứu về con người, nguồn lực conngười, đời sống văn hoá và xu hướng phát triển văn hoá ở các vùng miền khácnhau, về quan hệ nhân quả phức tạp giữa văn hoá - con người - nguồn nhân lực
Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình khác như: “Văn hóa các dân
tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng” (2002), (Nông Quốc Chấn - Huỳnh Khái
Vinh, Nxb Chính trị quốc gia; Phạm Minh Hạc với tác phẩm “Phát triển văn
hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hóa nhân loại” (1996),
Nxb Khoa học Xã hội; “Sáng tạo và bảo tồn giá trị văn hóa, văn nghệ các dân
tộc thiểu số Việt Nam” (1998), của Hội Văn học - Nghệ thuật các dân tộc thiểu
số Việt Nam, in tại trường Trung học Kỹ thuận In, Hà Nội
Nhìn chung, các công trình này nghiên cứu văn hóa dưới góc độ chung và
đã đạt được những thành công to lớn trong việc nghiên cứu khái niệm, cấu trúc,giá trị, và hình thức biểu hiện của văn hóa
Các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển, về vaitrò của văn hóa trong nền kinh tế thị trường có: Trần Ngọc Hiên, "Văn hóa vàphát triển - từ góc nhìn Việt Nam", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, (1993); PhạmVăn Đồng, "Văn hóa và đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (1994); PhạmXuân Nam, "Văn hóa vì sự phát triển", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (1998)
Trang 5Hồ Sĩ Vịnh, "Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới", Nxb Chính trị quốcgia, Hà Nội, (1999).
Những nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số và các DTTS ở Tây
Nguyên có các công trình: “Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong
cuộc sống hôm nay”, Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số
7/2000 Đề tài: “Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số
ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết
học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa
Ngô Đức Thịnh: “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam” (1993)
đã xác định tính không đồng nhất giữa không gian văn hóa Tây Nguyên và
không gian lãnh thổ Tây Nguyên Các nghiên cứu: “Giữ gìn và phát huy các giá
trị văn hóa Tây Nguyên” (1996) do Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III
tổ chức và thực hiện; “Xu hướng vận động của nền văn hóa các dân tộc ở khu
vực Tây Nguyên” (1995) của Nguyên Hồng Sơn; “Văn hoá các dân tộc Tây Nguyên - thực trạng và những vấn đề đặt ra” (2004) của GS.TS Trần Văn Bính.Qua điều tra, tổng kết thực tiến, các công trình nghiên cứu này đã đánh giá, phântích tương đối toàn diện, khách quan về thực trạng đời sống văn hoá của một sốdân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên trong công cuộc đổi mới, đề xuất các giảipháp vừa cơ bản vừa cấp bách nhằm tiếp tục phát triển đời sống văn hoá các dântộc trên địa bàn dưới tác động của quá trình thực hiện sự nghiệp phát huy và bảotồn văn hoá dân tộc
Những nghiên cứu về văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng có:
“Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng”(1986) do Mạc Đường chủ biên, Sở văn
hóa tỉnh Lâm Đồng xuất bản; “Người Chu Ru ở Lâm Đồng” (2009) do TSHoàng Sơn chủ biên, nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc
Trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn
1996 của tỉnh Lâm Đồng, Trung tâm Phát triển Kinh tế - Văn hóa - Xã hội (Đạihọc Đà Lạt) đã tiến hành triển khai đề tài "Văn hóa truyền thống Cơ ho, Mạ", doCao Thế Trình (chủ nhiệm), đề tài thuộc Sở KHCN & MT Lâm Đồng Đề tài này
Trang 6gộp hai dân tộc Mạ và K’Ho để nghiên cứu; trọng tâm nghiên cứu là các đặcđiểm văn hoá truyền thống nên các tác giả coi trọng cả tư liệu cũ, càng xưa càngtốt; có nghiên cứu tổ chức gia đình - dòng họ - buôn (bon) làng theo quan niệm
đó là văn hoá xã hội - văn hoá tổ chức cộng đồng
Đề tài “Điều tra di sản văn hóa Kơho tỉnh Lâm Đồng” (1998) và đề tài
“Điều tra di sản văn hóa Mạ, Churu tỉnh Lâm Đồng” (1999), do Nguyễn Vũ
Hoàng (chủ nhiệm), đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh Cả hai đề tài đều xácđịnh vốn di sản văn hóa các nhóm dân tộc bản địa Lâm Đồng Trên cơ sở điềutra phân tích, đề tài đã khẳng định giá trị, nét độc đáo của di sản văn hóa K’Ho,
Mạ, Churu
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Phát huy mặt tích cực của luật tụctrong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng để xây dựng thôn buôn vănhóa” (2006), do ThS Đặng Trọng Hộ (Chủ nhiệm) Đề tài đã làm rõ tác động củaluật tục và những cơ chế tác động của nó đến đời sống đồng bào các tộc ngườithiểu số trong các thôn văn hóa và những thôn đăng ký xây dựng thôn văn hóa ởLâm Đồng và đề xuất những giải pháp để phát huy những mặt tích cực của luậttục trong xây dựng thôn văn hóa
Vấn đề văn hóa còn được nhiều tác giả nghiên cứu tiếp cận dưới các góc
độ khác nhau được thể hiện trong các bài viết đã đăng trên các tạp chí như: “Giữgìn và phát huy giá trị văn hoá Tây Nguyên trong quá trình xây dựng đời sốngvăn hoá tinh thần ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số”, Trương Minh Dục -
Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 1/2003; “Văn hoá các tộc người Tây Nguyên
-Thành tựu và thực trạng” Tô Ngọc Thanh - Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số
1/2003; “Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần vùng núi các tỉnh miền Trung”
-Hồ Tấn Sáng, Tạp chí Cộng sản số 17 - 10/1997; “Văn hoá dân gian và bản sắc
văn hoá dân tộc” Ngô Đức Thịnh, Tạp chí Cộng sản số 8-02/2001; Đặng Hữu
Toàn, "Vai trò của văn hóa trong sự phát triển lâu bền theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Triết học, số 2/1999.
Những công trình khoa học, sách báo, tạp chí nêu trên đã khẳng định tầmquan trọng của việc bảo tồn những giá trị, những di sản văn hóa nói chung và
Trang 7văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số nói riêng trong công cuộc đổi mới Tuynhiên cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về phát huy vai tròvăn hóa bản địa các dân tộc thiếu số Lâm Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của văn hóa
và thực trạng phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng, luận văn dự báo xu hướng biếnđổi và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò văn hóa bản địacác dân tộc thiếu số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong côngcuộc đổi mới, hội nhập quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: “Vai trò văn hóa bản địa đối với sựphát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay”
* Phạm vi nghiên cứu:
Văn hóa là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, đa dạng và phong phú, đề tàinghiên cứu, làm rõ vai trò của văn hóa bản địa Lâm Đồng đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội những không đi vào nghiên cứu toàn bộ các vấn đề thuộc về vănhóa bản địa, mà chỉ tập trung ở vai trò của văn hoá bản địa các DTTS Lâm Đồng
Trang 8trên các phương diện: phương thức sinh hoạt - kinh tế, kiến trúc, tri thức bản địa,nghề truyền thống, ý thức cộng đồng, thiết chế xã hội, luật tục, lễ hội, tín ngưỡng
và tôn giáo, nhằm kế thừa, bảo tồn và phát huy nó Đặc biệt chú trọng ở văn hoátinh thần
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận và thực tiến của đề tài:
Việc nghiên cứu và trình bày của luận văn dựa trên cơ sở lý luận và cácnguyên tắc phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
và các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến đề tài Thamkhảo một số công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố, có nội dungliên quan tới vấn đề mà luận văn đề cập
Đề tài được tiếp cận theo quan điểm lịch sử cụ thể và phương pháp cấutrúc hệ thống về văn hóa và vai trò của văn hóa bản địa đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội Nghiên cứu vốn văn hoá nền cùng với những tập quán sản xuất, sinhhoạt cộng đồng của đồng bào các tộc người bản địa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng,chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề; đồng thời kếthợp nhuần nhuyễn các phương pháp: Điều tra; lịch sử và lôgíc; phân tích và tổnghợp; quy nạp và diễn dịch;… nhằm đạt tới mục đích đề tài đã đề ra
6 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn trình bày một cách tương đối rõ ràng cơ sở lý luận về văn hóa
và vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế - xãhội ở tỉnh Lâm Đồng”
- Làm rõ thực trạng phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu sốđối với sự phát triển kinh - xã hội của tỉnh Lâm Đồng và chỉ rõ được những vấn đềđặt ra đối với văn hóa trước sự tác động của xu hướng mở cửa, hội nhập quốc tế
- Đưa ra những dự báo về xu hướng biến đổi của văn hóa bản địa và đềxuất một số giải pháp phát huy vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số đối
Trang 9* Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Luận văn góp phần củng cố nhận thức lý luận về văn hóa, vai trò văn hóabản địa các dân tộc thiếu số Lâm Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, từ
đó góp phần nâng cao nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh
tế, hình thành nên ở mỗi người thái độ đúng đắn, hợp quy luật trong việc giữ gìn,bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa nói chung và văn hóa bản địa các dân tộcthiểu số nói riêng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Luận văn còn có thể sửdụng vào việc nghiên cứu những vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc ở các tỉnhTây Nguyên trong giai đoạn hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm có 3 chương 8 tiết:
Chương 1: Vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số ở tỉnh Lâm
Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - cơ sở lý luận
Chương 2: Vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm
Đồng đối với phát triển kinh tế - xã hội - thực trạng và vấn đề đặt ra
Chương 3: Xu hướng biến đổi và giải pháp phát huy vai trò văn hóa bản
địa các dân tộc thiểu số đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồngtrong giai đoạn hiện nay
Trang 10Chương 1 VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ BẢN ĐỊA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI - CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Văn hóa đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1 Quan niệm về văn hóa
Văn hóa, là thuật ngữ đa nghĩa, thường được xem xét từ nhiều khía cạnhkhác nhau Cho đế nay người ta đã thống kê có hơn 400 định nghĩa về văn hóa.Điều đó có nghĩa là sự xác định khái niệm văn hóa không đơn giản bởi mỗi họcgiả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợpvới vấn đề mình cần nghiên cứu
Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở cả phương Đôngcũng như ở phương Tây Ở phương Đông, trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc,văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng
“văn hóa” và “giáo hóa”, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa conngười Ở nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hộivăn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân củamỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội
Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, (Cullture) nghĩa làcày cấy, vun trồng - gắn liền với hoạt động nông nghiệp Sau này, nội dung đó pháttriển thành ý nghĩa hoạt động vun trồng, bù đắp tinh thần của con người, gắn chặtvới lao động sáng tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người
Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ họcthức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt đểchỉ trình độ phát triển của một giai đoạn trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóabao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phongtục, lối sống, lao động
Chủ nghĩa Mác-Lênin xem văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và
Trang 11lịch sử, tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội [49,tr.507]
Cũng bàn về văn hóa, Giáo sư, tiến sĩ A.I Ácnônđốp cho rằng: "Văn hóa
là hiện tượng phức tạp và đa diện Nó bao gồm cả hoạt động sáng tạo, tức là toàn
bộ quá trình sản xuất ra tư tưởng và vật chất hóa các tư tưởng đó; cả những tínhcách của con người như một chủ thể hoạt động, và cả bản thân nói chung nhữnggiá trị vật chất và tinh thần được tạo ra trong quá trình hoạt động ấy Một địnhnghĩa thỏa đáng về văn hóa cần phải bao hàm tất cả các mặt trên đây" [1, tr.32]
Trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ tổng thể các hiện tượng bao chứa trong kháiniệm phức tạp này, A.I.Ácnônđốp đã đề xuất một định nghĩa khái quát như sau:
"Văn hóa là hoạt động sáng tạo tích cực của con người (cá thể nhóm xãhội, giai cấp, dân tộc, xã hội nói chung) thực hiện trong các lĩnh vực sản xuất vậtchất và tinh thần, nắm bắt và khai thác thế giới, quá trình này sẽ sản xuất, bảoquản phân phối, trao đổi và tiêu thụ những giá trị vật chất và tinh thần mang ýnghĩa xã hội, đồng thời nó là một tổng hợp chính những giá trị đã vật thể hóahoạt động sáng tạo của người" [1, tr.33] Tuy đến nay đã có hàng trăm địnhnghĩa khác nhau về văn hóa song các định nghĩa đều thống nhất chung ở mộtđiểm chủ yếu là nhấn mạnh đến sự sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn của vănhóa, là phương thức tồn tại đặc hữu của loài người, khác cơ bản với tổ chức đờisống các quần thể sinh vật trên trái đất Mọi thứ văn hóa đều thuộc về con người,văn hóa là đặc trưng cơ bản phân biệt con người với động vật… Con người sinh
ra từ tự nhiên, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển Văn hóa trướchết là sự thích nghi chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, đồng thời lại
là sự phát triển của sự thích nghi ấy.Với tính cách là một sinh vật, con người cómột bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên, nhưng với tính cách là một sinhvật có ý thức và sống thành xã hội thì con người lại có bản chất thứ hai đó là bảnchất văn hóa, vượt ra khỏi tự nhiên Như vậy, văn hóa được hình thành và pháttriển trong quan hệ thích nghi giữa con người với thiên nhiên, giữa con ngườivới con người Trải qua hàng ngàn năm thích nghi và cải tạo thế giới, nhữngkinh nghiệm mà con người tích lũy được đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự
Trang 12phát triển của văn hóa Văn hóa không chỉ bó hẹp trong quan hệ cá nhân gia đình
và cộng đồng mà còn mở rộng trong mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc trênthế giới Văn hóa hình thành trong quá trình tiếp xúc, giao lưu, sàng lọc, cải biếngiữa văn hóa bản địa với những nền văn hóa khác Do đó, văn hóa bao giờ cũngthể hiện sự đa dạng, phong phú nhưng luôn mang những nét độc đáo của dân tộc,đồng thời bao hàm tiềm ẩn những giá trị chung của nhân loại Bản chất cốt lõi và
cơ bản của văn hóa là sự sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn của con ngườiqua trường kỳ lịch sử Khi bàn về văn hóa Hồ Chí Minh viết:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, vănhọc, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và cácphương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòihỏi của sự sinh tồn [52, tr.431]
Quan niệm văn hóa của Hồ CHí Minh là một cách tiếp cận văn hóa từ ýnghĩa khái quát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác vềvăn hóa Hồ Chí Minh xuất phát từ cách tiếp cận mác - xít nhưng lại gần gũi vớinhận thức hiện đại, đã toát lên cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch
sử của văn hóa, về phạm vi rộng lớn của văn hóa, về mặt biểu hiện của văn hóatrong đời sống và toàn bộ sinh hoạt của con người Nguồn gốc của văn hóa theo HồChí Minh là do nhu cầu sinh tồn và mục đích sống của con người Con người khôngthể tồn tại nếu không có khả năng sáng tạo và phát minh ra văn hóa nhằm đối phóvới những thử thách của thiên nhiên và của xã hội Người đã xác định văn hóa baogồm những thành quả của sự sáng tạo cả về phương diện vật chất và tinh thần nhằmđáp ứng cho sự tồn tại và phát triển của loài người Và điều đặc biệt ở đây là Ngườicho rằng văn hóa không chỉ là sự sáng tạo mà còn là phương thức sử dụng sự sángtạo đó
Với cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất Hồ Chí Minh
đã đưa ra định nghĩa cô đọng về văn hóa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương
Trang 13thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thíchứng với những nhu cầu của đời sống và đời hỏi của sự sinh tồn” [53, tr.431]
Gần đây, đứng trước sự tiến công mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, vấn đềgiữ gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc, các quốc gia đang gặpphải những thách thức to lớn, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các dân tộcthiểu số Vì vậy, UNESCO đã nêu ra định nghĩa về văn hóa trên cơ sở nhấn mạnhđến nội dung này nhằm thức tỉnh tinh thần trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trongviệc chống xu thế nhất thể hóa văn hóa, hướng tới tôn trọng và bảo vệ những giá trịvăn hóa độc đáo của các quốc gia, các dân tộc:
Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vậtchất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhómngười trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục vànhững tín ngưỡng [42, tr.23]
GS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và
tinh thần, do con người, cộng đồng, dân tộc, loài người sáng tạo ra” [38, tr.56]
Như vậy, văn hóa bao gồm cả lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinhthần thể hiện năng lực sáng tạo độc đáo, riêng biệt của mỗi quốc gia, mỗi dân tộctrong qúa trình vận động và phát triển của mình Đó là tổng thể sống động cáchoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại.Qua các thế hệ, hoạt động sang tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, cáctruyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc,với các biểu hiện chính là: giá trị vật chất và giá trị tinh thần Văn hóa là sự pháttriển năng lực của con người trong quá trình không ngừng nâng cao trình độ làmchủ của mình đối với tự nhiên, xã hội và bản thân, nhằm thỏa mãn nhu cầu vềtinh thần và vật chất trong hoạt động thực tiễn hướng tới các giá trị nhân văn.Chính lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh điều đó Trên hànhtinh này không có gì quý hơn con người Con người vừa là chủ thể, vừa là sảnphẩm của văn hóa Điều đó được phản ánh rõ nét qua những đặc trưng và chứcnăng của văn hóa, gồm:
Trang 14- Một là, văn hóa có tính hệ thống Nhờ có tính hệ thống chúng ta hiểuđược văn hóa không phải là tập hợp, là phép cộng đơn thuần những hiện tượngvăn hóa mà văn hóa tồn tại với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động
của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Chính văn hóa làm tăng độ
ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để đối phó vớimôi trường tự nhiên và xã hội của mình
- Hai là, văn hóa có tính giá trị, nhưng là những giá trị kết tinh lao độngsáng tạo của con người trên các bình diện hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo
xã hội và cải tạo chính bản thân mình, hướng tới chân, thiện, mỹ Nghĩa là hướngtới sự tốt đẹp, nhân văn và không ngừng hoàn thiện của nhân loại Nói đến vănhóa không chỉ là nói đến những giá trị tĩnh, kết tinh ngưng đọng, mà còn là sự vậnđộng, phát triển và hoàn thiện những giá trị ấy trong thời gian và không gian Tínhgiá trị của văn hóa là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Tính giá
trị là đặc trưng quan trọng và cần để phân biệt giá trị với phi giá trị Nhờ vào đặc
trưng giá trị, theo mục đích chúng ta có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ chonhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần)
Văn hóa vật chất hay còn gọi là văn hóa đảm bảo đời sống, thể hiện mốiquan hệ giữa con người với thiên nhiên, cách thích ứng với điều kiện tự nhiên đểtiến hành sản xuất ra của cải nuôi sống con người, thỏa mãn nhu cầu của conngười trong môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Đó là những phương tiện
kỹ thuật sản xuất và những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống phục vụ nhu cầu
ăn, ở mặc, phương tiện đi lại Những sáng tạo của con người trình sản xuất, cảitạo tự nhiên không chỉ được thể hiện bằng những sản phẩm được vật chất hóanhằm thỏa mãn những nhu cầu đó của con người mà nó còn tạo ra sắc thái vănhóa vùng, miền, dân tộc (Tùy thuộc các điều kiện tự nhiên cũng như xã hội củadân tộc )
Văn hóa tinh thần là những sản phẩm lao động trí óc của con người đượcsáng tạo trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Nó bao gồm các chuẩnmực trong xã hội và quan hệ thẩm mỹ của con người với thực tại (tức là quan hệgiữa con người với thiên nhiên, với con người ) đồng thời còn bao hàm cả quan
Trang 15hệ giữa con người của cõi sống và con người của cõi chết Được thể hiện quacác hoạt động sáng tạo như tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật, nghi lễ, lễ hội Giátrị tinh thần còn bao gồm các tư tưởng có giá trị sử dụng (khoa học, giáo dục…),trong đó có cả bản thân cách thức sáng tạo ra các giá trị mà qua kinh nghiệmngàn đời, con người đã tích lũy được Theo nghĩa này, văn hóa có thể được xemnhư một dạng hoạt động Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ có tính chất tương đối,bởi ngay trong sản phẩm vật chất cũng luôn bao hàm trong đó cả những giá trịtinh thần.
Đồng thời, dựa vào tính giá trị chúng ta còn có thể phân biệt văn hóa vớihậu quả của nó hoặc những hiện tượng phi văn hóa, loại ra những cách hiểu quárộng, quy về văn hóa mọi hoạt động của con người Theo thời gian có thể phânbiệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Trong các giá trị nhất thời lại có thể
phân biệt giá trị đã lỗi thời, giá trị hiện hành và giá trị đang hình thành Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai của mình là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trì
được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứngvới những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát triển Từ
việc điều chỉnh xã hội, văn hóa còn có chức năng bộ phận là định hướng các
chuẩn mực, điều chỉnh các ứng xử của con người và chức năng phái sinh là động lực cho sự phát triển của xã hội Không phải ngẫu nhiên mà UNESCO nhấn mạnh
rằng văn hóa chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết của phát triển
- Ba là, hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ,nên văn hóa có tính lịch sử Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiềusâu và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại vàphân bố lại các giá trị
Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa, đó lànhững giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dướinhững khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người quakhông gian và thời gian và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tậpquán, nghi lễ, luật pháp, dư luận… Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo
Trang 16dục Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng thứ ba của văn hóa Nhưng
văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định(truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trị đã ổnđịnh và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà conngười hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hìnhthành nhân cách ở con người
Khái niệm văn hóa được tiếp cận từ hệ thống cấu trúc, chức năng như vậycho thấy, yếu tố hàng đầu của văn hóa chính là sự hiểu biết, bao gồm từ tri thứckinh nghiệm đến tri thức khoa học và sự khôn ngoan mà con người, cộng đồngngười đã tích lũy được trong quá trình lao động sản xuất, học tập, rèn luyện ýchí… để sinh tồn qua các thế hệ Hiểu biết đó lại định hướng cho những ứng xửcủa con người trong các mối quan hệ và trở thành nền tảng cho mỗi cộng đồngngười cũng như mỗi cá nhân trong cộng đồng đó Để trên cơ sở đó con người cóthể xây dựng cho mình một kế hoạch kinh tế, một chiến lược phát triển thực sự
vì con người, hướng con người tới những giá trị tốt đẹp, tới cái đúng, cái thiện…trong cuộc sống
Như vậy, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọimặt của cuộc sống (cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng nhưtrong hiện đại Do vậy, theo quan niệm chung, khái niệm văn hóa có thể đượcđịnh nghĩa như sau: “Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần, đượchình thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình hoạt động thực tiễn của conngười, cộng đồng người trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội”
1.1.2 Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Khẳng định, văn hóa là hệ thống các giá trị, các truyền thống, các thị hiếu
và lối sống được các cộng đồng người sáng tạo nên qua lịch sử phát triển hàngthế kỷ, dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình, thì rõ ràng
văn hóa không hề đứng ngoài mà ngược lại nằm ở trong, là “ nguồn lực nội sinh
quan trọng nhất” [6] của sự phát triển kinh tế - xã hội
Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, biểu hiện ở vaitrò của tất cả các yếu tố cấu thành văn hóa: khoa học, giáo dục - đào tạo, đạo đức
Trang 17xã hội, thiết chế xã hội, phong tục, tín ngưỡng, tri thức… và những kinh nghiệmđược tích lũy trong quá trình lao động sản xuất Tất cả những yếu tố đó, có ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Là sản phẩm sáng tạo của con người, nhưng văn hóa lại chi phối toàn bộhoạt động của con người Văn hóa là “hoạt động sản xuất nhằm cung cấp nănglượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện, xa rờitrạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật phát triển thành con người Conngười tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởngthụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con người và xã hội loài người càng phát triểnthì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao Đáp ứng nhu cầu văn hóatinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất chocon người và xã hội” [2]
Dù ở thời kỳ nào, ở quốc gia nào còn người cũng đều đóng vai trò quyếtđịnh đôi với quá trình sản xuất, mà con người trước hết lại là một thực thể vănhóa Thực tiến đã chứng minh, sự phát triển của mỗi quốc gia không phải chỉ ởtài nguyên thiên nhiên giàu có, đa dạng mà quyết định là ở sự sáng tạo, trí tuệ, tàinăng, đạo đức của con người, ở trong hàm lượng và sự phân bố tài nguyên trithức trong cơ cấu sản xuất Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêucuối cùng là văn hoá Trong mỗi chính sách kinh tế - xã hội luôn bao hàm nộidung và mục tiêu văn hoá Văn hoá có khả năng khơi dậy tiềm năng sáng tạo củacon người - nguồn nhân lực quyết định sự phát triển xã hội Điều đó cho thấy,văn hóa và kinh tế có quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, kinh tế vừa đảmbảo cho những nhu cầu sinh tồn của con người, vừa tạo điều kiện cho văn hóaphát triển Kinh tế không thể phát triển nếu không có một nền tảng văn hóa, cònvăn hóa không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến sự phát triểnkinh tế Nói cách khác, sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc có năng động,hiệu quả, bền vững hay không phụ thuộc vào sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế vàvăn hóa
Chính vì vậy, trong lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1987
- 1997) Tổng thư ký UNESCO đã nói: “Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu
Trang 18phát triển kinh tế mà tách khỏi môi trường văn hóa, thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về kinh tế, lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy giảm rất nhiều” [77, tr.5]
Nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa, ngay từ khi mới ra đời Đảng
ta đã quan niệm: văn hóa có khả năng to lớn góp phần giải phóng dân tộc, giảiphóng con người, cải tạo xã hội Hiểu rõ biết đọc, biết viết là tiền đề của vănhóa, là ngưỡng cửa bước vào văn hóa của một dân tộc trước kia bị nô dịch, bịkìm kẹp trong chính sách ngu dân, nên ngay sau khi Cách mạng tháng 8/1945thành công Đảng ta và Bác Hồ đã nêu cao khẩu hiệu 3 chống; chống giặc đói,chống giặc dốt, chống giặc ngoại xâm
Vị trí, vai trò của văn hoá trong đời sống xã hội và đối với sự phát triển đãđược Đảng ta nhận thức càng ngày càng rõ hơn, sâu sắc hơn và thể hiện rõ trongVăn kiện Đại hội VIII, và là quan điểm chỉ đạo cơ bản được xác định rõ trongNghị quyết Trung ương V khóa VIII: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội" [19,tr.110] Hội nghị lần thứ 10, BCHTW Đảng khóa IX tiếp tục khẳng định: “Bảođảm gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốnĐảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần củaXH; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyếtđịnh bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” [23] Pháthuy vai trò nền tảng tinh thần xã hội của văn hóa là phải “làm cho văn hóa thấmsâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới củacon người Việt Nam, kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc, và tiếp thu tinhhoa văn hóa của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hóa đồi trụy, độc hại.Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạtcủa nhân dân” [24, tr.213]
Văn hóa “biểu hiện sức sống, sức sáng tạo, sức phát triển, sức mạnh tiềmtàng và bản lĩnh, cốt cách của dân tộc được thể hiện qua truyền thống văn hóa
dân tộc và hệ giá trị văn hóa” [6], là sự hiểu biết, là tri thức, kinh nghiệm và sự
khôn ngoan tích lũy được trong quá trình học tập, lao động, đấu tranh để duy trì,
Trang 19phát triển cuộc sống của con người; đó là hệ giá trị và chuẩn mực xã hội truyềnthống, đã được đúc kết từ trong lịch sử dân tộc, quốc gia, tạo nên bản sắc vănhoá, là những nét riêng để phân biệt với các dân tộc khác, quốc gia khác Bản sắcdân tộc đó hình thành nên bản lĩnh tinh thần của cộng đồng dân tộc, của mỗiquốc gia và hình thành nên niềm tin, lý tưởng chung của cộng đồng, được chắtlọc kế thừa phát huy và phát triển qua các thế hệ Được vật chất hóa trong cấutrúc thiết chế chính trị - xã hội và trong hoạt động sống để dân tộc đó, quốc gia
đó hướng tới Điều đó cho thấy, khả năng phát triển của dân tộc không đơn thuầnchỉ dựa vào cơ sở vật chất mà cơ bản và chủ yếu là ở khả năng phát huy nguồnlực của con người Quan hệ giữa kinh tế và văn hóa được chỉ rõ trong Nghịquyết Trung ương V khóa VIII: “Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mụctiêu cuối cùng là văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triểntoàn diện, nhưng văn hóa không chỉ là kết quả của kinh tế mà còn là và phải làđộng lực của sự phát triển kinh tế” [20, tr.55] Xét cho cùng, mọi sự phát triểnđều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càngcao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càngphát triển, tiến bộ Với vai trò là mục tiêu của sự phát triển, văn hoá hướng vào
sự hoàn thiện của con người, điều tiết hành vi, mối quan hệ giữa người với ngườibằng giá trị và chuẩn mực xã hội, bằng văn hoá Văn hóa thúc đẩy, sự hoàn thiệncủa con người cả về thể lực trí lực và nhân cách Sự điều tiết đó phải hướng tớimục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, vì hạnh phúc của con người: nối dàicuộc sống, an sinh xã hội, điều tiết sự công bằng xã hội Một xã hội phát triểncuối cùng sẽ dẫn đến một xã hội có văn hóa cao, tức là xã hội phải đảm bảo đượcmột cuộc sống đầy đủ, phong phú, giải phóng được mọi tiềm lực tuy duy và sángtạo, phát huy được mọi giá trị đạo đức Bởi sự phát triển là nâng cao chất lượngcuộc sống của con người trong sự kết hợp hài hòa trong điều kiện vật chất vàtinh thần
Bản chất văn hóa là phát triển, là sáng tạo, nên văn hóa còn đóng vai tròđộng lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Bởi, phát triển mang tính đồng bộ, hệthống, nó biểu hiện bằng chất lượng sống Ngày nay, trong mọi lĩnh vực của đời
Trang 20sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, đang cho thấy: ở nhiều quốc gia pháttriển ngoài các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật, cộng nghệ thìtiềm năng sáng tạo của con người đang là nguồn lực chủ yếu Vai trò đó biểuhiện ở tâm lòng, đạo đức, hiểu biết, lối sống phù hợp… và ở hành vi của cánhân, của cộng đồng Văn hoá phải làm bà đỡ cho sự ra đời của nền kinh tế tiêntiến văn minh thông qua việc hoàn thành hệ thống pháp lý và đạo lý xã hội,chống lại những tiêu cực phản giá trị, phản văn hoá Phát huy vai trò điều tiếtphát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nhân tố chủ quan và kháchquan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài, thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội ổn định, bền vững Trong việc phát triển nguồn lực khoa học công nghệ,không chỉ là quá trình phát triển KHKT công nghệ mà cái chính là quá trìnhchuyển đổi tư duy của cả một cộng đồng dân tộc, nâng cao tầm văn hoá và trình
độ văn hoá của dân tộc, là quá trình làm thay đổi lối sống, nếp sống của xã hộicho phù hợp với sự phát triển của thời đại công nghiệp
Con người là vốn quý nhất, song văn hoá lại có ý nghĩa làm cho tốt đẹp hơn
về đạo lý, đạo đức của con người Con người làm ra văn hoá, nhưng văn hoá hóacon người, văn hoá phải làm tốt vai trò hình thành nhân cách - yếu tố cốt lõi trongnguồn lực con người Con người là nguồn lực vô hạn, nhưng phải là con người cóvăn hoá Đúng như khẳng định của ĐCSVN: “Mọi hoạt động văn hoá nhằm xâydựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, thểchất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, tôn trọngnghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng vàngoài xã hội Văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhâncách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ýchí tự lực tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [15, tr.114] Với chức năng điềutiết của mình, văn hoá phải luôn luôn làm cho con người sống tốt hơn, sống có đạo
lý, phẩm giá Văn hoá làm cho con người bao giờ cũng sống cùng, sống với, sống
vì mọi người Do vậy, văn hóa không chỉ phát huy mặt tích cực mà còn khắc phụcmặt hạn chế của các điều kiện chủ quan, khách quan, cũng như các điều kiện bên
Trang 21trong và bên ngoài đảm bảo cho sự phát triển hài hòa, ổn định bền vững của xãhội, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Như vậy, văn hóa không thể thiếu vắng trong động lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội “Văn hoá, với sự thẩm thấu lẫn nhau cả vật chất lẫn tinhthần, cả quá khứ - hiện tại và tương lai, cả truyền thống và hiện đại, cả tinh thần,bản sắc dân tộc với tinh hoa nhân loại, tinh thần và xu thế của thời đại, đó chính
là động lực của phát triển và phát triển bền vững” [4] Với tư cách là tổng thể cácgiá trị vật chất và tinh thần, trong đời sống xã hội văn hóa luôn luôn can thiệpvào các quá trình xã hội thông qua sự đánh giá của tất cả các chủ thể xã hội, từcác cá nhân riêng lẻ đến toàn bộ cộng đồng Văn hóa là sự biểu hiện của cáchthức mà con người tồn tại, là tổng thể những giá trị mà con người đã, đang và sẽtạo ra, nên văn hóa không chỉ chi phối, tác động mà còn có khả năng quy định sựphát triển của xã hội Những bài học kinh nghiệm từ những thập kỷ qua trên toànthế giới đã chỉ ra rằng những phương thức phát triển nào có tính đến yếu tố vănhóa địa phương và dân tộc thường có khả năng thành công và ổn định cao hơn
1.2 Vai trò văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm Đồng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh
Nếu như văn hóa dân tộc là cội nguồn của nội lực quốc gia và nó gắn bómật thiết với cuộc sống của con người, có vai trò rất quan trọng trong việcquyết định tính dân tộc cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội, thì văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm Đồng là một bộ phận và lànét đặc trưng trong văn hóa Việt, nó không chỉ góp phần tạo nên tính đa dạngphong phú cho bản sắc văn hóa Việt mà còn có vai trò hết sức quan trọng Vìtrình độ nhận thức, thưởng thức văn hóa, giữ gìn, phát huy vai trò văn hóa củacác tộc người bản địa không chỉ ảnh hưởng đến địa phương nơi họ cư trú mà cònảnh hưởng đến toàn bộ công cuộc xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội Ở đây đề tài dùng từ “bản địa” là để chỉ bộ phận cư dân gốc,
những cư dân đã cư trú lâu đời trên xứ sở này, và hệ thống giá trị văn hóa củacác cư dân đó, bao gồm cư dân của các tộc người: K’Ho, Churu, Mạ, Mnông
Trang 22Các DTTS bản địa Lâm Đồng tuy có sự khác nhau về nguồn gốc và ngônngữ, song ngay từ khi lựa chọn mảnh đất nam Tây Nguyên này làm địa bàn cưtrú, thì trong quá trình sinh sống chung trên cùng lãnh thổ, vừa có sự cộng cưvừa có sự giao lưu về văn hóa, họ cũng đồng thời từng bước tạo dựng nên mộtnền văn hóa đậm đà sắc thái bản địa, phù hợp với những điều kiện môi trườngsinh thái mà họ cư trú cũng như trình độ nhận thức và các điều kiện kinh tế - xãhội mà họ đạt được Đó là hệ thống các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, biểuhiện kết tinh của những hoạt động về sản xuất, về tư duy, về ứng xử xã hội vàứng xử với tự nhiên trong không gian sinh tồn của các cư dân bản địa được lưutruyền và phát triển qua bao thế hệ.
1.2.1 Văn hóa vật chất và vai trò của nó
Để thích nghi với điều kiện môi trường sống, đặc biệt là núi rừng trùngđiệp, sự chia cắt khắc nghiệt và với một số dân ít ỏi, thưa thớt, văn hoá vật chấtcủa đồng bào các DTTS bản địa Lâm Đồng có những nét độc đáo riêng biệt, biểuhiện ở:
Vai trò của phương thức sản xuất nương rẫy và tri thức kinh nghiệm.Với nền nông nghiệp nương rẫy, phương thức sản xuất truyền thống củađồng bào bản địa Lâm Đồng là trồng trọt, chăn nuôi và chiếm đoạt sản phẩm của
tự nhiên Cư trú lâu đời trên vùng rừng núi cao, đa số trong các tộc người bản
địa, dựa vào rừng núi vây quanh để làm rẫy lúa theo thời vụ của nông lịch dângian: phát, đốt, chọc, trỉa… Canh tác nương rẫy theo kiểu luân canh như vậy đòihỏi một không gian sinh tồn rộng, nên thói quen trong cuộc sống và sinh hoạtcủa các DTTS bản địa Lâm Đồng là chuyển dịch thường xuyên Do vậy, nếpsống của họ khá tạm bợ, sơ sài, ít nhiều hình thành nên thói quen tùy tiện và cótập quán du canh, du cư Tuy nhiên nét đặc trưng lại là khả năng thích nghinhanh với cái mới và sự thay đổi Cũng có một số nhóm người ở các tộc ngườibản địa lại sống nhờ canh tác lúa nước, những vẫn tiến hành phát nương, làm rẫy
và khai thác rừng như là nguồn bổ sung cho đời sống(1) Rẫy của đồng bào dân
( 1) Phần lớn cư dân tộc người Chu ru trồng lúa nước, còn phát rừng làm rẫy cũng là một hoạt động quan trọng, những đây chỉ là một hình thái kinh tế phụ [67, tr.26].
Trong tộc người K’Ho thì nhóm người Srê, người Lạt…phương thúc canh tác chính là ruộng nước
Trang 23tộc bản địa là rẫy đa canh tức là vừa trồng cây lương thực vừa trồng cây thựcphẩm Lương thực chính của các dân tộc này là lúa, bắp; thực phẩm thường làmột số loại rau, đậu trồng quanh nhà hoặc bên rẫy xen với lương thực, ngoài ramột số rau, măng rừng cũng được họ hái về sử dụng trong mùa giáp hạt… Chănnuôi với đồng bào bản địa cũng là một hoạt động hỗ trợ đắc lực cho trồng trọt vàcác hoạt động văn hóa phi vật thể khác Các vật nuôi thường là: trâu, heo, dê,ngựa, gà, vịt trong đó trâu, ngựa được nuôi chủ yếu để dùng làm sức kéo còncác loại gia súc, gia cầm khác được dùng vào các nghi lễ của cộng đồng, nghi lễvòng đời và nhất là nghi lễ nông nghiệp Kỹ thuật chăn nuôi của đồng bào chủyếu là theo kiểu nửa thả rông Bên cạnh kinh tế sản xuất, đồng bào còn có kinh tếchiếm đoạt biểu hiện chủ yếu là hái lượm và săn bắt, trong đó săn bắn giữ vị tríquan trọng trong đời sống của họ nhất là vào những năm mất mùa hay là vàonhững tháng giáp hạt.
Công cụ sản xuất của các cư dân bản địa Lâm Đồng, còn thô sơ nhưng cókiểu dáng phù hợp với sự di chuyển trên núi cao, trong rừng rậm Đồ sắt phổbiến có: rìu, xà gạc - một loại dao lưỡi dài, cong, có cán bằng gỗ hoặc tre, cong ởngay chuôi dao để tiện mắc vào vai khi di chuyển, cán khá dài để tiện việc chặtphát cành cao Dụng cụ đào, xới thường là cuốc chim có thể dùng cả hai đầu;dụng cụ chọc lỗ là một cây gỗ dài vừa tay nắm, có đầu nhọn bịt sắt hoặc không;dụng cụ vận chuyển chủ yếu là gùi đeo sau lưng, được đan bằng tre hoặc mâysong Có thể nói công cụ lao động của người dân các DTTS bản địa Lâm Đồngtuy thô sơ song đó là những công cụ đa năng và có vai trò quan trọng trong đờisống của đồng bào Nó không chỉ sử dụng trong sản xuất mà còn được sử dụngtrong sinh hoạt gia đình, thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc nhữngcông cụ lao động thô sơ đó lại chính là vũ khí chống lại kẻ thù
Nghề thủ công của các tộc người bản địa rất ít chủ yếu là: đan lát, dệt thổcẩm, kim hoàn, rèn sắt thường chỉ hoạt động trong những dịp nông nhàn, nhằm
tự cấp, tự túc cho cá nhân, gia đình Sản phẩm của các nghề truyền thống mặc dùcũng co trao đổi nhưng không nhiều Trong các nghề thủ công của các DTTSbản địa, nghề dệt thổ cẩm rất đa dạng, độc đáo, gây ấn tượng bởi cách phối màu
Trang 24và đường nét hoa văn Ở mỗi tấm vải dệt không chỉ có giá trị về mặt vật chất, mà
sự dày công còn gắn với những giá trị tinh thần: dệt tặng cha mẹ, dệt tấm đắptặng chồng, cũng như phát huy được truyền thống hiếu thuận, thủy chung củangười Việt Đồng thời mối tấm thổ cẩm còn là sự phản ánh quan hệ giữa conngười với thiên nhiên ở cái mềm mại trong cách phối màu, vừa chứa đựng vẻhoang vu của rừng núi, lại vừa thể hiện sự sinh động của cuộc sống Nghề ủ rượucần, một thức uống gắn bó từ lâu đời với người dân bản địa nơi đây, không cònnằm trong khuôn khổ là một thức uống bình thường, mà đã trở thành phươngthức ứng xử văn hóa độc đáo đặc trưng nhất của các dân tộc thiểu số TâyNguyên nói chung, dân tộc bản địa Lâm Đồng nói riêng (nhất là trong dịp lễhội) Rượu cần - một nghệ thuật ẩm thực đã trở thành yếu tố văn hóa đặc sắctrong truyền thống văn hóa Lâm Đồng…
Có thể nói, nền nông nghiệp của các tộc người bản địa lâm Đồng là nềnnông nghiệp sơ khai, lệ thuộc vào thiên nhiên, lấy rừng và đất rừng làm đốitượng khai thác để mưu sinh Trong sản xuất cái mà người dân các tộc người bảnđịa ở Lâm Đồng thường hướng những cố gắng của mình vào là khâu kỹ thuậtcanh tác để giữ độ màu cho đất, hạn chế rửa trôi, giữ độ ẩm cho đất, nhanh táisinh rừng, khái thác những khác biệt của khí hậu địa phương để phơi rẫy khi gặpnắng và trỉa lúa khi trời mưa, chứ họ không đi vào cải tiến công cụ sản xuất Với
họ chiếc riu, xà gạc, cây chọc lỗ, chiếc cuốc xới cỏ là những công cụ đã tồn tại từbao đời nay, nên họ không quan tâm đến việc cải tiến nó Phương thức sinh hoạtkinh tế truyền thống của các tộc người bản địa tuy có vai trò quan trọng trongviệc đảm bảo cho sự sinh tồn dù còn ở mức độ thấp, nhưng nó phản ánh đúngtính chất, trình độ thấp của lực lượng sản xuất
Sống trong mối liên hệ mật thiết với môi trường tự nhiên qua nhiều đời,nhạy cảm với những thay đổi thời tiết hàng năm, các tộc người bản địa Lâm
Đồng đã tích cóp được những tri thức về thiên nhiên tuy mới chỉ dừng lại dưới
dạng kinh nghiệm dân gian, song nó có vai trò quan trọng đến sự ổn định cuộcsống của họ và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở địa phương Đó là hệthống tri thức bản địa có ích trong việc xác định các vấn đề, cũng như việc chế
Trang 25định các giải pháp nhằm tác động một cách hữu ích vào môi trường sinh thái.Bằng kinh nghiệm sống, bằng những hiểu biết về tự nhiên, về khí hậu, người dâncác tộc người bản địa đã biết lựa chọn cho mình phương thức canh tác dựa vào
tự nhiên, khai thác tự nhiên và cao hơn nữa là vừa khai thác, vừa bảo tồn và tái
tạo tự nhiên, dưới hình thức “luân canh” Một phương thức tìm thấy thức ăn từ
rừng và nuôi rừng một cách khôn ngoan đã được tích lũy và thử thách hàngnghìn đời [59] Để sinh tồn người dân các tộc người bản địa Lâm Đồng một mặttiến hành sản xuất dựa vào khả năng nhận biết tự nhiên, đoán định thời tiết (lúcnào mưa sớm, lúc nào mưa muộn) để gieo trồng, thậm chí họ còn biết trồng gối
để tận dụng độ ẩm trong đất sau khi kết thúc mưa, với các loại cây trồng phùhợp, có khả năng thích ứng như, trồng các loại cây lương thực như: bắp, khoai,lúa và các loại rau; trồng các loại cây công nghiệp như: chè, cà phê… Nuôinhững vật nuôi đã qua chọn lọc tự nhiên, có khả năng chịu được thời tiết và cókhả năng sinh sản tốt, và biết khai thác hiệu quả các sản phẩm từ thiên nhiên, đểphục vụ mưu sinh, ổn định cuộc sống
- Cư trú và nhà ở của các tộc người bản địa Lâm Đồng rất phong phú và
đa dạng nhưng đều có những đặc điểm dễ nhận thấy đó là: Các tộc người bản địaLâm Đồng thường cư trú ở những nơi thuận tiện về nguồn nước, gần chân núi,tương đối bằng phẳng và thường là trung tâm của những nương rẫy mà họ đãphát luân phiên, trong vòng vài năm đến vài chục năm, khi đất rẫy đã quá xa, họlại dời làng đến nơi mới thuận tiện hơn Ngôi nhà cổ truyền của các dân tộc này
là những ngôi nhà dài (hìu rọt) có tính chất là nhà công cộng của nhiều cặp vợ
chồng có quan hệ huyết thống Nhà dài các tộc người bản địa Lâm Đồng được
thiết kế và tạo dựng lên bởi những vật liệu lấy từ núi rừng xung quanh họ (gỗ,
tranh, tre, nứa ) và kỹ thuật buộc - ngoặm - chống - đỡ trong kiến trúc dângian Đó là cả một kiến trúc mang đậm bản sắc văn hóa bản địa, mà nét độc đáocủa nó không chỉ thể hiện ở kết cấu và cách thức khai thác không gian sinh hoạt
mà còn ở hình thức tổ chức xã hội trong nhà
Về mặt kết cấu, nhìn chung nhà dài của các tộc người bản địa Lâm Đồngkhi được xây dựng bao giờ người ta cũng chú trọng về sàn nhà Sàn nhà thường
Trang 26cách mặt đất không quá cao (chừng 0,6-1,2m) Vì theo họ kết cấu sàn nhà làphần rất quan trọng góp phần tạo sự bền vững cho ngôi nhà Sàn nhà gồm nhiềudãy cột ở hai đầu và cột chống đỡ phụ ở phần giữa sàn, một đầu cột sàn chônchặt xuống đất, đầu kia có tạo ngàm để gác những cây đà (chạy từ mặt trước ramặt sau của ngôi nhà), có vách, có mái, và có nhiều cửa ra vào, ở mặt trước đượccấu tạo vòm bởi một dây mây tre) uốn cong lên vòm mái tạo thành khung cửa -thoạt nhìn giống như một cửa hang, nhưng lại thường không có cửa sổ Ở giữanhà dài có một bếp lửa lớn chung cho cả nhà, ngọn lửa không bao giờ tắt Mộtnhà dài thường có nhiều thế hệ cùng chung sống, có nhà khoảng vài chục nhưng
có khi có nhà lên tới khoảng trăm người Bởi mỗi khi tăng thêm một gia đìnhthành viên (dựng vợ gả chồng cho con) của gia đình lớn mẫu hệ, người ta lại nốithêm một hoặc một số gian cho nhà dài, hoặc đến một mức nào đó thì lập nhà dàimới Tất cả mọi thành viên trong ngôi nhà dài đều có quan hệ trực hệ và bảng hệvới nhau, theo dòng nữ, đứng đầu là một bà cao tuổi, trưởng dòng họ cùng các
em gái và chống các em gái bà ta làm thành thế hệ thứ nhất, các con gái bà ta vàcác con gái của em gái bà ta cùng chồng của họ làm thành thế hệ thứ hai, cáccháu gái của bà ta và các cháu gái của các em gái bà ta cùng chồng của họ tạothành thế hệ thứ ba, nhiều gia đình còn có thêm thế hệ thứ 4, thứ 5 Trong đómỗi gia đình là một đơn vị sản xuất Với sự cư trú của nhiều hộ gia đình trongnhà dài đã thể hiện tính cộng đồng và sự cố kết tạo nên sức mạnh để tự vệ Tuynhiên nhà dài của đồng bào bản địa ở Lâm Đồng không còn phổ biến, kiến trúcngôi nhà truyền thống đã bị thay đổi, có chẳng chỉ còn duy trì được cách khaithác không gian sinh hoạt
Nhà dài không chỉ là biểu tượng của các dân tộc bản địa Lâm Đồng màcòn độc đáo và giàu tính văn hóa từ hình dáng bên ngoài đến bố cục bên trong.Nét độc đáo vừa thể hiện ở kiến trúc vừa thể hiện ở những sinh hoạt diễn ratrong ngôi nhà Thông thường một ngôi nhà là nơi sinh sống của các thành viêntrong một gia đình, song nhà dài của các tộc người bản địa Lâm Đồng còn là nơilưu giữ, trưng bày những bộ chiêng - ché cổ quý giá
Trang 27Chiêng - ché đối với cư dân bản địa ở Lâm Đồng có vai trò đặc thù lànhạc cụ và vật dụng dùng đựng riệu cần, những vùng có đông cư dân các tộcngười bản địa sinh sống nó còn là một thứ tiền tệ đặc biệt trong cuộc sống hàngngày ở thời gian trước Các cư dân bản địa đã dùng chiêng ché để đổi lấy muối,gạo, trâu bò, vải vóc… Trong hôn nhân chiêng - ché là một trong những vậtthách cưới, trong các quan hệ chiêng - ché luôn là những món quà quý thể hiệntình cảm Cho nên, chiêng - ché được họ trân trọng, giữ gìn như "vật thiêng", "tàisản có giá trị"(1) Không chỉ có những dịp thực hiện những nghi lễ nông nghiệp,tín ngưỡng nguyên thuỷ, mà trong những dịp vui gia đình, tiếp đón khách quý,ché rượu được mở ra cũng là lúc có thể sử dụng chiêng để góp vui, để giải bàytình cảm Ngoài những dịp như thế, chiêng ché không được sử dụng một cáchtuỳ tiện Từng địa phương, từng nhóm tộc người lại có những đặc điểm riêngbiệt khác nhau đối với những qui định chung ấy Sau những dịp vui, hội lễ,chiêng - ché được cất giữ cẩn thận
Nhìn chung văn hóa vật chất của các tộc người bản địa ở Nam TâyNguyên phản ánh sinh động đời sống gần gũi với tự nhiên, hòa vào tự nhiên, thểhiện một sự thích ứng khá khôn ngoan của con người trước thiên nhiên để tồn tại
và phát triển Trong đó, nương rẫy và phương thức canh tác nương rẫy đóng vaitrò quan trọng trong đời sống mọi mặt của các DTTS bản địa Lâm Đồng Đặcbiệt, trong quá trình sinh tồn, cư dân bản địa Lâm Đồng đã tích lũy được một hệthống kiến thức và kinh nghiệm sản xuất vô cùng phong phú trong việc bảo vệ,phát triển và sử dụng tài nguyên rừng, một phương thức ứng xử hợp lý và hợpvới quy luật tự nhiên nơi cư trú, làm cho con người và tự nhiên hòa đồng vớinhau, nương tựa vào nhau Nhờ đó tiềm năng, sức sáng tạo của con người ngàycàng được phát huy Nhưng mặt khác, với những công cụ sản xuất thô sơ, kỹthuật canh tác lạc hậu, cho thấy tính chất và trình độ còn thấp của lực lượng sản.Phân công lao động chưa phát triển, còn mang tính chất tự nhiên theo giới tính,chưa có các làng nghề thủ công chuyên nghiệp Tập quán và tính bình quân chủ
( 1) Trong xã hội cổ truyền của các DTTS bản địa ở Lâm Đồng, khoảng cách xa nhau về tài sản giữa
kẻ giàu và người nghèo rất ít, chủ yếu là ở sự chênh lệch về những bộ chiêng ché quý có giá trị và
số lượng trâu.
Trang 28nghĩa cao, phân công lao động theo giới, không chuyên môn hóa trong sản xuất,
đã hạn chế sự phát huy tài năng của cá nhân và tạo nên tâm lý ỷ lại trông chờ vào
tự nhiên chứ chưa chú ý đến sự đầu tư để tái sản xuất mở rộng, nên năng suất laođộng thấp, chỉ đủ để thảo mãn nhu cầu đơn giản của đời sống, Do vậy, ở góc độnày thì vai trò mục tiêu, động lực của văn hóa đã không được phát huy
1.2.2 Văn hóa tinh thần và vai trò của nó
Đơn vị tổ chức xã hội cao nhất mà người các tộc người bản địa Lâm Đồng
đã đạt đến là Buôn (Bon) Đó vừa là một đơn vị tổ chức xã hội duy nhất, caonhất mang tính chất xã hội tương đối hoàn chỉnh, tương đối độc lập và tách biệtkhép kín về khu vực canh tác, vừa là một đơn vị kinh tế tự cấp, tự túc của Buôncủa đồng bào bản địa là làng truyền thống theo kiểu một công xã nông thôn, vậnhành độc lập với những tập tục bình đẳng, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, giữ lạicho họ những phẩm chất tốt đẹp luôn có nguy cơ bị "hoang dã hóa" Buôn là mộtvùng cư trú, vùng canh tác rẫy hoặc ruộng, một vùng tự nhiên mà họ vẫn thườngkhai thác và xa hơn nữa là khu rừng thiêng nơi trú ngụ của thần linh, nơi ít aiđược đặt chân đến Thiết chế xã hội truyền thống cảu đồng bào là “một thiết chế
tự quản độc lập” [3, tr.19]
Trong buôn làng mọi thành viên luôn phải ý thức về trách nhiệm của mìnhtrong việc: củng cố sự bền vững và đoàn kết của dòng họ, buôn làng; giữ gìn đấtrừng, nguồn nước, những tài sản được coi là của chung, tuân thủ và thực hiện tựgiác các luật tục truyền thống, trân trọng và chấp hành ý kiến của chủ họ, chủlàng Họ có quyền bày tỏ ý kiến về công việc chung của buôn làng, tham gia lựachọn người đứng đầu họ, làng buôn; khai thác và canh tác trên vùng đất củabuôn
Đứng đầu buôn làng là chủ làng và hệ thống già làng (Kuang bon), vềquyền lợi kinh tế, thì chủ làng, già làng cũng giống như mọi thành viên khác củalàng Hàng ngày ông ta cũng phải lao động cật lực để tự nuôi sống bản thân vàgia đình Nhưng về mặt tinh thần, ông ta lại có một uy tín tuyệt đối so với cácthành viên khác của làng Chủ làng (Kuang bon) là hiện thân của truyền thống và
là một yếu tố tinh thần đưa đến sự thống nhất của cộng đồng làng (bon) trong xã
Trang 29hội cổ truyền của đồng bào bản địa Già làng ở các buôn làng của đồng bào bảnđịa, thường là những người cao tuổi, có uy tín, đức độ và hiểu biết, tích lũy đượcnhiều kinh nghiệm sống và sản xuất, cứ trú trong buôn lâu năm, không vi phạmluật tục ngay cả thời còn trẻ Với uy tín và hiểu biết của mình, già làng có vai tròquan trọng trong việc đưa ra những ý kiến, những đề xuất nhằm giải quyếtnhững khó khăn trong sản xuất hay là tham dự vào việc phân xử, giải quyết tranhchấp theo quy định của luật tục Luật tục là một bộ luật bất thành văn thể hiệndưới hình thức nói vần, nói điệu, song chứa đựng nhiều giá trị, là những giá trịvăn hóa xã hội đặc sắc của các các DTTS bản địa có vai trò quan trọng cả trongsản xuất vất chất và đời sống xã hội Nó là hệ thống các quy định, quy ước đượchình thành trong bối cảnh của lối sống tự cung tự cấp dựa trên cơ sở sự đồngthuận của cả cộng đồng; là những chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của mọithành viên trong cộng đồng Luật tục của các dân tộc bản địa Lâm Đồng rất coitrọng yếu tố con người trong mối tương quan với thế giới tự nhiên, với cộngđồng và tín ngưỡng Nội dung Luật tục của các DTTS bản địa dù diễn đạt khácnhau song chung quy lại gồm những quy ước, quy tắc xã hội, chỉ dẫn cách đốinhân xử thế, về quan hệ cộng đồng, xã hội, quan hệ hôn nhân, gia đình, về quan
hệ giữa con người với tự nhiên, nhằm giữ gìn trật tự công cộng, giữ bình yên,hoà thuận trong buôn làng, bảo tồn tính thống nhất cao và kỷ cương cần thiếttrong từng cộng đồng cư trú
Luật tục của các DTTS bản địa Lâm Đồng có vai trò quan trọng trong việcđiều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ và hình thành nên niềmtin đối với cộng đồng, dân tộc ở mỗi người, hình thành nên lối sống phùhợp.Những quy định trong luật tục vừa có tính giáo dục, khuyên răn, phê phán,vừa có khả năng điều chỉnh các hành vi của cá nhân thông qua việc cưỡng chế
xử phạt và được cộng đồng tuân thủ một cách tự nguyện Mọi vi phạm của cánhân đều bị phạt vạ bởi quyết định của "tòa án" phong tục dưới hình thức một lễhiến sinh, trước là để cáo lỗi với thần linh, sau là để khao làng xá tội và cuốicùng là để bồi thường cho bên bị thiệt hại theo quy định của luật tục Tuy nhiên,
Trang 30tòa án phong tục thường được diễn ra quanh ché rượu cần long trọng và trangnghiêm nhưng bao trùm lên trên hết thảy là một tình thương yêu đoàn kết:
"Việc tầm thường thì dùng ghè nhỏ
Việc lớn hơn dùng ghè cao hơn
Việc quan trọng thì giết heo dê
Anh em mình đứng về một phía ”
Trong lao động sản xuất, những tri thức kinh nghiệm phản ánh trong luậttục đã giúp đồng bảo quản lý và khai thác nó có hiệu quả và ngăn chặn sự tànphá hủy diệt tự nhiên của con người vì mục đích nhỏ mọn, hoặc sự vô ý thức củacon người, khuyên con người sống hài hòa với tự nhiên:
“(Trên rừng) vượn hú chồn tru
Phát rừng mới (đừng để) vượn hú luyến tiếc
(Trên rừng) vượn hú chồn than thở
Phát rừng Mlu vượn chồn tiếc nuối” (luật tục Chu Ru) [67, tr.174]
Quan hệ sở hữu liên quan đến hình thức tổ chức sản xuất, phân phối tàinguyên, sản phẩm trong cộng đồng như: đất, rừng, nguồn nước và các sản phẩm
tự nhiên cũng được quy ước bằng ranh giới nhất định, có thể là một con đường,cái cây… nhưng luôn được đồng bào tuân thủ nghiêm ngặt Ngay cả đất, rừng,nguồn nước trong phạm vi cộng đồng cũng có những khu rừng, những nguồnnước không được phép khai thác
Trong quan hệ cộng đồng, xã hội luật tục khuyên bảo con người phải sốngchân thật, hòa thuận với nhau, siêng năng làm việc, và phê phán những thói hư, tấtxấu Mọi hành vi tội lỗi mà một cá nhân gây ra đều có ảnh hương xấu đến cả cộngđồng vì đã làm thần linh tức giận, vì vậy cá nhân nào có tội và bị xét xử thì thườngphải đền bù thiệt hại về vật chất và nộp lễ vật để làm lễ tạ lỗi với thần linh
Trong quan hệ hôn nhân, luật tục có nhiều quy định rất chặt chẽ như cấmquan hệ hôn nhân giữa con chú với con bác, con dì với con già (trái lại cô dâu,con cậu từ hai chiều có thể quan hệ hôn nhân) Thực chất hôn nhân giữa con côcon cậu là nhằm bảo vệ tài sản gia đình, dòng họ, nên luật tục K’Ho khuyên:
Trang 31"Bỏ ruộng thì đói
Cắt váy thì nghèo
Bỏ con cô con cậu thì thành đầy tớ"
Luật tục còn hướng vào điều chỉnh mỗi quan hệ của mọi thành viên tronggia đình, nhằm đảm bảo mọi người sống phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau
“Thương vợ, thương con, thương cho tỏ Thương anh thương em, thương chothật…” (luật tục Mạ) và sống phải có tôn ti, trật tự “…con người mình có lớn cónhỏ” (luật tục Chu Ru) [40, tr.34-35] Nhằm đảm bảo hạnh phúc gia đình vàthuần phong mỹ tực của cộng đồng, luật tục K’Ho quy định: “Bỏ vợ, bỏ con phạtbảy chiêng, bảy trâu Ngoại tình phạt chín chiêng, mười trâu” Đặc biệt, ngoạitình là một hành vi không thể chấp nhận và thường bị phạt rất nặng Đối với dântộc Mạ, nếu đàn ông ngoại tình mà có con thì phải thanh toán toàn bộ chi phí cho
lễ đâm con trâu đực trắng để cúng Yàng (trời) Trước khi nghi lễ bắt đầu, người
ta phải giết một con ngan trắng, dê trắng, heo trắng để hai kẻ tư tình tạ lỗi trướccác thần Nhưng với dân tộc K’Ho, hay Chu Ru thì khi người đàn bà có con đi
“bắt chồng”, chàng nào muốn “cá vào ao ta, ta được” phải dâng lễ cưới cho mẹmột con trâu Nếu người đàn bà đó có 1-2 đứa con, lễ cưới phải tặng thêm 1-2con trâu cho cô ta
Trong gia đình, luật tục cũng quy định rõ, vợ chồng thì phải thủy chung,biết cư xử theo lẽ phải, trong trường hợp vi phạm quy định của luật tục, phạmtội… sẽ bị phạt vạ theo quy định của luật tục, nặng nhẹ tùy vào hành vi vi phạm
“Trượt tay kiếm cành mà vịn
Trượt chân kiếm cành mà chống
Lỡ mồm kiếm vật mà đền” 60, tr.106]
Tồn tại trên nguyên tắc tự quản, mọi thành viên trong cộng đồng cùngnhau xây dựng và cùng đồng thời thực hiện, nên luật tục trở thành sức mạnh cốkết cộng đồng “hợp nhau lại như trâu trong chuồng, như ca dưới gốc cây, cùngreo như tiếng cồng chiêng, cùng kể chuyện xưa như người cùng buôn” (luật tụcK’Ho) Nếu để gia súc phá hoại lúa của người khác hoặc là vu oan cho ngườikhác là quỷ, luật tục Mạ quy định mức phạt vạ:
Trang 32Lợn mà ăn lúa: ba chiêng
Con dê ăn gạo: sáu chiêng phải đền
Vu cho người tội phép phù
Lỗi ấy phải tội mười chiêng với làng [34, tr.213]
Một nguyên tắc ứng xử quan trọng được xác lập ở mỗi người dân các tộcngười bản địa Lâm Đồng đã hình thành từ bao đời nay trên cơ sở quy định củaluật tục là “niềm tin cộng đồng” Niềm tin này không chỉ có tác dụng loại trừ cái
ác, cái xấu mà nó còn là nền tảng để tạo nên sức mạnh cố kết cộng đồng, cầnphải phát huy nhằm tạo nên sự bền vững cho quá trình phát triển kinh tế - xã hộihiện nay
Có thể nói, luật tục không những chứa đựng giá trị lịch sử xã hội tộcngười, mà còn chứa đựng giá trị văn hóa tộc người Về giá trị xã hội tộc người,thông qua luật tục các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội các dân tộc bảnđịa Lâm Đồng được bộc lộ rõ, từ sản xuất, quan hệ sở hữu, tổ chức xã hội đếncác mỗi quan hệ cộng đồng Về giá trị văn hóa tộc người nó phản ánh các lĩnhvực khác nhau của văn hóa bao gồm, văn hóa mưu sinh, văn hóa xã hội, văn hóavật thể, văn hóa phi vật thể… Về giá trị tri thức có thể nói, luật tục các dân tộcbản địa Lâm Đồng đã tích hợp trong nó kho tàng tri thức nhiều mặt của dân tộcchủ thể, trong đó nổi bật là tri thức về xã hội và tự nhiên của con người.Về xãhội đó là những nhận thức và tri thức liên quan đến mối quan hệ giữa con ngườivới con người và giải quyết mối quan hệ đó Về mối quan hệ với tự nhiên thì đó
là kho tàng tri thức về ứng xử hợp lý, có chọn lựa của con người với đất đai,rừng núi, với nguồn tài nguyên nơi cư trú Đúng như quan niệm của đồng bàocác DTTS bản địa Lâm Đồng, luật tục được lưu truyền, gìn giữ nhằm đảm bảocho cuộc sống buôn làng được yên vui, thanh bình:
“Sạch nước suối cho đàn cá lên
Sạch bãi cỏ cho đàn nai đến
Sạch sân làng cho lũ trẻ chơi
Sạch bầu trời cho ánh trăng sáng…”
Trang 33Nhìn chung mọi hành vi vi phạm những quy định của buôn làng đều đượcgiải quyết trong khuôn khổ luật tục Tất cả những luật tục đó đều nhằm bảo vệ vàhun đúc ý thức cộng đồng:
“Con trâu chết còn cặp sừng
Cha mẹ chết còn con cái
Sau anh là em
Sau cậu là cháu
Và cả ngay sau các con là dấu vết của ông bà”
Luật tục có hiệu lực đối với tất cả mọi người, trong đó những điều khuyênrăn, giáo dục có vai trò trong việc hình thành nên bản chất thật thà, chân chất củacon người còn các điều phạt mang tính chất giáo dục răn đe, ngăn chặn, đềphòng Trong muôn vàn các hình phạt được đưa ra thì hình phạt đáng sợ nhất,hơn cả cái chết, đối với đồng bào, là bị đuổi ra khỏi cộng đồng Những điều răndạy mọi người không nên làm những việc xấu, không làm những điều ác, khôngtrộm cắp, không loạn luân, không uống rượu say, không đánh đập vợ con, lấyviệc khoan dung, hoà giải làm trọng Luật tục thể hiện tinh thần trách nhiệmchung của cộng đồng đối với lỗi lầm Thông thường, trong các luật tục, việc xét
xử các tội lỗi phải thực hiện qua các bước từ gia đình, dòng họ rồi mới đến buôn,làng Qua cách xử lý như vậy, mọi thành viên từ già tới trẻ được giáo dục ý thứctrách nhiệm, tinh thần xây dựng, củng cố sự bền vững và đoàn kết của dòng họ,buôn làng; giữ gìn đất rừng, nguồn nước, những tài sản được coi là của chung,tuân thủ và thực hiện tự giác các luật tục truyền thống, trân trọng và chấp hành ýkiến của chủ họ, chủ làng Cũng như ý thức được sự hy sinh những tham vọng cánhân vì lợi ích chung của gia đình, dòng họ, cộng đồng, buôn làng Do vậy, ýthức tự giác của mọi thành viên là hệ quả của nếp sống cộng đồng
Phù hợp với chế độ công xã nông thôn là hình thức tổ chức gia đình theochế độ mẫu hệ tồn tại phổ biến Hình thức gia đình của các DTTS bản địa gồm haihình thức là gia đình lớn và tiểu gia đình Trong gia đình mẫu hệ, vai trò củangười phụ nữ được đề cao, họ là trụ cột gia đình, là người kế thừa tài sản và nốinòi theo dòng mẹ Chế độ hôn nhân một vợ một chồng và cư trú bên vợ đã được
Trang 34xác lập và duy trì một cách khá chặt chẽ trong xã hội Người phụ nữ hoàn toànđóng vai trò chủ động trong hôn nhân Sau hôn lễ, chàng rể phải về ở bên nhà vợ
Trong xã hội cổ truyền của các DTTS bản địa Lâm Đồng, do chưa có sựphân hóa giai cấp, tính cộng đồng cao và chỉ biết đên buôn làng Con ngườikhông chỉ thích ứng với tự nhiên mà còn thực sự hòa đồng, sống nương tựa vàonhau, trong đó cá nhân gắn bó với gia đình còn gia đình lại gắn bó với buôn làngnên rất ít có tranh chấp Tập tính cộng đồng cùa đồng bào dân tộc bản địa LâmĐồng không chỉ biểu hiện trong cư trú mà còn trong cả lao động sản xuất, sinhhoạt hàng ngày cả vật chất lẫn tinh thần.Trong sản xuất, buôn làng nào cũng cómột lịch trình nông nghiệp thống nhất, từ khâu canh tác, mùa vụ…, họ vừa phốihợp vừa hỗ trợ nhau nhằm đảm bảo đạt được thành quả lao động hữu hiệu nhất.Nếp sống trong mỗi buôn làng của các cư dân bản địa luôn luôn là vui buồn cónhau Bất cứ sự kiện nào của từng hộ, từng nhà trong buôn dù to hay nhỏ, dù vuihay buồn đều được mọi thành viên trong buôn làng quan tâm và chia sẻ Giađình có lễ hội cả buôn làng giúp việc, ăn uống, gia đình có ai săn được thú cảlàng được chia phần… Chính sự cộng hưởng, cộng sinh tự nguyện và dân chủ đó
đã tạo nên sự cố kết giữa người và người Mỗi thành viên trong buôn làng “suốtđời tắm mình trong không khí cộng đồng và suốt đời bị chi phối bởi lối sốngmang tính cộng đồng, cả cống hiến cũng như hưởng thụ” [43, tr.126] Nên ở mỗi
cư dân bản địa có nếp nghĩ phóng khoáng, cởi mở, chan hóa, hồn nhiên đã tạonên một đời sống tinh thần trong sáng bên cạnh đời sống vật chất vẫn còn nhữngkhó khăn
Tôn giáo, tín ngưỡng: Theo quan niệm của các tộc người bản địa LâmĐồng, có hai thế giới tồn tại đó là thế giới của người sống thực và thế giới hư vô.Trong đó thế giới thứ nhất là thế giới của con người, của vạn vật trên trái đất,những cái có thể cảm nhận được Còn thế giới hư vô là thế giới của những cái
mà người ta gọi là hồn ma quỷ thần, những lực lượng siêu tự nhiên,… nhữnghoang tưởng mà người ta không cảm nhận được, không chứng minh được sự tồntại của nó Tuy nhiên những yếu tố vô hình này lại thiêng liêng quyết định cuộcsống trên trái đất Người, cây cối, vật thế sống tồn tại được là nhờ có tính linh
Trang 35hoặc hồn Nên, tín ngưỡng về siêu nhiên trong quan niệm của đồng bào cácDTTS bản địa Lâm Đông tập trung vào ý niệm đa thần Thần lớn nhất của cưdân ở đây là trời (Yang), nên trời luôn được nhắc nhở trong các cuộc khấn vái,cầu xin, tuy nhiên theo họ trời không trực tiếp tác động đến con người mà thôngqua vô số các vị thần khác, trong đó vị thần được họ quý trọng nhất là thần nông,thần rừng.Vai trò chủ thể của người phụ nữ trong xã hội cũng được phản ánh vàotín ngưỡng dân gian là mẹ lúa Ngoài những vị thần được quan niệm chung làlực lượng che chở và phù hộ cho con người, thì còn có những siêu linh làm điều
dữ, đó là những yêu quái mang lại điều dữ cho con người, chỉ chuyên đi gây hạicho con người Tuy nhiên, lực lượng này nếu được cầu khấn bằng lễ lạt thìchúng cũng có thể buông tha Với quan niệm như vậy nên người dân các tộcngười bản địa tin rằng: số phận con người phụ thuộc vào mối quan hệ giữa conngười với thế giới siêu linh, và các vị thần có thể giúp người thì cũng có thểtrừng phạt, hãm hại Chính vị vậy, đã hình thành tục lệ kết thân với thần để đượcthần phù hộ
Lễ nghi - phong tục: Là cư dân của nền nông nghiệp nương rẫy với mộttrình độ văn hóa nói chung còn thấp nên con người ở đây đến nay vấn cho rằngviệc được mùa hay mất mùa trong canh tác nương rẫy là phụ thuộc vào các thầnlinh, vào hồn lúa Nên cùng với những quy trình lao động, cư dân bản địa LâmĐồng còn tiến hành các nghi lễ nông nghiệp, nghi thức tôn giáo để cầu mong cácsiêu linh phù hộ cho cuộc sống của bản thân và mùa màng được tươi tốt… Lễhội của các dân tộc bản địa Lâm Đồng thường diễn ra theo chu kỳ vòng đời củacon người, theo chu kỳ vòng đời của cây lúa với hai phần: trong đó phần đầu lànghi thức tín ngưỡng, phần sau là vui chơi Gắn liền với chu trình canh tác câylúa (kể cả lúa nương và lúa nước) bắt đầu từ khi gieo hạt đến lúc thu hoạch Mùa
lễ hội có nhiều tiểu lễ nhưng quan trọng và quy mô hơn cả là lễ mừng lúa mới
(người Mạ gọi là nhu rhe, người Kơ Ho gọi là lễ Nhô R'He, người Chu Ru có lễ
Nhum Hơma) Lễ hội nông nghiệp một mặt dường như để đánh dấu một côngđoạn sản xuất, hoặc kết thức, hoặc mở đầu, mặt khác nó được tiến hành dướihình tức lế hiến sinh Nếu lễ được làm lớn thì người ta sẽ giết trâu bò nhằm cầu
Trang 36xin và tạ ơn thần linh giúp cho “mưa, nắng thuận hòa” giúp cho mùa màng tươitốt, con người mạnh giỏi và cuộc sống bình an Lế hội nông nghiệp không những
là hoạt động sinh hoạt văn hóa của cả cộng đồng, buôn làng, mà còn là dịp đểđộng viên sản xuất, trao đổi kinh nghiệm, khuyến khích tài năng, giáo dục đạođức toàn diện cho thế hệ trẻ, nối liền dòng mạch truyền thống và hiện đại, nângcao tính cộng đồng trong xã hội
Ngoài các lễ hội trong chu kỳ sản xuất, các lế nghi phong tục còn được thểhiện trong vòng đời con người như: lễ nghi cho trẻ sơ sinh, lễ trưởng thành, hôn
lễ, cầu mong sức khỏe, tang lễ… hay là những phong tục, tập quán của cộngđồng và cá nhân (lễ ăn trâu kết nghĩa, ăn trâu mừng thọ cha mẹ ) Lễ hội chính
là dịp để cư dân bản địa thực hành tín ngưỡng truyền thống, - tín ngưỡng đathần Trong những lễ hội truyền thống, không thể thiếu tiêng chiêng, tiếng cồng,biểu trưng đậm nét nhất là sự cộng cảm giữa các cá nhân với cá nhân và giữa cánhân với tập thể, tạo nên tính cộng đồng của cư dân bản địa Ở vùng đất NamTây Nguyên này, sinh ra đã nghe tiếng cồng chiêng, lớn lên họ đánh cồngchiêng, chế tác cồng chiêng Có thể nói cồng chiêng đã đi vào đời sống của cácdân tộc bản địa từ ngàn đời nay Họ thổi vào tiếng cồng chiêng tâm hồn và nhựasống của dân tộc, lúc hào hùng âm vang đất trời, lúc nhịp nhàng với hơi thở củanúi sông “Cuộc đời người dài như một tiếng chiêng”, tiếng chiêng như đã thấmvào máu thịt, thấm vào nếp cảm, nếp nghĩ của họ để rồi không sao dứt ra khỏicuộc đời họ được Tiếng chiêng cùng vui, cùng buồn, cùng họ vượt qua nhữngnỗi đau, gian nan trong cuộc sống cộng đồng Mỗi bài chiêng được đánh trongmỗi dịp khác nhau thể hiện mỗi trạng thái cảm xúc của con người: Chiêng tang
lễ thì chậm rãi, buồn bã; Chiêng mùa gặt thì thánh thót, vui tươi; Chiêng đâmtrâu thì âm điệu nhanh, giục giã… Âm thanh cồng chiêng với họ là “tiếng nóithần linh”, là những ước mong, nguyện vọng của cộng đồng mà thần linh có thểnghe thấy Tiếng cồng chiêng vang lên làm rung động núi rừng, mời gọi cácđấng thần linh cung như tổ tiên của họ tụ hội về đây Không gian văn hóa cồngchiêng tạo nên sự hiện diện của “lực lượng siêu nhiên” xung quanh con người.Tuy mỗi dân tộc có những cách đánh chiêng khác nhau nhưng cồng chiêng là sự
Trang 37thể hiện bản sắc văn hóa chung của toàn thể dân tộc vùng đất Nam Tây Nguyênnói riêng và Tây Nguyên nói chung Đến nay, người ta cũng không xác địnhđược từ khi nào cồng chiêng đã trở thành một loại hình sinh hoạt gắn liền với đờisống văn hóa, tinh thần,và cả tín ngưỡng của con người.
tiện để nối kết cộng đồng, khẳng định tính cộng đồng không chỉ trong dòng họ,trong buôn, trong mỗi tộc người mà còn giữa các buôn làng, dòng họ và giữa cáctộc người với nhau, mà còn là là tiếng gọi mời các dân tộc khác nhau xích lại gần
DTTS ở Nam Tây Nguyên góp phần lan tỏa trong lịch sử nhân loại cùng khônggian văn hóa của các DTTS Tây Nguyên đã được nhân loại ghi nhận và
UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại.
Mối quan hệ cộng đồng ấy được hình thành trên cơ sở tự nguyện, thân ái,thủy chung, bình đẳng và được ràng buộc bởi phong tục, tập quán, nên tính bềnvững rất cao, tạo nên sự đoàn kết cao trong cộng đồng, đảm bảo cho sự ổn định
xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thuần phong mỹ tục, trong các lễ nghi cũngđồng thời bao hàm cả những đồi phong bại tục như: sự lãng phí, là sự mê tín, là
sự lạc hậu… đang là lực cản kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội
Tính phong phú của văn hóa tinh thần các dân tộc bản địa Lâm Đồng cònđược tạo nên bởi kho tàng văn học dân gian và âm nhạc dân gian
Các dân tộc bản địa Lâm Đồng có một nền văn học dân gian khá phongphú, được đánh giá là đa dạng về thể loại, thông qua các hình thức như sử thi(dưới dạng đoản ca), dân ca được gọi chung là tam - pớt, một lối hát kể thịnhhành trong người Mạ, Mnông Nét chung chủ yếu của văn học truyền miệng làchuyển tải những kinh nghiệm sản xuất, những luật tục như là những nguyên tắc
cơ bản trong giao tiếp cộng đồng
Về âm nhạc dân gian Các dân tộc bản địa dùng nhiều loại nhạc cụ có chấtliệu khác nhau với những phương thức chế tác độc đáo như; nhạc cụ khí có kèn,đồng la, cồng chiêng và đặc biệt là các bộ đàn đá di khảo của âm nhạc thảo cầm,thạch cầm nguyên thủy Đặc tính âm nhạc của các loại nhạc cụ phụ thuộc rất lớn
Trang 38vào khả năng sử dụng của từng nghệ nhân Sự đơn điệu trong làn điệu (hát kể,hát đối đáp, tự sự, giao duyên) được bù đắp bằng sự duyên dáng, biểu cảm, gầngũi trong ca từ, trong hơi thở của tiếng chiêng, tiếng kèn bầu cùng nét uyểnchuyển của từng điệu múa Chính âm nhạc dân gian đã góp phần làm phong phúvăn hóa tinh thần của người dân tộc bản địa ở Lâm Đồng.
Trên nền tảng các giá trị văn hóa truyền thống, đã trở thành thói quen, nếpsống trong sinh hoạt và cuộc sống, tạo nên tính chân thật, thẳng thắn, và ý thứccộng đồng cao, dám hy sinh vì lợi ích của cộng đồng ở con người các DTTS bảnđịa Mặt khác, tinh thần đó còn bó hẹp trong phạm vi huyết thống tộc người, địaphương, nên mang tính chất cục bộ Hơn nữa, họ dễ dàng thỏa mãn với hình thứcvăn hóa - văn nghệ dân gian đậm sắc thái tộc người địa phương và khoogn cầnhọc vấn Ít tin vào sức mạnh của bản thân, của con người, những lại tin vào sựchi phối của thần linh, nên ít nhiều có sự tự ti
Hình thành và tích lũy trong hoạt động thực tiễn để sinh tồn, phương thứccanh tác mang đậm sắc thái bản địa, hệ thống tri thức kinh nghiệm, những hiểubiết về thổ nhưỡng, khí hậu, có vai trò quan trọng trong lao động sản xuất tạo racủa cải vật chất, thích nghi và khắc phục được sự khắc nghiệt của thiên tai, chốnglại thú dữ… đảm bảo cho quá trình sinh tồn qua bao thế hệ của các tộc người bảnđịa những hệ giá trị và chuẩn mực xã hội truyền thống, đã được đúc kết từ tronglịch sử dân tộc, quốc gia, tạo nên bản sắc văn hoá, là những nét riêng để phân biệtvới các dân tộc khác, nó có vai trò định hướng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội ở Lâm Đồng Bởi vì, văn hóa bản địa chính là sự thể hiện của các mặt vậtchất, tinh thần, tri thức tình cảm, sức sống và sức sáng tạo của đồng bào các DTTSbản địa Những giá trị đó có vai trò định hình tất cả các chiều cạnh của cuộc sống
cả tinh thần và vật chất, cả kinh tế và chính trị, thành một mô hình hoàn chỉnhriêng có của các tộc người bản địa với những đặc trưng cơ bản sau:
+ Một là: tính cộng đồng và tính bình đẳng Tính cộng đồng không chỉ ởtrong không khí vui tươi mà còn là sự chia sẻ, đùm bọc, nương tựa vào nhautrong sản xuất hoặc không may có điều rủi, nỗi buồn do chết chóc, dịch bệnh.Chính tính cộng cộng trong mọi hoạt động đã khơi dậy sự nhiệt tình của mọi
Trang 39người, con người cảm thấy mình là người chủ trong sáng tạo và hưởng thụ vănhóa, làm cho văn hóa mang tính cộng đồng sâu sắc, có sức lan tỏa rộng, bám rễsâu từ thế hệ này sang thế hệ khác
+ Hai là: tính tổng thể nguyên hợp được biểu hiện ở văn hóa dân gian,nhạc cụ, kiến trúc, văn hóa y phục, luật tục quy định chặt chẽ mang đậm tínhcộng đồng với tín ngưỡng, nghi lễ, những trò vui chơi giải trí trong các lễ hộitrong năm, liên quan đến vòng đời của một con người, vòng sinh trưởng của câytrồng vật nuôi Giáo dưỡng niềm tin đối với cộng đồng, bồi dưỡng tính nhân văntrong đạo đức, nếp sống của đồng bào
+ Ba là: Tính phóng khoáng, giản đơn trong lối sống, nếp nghĩ
Văn hóa bản địa Lâm Đồng với hệ thống các giá trị văn hóa vật chất vàtinh thần mang đậm sắc tộc của những cư dân bản địa, thực sự có vai trò quantrọng cho sự hoàn thiện của mỗi cá nhân trong cộng đồng, buôn làng Thực hiệnchức năng định hướng và giáo dục, văn hóa bản địa định hướng, điều tiết hành vicủa con người trong các mỗi quan hệ Để duy trì và cải thiện cuộc sống, đồngbào các dân tộc bản địa đã biết khai thác nguồn tài nguyên đa dạng của tự nhiên,bằng phương thức canh tác phù hợp mà nhiều nhà khoa học đã nhận định làphương thức canh tác “vừa ăn rừng, vừa nuôi rừng” Đó là một chu trình sảnxuất có sự chú ý đến tái tạo nguồn tài nguyên và chú ý đến bảo vệ rừng, được tất
cả mọi thành viên trong cộng đồng tự giác thực hiện Ý thức tự giác của đồngbào bản địa Lâm Đồng được hình thành trong cộng động trên cơ sở sự địnhhướng, giáo dục và những quy định phải thực hiện do cả cộng đồng thống nhấtxây dựng và thực hiện Một lối sống hòa hợp với tự nhiên, dựa vào tự nhiên, khaithác, bảo vệ tự nhiên, hài hòa, chân thật, biết tương trợ lẫn nhau trong cộngđồng, thủy chung trong gia đình, được hình thành từ bào đời nay trong mối cưdân bản địa Lâm Đồng trên cơ sở sự định hướng của các giá trị văn hóa thúc đẩy
sự hoàn thiện con người cả về thể lực, trí lực và nhân cách
Nhìn chung, văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm Đồng đã và đangtác động đến mọi mặt của cuộc sống chính bản thân họ, cũng như đến sự ổn định
và phát triển của địa phương Văn hóa đã tạo nên sức sống mãnh liệt, giúp nhân
Trang 40dân các dân tộc bản địa Lâm Đồng vượt qua khó khăn, gian khổ trong trong quátrình sinh tồn của mình nói riêng và trong quá trình tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc nói chung Nó tạo nên những phẩm chất, tính cách riêng có ở cư dân cáctộc người bản địa Lâm Đồng, tạo ra sức mạnh, sức sống, sự gắn kết giữa conngười với môi trường xã hội và tự nhiên một cách bền vững
1.3 Những yếu tố tác động đến vai trò của văn hóa bản địa các dân tộc thiểu số Lâm Đồng
Công cuộc đổi mới đất nước được Đảng ta đề ra và lãnh xướng từ Đại hội
VI (1986) đến nay một mặt đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xãhội, đời sống của người dân ngày càng được nâng lên cả về vật chất lẫn tinhthần, nhưng mặt khác đổi mới, mở cửa, hội nhập cũng ảnh hưởng đến mọi mặtcủa đời sống xã hội trong đó có văn hóa Là một bộ phận của văn hóa Việt, vănhóa các dân tộc bản địa Lâm Đồng cũng đang chịu sự tác động của nhiều yếu tố,biểu hiện:
+ Sự tác động của cơ chế thị trường
Nếu như ngày xưa văn hóa ngoại sinh vào nước khác thường vào chậm,bởi phải qua nhiều chặng đường nó mới vào được đến người dân, thì ngày nayvới cơ chế thị trường mở cửa, hội nhập sự thâm nhập của văn hóa ngoại sinh vàocác nước diễn ra một cách ào ạt, vào là đến nhân dân ngay thông qua các phươngtiện thông tin đại chúng như: như ti vi, hàng hóa, văn hóa phẩm
Một thực tế không thể phủ nhận được là: Kinh tế thị trường một mặt lànhân tố thúc đẩy tăng trường kinh tế, làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm, “conngười ngày càng có ý thức tự chủ, trở nên năng động hơn, nhạy bén hơn trongcuộc sống” [13, tr.215], đồng thời đã tác động tích cực đến khuynh hướng pháttriển đa dạng, phong phú trong hoạt động của văn hóa Mặt khác kinh tế thịtrường đề cao trách nhiệm cá nhân, gắn liền động cơ và hiệu quả như là mộtchuẩn mực giá trị trong hoạt động của con người, nó buộc con người phải khắcphục lối tư duy cảm tính, đồng thời phải rèn luyện, nâng cao phương thức tư duy
lý tính Kinh tế thị trường còn đòi hỏi sự học tập, rèn luyện không ngừng của bản