Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt đã xuất hiện từ lâu ở nhiều nước trên thế giới. Vấn đề này chỉ thực sự trở thành mối quan tâm của cộng đồng từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất và được khẳng định là một trong những quyền dân sự cơ bản của trẻ em trong các văn kiện pháp lý quan trọng về quyền con người từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai. Những thập niên gần đây, nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoài nói riêng ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn và phức tạp hơn. Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng, thì các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi con nuôi ngày càng thu hút được sự chú ý của xã hội. Trong bối cảnh đó, về mặt pháp luật có thể thấy trước đây các quy định về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng được quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, các Nghị định và một số thông tư… nên rất tản mạn, khó tiếp cận và áp dụng trên thực tế. Trước tình hình đó, Luật nuôi con nuôi ra đời đã đánh dấu sự kiện quan trọng của quá trình pháp điển hoá các quy phạm pháp luật và thực tiễn giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất và ổn định lâu dài cho công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi, đồng thời chấm dứt tình trạng hai mặt bằng pháp lý gần như tách biệt về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, nhất là việc Việt Nam đã tham gia Công ước Lahay 1993, yêu cầu pháp luật Việt Nam phải hài hoà với pháp luật nhiều nước trên thế giới và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật cũng bộc lộ một số hạn chế và thực tiễn giải quyết quan hệ nuôi con nuôi còn một số vướng mắc. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam có so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới trở thành vần đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Từ những yêu cầu khách quan về lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài” làm Luận văn tốt nghiệp Cao học Luật, chuyên ngành Luật quốc tế.
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa: CHXHCN
2 Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi connuôi giữa các nước: Công ước Lahay năm 1993
3 Bộ luật dân sự: BLDS
4 Hiệp định tương trợ tư pháp: HĐTTTP
5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: Luật HN&GĐ 2000
6 Xã hội chủ nghĩa: XHCN
Trang 2MỤC LỤC
đoan……… 1
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ………… ……… 2
Mục lục ……… 3
Mở đầu……… 6
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài …………
………
-2 Tình hình nghiên cứ u đ ề tài……… 7
3 Mụ c đích và ph ạm vi nghiên cứu……… 9
4 Phương pháp nghiên c ứu……… 10
5 Nhữ ng đóng góp m ới của Luậ n văn………
-6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn……… 11
7 Kết cấu của luận văn………
-Chương I: Khái quát chung về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nư ớc ngoài ở Việt Nam …
………
13 1.1 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trang 31.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam –
So sánh với pháp luật một số nước trên thế giới
41
2.1.Nguyên tắc giải quyết nuôi con
-2.1.1.Nguyên tắc “Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần
tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia
đình gốc”
43
2.1.2.Việc nuôi con nuôi phải được thực hiện trên tinh
thần tự nguyện của các bên liên quan, không được có một sự
phân biệt đối xử nào dù là về giới tính
46
Trang 42.1.3.Nguyên tắc “Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài
khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước” 47
2.3.Hệ quả pháp lí của nuôi con nuôi và chấm dứt việc
2.3.1.Hệ quả pháp lí của nuôi con nuôi
2.6.Nhận xét, đánh giá quy định của pháp luật điều chỉnh
quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
với pháp luật một số nước trên thế giới và bài học cho Việt
Nam………
87
Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Việt Nam điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
94
Trang 5ngoài trong giai đoạn hiện nay
………
3.1 Thực trạng giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
………
113
-3.2.2 Hoàn thiện, đổi mới hoạt động của các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước
Trang 61 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt đã xuất hiện từlâu ở nhiều nước trên thế giới Vấn đề này chỉ thực sự trở thànhmối quan tâm của cộng đồng từ sau chiến tranh thế giới thứnhất và được khẳng định là một trong những quyền dân sự cơbản của trẻ em trong các văn kiện pháp lý quan trọng về quyềncon người từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai Những thập niêngần đây, nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yêu tố nước ngoàinói riêng ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn và phứctạp hơn
Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng, thì các quan hệ hônnhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi connuôi ngày càng thu hút được sự chú ý của xã hội Trong bối cảnh đó,
về mặt pháp luật có thể thấy trước đây các quy định về nuôi connuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêngđược quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau như Bộ Luật Dân
sự, Luật Hôn nhân và gia đình, các Nghị định và một số thông tư…nên rất tản mạn, khó tiếp cận và áp dụng trên thực tế
Trước tình hình đó, Luật nuôi con nuôi ra đời đã đánh dấu sự kiệnquan trọng của quá trình pháp điển hoá các quy phạm phápluật và thực tiễn giải quyết các vấn đề về nuôi con nuôi nóichung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, tạo cơ
Trang 7sở pháp lý thống nhất và ổn định lâu dài cho công tác quản lýnhà nước về nuôi con nuôi, đồng thời chấm dứt tình trạng haimặt bằng pháp lý gần như tách biệt về nuôi con nuôi trong nước vànuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, nhất là việc Việt Nam đãtham gia Công ước Lahay 1993, yêu cầu pháp luật Việt Namphải hài hoà với pháp luật nhiều nước trên thế giới và thông lệquốc tế Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quy định phápluật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, phápluật cũng bộc lộ một số hạn chế và thực tiễn giải quyết quan
hệ nuôi con nuôi còn một số vướng mắc Vì vậy, việc nghiêncứu một cách có hệ thống, toàn diện pháp luật về nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam có so sánh với phápluật một số nước trên thế giới trở thành vần đề cấp thiết tronggiai đoạn hiện nay Từ những yêu cầu khách quan về lý luận và
thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Pháp luật nuôi con
nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài” làm Luận văn tốt nghiệp Cao
học Luật, chuyên ngành Luật quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta đã được nhiều nhàkhoa học pháp lí nghiên cứu dưới các góc độ, khía cạnh và mức độ khácnhau Trước và sau khi công bố Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa côngdân Việt Nam và người nước ngoài, đã có một số công trình khoa học nghiên
Trang 8cứu về quan hệ nuôi con nuôi như: Chuyên đề về "Chế định nuôi con nuôi
trong pháp luật Việt Nam và quốc tế" của Viện nghiên cứu khoa học pháp lí
-Bộ Tư pháp năm 1998; bài viết của Nguyễn Công Khanh "Hoàn thiện pháp
luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài" đăng trên
tạp chí nghiên cứu lập pháp
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được Quốc hội khoá Xthông qua ngày 09/06/2000 có hiệu lực từ ngày 01/01/2001 đánhdấu bước phát triển mới của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài Sau sự kiện này, nhiều côngtrình nghiên cứu, nhiều bài viết mang tính chất bình luận LuậtHôn nhân và gia đình đã góp phần làm phong phú lí luận cơ bản vềcác quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôinhư: Bài viết của thạc sĩ Ngô Thị Hường "Về chế định nuôi con
nuôi trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000" đăng trên Tạp chí luật
học số 3/2001; Bài viết của thạc sỹ Nguyễn Phương Lan “Bản
chất pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam”
đăng trên tạp chí Luật học số 3 năm 2004…;
Trong thời gian Việt Nam đang xem xét để gia nhập Công ướcLahay 1993 có nhiều hội thảo đề cập đến quan hệ nuôi con
nuôi như: Hội thảo của Bộ Tư pháp (10/2003) “Hoàn thiện pháp
luật Việt Nam hướng tới gia nhập Công ước Lahay về bảo vệ trẻ
em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi ” với nhiều báo
cáo tham luận đề cập tới quan hệ nuôi con nuôi; đề tài nghiêncứu khoa học tháng 10/2005 của Cục con nuôi quốc tế - Bộ Tư
Trang 9pháp “Hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước yêu cầu gia nhập Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế”.
Ngoài ra, vấn đề nuôi con nuôi quốc tế còn được đề cậptrong một số công trình nghiên cứu khoa học như: đề tài luận
án tiến sỹ “Pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài” của tác giả Nguyễn Công Khanh; đề tài luận án tiến sỹ
“Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài”
của tác giả Nguyễn Hồng Bắc… Tuy nhiên, các công trình này
mới chỉ đề cập một khía cạnh nhất định của quan hệ nuôi connuôi mà chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu mộtcách cơ bản và có hệ thống về pháp luật điều chỉnh quan hệ
nuôi con có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có đối chiếu so sánh
với pháp luật của một số nước trên thế giới nhất là trong giaiđoạn hiện nay Việt Nam đã là thành viên của Công ước Lahay năm1993
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
+ Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản vềpháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoàicủa Việt Nam
+ Phân tích quy định hiện hành của pháp luật pháp luật ViệtNam và điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên điều chỉnh quan hệnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có so sánh với pháp luật của
Trang 10một số nước trên thế giới, để từ đó tìm ra điểm tương đồng và điểmkhác biệt của pháp luật Việt Nam so với các nước trong điều chỉnhquan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Từ việc nghiên cứupháp luật của một số nước trên thế giới và trong khu vực về nuôicon nuôi, luận văn rút ra bài học cho Việt Nam trong hoàn thiệnpháp luật trong lĩnh vực này
+ Đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi quy định của pháp luật điềuchỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, từ đó đưa ra giải pháp đểhoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn hội nhập và phát triển
là thành viên của Công ước Lahay năm 1993 để từ đó rút ra bài học, kinhnghiệm cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật vềnuôi con nuôi
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những mục đích đã được xác định ở trên, tác giả dựa trên cơ sở lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trong đó tác giả đặc biệt coi trọng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, so sánh và phương pháp lịch sử Trong số các phương pháp
cụ thể này, phương pháp so sánh được sử dụng như là phương pháp chủđạo để đối chiếu giữa quy định của pháp luật Việt Nam hiện hànhvới quy định trước đây; để đối chiếu quy định của pháp luật Việt Namvới pháp luật một số nước trên thế giới và khu vực để tìm ranhững điểm tương đồng và những điểm khác biệt của pháp luật ViệtNam trong lĩnh vực này
5 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về pháp luật điềuchỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Có thể coi nhữngđiểm sau đây là những đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn:
- Phân tích một cách có hệ thống lí luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài;
- Phân tích một cách hệ thống và có so sánh những quy định của pháp luậtViệt Nam và các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên điềuchỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Đồng thời, phân tích và sosánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trên thế giới vàkhu vực để rút ra bài học cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật điềuchỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài;
Trang 12- Đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; đềxuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnhvực này
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
- Những kết quả nghiên cứu của Luận văn là những bổ sung vào
lí luận về pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế;những đề xuất, kiến nghị trong luận văn có thể đóng góp một phầnnhỏ vào việc hoàn thiện và đổi mới pháp luật điều chỉnh quan hệnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
- Có thể sử dụng Luận văn làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên chuyênngành luật, các tài liệu nghiên cứu về vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài
- Các nội dung đề xuất, giải pháp trong luận văn cũng có thểđược áp dụng để giải quyết phần nào những bức xúc liên quan đã vàđang đặt ra trong thực tiễn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài ở Việt Nam
Trang 13Chương II: Nội dung quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnhquan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam - so sánhvới pháp luật một số nước trên thế giới.
Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việtnam điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tronggiai đoạn hiện nay
Trang 14CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON
NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi
1.1.1.1.Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một quan hệ xã hội
Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ lâu tronglịch sử nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con người, thể hiệnmối quan hệ gắn bó của con người với nhau trên cơ sở những lợi íchchung Với tư cách là một quan hệ xã hội, nuôi con nuôi được E.A.Weinstein định nghĩa trong từ điển bách khoa toàn thư về các mônkhoa học xã hội như sau:
“Theo nghĩa rộng và không mang tính pháp lý thì nuôi con nuôi được định nghĩa như là một thực tiễn xã hội được thể chế hoá, theo đó một cá nhân thuộc về một gia đình hoặc một nhóm mang tính chất gia đình do sinh ra tiếp nhận những liên hệ mới mang tính chất gia đình và những liên hệ mới này được xã hội coi như ngang bằng với những mối liên hệ ruột thịt và thay thế một phần hoặc toàn bộ những mối liên hệ đó” (Theo E.A Weinstein,
“Adoption”, in International Encyclopedia of the Social Sciences,New York, 1968, p.97) [23, tr.17-18]
Dưới góc độ xã hội thì nuôi con nuôi được hiểu là một quan hệ
xã hội được thiết lập giữa người nhận nuôi con nuôi với người đượcnhận làm con nuội nhằm hình thành quan hệ cha mẹ và con
Trang 15trong thực thế với những mối liên hệ gia đình mới, để thoả mãnnhững nhu cầu tinh thần hoặc lợi ích vật chất nhất định của cácbên.
1.1.1.2.Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý
Dưới góc độ pháp lý, nuôi con nuôi được hiểu là sự xác lập về mặtpháp lý quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người đượcnhận nuôi mà giữa hai bên không có mối quan hệ huyết thống.Tuy nhiên, cho đến nay chưa có văn bản pháp lý nào, kể cả Công ướcLahay 1993 cũng như các điều ước quốc tế đa phương hay song phươngđưa ra khái niệm hoàn chỉnh mang tính pháp lý về nuôi con nuôi Quan điểm của các nước về bản chất pháp lý của việc nuôi connuôi có sự khác nhau Một số nước như Thuỵ Điển, Pháp, Đức… chorằng việc nuôi con nuôi thể hiện ý chí đơn phương Ý chí đó chỉ cóhiệu lực khi được những người có liên quan (cha, mẹ đẻ, người giám
hộ hoặc chính bản thân đứa trẻ) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền(thường là Toà án) đồng ý Do vậy, việc nuôi con nuôi được coi là hành
Trang 16Quan điểm của Việt Nam tuy chưa thật sự rõ nét nhưng cũng đãđược thể hiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Luật HN&GĐ2000), theo đó dưới góc độ pháp lý, việc nuôi con nuôi không thể làmột hợp đồng dân sự giữa người nhận nuôi và người cho con nuôi Điều
71 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định “sự đồng ý” mà không phải sự
thoả thuận của các bên Đây là sự khác biệt quan trọng so với quyđịnh phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người nuôi, của cha
mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên Điều nàycho thấy sự ghi nhận bản chất của việc nuôi con nuôi khôngphải là một hợp đồng [23, tr.24]
Dù quan điểm khác nhau thì tựu chung lại có thể thấy về bảnchất pháp lý, nuôi con nuôi được hiểu là một sự kiện pháp lý làm phátsinh quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người đượcnhận nuôi Như vậy, với tư cách là một sự kiện pháp lý, nuôi con nuôi
là một hình thức pháp lý nhằm xác lập quan hệ cha mẹ và congiữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi theo cácđiều kiện do pháp luật quy định, mà không liên quan đến quan hệhuyết thống giữa hai bên
1.1.1.3.Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một quan hệ pháp
luật
Với tư cách là một quan hệ pháp luật, quan hệ nuôi con nuôi cóthể được hiểu theo nghĩa là một quan hệ pháp luật hoặc là nhómcác quan hệ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi
Theo nghĩa là một loại quan hệ pháp luật, nuôi con nuôi cócác yếu tố chủ thể, khách thể và nội dung Chủ thể của quan hệ
Trang 17nuôi con nuôi bao gồm: người cho con làm con nuôi (cha mẹ đẻ,người giám hộ), người nhận nuôi con nuôi, người được nhận làm connuôi Những lợi ích về vật chất hoặc tinh thần mà các chủ thểhướng tới chình là khách thể của quan hệ này Nội dung củaquan hệ nuôi con nuôi là những quyền và nghĩa vụ pháp lý tươngứng của các chủ thể trên cơ sở phát sinh quan hệ cha mẹ và conhợp pháp giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi [23, tr.30].Quan hệ pháp luật nuôi con nuôi còn được hiểu theo nghĩa lànhóm các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi Cácquan hệ pháp luật này có thể là các loại quan hệ pháp luật khácnhau, như: quan hệ pháp luật hành chính trong đăng kí việc nuôi connuôi; quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình trong việc điều chỉnhquan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi; quan
hệ pháp luật tố tụng trong giải quyết chấm dứt việc nuôi connuôi… Tập hợp tất cả các quan hệ pháp luật này thể hiện sựđiều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội phát sinhtrong lĩnh vực nuôi con nuôi [23, tr.32]
1.1.1.4.Nuôi con nuôi với ý nghĩa là một chế định pháp lý
Trong việc nuôi con nuôi, yếu tố quyết định đến hiệu lực pháp
lý của việc nuôi con nuôi là sự công nhận của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, là sự thể hiện ý chí của nhà nước, chứ không phải là
ý chí đơn phương của các chủ thể Ý chí của nhà nước được thể hiệnqua hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi connuôi Do đó còn có thể hiểu khái niệm nuôi con nuôi với tư cách làmột chế định pháp lý
Trang 18Chế định nuôi con nuôi là tổng hợp các quy phạm pháp luật,
do nhà nước ban hành, điều chỉnh việc xác lập, thực hiện, thay đổi,chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể có liênquan trong việc cho nhận con nuôi, trên cơ sở hình thành quan hệcha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm connuôi
Khái niệm nuôi con nuôi đã được quy định một cách rõ ràng tạiĐiều 67 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Nuôi con nuôi là
việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi
và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội” Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã thừa kế khái niệm đó
nhằm kiến tạo một hệ thống các thuật ngữ pháp lý về nuôi connuôi
Theo đó, khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 xác định:Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài,bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôithông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên
có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vì lợi ích tốt nhất củatrẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được yêu thương,chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế
Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha, mẹ
và con bằng con đường nuôi dưỡng để phân biệt với việc hình thànhquan hệ giữa cha, mẹ và con bằng con đường huyết thống Nếunhư quan hệ giữa cha, mẹ đẻ và con đẻ là quan hệ gia đình “huyết
Trang 19thống” được hình thành do việc sinh đẻ thì quan hệ giữa cha, mẹnuôi và con nuôi là quan hệ “nhân tạo” được xác lập về mặt pháp
lí Một quan hệ nuôi con nuôi chỉ được xác lập khi có sự tham giacùng lúc của hai loại chủ thể hưởng quyền, có khả năng và điềukiện thực hiện các quyền chủ thể tương ứng, đó là “chủ thể nhậnnuôi con nuôi” (cha, mẹ nuôi) và “chủ thể được nhận làm connuôi” (con nuôi)
1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Khái niệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản
5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Theo đó, nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.
Trên cơ sở đó, Điều 28 Lụât Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõcác trường hợp được coi là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài,bao gồm:
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú
ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôivới Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú
ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:
+ Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;+ Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm connuôi;
Trang 20+ Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làmcon nuôi;
+ Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnhhiểm nghèo khác làm con nuôi;
+ Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trongthời gian ít nhất là 01 năm
- Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nướcngoài làm con nuôi
- Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ởViệt Nam
Như vậy, theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi được thực hiệngiữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nướcngoài với nhau cùng thường trú tại Việt Nam, giữa công dân ViệtNam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài Quyđịnh này phù hợp với quy định của Công ước Lahay năm 1993, theo đó,việc nuôi con nuôi được thực hiện giữa một người hoặc hai người là vợchồng cùng thường trú ở nước ngoài xin nhận một trẻ em thường trú
ở nước khác làm con nuôi, có sự di chuyển trẻ em từ nước này sangnước khác, và thông lệ của một số nước trên thế giới coi việcnhận một trẻ em có quốc tịch khác làm con nuôi là nuôi connuôi quốc tế [14,tr.5]
1.1.3.Vai trò của pháp luật về nuôi con nuôi
Nếu trước đây việc nuôi con nuôi được coi như một phương thức đểđảm bảo sự nối dõi tông đường và duy trì sự phát triển tài sản
Trang 21của cha ông để lại thì ngày nay ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi
đã thay đổi Nuôi con nuôi không chỉ là một biện pháp phúc lợicho trẻ em mà còn là một biện pháp xã hội và pháp lý bảo vệtrẻ em nhằm tạo ra mái ấm gia đình, sự yêu thương đùm bọc của cha
mẹ nuôi để cứu giúp những trẻ em bất hạnh bị mồ côi, lang thang cơnhỡ, cha mẹ bỏ rơi, không nơi nương tựa…
Pháp luật về nuôi con nuôi có vai trò quan trọng trong việcxác lập, điều chỉnh quan hệ gia đình được hình thành từ việc nuôicon nuôi, cụ thể:
- Sự điều chỉnh của pháp luật là nhằm định hướng, tạo khungpháp lý cơ bản cho việc nuôi con nuôi, để thực hiện một trong cácquyền cơ bản của con người, đặc biệt là của trẻ em, phù hợp vớicác chuẩn mực đạo đức của xã hội và lợi ích chung của đất nước;
- Mục đích của việc nuôi con nuôi trong thực tế rất đa dạng Sựđiều chỉnh của pháp luật là cần thiết nhằm xác định rõ mục đíchcủa việc nuôi con nuôi là xác lập quan hệ cha mẹ và con giữahai bên, bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên, mà trước hết là của trẻ
em được nhận làm con nuôi;
- Pháp luật nuôi con nuôi xác định quyền và nghĩa vụ của cácbên trong quan hệ nuôi con nuôi, làm cho các bên đặc biệt là bênngười nhận nuôi con nuôi hiểu rõ được quyền và trách nhiệm củamình khi thiết lập quan hệ nuôi con nuôi Quan hệ cha mẹ vàcon trong việc nhận nuôi con nuôi là quan hệ đặc thù, không gắnvới huyết thống sinh học Do đó, việc xác lập các quyền và nghĩa
vụ pháp lý của các chủ thể bằng các quy phạm pháp luật là cần
Trang 22thiết nhằm tạo sự ổn định, bền vững trong gia đình, đảm bảo đượcquyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi connuôi;
- Pháp luật nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để giải quyết có hiệuquả tình trạng trẻ em không có đủ điều kiện tốt trong gia đình để chúngđược phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần;
- Pháp luật nuôi con nuôi là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyềnthực hiện việc kiểm tra, giám sát, điều chỉnh việc nuôi con nuôi;phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi xâm phạm lợiích của trẻ em được nhận nuôi hoặc hành vi lạm dụng việc nuôi connuôi để thực hiện những mục đích trái pháp luật, trái đạo đức khác;
- Do quan hệ nuôi con nuôi bị chi phối trước hết bởi yếu tốtình cảm của chủ thể nên sự điều chỉnh của pháp luật có ý nghĩaquan trọng Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi connuôi là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranhchấp phát sinh có liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi, như: xác định họtên, quyền thừa kế tài sản của người con nuôi, trách nhiệm bồithường thiệt hại về tài sản do người con nuôi gây ra…
1.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài ở Việt Nam đòi hỏi phải có sự nghiên cứu quá trình hình thành và pháttriển của nó trong thời gian qua, thực trạng hệ thống pháp luật đó trong giai đoạnhiện nay và xu thế vận động của nó trong thời gian tới Trên cơ sở xuất phát
Trang 23điểm như vậy, có thể chia quá trình hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnhquan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thành hai giai đoạn lớn:Giai đoạn trước thời kì đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế (trước năm 1986) vàgiai đoạn từ thời kì đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đến nay.
1 2.1 Giai đoạn trước thời Kì đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn này, có thể thấy những điểm phát triển của nóqua các giai đoạn nhỏ sau:
1.2.1.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945
Các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi
chiếm vị trí quan trọng trong pháp luật phong kiến nước ta từ thế
kỉ XV đến thế kỉ XIX, tiêu biểu nhất là hai bộ luật Quốc triều hìnhluật và Hoàng Việt luật lệ
- Quốc triều hình luật, còn gọi là Bộ luật Hồng Đức được banhành dưới triều Lê Bộ luật Hồng Đức là một công trình vĩ đại, đã kếthừa các di sản luật pháp của các đời vua trước, đồng thời tiếp thu
có gạn lọc Bộ luật nhà Đường (Trung Quốc) mà vẫn giữ được nét độcđáo của nền cổ luật Việt Nam, thể hiện phong tục tập quán lâu đời
và truyền thống văn hoá dân tộc
- Hoàng Việt luật lệ, còn gọi là Bộ luật Gia Long, được ban hànhvào đầu thời Nguyễn
Hai bộ luật này quy định khá cụ thể việc điều chỉnh quan hệpháp lí giữa vợ và chồng, quan hệ tài sản của vợ, chồng và con
Trang 24trong gia đình, vấn đề nuôi con nuôi Nghiên cứu các chế định nàycho thấy, pháp luật nước ta lúc đó đã thể hiện rõ nét phong tục,tập quán truyền thống của người Việt Nam về gia đình, trong đó cónhững điểm mà chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu Song các bộluật này cũng không thể tránh khỏi hạn chế của chế độ phongkiến đang suy tàn, xu hướng duy trì chế độ phụ hệ cứng nhắc, triệttiêu sự bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái, con nuôi
và con đẻ Nói về mối quan hệ này INSUNYN học giả người Hàn
Quốc viết: “Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ giữa
hai thế hệ (cha mẹ là thế hệ bề trên, con cái là thế hệ bề dưới);
Sự thống trị và sự lệ thuộc là kiểu mẫu chung của cách đối xử trong xã hội truyền thống Việt Nam”[31, tr.134].
Dưới thời Pháp thuộc, đất nước ta bị chia làm ba Kì là Bắc Kì,Trung Kì và Nam Kì Sau khi xâm lược Việt Nam và đặt ách đô hộ ở Nam
Kì, thực dân Pháp đã ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam Kì ápdụng ở Nam Kì và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng Bộdân luật Bắc Kì được ban hành vào ngày 30/3/1931 theo Nghịđịnh của Thống sứ Bắc Kì để thi hành trên toàn Bắc Kì từ ngày1/7/1931 thay cho Bộ luật Gia Long Hoàng Việt Trung Kì hộ luậtđược ban hành năm 1939 thi hành trên toàn Trung Kì Về thực chấtvẫn là phiên bản của Bộ dân luật Bắc Kì có sửa đổi, bổ sung một
số điều cho phù hợp với các tỉnh Trung Kì và triều đình Huế Vềquan hệ hôn nhân và gia đình, các bộ luật này đã quy định về quyền
và nghĩa vụ giữa vợ, chồng, chế độ tài sản của vợ chồng, vấn đềnuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con theo mô
Trang 25hình phương Tây Song pháp luật dân sự thời Kì này có những mặthạn chế nhất định Hạn chế đáng kể nhất đó là các quy định về giađình vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến, đề cao nho giáo, trọngnam khinh nữ và đề cao quyền gia trưởng, nhiều quy định về nghĩa
vụ của con còn rất khắt khe và các bộ luật này không điều chỉnhquan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung vàquan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng Ở ViệtNam, nếu nhìn rộng ra sẽ thấy trong thời kì này các quan hệ hônnhân và gia đình có yếu tố nước ngoài không được luật quy định
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này cómột số đặc điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật trong nước về quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi cóyếu tố nước ngoài nói riêng còn hết sức đơn giản, chưa tập hợpthành hệ thống, chưa điều chỉnh đầy đủ các quan hệ đó Ngoài các vănbản hướng dẫn về đường lối xét xử của Toà án nhân dân tối cao đốivới các vụ việc có yếu tố nước ngoài, Nhà nước ta chủ trương chưa ban
Trang 26hành văn bản pháp luật riêng để điều chỉnh trực tiếp quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài mà chỉ điều chỉnh quan hệ hônnhân và gia đình trong nước theo Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp đã ghinhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt Đó là cơ sởpháp lí quan trọng để xây dựng chế độ gia đình mới dân chủ vàtiến bộ ở nước ta Ngoài ra, trong thời kì này quan hệ hôn nhân vàgia đình còn được điều chỉnh theo một số sắc lệnh Các sắc lệnh đãxoá bỏ những quy định lạc hậu của chế độ gia đình phong kiến,thực dân, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thúc đẩyphát triển xã hội Việt Nam
Thứ hai, quan hệ hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà với các nước chủ yếu với các nước XHCN ở giai đoạn này mới bắtđầu kiến lập và dần dần được củng cố Bên cạnh sự giúp đỡ vềchính trị, kinh tế, khoa học kĩ thuật, các nước còn tiếp nhận đào tạonhiều công dân Việt Nam thuộc các ngành nghề khác nhau Thời
kì này Việt Nam đã bắt đầu gửi sang Liên Xô và các nước Đông Âu nhiềucông dân để học tập, nghiên cứu, đồng thời Việt Nam cũng tiếpnhận chuyên gia, cán bộ của các nước đến công tác, giúp đỡ và huấnluyện cho cán bộ Việt Nam Trong bối cảnh đó, các quan hệ xã hội
có yếu tố nước ngoài phát sinh, đòi hỏi phải được pháp luật điềuchỉnh, tuy vậy, vấn đề điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài chưa phải là yêu cầu bức xúc Nhưng chính nhờ vậy đã làmnảy sinh khả năng tiềm tàng cho sự phát triển tiếp tục các xu hướngđiều chỉnh pháp luật quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam trong các giai đoạn sau
Trang 27Trong giai đoạn này, bản Hiến pháp mới của nước Việt Nam dân chủ cộnghòa đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 31/12/1959 tiếp tụckhẳng định và ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 24) Xuất phát từtình hình thực tế của quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kì mới, Luật hônnhân và gia đình đã được Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 11 ngày 29/12/1959
và được Chủ tịch nước kí Sắc lệnh số 02/SL công bố ngày 13/1/1960 Về quan
hệ hôn nhân và gia đình, Luật đã điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa vợ vàchồng, giữa cha, mẹ và con Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959không có quy phạm điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong thời
kỳ này đã có sự phát triển nhất định so với giai đoạn trước, biểu hiện ở một sốnội dung sau:
Thứ nhất, pháp luật đã điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có
yếu tố nước ngoài Cụ thể:
Ở miền Bắc, trong năm 1961 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
04 ngày 16/1/1961 kèm theo Điều lệ về đăng kí hộ tịch, trong đó có quyđịnh vấn đề sinh, tử, kết hôn Ngày 21/6/1961, Bộ nội vụ ban hànhThông tư số 05/NV hướng dẫn thi hành Điều lệ về đăng kí hộ tịch nói trên.Tuy nhiên, trong văn bản pháp luật này chưa quy định điều chỉnh quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đầy đủ nhưng những quy định đó
sẽ là nền móng cơ bản để chúng ta giải quyết quan hệ nuôi connuôi Trong giai đoạn này, một số ít trường hợp người nước ngoàinhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đã được giải quyết Do vấn đềnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không được cụ thể hoá trong các văn
Trang 28bản pháp luật nói trên nên khi giải quyết các việc này các cơ quannhà nước có thẩm quyền của ta còn gặp nhiều lúng túng, khó khăn.Một điểm đáng chú ý, ở miền Nam, cũng trong thời gian này, chính quyềnNguỵ Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Bộ dân luật ngày 20/12/1972.Trong bộ dân luật này đã quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài Chẳng hạn, Điều 248 Bộ dân luật Sài Gòn 1972 quy định về vấn đề
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, theo quy định này thì “Người Việt Nam có
thể lập người ngoại quốc làm con nuôi hay làm con nuôi của người ngoại quốc”.
Sau khi thống nhất đất nước (năm 1975), quan hệ hợp tác giữa Việt Namvới các nước ngày càng được mở rộng Trong bối cảnh có nhiều công dân ViệtNam ra nước ngoài học tập, công tác, nghiên cứu và lao động, cũng như có nhiềuchuyên gia, cán bộ nước ngoài vào Việt Nam công tác, làm việc đã phát sinhngày càng nhiều các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài, đòi hỏi phải được pháp luật điều chỉnh Để xử lí tình hình này,CHXHCN Việt Nam đã tiến hành đàm phán và kí kết các HĐTTTP với Cộnghoà dân chủ Đức (1980), Liên Xô (1981), Tiệp Khắc (1982), Cu Ba (1984),Hungari (1985), Bungari (1986) Các hiệp định này đã tạo lập một khung pháp líkhá hoàn chỉnh điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi giữa các nước kí kết hiệp định.Song song với việc kí kết các hiệp định, Nhà nước cũng ban hành một số vănbản để điều chỉnh một số vấn đề riêng lẻ trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài
Thứ hai, ngoài quan hệ hợp tác quốc tế với các nước XHCN, Việt Nam đã
dần dần mở rộng quan hệ với các nước khác, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài cũng dần dần trở nên phức tạp hơn Tuy vậy, trong giai đoạn này,
Trang 29HĐTTTP đã chỉ được kí giữa các nước XHCN, được thực hiện trên các nguyêntắc XHCN, có nội dung cơ bản giống nhau
Các HĐTTTP này đã điều chỉnh khá toàn diện các vấn đề quan hệ hôn nhân
và gia đình như quan hệ kết hôn, quan hệ pháp lí giữa vợ, chồng, quan hệ pháp lígiữa cha, mẹ và con, vấn đề nuôi con nuôi, vấn đề giám hộ; vấn đề xung độtpháp luật và xung đột thẩm quyền được giải quyết khá cụ thể Việc thiết lập quan
hệ điều ước quốc tế như vậy cũng đặt ra khả năng đàm phán và kí với các nướckhác những hiệp định tương tự và cũng đặt ra yêu cầu cần thiết hoàn thiện hệthống pháp luật điều chỉnh quan nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước tatrong giai đoạn sau đó
1.2.2 Giai đoạn đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài ở Việt Nam trong giai đoạn này có thể thấy sự phát triển của nó theo cácgiai đoạn sau:
1.2.2.1 Giai đoạn từ 1986 - 2000
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới sự lãnh đạo của Đảng,nước ta bước sang một thời Kì mới, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường theođịnh hướng XHCN Trước những thay đổi mới to lớn của đất nước, Nhà nước ta
đã ban hành nhiều văn bản pháp luật kịp thời điều chỉnh những quan hệ mới phátsinh
Ngày 29/12/1986 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã được Quốc hộithông qua Luật này quy định nhiều vấn đề mới phù hợp với hoàn cảnh hiện tạicủa đất nước Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hôn nhân và gia đình, Nhànước ta đã dành một chương (Chương IX) quy định về quan hệ hôn nhân và giađình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Việc giành một chương
Trang 30riêng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định về quan hệ hôn nhân
và gia đình có yếu tố nước ngoài là bước phát triển mới của pháp luật hôn nhân
và gia đình, đáp ứng được nhu cầu của tình hình mới và phản ánh xu hướng mởrộng phạm vi điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình, bước đầu quy định vềnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Tuy các quy định này vẫn còn rất chungnhưng đây là bước tiến quan trọng trong điều chỉnh pháp luật quan hệ nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài
Trong khoảng thời gian từ 1986 - 1992, Quốc hội đã thông qua một số vănbản pháp lí có liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhưLuật quốc tịch năm 1988, Điều 14 quy định trẻ em là công dân Việt Nam làmcon nuôi người nước ngoài không vì thế mà mất quốc tịch Việt Nam; Pháp lệnhlãnh sự năm 1990, trong đó có quy định Cơ quan lãnh sự có thẩm quyền đăng kíkết hôn, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Ngày 29/4/1992, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Quyết định số145/HĐBT quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ
em mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật ở các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động thươngbinh xã hội quản lí Sau đó, ngày 19/1/1993, Bộ lao động - thương binh - xã hội,
Bộ tư pháp, Bộ ngoại giao, Bộ nội vụ đã ban hành Thông tư liên bộ số 01/TTLBhướng dẫn thi hành Quyết định 145/HĐBT Có thể nói, Quyết định số145/HĐBT là văn bản pháp luật trong nước đầu tiên của Việt Nam cụ thể hoáviệc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc cho người nước ngoài nhận trẻ emViệt Nam làm con nuôi, Quyết định số 145/HĐBT đã bộc lộ một số hạn chế sau:
- Quyết định số 145/HĐBT chỉ điều chỉnh việc người nước ngoài xin trẻ emViệt Nam đang sống trong các cơ sở nuôi dưỡng của ngành lao động - thương
Trang 31binh - xã hội làm con nuôi, còn trường hợp trẻ em thuộc đối tượng khác như trẻ
em trong các cơ sở y tế, trong gia đình đông con kinh tế khó khăn, trẻ em langthang ngoài xã hội thì không thuộc đối tượng điều chỉnh của Quyết định này
- Quyết định số 145/HĐBT chưa có quy định cụ thể về cơ quan quản lí việccho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài dẫn đến tình trạng khôngthống nhất giữa các cơ quan quản lí ở từng địa phương, ví dụ như quy định về cơquan thụ lí hồ sơ ở Hà Nội là Sở tư pháp, ở Thanh Hoá là Sở lao động - thươngbinh - xã hội, ở Hà Tây là Sở ngoại vụ
- Lệ phí và các khoản thu khác chưa được quy định cụ thể rõ ràng, việc thu
- chi chưa được các cơ quan chức năng quản lí chặt chẽ
Để thi hành Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, theo đề nghị của Chínhphủ, ngày 2/12/1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh hônnhân và gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài (Pháp lệnh năm1993) Đây là văn bản pháp luật đầu tiên tương đối hoàn chỉnh giải quyết xungđột pháp luật (và xung đột về thẩm quyền) trong lĩnh vực quan hệ hôn nhân vàgia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuoi có yếu tốnước ngoài nói riêng Để thi hành Pháp lệnh, ngày 30/11/1994 Chính phủ banhành Nghị định số 184/CP quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú,nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài (Nghịđịnh số 184/CP) Tiếp đó, ngày 25/5/1995, liên Bộ tư pháp - Bộ ngoại giao - Bộnội vụ đã ban hành Thông tư số 503/TTLB hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định
số 184/CP Ngày 23/8/1995, Bộ tư pháp ban hành Thông tư số 337/TT-PLQThướng dẫn thi hành một số quy định của Thông tư số 503 nói trên Tuy nhiên,các văn bản này chỉ quy định các vấn đề về quan hệ nuôi con nuôi giữa công dânViệt Nam với người nước ngoài và giữa công dân Việt Nam với nhau mà một
Trang 32bên ở nước ngoài, còn giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Namthì chưa được quy định
Phân tích các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài này cho thấy:
Thứ nhất, Nhà nước đã phân cấp trực tiếp cho uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh
nơi thường trú của công dân Việt Nam hoặc Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơquan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài giải quyết một số vấn đề liên quan tới quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó có quan hệ nuôi connuôi
Thứ hai, quy định chọn những quy tắc xung đột cần thiết phải áp dụng để
giải quyết những quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo xu hướngđược nhiều nước chấp nhận Yếu tố hội nhập quốc tế ở đây đã thấy khá rõ
Thứ ba, quan hệ điều ước quốc tế trong lĩnh vực này được định lập theo
HĐTTTP và được ưu tiên áp dụng để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi giữa cácnước kết ước
Nhà nước ta đã tiếp tục kí kết các HĐTTTP với Ba Lan ngày 23/3/1993;với CHDCND Lào ngày 6/7/1998; với Liên bang Nga ngày 25/ 8/1998; vớiCHND Trung Hoa ngày 19/10/1998; với Cộng hoà Pháp ngày 24/02/1999; vớiUcraina ngày 6/4/2000; với Mông Cổ ngày 17/4/2000; với Bêlarút ngày14/9/2000; với CHDCND Triều Tiên ngày 04/05/2002
Ngoài ra, trong giai đoạn này Việt Nam đã ban hành một số văn bản phápluật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài như Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyếtđịnh dân sự của toà án nước ngoài năm 1993; Luật quốc tịch Việt Nam năm1998; Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/10/1998
Trang 33về đăng kí hộ tịch và Bộ tư pháp ban hành Thông tư số 12/1999/TT-BTP ngày25/6/1999 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 83/CP TrongNghị định số 83/CP có Chương 4 quy định về đăng kí hộ tịch có yếu tố nướcngoài.
Tóm lại, nghiên cứu pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn 1986-2000, có thể rút ra một số nhận xétsau:
- Trong giai đoạn này, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật kháđầy đủ, đồng bộ, quy định tương đối chi tiết điều chỉnh các vấn đề thuộc quan hệnuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Các văn bản này, đã góp phần quan trọngvào việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Nhà nước ta trong thời kìmới, góp phần tăng cường củng cố các mối quan hệ hữu nghị, ổn định các quan
hệ xã hội phát sinh hết sức đa dạng và phức tạp trong thời kì mở cửa
- Về mặt quản lí nhà nước, các văn bản pháp lí đó đã định ra một cơ chếphối hợp chặt chẽ giữa Bộ tư pháp với các uỷ ban nhân dân tỉnh trong giải quyếtcác việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, đưa công tác này đi vào nề nếp,khắc phục nhiều bất cập trong lĩnh vực này trong thời kì trước đây
- Các HĐTTTP được kí kết trong giai đoạn này có phạm vi điều chỉnhkhông giống nhau Trong khi hiệp định với Ba Lan, Lào, Nga, Mông Cổ, Bêlarútđiều chỉnh tổng thể các vấn đề như các Hiệp định kí trước năm 1986, thì Hiệpđịnh với Trung Quốc chỉ điều chỉnh các vấn đề tương trợ tư pháp giữa các cơquan tư pháp của hai nước và thống nhất các quy tắc xác định thẩm quyền xét xử
mà không quy định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng để giải quyết xung độtpháp luật, Hiệp định với Pháp chỉ điều chỉnh các vấn đề dân sự
1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 2000 đến 2010
Trang 34Trước thực tế khách quan của các quan hệ xã hội nói chung
và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng phát sinh ngàycàng đa dạng và phức tạp, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá X, ngày09/6/2000 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đó được thông qua, có hiệulực kể từ ngày 01/01/2001 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đó dành cảmột chương XI quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tốnước ngoài, trong đó Điều 105 điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi cóyếu tố nước ngoài Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thay thế choLuật hôn nhân và gia đình 1986, Pháp lệnh năm 1993, Nghị định số184/CP và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã xác định rõ nguyên tắc, cách giảiquyết xung đột pháp luật và xung đột về thẩm quyền trong quan hệ nuôi con nuôi
cú yếu tố nước ngoài Sự ra đời của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đápứng được yêu cầu thực tế trong việc giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài Nó có phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với Luật hôn nhân và giađình năm 1986, Pháp lệnh năm 1993 ở chỗ, Luật này điều chỉnh quan hệ nuôicon nuôi giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam Đặc biệt,Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định riêng áp dụng cho vùng biêngiới
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định thẩm quyền giải quyết cácviệc về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài rõ ràng và có tính khả thi hơn so vớiLuật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Pháp lệnh năm 1993 Để quy định chitiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân vàgia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tốnước ngoài nói riêng, cần phải ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định số
Trang 35184/CP, bởi vì, qua 6 năm thi hành Nghị định số 184/CP đã bộc lộ một số điểmtồn tại, bất cập đó là:
Thứ nhất, thời điểm xây dựng Nghị định chúng ta chưa có điều kiện khảo
sát so sánh pháp luật về thủ tục với các nước mà chỉ xuất phát một cách chủ quantheo thực tế trong nước, trong khi đó đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 184/
CP mới, rộng, chủ thể là bên nước ngoài, tham gia vào quan hệ nuôi con nuôivới công dân Việt Nam rất đa dạng Điểm này đưa đến tình trạng khi áp dụngpháp luật phát sinh vướng mắc pháp lí do sự khác biệt về hệ thống pháp luật giữaViệt Nam với các nước
Thứ hai, các quy định của Nghị định số 184/CP mang tính dự liệu chưa cao.
Nhiều quy định của Nghị định chung chung, các bộ, ngành phải ban hành cácthông tư liên tịch để hướng dẫn thống nhất cách vận dụng Một số vấn đề khivận dụng không có tính khả thi như việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Namvới công dân của nước láng giềng ở địa bàn các tỉnh biên giới hoặc với ngườinước ngoài đã sinh sống lâu đời tại Việt Nam
Thứ ba, trong quá trình tổ chức thực hiện ở một số tỉnh có hiện tượng
buông lỏng quản lí, tạo điều kiện cho sự phát sinh các hành vi vi phạm pháp luậtnhư việc tiếp nhận hồ sơ xin con nuôi của người nước ngoài từ các tổ chức phiChính phủ hoạt động “ngầm” trong lĩnh vực nuôi con nuôi
Thứ tư, Nghị định số 184/CP chưa quy định về hoạt động của các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, trong khi phápluật của nhiều nước cho phép và công nhận hoạt động hợp pháp của các tổ chứcnày Do đó, từ 1998 đến nay trên thực tế tồn tại một vấn đề khá bức xúc là cónhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam
đã liên hệ với các trung tâm bảo trợ xã hội, hoặc với UBND một số tỉnh dưới
Trang 36danh nghĩa hoạt động từ thiện, tài trợ nhân đạo nhưng thực chất là để kiếm nguồntrẻ giới thiệu cho người nước ngoài có nguyện vọng xin trẻ em Việt Nam làm connuôi.
Sau khi Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Ngày
10/7/ 2002, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định số 68/2002/ NĐ- CP) đã được Chính phủ thông qua Ngày 16/12/2002 Bộ tư pháp ra thông tư số 07/2002/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP Nghị định này đã có
những thay đổi căn bản về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết cho ngườinước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi So với Nghị định 184/CP, Nghịđịnh 68/2002/NĐ-CP đã có nhiều điểm mới về nguyên tắc giải quyết việc nuôicon nuôi; đối tượng trẻ em được cho làm con nuôi; hoạt động của tổ chức nuôicon nuôi nước ngoài tại Việt Nam; thành lập Cục Con nuôi quốc tế trực thuộc
Bộ Tư pháp; trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ Tuy nhiên, quá trình thực thi Nghịđịnh 68/2002/NĐ-CP còn bộc lộ nhiều vướng mắc và bất cập cần giải quyết Dovậy, để cải tiến một số trình tự, thủ tục theo hướng minh bạch, công khai, thôngthoáng, dễ dàng cho người xin con nuôi nhằm tiến gần hơn với các yêu cầu, đòihỏi của Công ước Lahay mà khi đó nước ta đang chuẩn bị tham gia, ngày23/7/2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 69/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP Sự bổ sung này là “bước đệm” quan
trọng để Việt Nam chuẩn bị cho việc ban hành Luật Nuôi con nuôi Lần sửa đổinày cũng đã đề cập đến một số nội dung quan trọng và về cơ bản đã khắc phụcđược những hạn chế của Nghị định 68/2002/NĐ-CP như: mở rộng đối tượngđược xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi cũng như đối tượng trẻ em được cho
Trang 37làm con nuôi; hồ sơ của người xin nhận con nuôi và hồ sơ của trẻ em được cholàm con nuôi.
Nhằm thực hiện thống nhất về đối tượng áp dụng, về trình tự,thủ tục giải quyết việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Namlàm con nuôi, ngày 08/12/2006 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số08/2006/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi connuôi có yếu tố nước ngoài
Để thực hiện việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo quyđịnh của Nghị định 68/2002/NĐ-CP, ngày 05 tháng 8 năm 2003, Bộ trưởng
Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 337/2003/QĐ-BTP về việc thành lập
Cục Con nuôi quốc tế thuộc Bộ Tư pháp Cục Con nuôi quốc tế là cơquan đầu mối, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Ngày 22/8/2008Chính phủ ban hành Nghị định số 93/2008/NĐ-CP quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, CụcCon nuôi quốc tế được đổi tên thành Cục Con nuôi nhằm thốngnhất quản lý nhà nước về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôiquốc tế Hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Con nuôi được quyđịnh tại Quyết định số 2778/2008/QĐ-BTP ngày 04/12/2008 của Bộtrưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Cục Con nuôi
Cũng trong giai đoạn này, ngày 1/2/2000 Việt Nam đã kí hiệp định songphương với Cộng hoà Pháp hợp tác về lĩnh vực nuôi con nuôi Đây là Hiệp địnhđầu tiên giữa Việt Nam và nước ngoài có nội dung chỉ điều chỉnh về nuôi connuôi quốc tế Hiệp định này điều chỉnh trường hợp trẻ em là công dân của nước
Trang 38kí kết này thường trú trên lãnh thổ nước đó, được một người hoặc một cặp vợchồng thường trú trên lãnh thổ của nước kí kết kia xin nhận làm con nuôi Hiệpđịnh áp dụng đối với việc nuôi con nuôi là trẻ em đang ở trong các cơ sở nuôidưỡng được thành lập hợp pháp tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.Trong trường hợp trẻ bị mồ côi, bị tàn tật, người xin nhận con nuôi trước đây đãnhận anh, chị, em ruột của trẻ em đó làm con nuôi hoặc vì lí do nhân đạo được
Bộ tư pháp chấp thuận, thì giải quyết cho người xin nhận con nuôi được xin đíchdanh trẻ em đó từ gia đình
Theo Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi, việc quyết định cho trẻ em làm connuôi thuộc thẩm quyền cơ quan nhà nước của nước kí kết mà trẻ em là công dân.Trong trường hợp pháp luật của nước kí kết nơi người xin nhận con nuôi thườngtrú quy định một hình thức nuôi con nuôi đòi hỏi phải có quyết định mới về việcnuôi con nuôi, thì quyết định đó thuộc thẩm quyền cơ quan nhà nước của nước kíkết nơi người xin nhận con nuôi thường trú (Điều 7) Việc xác định cá nhân, tổchức có quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi và hình thức thể hiện sự đồng ý
đó tuân theo pháp luật của nước kí kết mà trẻ em là công dân
Mô hình cho nhận con nuôi theo Hiệp định hợp tác nuôi con nuôi, được xâydựng dựa trên mô hình cho nhận con nuôi của Công ước La Hay năm 1993, cómột số điểm khác với mô hình cho nhận con nuôi theo Nghị định số 184/CP, đólà: quy định về việc giải quyết hồ sơ xin nhận con nuôi thông qua cơ quan trungương về nuôi con nuôi và có sự tham gia của tổ chức con nuôi Theo quy địnhcủa Hiệp định, cả hai bên Việt Nam và Pháp đều phải chỉ định cơ quan trungương để thi hành Hiệp định Về phía Pháp, là cơ quan con nuôi quốc tế trựcthuộc Bộ ngoại giao Pháp Về phía Việt Nam, là cơ quan con nuôi quốc tế thuộc
Bộ tư pháp Cơ quan trung ương của hai bên ngoài nhiệm vụ trực tiếp thụ lí hồ
Trang 39sơ xin nhận con nuôi còn có trách nhiệm cùng hợp tác giải quyết những vướngmắc trong quy trình cho nhận con nuôi giữa hai bên và là cơ chế để theo dõi sựphát triển của trẻ em ngay cả sau khi trẻ em đã về Pháp Ngoài ra, theo quy địnhcủa Hiệp định, các tổ chức con nuôi của Pháp có đủ điều kiện sẽ được cấp phéphoạt động nhân đạo phi lợi nhuận trong lĩnh vực nuôi con nuôi tại Việt Nam.Việc cho phép các tổ chức này hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi, khôngchỉ giúp người xin nhận con nuôi mà những hoạt động tài trợ của các tổ chức nàycòn hỗ trợ một phần về tài chính cho các cơ sở nuôi dưỡng và là cầu nối để đảmbảo việc cung cấp thông tin về tình trạng phát triển của trẻ em ngay cả sau khi đãđược nhận làm con nuôi.
Quy trình giải quyết hồ sơ xin nhận con nuôi, cơ quan có thẩm quyền giảiquyết việc cho nhận con nuôi là uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi trẻ em thường trú.Theo quy trình của Hiệp định, người xin nhận con nuôi không trực tiếp nộp hồ
sơ tại sở tư pháp mà nộp tại cơ quan con nuôi quốc tế của Pháp Thông qua Đại
sứ quán Pháp, hồ sơ này được chuyển cho Bộ tư pháp để Bộ tư pháp chuyển cho
uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Chỉ sau khi được sở tư pháp thông báo về trẻ em đượcgiới thiệu, người xin nhận con nuôi mới đến Việt Nam để hoàn tất thủ tục (nộp lệphí, khám sức khoẻ cho trẻ) và làm lễ giao nhận con nuôi
Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa CHXNCN Việt Nam và Cộnghòa Pháp đã tạo ra cơ chế hợp tác giữa hai Nhà nước Thông qua các cơ quantrung ương về nuôi con nuôi của hai bên đã bảo đảm việc cho và nhận nuôi connuôi đúng pháp luật, đúng mục đích nhân đạo, hạn chế đến mức thấp nhất nhữngbiểu hiện tiêu cực và theo dõi được tình hình phát triển của trẻ em cho đến khitrẻ em 18 tuổi Trên cơ sở Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa CHXNCNViệt Nam và Cộng hòa Pháp, Việt Nam kí Hiệp định về nuôi con nuôi với một
Trang 40số nước khác như: Vương quốc Đan Mạch (26/5/2003), Cộng hoà Italia(13/6/2003), Cộng hoà Ailen (23/9/2003), Vương quốc Thuỵ Điển (04/02/2004),
3 cộng đồng ngôn ngữ (Pháp Hà Lan, Đức) thuộc Vương quốc Bỉ (17/3/2005),Hợp chủng quốc Hoa Ký (21/6/2005), Canada (27/6/2005), Quebec Canada(15/9/2005), Liên bang Thuỵ Sĩ (20/12/2005) và Ontario Canada (03/4/2006);British Columbia – Canada (27/3/2007); Vương quốc Tây Ban Nha (5/12/2007)
và Alberta – Canada (9/6/2008) Trong số các Hiệp định này, thì Hiệp định giữaViệt Nam và 3 cộng đồng ngôn ngữ Bỉ chưa có hiệu lực do các cộng đồng ngônngữ Bỉ chưa phê chuẩn, Hiệp định với Hoa Kỳ đã hết hiệu lực ngày 01/9/2008 vàkhông được gia hạn vì Hoa Kỳ đã phê chuẩn Công ước Lahay và muốn ViệtNam sớm trở thành thành viên Công ước Các hiệp định này về cơ bản đã kếthừa và phát triển các quy định của hiệp định Việt Nam và Pháp
Việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi trên cơ sở các Hiệp địnhsong phương đã bảo đảm trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi connuôi hết sức chặt chẽ; đồng thời tạo ra cơ chế tương thích với yêu cầucủa Công ước Lahay, rút ngắn sự khác biệt trong pháp luật ViệtNam với pháp luật các nước
1.2.2.3 Từ năm 2010 đến nay
Năm 2010 là một mốc đánh dấu bước tiến quan trọng trong lĩnhvực nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nướcngoài nói riêng của Việt Nam
Ngày 17 tháng 6 năm 2010 tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XII đãthông qua Luật Nuôi con nuôi Luật này có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 01 năm 2011 gồm 5 chương và 52 điều Luật Nuôi con nuôiđược xây dựng trên quan điểm bảo đảm phù hợp với chủ trương,