1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình so sánh nông thôn đô thị

78 694 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 564,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xã hội hiện đại, mỗi cá nhân thường đảm nhiệm nhiều vị trí và vai trò khác nhau. Mỗi vị trí, vai trò lại có những yêu cầu, đòi hỏi cá nhân phải đáp ứng trong khi cơ cấu qũy thời gian không thay đổi chỉ giới hạn trong 24 hngày. Do vậy, các cá nhân phải đối mặt sức ép về thời gian để hoàn thành tốt các công việc là rất lớn. Vấn đề đặt ra là quá trình xắp xếp tổ chức cuộc sống, công việc một cách khoa học như thế nào sẽ là sự quan tâm của nhiều người. Hơn nữa, một trong những cách để hiểu rõ địa vị, vai trò của một cá nhân là tìm hiểu việc sử dụng quỹ thời gian như thế nào. Hiện nay, việc phân bố thời gian của vợ và chồng trong gia đình cho các hoạt động vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý. Người phụ nữ vừa tham gia các công tác xã hội, tham gia hoạt động sản xuất vừa làm công việc gia đình nên thời gian cho việc giải trí và nghỉ ngơi rất hạn chế. Trong khi đó nam giới lại dành một thời lượng khá khiêm tốn cho công việc gia đình và tham gia nhiều vào các hoạt động bên ngoài xã hội. Vậy cụ thể những bất hợp lý này diễn ra như thế nào, sự chênh lệch trong việc dành thời gian giữa vợ và chồng cho các hoạt động ra sao, những nhân tố nào quy định sự chênh lệch đó? Về lĩnh vực nghiên cứu, đã có rất nhiều nghiên cứu về phân công lao động theo giới có sử dụng việc phân tích quỹ thời gian.Tuy nhiên việc phân tích về việc sử dụng quỹ thời gian được coi như là phương tiện để thấy được vai trò giới và sự phân công lao động theo giới thì vẫn chưa được thật sự chú trọng. Đặc biệt, nếu có những nghiên cứu tìm hiểu về việc sử dụng qũy thời gian dưới góc độ giới thì một là chỉ giới hạn trong đối tượng là người phụ nữ và phần lớn là những nghiên cứu về người phụ nữ ở gia đình nông thôn và chưa có cái nhìn toàn diện trong sự phân tích quỹ thời gian của cả nữ giới và nam giới, cả nông thôn và thành thị. Một điều đáng chú ý nữa đó là trong các phân tích về quỹ thời gian từ trước tới nay tìm hiểu về việc sử dụng quỹ thời gian của đối tượng nghiên cứu dưới hình thức hồi cố và ước lượng những việc đã thực hiện và vì vậy tính chính xác không cao. Chính vì những lý do trên mà tôi lựa chọn đề tài “Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình – So sánh nông thôn – đô thị” làm đề tài nghiên cứu của mình để có cái nhìn tổng quát, toàn diện khi so sánh việc sử dụng cơ cấu quỹ thời gian giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình nông thôn và đô thị.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 5

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 5

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 6

5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 6

5.1 Câu hỏi nghiên cứu 6

5.2 Khung lý thuyết 7

6 Phương pháp nghiên cứu 8

6.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến 8

6.1.1 Cách thức xây dựng bảng hỏi 8

6.1.2 Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu 8

6.1.3 Quy trình khảo sát 8

6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 8

6.3 Phương pháp phân tích tài liệu 9

6.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 9

Chương 1 10

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10

1 Cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng 10

1.1.Cơ sở lý luận 10

1.2.Lý thuyết áp dụng 12

1.2.1 Lý thuyết cơ cấu quỹ thời gian (budget time) 12

1.2.2 Lý thuyết bất bình đẳng giới 16

Bất bình đẳng giới đó là sự không ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận nguồn lực và sự sử dụng các thành quả xã hội 16 F.Tonnies khi trình bày về bất bình đẳng xã hội cũng đã đề cập đến bất bình đẳng về giới, ông mô tả các bất bình đẳng xã hội ví dụ giữa nam giới và phụ

nữ, giữa tư sản và công nhân Phụ nữ và công nhân trở nên khốn khổ trong

Trang 2

quá trình văn minh hoá thời hiện đại và điều đó đem lại những hậu quả xã hội

tương ứng [ 6,119] 16

Bất bình đẳng giới là kết quả của vô số những sự bất bình đẳng về kinh tế, xã hội, văn hoá và chính trị chồng chéo lên nhau và chúng củng cố lẫn cho nhau Chúng khiến cho phụ nữ ít có khả năng tiếp cận đến quyền về tài sản, của cải và giáo dục và hạn chế khả năng tiếp cận của họ đến thị trường lao động và các lĩnh vực hoạt động bên ngoài gia đình Đến lượt nó, điều này lại ngăn cản khả năng phụ nữ có thể tác động đến các quyết định trong gia đình (WB, 2006: 80 – 81) 16

2 Các khái niệm công cụ 19

2.1 Khoảng cách giới (gender gap) 19

2.2 Vai trò giới 23

2.3 Khác biệt giới 26

4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 30

4.1 Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới 30

4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 33

Chương 2 39

CƠ CẤU QUỸ THỜI GIAN CỦA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH: SO SÁNH NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ 39

2.1 Mô tả khoảng cách giới về cơ cấu quỹ thời gian trong gia đình 39

2.1.1 Thời gian dành cho hoạt động ngủ 41

2.1.2 Thời gian dành cho công việc gia đình 42

2.1.4 Thời gian dành cho hoạt động giải trí 45

2.2 Mô hình hoá phân tích các yếu tố tác động đến khoảng cách giới trong cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng .47

2.2.1 Khoảng cách giới về thời gian công việc gia đình 47

2.2.2 Khoảng cách giới về thời gian kiếm thu nhập 57

2.2.3 Khoảng cách giới về thời gian giải trí ngày thường 59

2.2.4 Khoảng cách giới về thời gian giải trí ngày nghỉ 64

Trang 3

Danh mục các bảng biểu

Bảng 2.1 Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia

đình

40

Bảng 2.2 Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia

đình nông thôn và đô thị

42

Bảng 2.3 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách

giới về thời gian dành cho công việc gia đình

50

Bảng 2.4 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách

giới về thời gian kiếm thu nhập

60

Bảng 2.5 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách

giới về thời gian dành cho hoạt động giải trí ngày thường

63

Bảng 2.6 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách

giới về thời gian dành cho hoạt động giải trí ngày nghỉ

68

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Trong xã hội hiện đại, mỗi cá nhân thường đảm nhiệm nhiều vị trí và vai trò khác nhau Mỗi vị trí, vai trò lại có những yêu cầu, đòi hỏi cá nhân phải đáp ứng trong khi cơ cấu qũy thời gian không thay đổi chỉ giới hạn trong 24 h/ngày

Do vậy, các cá nhân phải đối mặt sức ép về thời gian để hoàn thành tốt các công việc là rất lớn Vấn đề đặt ra là quá trình xắp xếp tổ chức cuộc sống, công việc một cách khoa học như thế nào sẽ là sự quan tâm của nhiều người Hơn nữa, một trong những cách để hiểu rõ địa vị, vai trò của một cá nhân là tìm hiểu việc

sử dụng quỹ thời gian như thế nào

Hiện nay, việc phân bố thời gian của vợ và chồng trong gia đình cho các hoạt động vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý Người phụ nữ vừa tham gia các công tác xã hội, tham gia hoạt động sản xuất vừa làm công việc gia đình nên thời gian cho việc giải trí và nghỉ ngơi rất hạn chế Trong khi đó nam giới lại dành một thời lượng khá khiêm tốn cho công việc gia đình và tham gia nhiều vào các hoạt động bên ngoài xã hội Vậy cụ thể những bất hợp lý này diễn ra như thế nào, sự chênh lệch trong việc dành thời gian giữa vợ và chồng cho các hoạt động ra sao, những nhân tố nào quy định sự chênh lệch đó?

Về lĩnh vực nghiên cứu, đã có rất nhiều nghiên cứu về phân công lao động theo giới có sử dụng việc phân tích quỹ thời gian.Tuy nhiên việc phân tích

về việc sử dụng quỹ thời gian được coi như là phương tiện để thấy được vai trò giới và sự phân công lao động theo giới thì vẫn chưa được thật sự chú trọng Đặc biệt, nếu có những nghiên cứu tìm hiểu về việc sử dụng qũy thời gian dưới góc độ giới thì một là chỉ giới hạn trong đối tượng là người phụ nữ và phần lớn

là những nghiên cứu về người phụ nữ ở gia đình nông thôn và chưa có cái nhìn toàn diện trong sự phân tích quỹ thời gian của cả nữ giới và nam giới, cả nông thôn và thành thị Một điều đáng chú ý nữa đó là trong các phân tích về quỹ thời gian từ trước tới nay tìm hiểu về việc sử dụng quỹ thời gian của đối tượng

Trang 5

nghiên cứu dưới hình thức hồi cố và ước lượng những việc đã thực hiện và vì vậy tính chính xác không cao

Chính vì những lý do trên mà tôi lựa chọn đề tài “Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình – So sánh nông thôn – đô thị” làm

đề tài nghiên cứu của mình để có cái nhìn tổng quát, toàn diện khi so sánh việc

sử dụng cơ cấu quỹ thời gian giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình nông thôn

Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu mong muốn cung cấp những thông tin thực nghiệm về cơ cấu

sử dụng thời gian của vợ và chồng trong gia đình để các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những biện pháp thiết thực để giảm sự chênh lệch thời gian giữa vợ và chồng trong gia đình tạo điều kiện phát triển bình đẳng giữa nam giới

và phụ nữ

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài.

- So sánh cơ cấu quỹ thời gian của vợ chồng trong gia đình nông thôn – đô thị

- Phân tích tác động của các yếu tố cá nhân và yếu tố gia đình đến cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng

Trang 6

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia

đình nông thôn và gia đình đô thị

Khách thể nghiên cứu:

Các cặp vợ chồng ở xã Tráng Việt - Huyện Mê Linh – Hà Nội và các cặp vợ và chồng ở phường Khương Trung - Huyện Thanh Xuân – Hà Nội

5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Khoảng cách giới trong cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng như thế nào?

Câu hỏi 2: Những yếu tố nào tác động đến khoảng cách giới trong sử dụng quỹ thời gian

Trang 7

5.2 Khung lý thuyết

Để xây dựng khung lý thuyết cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn các yếu tố tác động thuộc về cá nhân và các yếu tố thuộc về gia đình tới việc sử dụng quỹ thời gian của vợ và chồng Các yếu tố thuộc về cá nhân được chúng tôi lựa chọn là: Trình độ học vấn, vị trí công tác, nghề nghiệp Các yếu tố thuộc

về gia đình, chúng tôi lựa chọn 3 yếu tố: có trẻ em dưới 3 tuổi, thu nhập và thời gian hôn nhân để xem xét sự tác động của các yếu tố này đến việc sử dụng quỹ thời gian của vợ và chồng Như vậy, chúng tôi xây dựng được khung lý thuyết như sau:

Cơ cấu quỹ thời

Vị trí công tác

Có trẻ

em dưới

3 tuổi

Thời gian hôn nhânThu nhập

Cơ cấu quỹ thời gian của chồng

Trang 8

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến

6.1.1 Cách thức xây dựng bảng hỏi

Bảng hỏi được xây dựng dựa trên nội dung nghiên cứu gồm hai phần chính:

Phần 1: Liệt kê tất cả các hoạt động trong một ngày từ 0 – 24 h của vợ và

của chồng Chúng tôi chia mỗi khoảng thời gian cách nhau 30 phút

Phần 2: Là các yếu tố thuộc về cá nhân như tuổi, độ tuổi kết hôn, nghề

nghiệp,vị trí công tác, trình độ học vấn và các yếu tố thuộc về hộ gia đình như: nơi cư trú, số thành viên, số con, các vật dụng trong gia đình v.v để phân tích sự tác động của các yếu tố tới cơ cấu sử dụng thời gian trong gia đình

6.1.2 Mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu

Tổng số mẫu được chọn là 100 người thuộc 50 cặp vợ chồng ở xã Tráng Việt - Huyện Mê Linh – Hà Nội làm đại diện cho các gia đình ở nông thôn và

100 người thuộc 50 cặp vợ chồng ở phường Khương Trung - Quận Thanh Xuân – Hà Nội làm đại diện cho các gia đình ở đô thị Các gia đình trong diện phỏng vấn phải có đầy đủ cả vợ và chồng thường xuyên có mặt ở nhà, không có ai trong vợ hoặc chồng đi vắng hoặc đi làm ăn xa Các gia đình này được chọn một cách ngẫu nhiên trên địa bàn xã xã Tráng Việt - Huyện Mê Linh và phường Khương Trung - Quận Thanh Xuân – Hà Nội

- Ngày chúng tôi tiến hành phỏng vấn là ngày liền kề ngày các cặp vợ chồng thực hiện các hoạt động của mình

- Người trả lời sẽ liệt kê tất cả các hoạt động của mình trong một ngày cụ thể, khoảng thời gian chúng tôi phân chia cho các hoạt động là 30 phút

6.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Trang 9

Để cung cấp thêm thông tin định tính cần thiết cho nghiên cứu, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 2 cặp vợ chồng ở nông thôn và 2 cặp vợ chồng ở đô thị

6.3 Phương pháp phân tích tài liệu

Người nghiên cứu tiến hành phân tích các sách chuyên môn, báo, tạp chí, để khai thác những thông tin có liên quan tới vấn đề nghiên cứu

6.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS 17.0

Trong phần mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về thời gian dành cho các hoạt động, chúng tôi xây dựng 8 mô hình hồi quy để xem xét tác động của các yếu tố cá nhân và gia đình đến khoảng cách giới về thời gian dành cho công việc gia đình, khoảng cách giới về thời gian kiếm thu nhập

và khoảng cách giới về thời gian giải trí trong ngày thường và ngày nghỉ

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận và lý thuyết áp dụng

1.1 Cơ sở lý luận

Để xác lập cơ sở lý luận và phương pháp luận cho đề tài, chúng tôi xuất phát từ quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới

Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) đã có điều khoản là mọi công dân Việt Nam không phân biệt gái trai, giàu nghèo, người Kinh với người dân tộc thiểu số được bình đẳng trước pháp luật và trong đời sống thực tế Hiến pháp còn tuyên

bố xoá bỏ mọi thủ tục khắt khe với phụ nữ Điều này đã phản ánh quan điểm bình đẳng giới của Hồ Chí Minh Quán triệt quan điểm trên của Hồ Chí Minh về phụ nữ, Đảng và Nhà nước ta đã thể chế hoá thành pháp luật, thể hiện trong quá trình chỉ đạo thực thi pháp luật trên toàn xã hội qua các thời kỳ cách mạng Hồ Chí Minh thấu hiểu nỗi khổ của người phụ nữ dưới chế độ cũ bị ràng buộc khắt khe với bao tập tục lạc hậu đã làm cho phụ nữ dốt nát, cực khổ, tối tăm Tâm lý trọng nam khinh nữ của Nho giáo đã cột chặt người phụ nữ vào gia đình Hiểu

và thông cảm sâu sắc với phụ nữ, Hồ Chí Minh đã viết: “Dưới chế độ phong kiến và thực dân, phụ nữ bị áp bức tàn tệ Ngoài xã hội, phụ nữ bị xem khinh

như nô lệ Ở gia đình họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam tòng” (Hồ Chí Minh, tập 10, 1996) Vì vậy, cần giải phóng phụ nữ thoát khỏi những xiềng xích trói

buộc họ, đó chính là nội dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ được một nửa (Hồ Chí Minh, tập 8, 1989) Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các cấp các ngành nghiêm túc đôn đốc, kiểm tra, theo dõi việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể phải làm tốt công tác vận động phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền Nhân dịp nói chuyện với đồng bào, cán bộ Tỉnh Thái Bình, Hồ Chí Minh khẳng định: Đánh chửi vợ là điều đáng

Trang 11

xấu hổ, như thế còn gọi gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là dã man Chi bộ Đảng phải giáo dục Đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng

giữa vợ và chồng” (Hồ Chí Minh, tập 10, 1996) Hồ Chí Minh còn chỉ rõ Luật

Hôn nhân và Gia đình là Bộ luật tiến bộ và cách mạng bởi nó có vai trò lớn đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ, sự nghiệp xây dựng gia đình mới “Luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng người phụ nữ, đồng thời tiêu diệt tư tưởng phong kiến tư sản ở người nam giới” (Hồ Chí Minh, tập 8,1989) Trước hành động xấu

xa, phạm pháp của tệ nạn đánh vợ, chính quyền địa phương và quần chúng đều

“nhắm mắt làm ngơ”, Hồ Chí Minh đã phê phán nghiên khắc những hành vi sai trái đó Người giao trách nhiệm cho các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, các đoàn thể nhân dân phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và thi hành nghiêm luật pháp Người khẳng định “Đảng bộ, chính quyền và đoàn thể quần chúng (trước hết là phụ nữ và thanh niên) cần phải ra sức tuyên truyền luật Hôn nhân và Gia đình sâu sắc, rộng hơn nữa và phải chấp hành thật nghiêm chỉnh Những thói dã man đánh vợ, ép con cần phải chấm dứt Lợi quyền của phụ nữ cần được đảm

bảo.(Hồ Chí Minh, tập 8, 1989)

Thông cảm và thấu hiểu những khó khăn vất vả mà phụ nữ phải lo toan, gánh vác hàng ngày để hoàn thành công việc của xã hội và gia đình.Người nhắc các cấp, các ngành, các đoàn thể phải tìm cách giúp đỡ phụ nữ giảm bớt khó khăn về công việc gia đình, tạo điều kiện để họ công tác, học tập, phấn đấu càng tiến bộ Các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã cần tổ chứ nhà trẻ, lớp mẫu giáo, tổ chức những nhà ăn công cộng cho tốt để giải phóng phụ nữ khỏi công việc bếp núc Được giảm bớt gánh nặng việc nhà người phụ nữ có cơ hội học tập, phấn đấu nâng cao trình độ, họ sẽ hoàn thành tốt trách nhiệm làm vợ, làm

mẹ trong gia đình, làm tròn nhiệm vụ người công dân trong xã hội

Ngoài ra, chúng tôi cũng vận dụng quan điểm của Engels về mối quan hệ cũng như sự phân công lao động trong gia đình vợ và chồng làm phương pháp luận của đề tài Engels lý giải sự phân công lao động giữa nam và nữ như một tất yếu lịch sử; hình thức phân công lao động ở từng giai đoạn nhất định thể hiện trình độ phát triển của nhân loại ở giai đoạn đó Theo ông, cơ sở của phân công

Trang 12

lao động xã hội là dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Áp dụng quan điểm này khi phân tích về phân công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng, Engels cho rằng trong gia đình, ai nắm trong tay nhiều tư liệu sản xuất thì người

đó có nhiều quyền lực

Engels đã phân tích mô hình phân công lao động của các thời kỳ lịch sử

để từ đó tìm ra nguyên nhân chính chi phối quan hệ này Ông lý giải sự phân công lao động trong gia đình giữa vợ và chồng gắn liền với những hình thái kinh

tế xã hội nhất định Như vậy, theo Enggel, một chế độ kinh tế xã hội nhất định là điều kiện và nguyên nhân quan trọng tạo nên bất bình đẳng giữa nam và nữ Do

đó, muốn thiết lập sự bình đẳng thực sự cho phụ nữ cần phải có sự thay đổi toàn diện nền kinh tế - xã hội, tức là thay đổi cấu trúc xã hội của xã hội đó Enggel cho rằng: sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không thể

có được và mãi mãi không thể có được, chừng nào mà phụ nữ vẫn còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất của xã hội và còn phải bị bó hẹp trong công việc riêng

tư ở gia đình Điều đó chỉ có thể thực hiện được với nền đại công nghiệp hiện đại, là nền công nghiệp không những chỉ thu nhận lao động của phụ nữ trên quy

mô lớn, mà cũng nhất thiết đòi hỏi phải có lao động phụ nữ và cũng tiến dần tới chỗ biến công việc tư nhân trong gia đình thành một ngành sản xuất xã hội [1;507] Áp dụng quan điểm này của Enggel vào đề tài nghiên cứu về mặt phương pháp luận ở những khía cạnh sau: đó là phụ nữ cần phải dành thời gian nhiều hơn vào công việc sản xuất đồng thời cần phải giảm bớt thời gian dành cho công việc gia đình cho họ để phụ nữ có cơ hội học tập, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn và có thời gian nghỉ ngơi Hơn nữa, công việc gia đình cần phải được lượng hoá, nghĩa là phải coi đó là một loại hình công việc được trả công để nâng cao vai trò của công việc này trong xã hội và xoá bỏ đi định kiến cho rằng đó là trách nhiệm của riêng phụ nữ

1.2 Lý thuyết áp dụng

1.2.1 Lý thuyết cơ cấu quỹ thời gian (budget time)

Trong công trình nghiên cứu, Time and Social Theory, nhà xã hội học Barbara Adam đã chỉ ra những chỉ ra những quan điểm lý thuyết về phân tích

Trang 13

cấu trúc quỹ thời gian Bà cho rằng, phân tích các khía cạnh phức tạp của thời gian phải là một phần quan trọng của học thuyết xã hội đặc biệt là khi các cá nhân phải chịu trách nhiệm về hành động của họ trong quá khứ, hiện tại và một thời gian dài trong tương lai "Trong cuộc sống hàng ngày thời gian có thể có nhiều ý nghĩa Chúng ta có thể có một thời gian thú vị tại một bữa tiệc, có thời gian cho công việc, có thể lãng phí thời gian do bệnh tật, hay chọn đúng thời điểm để trồng khoai tây và thậm chí sống vào thời gian vay mượn.Thời gian có thể là một vòng tuần hoàn hoặc là một đường thẳng, nó có thể được kết hợp với giờ giấc hoặc nhịp điệu của tự nhiên, hoặc là chuỗi các hoạt động được tổ chức theo nhịp điệu Tuy nhiên, thời gian không chỉ là một phạm trù thuộc tự nhiên, thông qua thời gian chúng ta thấy được chuỗi hoạt động của con người và bộ mặt xã hội, tiếng nói,vị trí vai trò của cá nhân.

Adam đã trích dẫn lời nhận xét của Anthony Giddens rằng khoa học xã hội có khuynh hướng cụ thể hóa cấu trúc xã hội bằng cách trừu tượng hóa nó qua thời gian, Những cấu trúc xã hội ổn định là những sự tiếp nối liên tục các cấu trúc cùng với thời gian Nói rằng xã hội có một cấu trúc là X là để chỉ cùng một kiểu

xã hội đang xảy ra tại một thời điểm là T1, T2, T3, v.v [16;22]

Tiếp theo là những quan điểm về phân tích quỹ thời gian của Jonathan I Gershuny va Graham S Thomas, Changing Times (1984) Nhóm tác giả này thông qua việc nghiên cứu quỹ thời gian của cộng đồng dùng hệ thống những chỉ số miêu tả việc sử dụng quỹ thời gian (như là ngày, tuần, tháng, năm) với những đối tượng như công nhân công nghiệp, nhân viên văn phòng, nông dân, ,và cả các hộ gia đình cũng như là các nhóm người cụ thể trong cộng đồng Để xác định được quỹ thời gian, các nghiên cứu chuyên sâu đã được tiến hành, theo tiến trình đó thì việc sử dụng thời gian được xem xét trong các khoảng thời gian cụ thể phù hợp với hệ thồng do lường về thời gian (như giờ, phút và tỉ lệ phần trăm trong quỹ thời gia được đưa)

Việc điều tra chi tiết về quỹ thời gian là một yếu tố quan trọng trong việc nghiên cứu cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng Tổng quỹ thời gian thông thường chia ra: thời gian dành cho công việc (thời gian thực dành

Trang 14

cho công việc, thời gian sử dụng cho việc chuyển giao công việc và ngoài ra là thời gian sử dụng không dành cho sản xuất, thời gian nghỉ giữa giờ theo nguyên tắc, thời gian đi ra ngoài hoặc thời gian nghỉ phép) và thời gian không làm việc bao gồm thời gian dành cho công việc gia đình, nhu cầu cá nhân, đi lại đến nơi làm việc thỏa mãn những nhu cầu về tâm sinh lý (như ngủ, ăn), thời gian rảnh rỗi nghiên cứu, tự học, giải trí, v.v ) các số liệu về quỹ thời gian tạo điều kiện cho cho việc nghiên cứu những lĩnh vực khác như tiêu chuẩn sống Quỹ thời gian cung cấp một bức tranh phân bố lực lượng lao động trong gia đình và nền tảng cho việc đầu tư cho việc ưu tiên phát triển những nhu cầu văn hóa và sự

thay đổi trong mô hình của quỹ thời gian rảnh rỗi [26]

Việc phát triển các cuộc điều tra và ưu tiên quỹ thời gian là dành cho cả cộng đồng trong một quốc gia hoặc một nhóm xã hội cụ thể là một yếu tố có tính phương pháp luận trong việc tính toán các các tiêu chuẩn về văn hóa và các công

ty dịch vụ và trường học yều cầu về dân số Nghiên cứu quỹ thời gian cũng là một cách để phát triển phương pháp học và phương thức tính toán lực lương lao động không chỉ đối với đơn vị về vật chất mà còn trong cả đơn vị về thời gian Việc phân tích quỹ thời gian được sử dụng để phát triển quy trình năng cao nguồn lưc lao động hiệu quả và các tổ chức dành cho dịch vụ và giải trí cho cộng đồng Các nghiên cứu so sánh việc sử dụng quỹ thời gian của dân cư ở nông thôn và thành thị giúp giải quyết các vấn đề xã hội trong việc xóa bỏ sự khác nhau chính giữa thị trấn và làng quê

Về lý thuyết thời gian rỗi, Chris Rojek (2005) đã nhấn mạnh đến những khái niệm then chốt về loại hình thời gian này Ông đưa ra một khung khái niệm

rõ ràng nhằm mô tả hoạt động định hình hành vi giải trí thông qua cuộc sống thực tế, bao hàm quan niệm thực tế về thời gian rỗi như ý nghĩa của sự tự do, việc lựa chọn, quyền tự quyết và nhấn mạnh vào đặc điểm của nó trong những tình huống cụ thể Đồng thời ông giải thích vai trò của các yếu tố giai cấp, giới,

dân tộc và địa vị trong mô hình thời gian rỗi [18] Các luận cứ về hoạt động

trong thời gian rỗi luôn luôn có quan hệ đến sự phân bố nguồn lực kinh tế, văn hoá …để xác định rõ cơ cấu chi phối sự lựa chọn và thực hiện các hoạt động giải

Trang 15

trí của con người Theo Iwasaka và cộng sự (2005), chủ đề thời gian rỗi hay giải trí trong gia đình ngày nay càng thu hút mối quan tâm của các học giả Các nghiên cứu về vấn đề giải trí và gia đình thường tập trung nhấn mạnh vai trò tiềm năng của thời gian rỗi đối với các thành viên gia đình, qua đó thể hiện sự hài lòng và quan hệ tình cảm lạc quan trong gia đình, trong khi sự quan tâm đến vai trò giới trong các hoạt động giải trí vẫn còn hạn chế Để bổ sung vào khía cạnh này, Iwasaki và cộng sự đã xem xét việc sử dụng thời gian rỗi của phụ nữ

và nam giới trong lĩnh vực quản lý, nhằm tìm hiểu xem vấn đề giới đóng vai trò như thế nào khi họ sử dụng thời gian rỗi để đối phó với những căng thẳng trong

cuộc sống [21] Kết luận đưa ra là hoạt động giải trí là một biện pháp quan

trọng nhằm giải toả căng thẳng cho cả hai giới nam và nữ Và mặc dù những căng thẳng mà cả nam và nữ đang phải đối mặt từ thực tế cuộc sống có nhiều điểm chung song cơ chế sử dụng thời gian rỗi và hình thức giải trí ở mỗi giới lại khác nhau

Áp dụng lý thuyết vào đề tài: Từ lý thuyết về cấu trúc quỹ thời gian trên,

chúng tôi có thể áp dụng làm cơ sở lý thuyết khi phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình ở những khía cạnh sau: Thứ nhất, thông qua thời gian hoạt động của cá nhân có thể hình dung được bộ mặt xã hội, vị trí, vai trò của cá nhân đó trong xã hội thậm chí đánh giá về tiêu chuẩn văn hoá, chất lượng sống của cộng đồng, nhóm xã hội Không thể đưa ra những đánh giá về cá nhân, nhóm xã hội mà không biết được họ đang làm gì và dành bao nhiêu thời gian vào công việc đó Thời gian không chỉ là một phạm trù thuộc lĩnh vực tự nhiên

mà còn là thông điệp cho chúng ta thấy được những khía cạnh xã hội quan trọng Thông qua việc phân tích các hoạt động của vợ và chồng trong một ngày làm việc bình thường và một ngày nghỉ, chúng tôi muốn dựng lại bức chân dung

xã hội của vợ và chồng trong gia đình, trên cơ sở khẳng định có tồn tại hay không một khoảng cách giới về thời gian để có thể thấy được vai trò, địa vị của nam giới và nữ giới như thế nào và đang có sự thay đổi ra sao Như vậy, thời gian thật sự là một chỉ báo quan trọng và hữu ích để phân tích các vấn đề xã hội Thứ hai, chúng ta biết bản chất của thời gian là tuân theo vòng tuần hoàn

Trang 16

của tự nhiên, là một con số cố định nhưng việc con người sử dụng thời gian đó vào các công việc khác nhau như thế nào còn do sự tác động của nhiều yếu tố xã hội khác nhau Trên cơ sở lý thuyết về mô hình thời gian rỗi có chỉ ra thời gian

bị chi phối bởi các yếu tố tác động như giai cấp, địa vị, dân tộc v.v, áp dụng vào đề tài của chúng tôi nghiên cứu quỹ thời gian trong quy mô hộ gia đình nên chúng tôi tập trung phân tích sự tác động của các yếu tố về cá nhân như nghề nghiệp, trình độ học vấn, tuổi … và các yếu tố gia đình như nơi cư trú, thu nhập, quy mô gia đình, số con v.v đến việc sử dụng thời gian của vợ và chồng

1.2.2 Lý thuyết bất bình đẳng giới

Bất bình đẳng giới đó là sự không ngang bằng nhau giữa cá nhân nam giới và phụ nữ, giữa các nhóm phụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận nguồn lực và sự sử dụng các thành quả xã hội

F.Tonnies khi trình bày về bất bình đẳng xã hội cũng đã đề cập đến bất bình đẳng về giới, ông mô tả các bất bình đẳng xã hội ví dụ giữa nam giới và phụ nữ, giữa tư sản và công nhân Phụ nữ và công nhân trở nên khốn khổ trong quá trình văn minh hoá thời hiện đại và điều đó đem lại những hậu quả xã hội

tương ứng [ 6,119]

Bất bình đẳng giới là kết quả của vô số những sự bất bình đẳng về kinh tế,

xã hội, văn hoá và chính trị chồng chéo lên nhau và chúng củng cố lẫn cho nhau Chúng khiến cho phụ nữ ít có khả năng tiếp cận đến quyền về tài sản, của cải và giáo dục và hạn chế khả năng tiếp cận của họ đến thị trường lao động và các lĩnh vực hoạt động bên ngoài gia đình Đến lượt nó, điều này lại ngăn cản khả năng phụ nữ có thể tác động đến các quyết định trong gia đình (WB, 2006: 80 – 81)

Marx Weber lý giải sự bất bình đẳng giới từ góc độ xung đột văn hoá Theo ông, ở những nền văn hoá khác nhau thì các hành vi của con người bị chi phối bởi các hệ giá trị khác nhau Các ví dụ về phụ nữ đạo Hồi che mặt, bị đối

xử như nô lệ với phụ nữ tự do ở các nước phương Tây và các nước khác là do

sự khác biệt về văn hoá Chính nguyên nhân văn hoá đã dẫn đến bất bình đẳng

xã hội Janet Chafetz lại tiếp cận vấn đề giới theo hướng coi nó như là hệ quả của sự phân tầng về văn hoá mà bà gọi là “văn hoá chéo và diễn dịch lịch sử”

Trang 17

Đưa quan điểm giới vào phân tích những khuôn mẫu xã hội đặc thù cụ thể là bất bình đẳng giới, bà cho rằng các cấu trúc và điều kiện xã hội đã ảnh hưởng các cấp độ của phân tầng giới Đó chính là sự phân biệt vai trò giới, ý thức hệ gia trưởng, gia đình, tổ chức lao động, khuôn mẫu sinh sản…Người phụ nữ chịu đựng sự bất lợi ở mức thấp nhất khi họ có thể cân bằng giữa các trách nhiệm nội trợ với vai trò sản xuất.

Quan điểm của các nhà “nữ quyền Macxit” là phụ nữ không bình đẳng với nam giới không phải vì bất kỳ xung đột cơ bản và trực tiếp nào về mối quan tâm giữa hai giới mà vì sự bất bình đẳng về tài sản, sự bóc lột lao động, sự tha hoá trong môi trường bị áp bức giai cấp Dù ở bất kỳ giai cấp nào họ cũng bị thiệt thòi hơn nam giới Do vậy, việc xoá bỏ áp bức phụ nữ chỉ có thể thực hiện song hành với việc xoá bỏ áp bức về giai cấp

Thông qua việc phân tích một “hệ thống hữu cơ thực chứng”, Spencer cũng đưa ra những mô hình đầu tiên cho sự phân tích xã hội học về phụ nữ, về

vị trí của họ trong gia đình và xã hội Ông ủng hộ mô hình phụ nữ hoạt động cơ bản trong gia đình, còn nam giới là cầu nối giữa gia đình và các tổ chức xã hội khác Các nhà sinh vật học xã hội này cũng cho rằng, não bộ của phụ nữ nhỏ và kém thông minh hơn nam giới, vì vậy trách nhiệm của họ là duy trì sự cân bằng trong gia đình và trong mối liên hệ với các thiết chế xã hội khác Hành động xã hội như các phong trào đòi bình đẳng giai cấp, bình đẳng cho phụ nữ sẽ phá vỡ

sự cân bằng của xã hội, đi ngược lại sự tiến hoá xã hội

Với E.Durkheim, trong cuốn “Nhập môn xã hội học gia đình”, ông giới

thiệu những khía cạnh của mối quan hệ vợ chồng, con cái, dòng họ trên các phương diện cá nhân và của cải, trình bày các yếu tố tác động đến li hôn Phụ nữ phải chịu sự thống trị và kiểm soát của nam giới trong gia đình và xã hội phụ quyền; đây là tổ chức xã hội bảo vệ cho họ Talcott Parsons - một đại diện tiêu biểu của học thuyết cơ cấu chức năng lại có những quan điểm về giới khá bảo thủ thể hiện sự bất bình đẳng về giới Theo ông, để duy trì sự ổn định xã hội, Parsons nhấn mạnh tới vị thế và vai trò của các cá nhân và các nhóm xã hội và giải thích sự ổn định xã hội thông qua việc duy trì các vai trò và vị thế này, cần

Trang 18

phải tuân thủ các nguyên tắc để hướng phụ nữ và nam giới thực hiện các chức năng được quy định sẵn của họ trong cơ cấu ổn định của xã hội Parsons coi gia đình, sự khác biệt trong phân công lao động và sự hưởng thụ chủ yếu là do sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ, chấp nhận những sự khác biệt này và hy sinh những giá trị về giới cho sự ổn định xã hội, ổn định gia đình Ông chú ý tới khía cạnh giới tính hơn khía cạnh giới, giải thích vấn đề giới như vẫn đề của tự nhiên Ông giới hạn các hoạt động của phụ nữ trong sự phân định về vị thế và vai trò Phụ nữ ít đi lại bởi vì họ phải làm các công việc gia đình, chăm sóc con cái Việc kiếm ăn của phụ nữ cũng nên ở gần nhà vì họ là người chăm sóc tốt nhất cho gia đình Nam giới được tự do hơn và tìm kiếm thức ăn ở xa hơn Chính sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ đã quyết định phương thức kiếm sống và hình thức phân công lao động của họ Như vậy, nam giới nắm giữ vai trò công

cụ (instrumental roles), giao tiếp với bên ngoài và kiếm sống, còn phụ nữ nắm vai trò biểu cảm (expressive roles), chăm sóc con cái và các công việc nội trợ Hai vai trò này bổ sung và bổ trợ cho nhau và được gọi là vai trò giới truyền thống

Chúng ta có thể thấy, có khá nhiều quan điểm về lý thuyết của các nhà xã hội học trong lĩnh vực bất bình đẳng giới nhưng tựu trung lại bất bình đẳng giới biểu hiện sâu sắc trong việc thực hiện vai trò Lý thuyết bất bình đẳng giới luôn cho rằng, người phụ nữ kém cỏi, không thông minh bằng nam giới, chỉ đảm nhiệm những công việc nội trợ, gia đình, chịu sự thống trị của nam giới trong gia đình Người phụ nữ đảm nhiệm nhiều vai trò những lại đạt được những vị trí không tương xứng so với nam giới Vì sự ổn định xã hội và tránh sự rối loạn xã hội, một số nhà xã hội học mong muốn duy trì và ổn định trong việc thực hiện vai trò giữa nam giới và nữ giới

Áp dụng lý thuyết vào đề tài: Dựa trên những quan điểm lý thuyết về bất

bình đẳng giới vào đề tài để chúng tôi đưa ra những phân tích, đánh giá sự chênh lệch thời gian dành cho các hoạt động giữa vợ và chồng trong gia đình Theo đó những chỉ báo về cơ cấu quỹ thời gian cho thấy người chồng dành thời gian nhiều hơn người vợ ở những hoạt động như ngủ, giải trí trong khi các hoạt động

Trang 19

như chăm sóc gia đình thì lại ngược lại Những phân tích lý thuyết về bất bình đẳng giới trên là cơ sở để chúng ta giải thích về những chỉ báo sử dụng thời gian cho các hoạt động trên không chỉ là vấn đề thuộc phạm trù sinh học mà là một biểu hiện về bất bình đẳng giới

2 Các khái niệm công cụ

2.1 Khoảng cách giới (gender gap)

Trong xã hội học, những khác biệt giới tính sinh học đã được sử dụng để giải thích và hợp pháp hóa sự phân công lao động trong gia đình và xã hội Tiger

và Fox (1972) tranh luận rằng, phụ nữ và nam giới có sự khác nhau về “ những lập trình sinh học”, hoặc các lập trình được dựa trên cơ sở gien, điều này khiến

họ ứng xử trong những cách khác nhau Lập trình sinh học của nam giới khiến cho đàn ông mạnh mẽ, tự tin và thống trị trong khi lập trình sinh học của nữ giới ảnh hưởng đến việc phụ nữ có con và chăm sóc con cái Vì thế lập trình sinh học giải thích và chứng minh sự ưu thế của nam giới trong việc ra các quyết định và các chính sách xã hội, còn phụ nữ trội hơn trong việc chăm sóc con cái Lập trình sinh học mà nam và nữ có hiện nay là sự kế thừa từ tổ tiên của họ, những người sống trong các xã hội săn bắn hái lượm Lập trình sinh học của nam và nữ không phải là tuyệt đối cố định, mà chúng biến đổi rất chậm, và sự biến đổi không thể đem lại cái mà Tiger và Fox hiểu như là những nỗ lực “ phi tự nhiên” của giới này hay giới kia thách thức sự tồn tại của các vai trò Murdock (1949) trong 1 nghiên cứu về 224 xã hội, phát hiện thấy rằng nam giới chủ yếu chịu trách nhiệm trong những nhiệm vụ đòi hỏi thể lực, như san bắn và khai thác mỏ (than, quặng…) và phụ nữ chủ yếu chịu trách nhiệm trong những nhiệm vụ gia đình và chăm sóc trẻ em Ông giải thích sự phân công lao động này không phải

là thuật ngữ về lập trình sinh học, trong đó sức mạnh thể lực của nam giới được dựa trên cơ sở của gien và vai trò tái sinh sản của phụ nữ Những sự khác biệt sinh học này tạo thành một cơ sở này tạo thành 1 cơ sở thực tiễn cho sự phân công lao động trong xã hội nói chung – một sự phân công mà Murdock, giống như Tiger và Fox, đã xem như là toàn bộ “tự nhiên” và tất cả khả năng xác định

từ cả quan điểm của xã hội và quan điểm cá nhân của người phụ nữ và nam giới

Trang 20

Parsons (1955) chứng minh rằng: “Phụ nữ có một bản năng đối với việc nuôi dưỡng, điều này là một kết quả về vai trò tái sinh sản của họ được dựa trên

cơ sở sinh học và nó tạo cho họ phù hợp một cách lý tưởng với vai trò “tình cảm” trong gia đình hạt nhân Một vai trò “tình cảm” liên quan đến sự chăm sóc những nhu cầu thể chất và tình cảm của tất cả các thành viên gia đình, đặc biệt những đứa trẻ còn phụ thuộc”

Trong khi đó, sinh học của nam giới thích hợp với vai trò “ công cụ” trong gia đình, liên quan đến sự hỗ trợ, cung cấp kinh tế và liên hệ với thế giới bên ngoài gia đình Nếu một đứa trẻ được phát triển ổn định khi trưởng thành có khả năng thực hiện điều đó trong xã hội thì theo Parsons – nó phải được xã hội hóa trong một gia đình mà ở đó những người trưởng thành thực hiện vai trò này Một sự phân công lao động trong gia đình, do vậy được xem như là quan trọng

để đảm bảo sự phát triển “bình thường” Parsons cho rằng chức năng xã hội hóa của gia đình là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự ổn định xã hội và không có một thiết chế xã hội nào có thể thực hiện chức năng này tốt như gia đình Trong những tác phẩm của các nhà tâm lý học như Bowlby (1953) và Winnicott (1944) đều tranh luận rằng sự hiện diện vĩnh hằng của một phụ nữ trong vai trò làm mẹ là một yếu tố quan trọng trong việc tạo nên những thanh niên ổn định, không lơ là nhiệm vụ, đã ủng hộ cho khái niệm về một sự phân công lao động trong gia đình và trong xã hội nói chung Bất cứ một hành động nào mà đem phụ nữ ra khỏi gia đình và xa con cái của họ đều ngấm ngầm bị lên

án là “phản tự nhiên”

Các nhà chính trị cũng như các nhà xã hội học có giới thiệu một sự phân công lao động trong gia đình và trong xã hội như là “tự nhiên” và đáng mong muốn Năm 1979, Patrick Jenkin, bộ trưởng thuộc đảng Bảo thủ (Anh) đã phát biểu trong một trương trình của đài BBC có tên gọi “Man Alive” rằng “Nếu Thượng đế có ý định cho tất cả chúng ta quyền bình đẳng, bạn biết Thượng đế

sẽ không tạo ra nam giới và phụ nữ… những cái này thuộc về dữ kiện sinh học của cuộc sống, mà một đứa trẻ phải phụ thuộc vào mẹ của chúng” (Garrentt, 1987:6)

Trang 21

Quan điểm cho rằng, bản năng làm mẹ được dựa trên cơ sở sinh học là một quan điểm được hình thành bởi nhiều “chuyên gia” trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em, như Spork, Leach và Jolly, tất cả họ đều không tán thành về việc phụ nữ xuất hiện mà lại không ứng xử theo cách đó Quan điểm này đồng thời cũng là của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực sức khỏe và đã có ảnh hưởng mạnh đến luật phúc lợi xã hội được giới thiệu ở Anh năm 1945.

Hunt (1975) phát hiện nhiều người thuê lao động đã sử dụng yếu tố sinh học như một sự bào chữa, minh chứng cho sự đối xử khác biệt giữa lao động nam và nữ Bà đã khám phá ra rằng đa số phụ nữ được xem như những lao động

ít được mong muốn hơn nam giới bởi vì người ta tin rằng phụ nữ thường ốm đau, bệnh tật và do vậy có nhiều khả năng nghỉ làm hơn nam giới, đồng thời họ cũng được xem như là những người mẹ tương lai nên trong thời gian mang thai, sinh con phải nghỉ việc Đàn ông được xem là khỏe mạnh hơn, có nhiều tham vọng hơn và gắn bó với công việc hơn phụ nữ Một ưu điểm của lao động nữ, theo quan điểm của người sử dụng lao động trước đây và có thể cả hiện nay, đó

là “bản chất” dễ bảo, ngoan ngoãn của phụ nữ Phụ nữ được xem là ít có khả năng để hoạt động trong công nghiệp và có thể đương đầu rất tốt với công việc buồn tẻ, đơn điệu, lặp lại Trong thực tế lao động, việc làm, quan điểm này vẫn còn được hiện diện ở nhiều lĩnh vực, ở các quốc gia với những mức độ khác nhau

Trong nghiên cứu “Khoảng cách mới về giới tính” của Michelle Conlin trên đã đưa ra những khía cạnh mới về lý thuyết khoảng cách giới Theo ông, khoảng cách giới tính cũng có nguồn gốc từ khoảng cách trong những kỳ vọng người ta đặt ra cho mỗi giới ví dụ như trong thập kỷ 70, con trai có nhiều khả năng hoàn thành bằng đại học hơn nhiều so với con gái Ngày nay, kỳ vọng đặt

ra cho con gái hầu như không còn bị giới hạn, trong lúc kỳ vọng về con trai lại

tuột dốc thảm hại [25] Khoảng cách giới hiện nay được nhìn nhận có nhiều nét

khác biệt, phụ nữ càng ngày càng nâng cao về tri thức cũng như về thu nhập để thu hẹp khoảng cách giới Trong “Global Gender Gap Report 20011” các tác giả

Trang 22

cũng đưa ra những quan niệm về khoảng cách giới chịu sự tác động của các yếu

tố như sắc tộc, địa vị kinh tế, tôn giáo [ 20]

Trong nghiên cứu này, khoảng cách giới trong sử dụng quỹ thời gian được định nghĩa là hiệu số giữa thời gian thực tế mà chồng và vợ sử dụng cho công việc tương ứng Ví dụ, thời gian làm việc trung bình một ngày của chồng là 8h, của vợ là 8,5 thì khoảng cách giới ở đây sẽ là 0,5 h

Trang 23

2.2 Vai trò giới

Có những quan điểm khác nhau về vai trò giới ví dụ:

Vai trò giới bao gồm các quyền, những trách nhiệm, những mong đợi và các quan hệ của phụ nữ và nam giới trong một xã hội cụ thể (Benokraitis và Feagin, 1995)

Trong từ điển xã hội học của G Endrweit và G.Trommsdorff (2002) lại sử dụng khái niệm vai trò giới tính (sexual roles) như sau: khái niệm vai trò giới tính chỉ những kỳ vọng văn hoá chủ đạo và chuẩn mực xã hội về phương diện năng lực, đặc điểm nhân cách, thái độ, động cơ và phương thức hành vi đặc trưng và thích hợp đối với nam giới và nữ giới (2002: 544) Cũng theo tác giả này, việc tiếp nhận vai trò cá nhân mang bốn thành phần sau:

1 Tự cảm nhận như là nam tính hay nữ tính (sự đồng nhất vai trò giới tính)

2 Quan niệm về phân biệt giới tính trong môi trường xã hội (quan niệm

về giới có thể biến đổi qua các thời kỳ xã hội và khác nhau giữa các nền văn hoá

Các vai trò giới được định nghĩa là các hành vi và những quan điểm thái

độ được trông đợi trong một xã hội tạo nên với mỗi giới tính Những vai trò này bao gồm các quyền và trách nhiệm được chuẩn hoá đối với từng giới tính trong một xã hội cụ thể Vai trò giới được hiểu là những trông đợi về hành vi và quan điểm mà nền văn hoá xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới Vai trò là

Trang 24

một khái niệm được sủ dụng như là cách thức tổ chức hành vi của con người trong một ý nghĩa tổng thể Nó ứng xử như một cơ chế

để hiểu được những cách thức mà ở đó những trông đợi xã hội, những hành động phản ánh những khuôn mẫu chung về những hành vi được trông đợi Do vậy, vai trò sẽ được thực hiện thế nào như thế nào, do ai và trong hoàn cảnh nào Trong bối cảnh về sự hiểu biết các quan hệ giới này dẫn đến sự xác định các vai trò của nữ giới là nam giới Những vai trò này được xem như sự hướng dẫn các của các hành vi của hai giới được xem là phù hợp với những mong đợi của xã hội

Để giải thích bất bình đẳng giới, một số nhà xã hội học sử dụng cách tiếp cận vai trò giới, tập trung vào tìm hiểu xem quá trình xã hội hoá đóng góp như thế nào vào sự thống trị của nam giới và sự phụ thuộc của nữ giới

Vai trò giới được phân chia thành các vai trò cụ thể như sau:

Vai trò sản xuất: Bao gồm các công việc nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật để tiêu dung hoặc trao đổi Ví dụ: công việc đồng áng, làm công nhân, làm thuê, buôn bán, viên chức …

Vai trò tái sản xuất (sinh sản, nuôi dưỡng): Bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và những công việc nhà cần thiết để duy trì và tái sản xuất sức lao động (không chỉ bao gồm tái sản xuất sinh học mà còn có cả chăm lo, duy trì lực lượng lao động hiện tại và lực lượng lao động trong tương lai)

Vai trò cộng đồng: Bao gồm các công việc thực hiện ngoài cộng đồng, nhằm phục vụ cuộc sống chung của mọi người Ví dụ tham gia Hội đồng nhân dân, tham gia cuộc họp xóm, bầu cử, làm vệ sinh đường làng ngõ xóm, quyên góp, vận động kế hoạch hoá gia đình…

Vậy vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam hay nữ Nam và nữ đều tham gia thực hiện cả 3 vai trò trên Tuy nhiên có

sự khác biệt:

- Tính chất và mức độ tham gia của nam và nữ không như nhau trong mọi công việc Nếu như phụ nữ làm hầu hết công việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, nội trợ, tiếp phẩm (nhiều người gọi đó là “thiên chức” của phụ nữ thì

Trang 25

nam giới không được trông đợi làm việc đó, họ cho rằng mình trợ giúp phụ nữ

mà thôi

- Công việc của nam giới thường được xem trọng hơn công việc của phụ

nữ Thật không công bằng nếu như cho rằng, việc sinh đẻ của phụ nữ tạo ra một sản phẩm cao quý, đó là con người là việc không quan trọng nó là công việc mang tính bản năng bấy lâu của động vật

- Cơ hội và điều kiện thăng tiến của nam giới bao giờ cũng tốt hơn phụ nữ

Vai trò giới hiện nay không bình đẳng do quá trình dạy và học trong xã hội bất bình đẳng giới mà có, nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá và thể chế chính trị Vai trò giới đã và đang có nhều thay đổi, nhưng khi thay đổi người

ta còn chịu ảnh hưởng của các định kiến giới, điều này lý giải vì sao nhiều người không dám công khai thực hiện thay đổi vai trò giới mặc dù đây là công việc rất đáng khích lệ

Việc phân công vai trò giới trong xã hội phụ quyền tạo nên sự bất bình đẳng trong công việc cũng như lợi ích mà họ được hưởng Ví dụ, phụ nữ tham gia 60% công việc nông nghiệp, nam giới tham gia 40% công việc còn lại nhưng thu nhập bình quân của phụ nữ nông thôn là 62%, còn nam giới lại hưởng 100% thu nhập Vai trò giới và gánh nặng 3 vai đặt ra yêu cầu phụ nữ đồng thời phải thực hiện tốt cả 3 vai trò Đây thực sự là một gánh nặng quá sức đối với phụ nữ Khi nói tới vai trò giới của phụ nữ là muốn đề cập tới những công việc mà phụ

nữ làm vớ tư cách họ là phụ nữ Chẳng hạn, công việc nội trợ được xem là thích hợp với phụ nữ hơn nam giới, việc lãnh đạo được coi là thích hợp với nam giới hơn phụ nữ Trên thực tế, vai trò giới có thể thay đổi giữa nam và nữ (trừ chức

Trang 26

hơn vào công việc tái sản xuất, chia sẻ, giúp đỡ công việc gia đình với phụ nữ Như vậy, việc thay đổi quan niệm về vai trò giới đã góp phần vào việc rút ngắn khoảng cách giới

2.3 Khác biệt giới

Những khác biệt về giới tính trong hành vi giao tiếp là một phần thuộc về bản chất của phụ nữ và nam giới, nhưng những khác biệt giới có nguồn gốc trong hệ thống xã hội hơn là trong cá nhân con người (Unger, 1990) Những hình thức giới tính sinh học là cơ sở cho một hệ thống phạm trù xã hội được biết đến như là giới (Keashy, 1994) Sử dụng thuật ngữ những khác biệt giới, do vậy, hàm ý rằng những hành vi đó phản ánh những niềm tin và những mong đợi của

xã hội Do đó, những hành vi có thể được lựa chọn và cá nhân không thể không ứng xử như xã hội mong đợi

2.4 Bình đẳng giới

Có những quan niệm khác nhau về bình đẳng giới, như một vài định nghĩa sau đây:

“Một thuật ngữ phản ánh một sự chia sẻ bình đẳng về quyền lợi giữa nam

và nữ giới, trong sự tiếp cận bình đẳng của họ về giáo dục, sức khoẻ, quản lý và lãnh đạo, bình đẳng về tiền lương, về số đại biểu quốc hội và về những cái khác” (World Food Programme, 2001:32)

“Bình đẳng giới : là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới Nam giới và phụ nữ có cùng vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau Phụ nữ và nam giới cùng:

- Có điều kiện để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình

- Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển

- Được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng

- Được hưởng thành quả bình đẳng trọng mọi lĩnh vực của xã hội

(Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam; 2004:2)

Trang 27

Bình đẳng giới: Là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau đươc tạo điều kiện

và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Điều 5, Luật Bình đẳng giới)

3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

3.1 Phường Khương Trung - Quận Thanh Xuân – Hà Nội

Phường Khương Trung một phường nằm ở phía đông quận Thanh Xuân Phía bắc giáp với phường Khương Trung quận Thanh Xuân Phía nam giáp phường Kim Giang và phường Đại Kim quận Hoàng Mai Phía đông giáp với phường Định Công quận Hoàng Mai Phía tây giáp với phường Hạ Đình.Toàn phường có tổng diện tích tự nhiên là : 127, 6569 ha; dân số 14.996 người được chia thành 48 tổ dân phố hình thành 10 cụm dân cư và 40 công ty ngoài quốc doanh, 220 hộ kinh doanh cá thể và 1 chợ đó là chợ Khương Đình

Thu ngân sách trên địa bàn phường ước 6 tháng đầu năm 2012 đạt 3.126.847.000 bằng 50,5% kế hoạch năm Kinh tế hộ gia đình phát triển chậm, giữ ở mức độ trung bình, kinh doanh cho thuê nhà phát triển Doanh thu thương mại dịch vụ: ước thực hiện 13.501,388 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 33,2%; trong đó: khu vực nhà nước 211,991 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 6,66%; khu vực ngoài nhà nước 17.853,826 tỷ đồng, so với cùng kỳ tăng 32,22% Trên địa bàn của phường không có nhà máy, xí nghiệp, kinh tế chủ yếu dựa trên kinh doanh, dịch vụ

3.2 Xã Tráng Việt - Huyện Mê Linh – Hà Nội

Tráng Việt là một trong 18 xã của huyện Mê Linh Đây là một vùng đất đồng bằng được bồi đắp từ con sông Hồng màu mỡ Tráng Việt được thành lập nên từ

4 thôn ở ven sông Hồng: Thôn Đông Cao, thôn Tráng Việt, thôn Đẹp, thôn Thụy An

Phía bắc của xã giáp với xã Mê Linh.Phía nam của xã giáp với sông Hồng.Phía đông của xã giáp với xã Tiền Phong.Phía tây của xã giáp với xã Văn Khê Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1355,3 ha, với 1485 hộ dân, có 6845 nhân

khẩu Tổng thu năm 2012 trên tất cả các lĩnh vực ước đạt 146 tỷ 782 triệu đồng

Trang 28

tăng 106,6% so với năm 2011 Thu nhập bình quân đầu người 14,2 triệu đồng/người/năm Trong đó thu từ nông nghiệp đạt 90 tỷ 932 triệu đồng, đạt 106% kế hoạch: từ trồng trọt 62 tỷ 082 triệu đồng, từ chăn nuôi: 28 tỷ 850 triệu đồng giảm so với 2011 là 01 tỷ 500 triệu đồng Thu từ kinh doanh, dịch vụ, lương, trợ cấp đối tượng chính sách xã hội, làm công ăn lương ….khoảng 55 tỷ850 triệu đồng.

Về nông nghiệp, người dân ở xã Tráng Việt chủ yếu trồng rau Diện tích gieo trồng các loại rau màu tăng so với cùng kỳ năm 2011, nhiều hộ đã đầu tư lao động, các loại giống rau có giá trị kinh tế cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đã thu nhập khá cao từ việc trồng rau màu (Nhiều hộ ở thôn Đông Cao thu nhập gần 100 triệu đồng/ lứa từ việc trồng rau củ cải, cà chua, dưa lê, cải chip, cải ăn lá…) Diện tích gieo cấy lúa giảm dần chỉ đạt 89%

so với năm 2011, một số hộ dân Đông Cao không chú trọng với việc gieo cấy lúa, vì đồng xa, sản xuất khó khăn, giá trị thu được thấp….: Diện tích lúa 190

ha, lúa xuân: 103 ha: Năng suất 194 kg/ sào đạt 54,0 tạ/ ha thu được 5.562 tấn, quy ra giá trị được 3 tỷ 170 triệu đồng Lúa mùa: Diện tích gieo cấy 87 ha, năng suất 190 kg/sào đạt 49,5 tạ/ha giảm so với cùng kỳ năm trước đạt 4.306 tấn quy

ra giá trị được 2 tỷ 454 triệu đồng Diện tích gieo trồng cây ngô và cây đậu tương đều giảm so với năm 2011 vì giá trị thu được không cao, diện tích gieo trồng thu hẹp

Diện tích trồng cây ăn quả: Việc cải tạo vườn tạp và trồng mới tiếp tục được nhân dân phát triển Nhiều hộ gia đình đã trồng những cây có giá trị kinh

tế cao như trồng bưởi diễn, dung các phương pháp triết, ghép … sản phẩm thu được từ việc trồng cây ăn quả rất ổn định Giá trị thu được từ trồng trọt 62 tỷ

082 triệu đồng tăng so với năm 2011 là 5 tỷ 282 triệu đồng

Ngoài ra, về chăn nuôi, tính đến 15/12/2012 toàn xã có 475 con lợn nái,

5700 con lợn thịt/lứa, có 220 con bò, có 49 lồng cá và nhiều hộ nuôi chim cút, vịt đẻ trứng và gà đẻ, gà thịt Giá trị thu được từ chăn nuôi gia súc, gia cầm trong năm 2012 ước đạt 28 tỷ 850 triệu đồng

Có thể nói, nông nghiệp ở Tráng Việt có thế mạnh về trồng rau và trồng cây ăn quả, chăn nuôi vẫn được chú trọng nhưng diện tích trồng lúa lại giảm

Trang 29

Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là nông nghiệp ở Tráng Việt đã có sự thương mại hoá khá lớn, tại địa bàn xã xuất hiện những vùng chuyên canh cây trồng, trồng trọt chăn nuôi phù hợp với nhu cầu của thị trường Vì vậy, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của người dân được nâng cao

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo sát trên địa bàn 3 thôn

đó là thôn Đông Cao, thôn Đẹp và thôn Thuỵ An

Trang 30

4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu.

4.1 Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới

Về vấn đề nghiên cứu về quỹ thời gian, trong thời kỳ Chủ nghĩa Xô Viết, việc điều tra quỹ thời gian được chia ra làm 3 giai đoạn chính Giai đoạn đầu là vào những năm 1920, khi một vài nghiên cứu chính về quỹ thời gian dành cho người đi làm được thực hiện với quan điểm phân tích sự thay đổi diễn ra trong cuộc sống của người lao động sau chiến thắng của cách mạng tháng 10 và cũng trên quan điểm giải quyết một số nhiệm vụ đang phải đối mặt trong thời kỳ đầu của xã hội Xô Viết Các phiếu điều tra và các ngiến cứu đã yêu cầu người tham gia ghi lại các việc sử dụng quỹ thời gian trong ngày để báo cáo lại các hoạt động chiếm giữ thời gian mỗi giờ, mỗi ngày tướng ứng với mỗi tuần và mỗi tháng để có thể kiểm chứng lại quan điểm của quỹ thời gian Trong suốt thời kỳ này, việc nghiên cứu quỹ thời gian được chỉ đạo bởi nhà kinh tế học Xô Viết S

G Strumilin

Gian đoạn thứ 2 được thực hiên vào cuối năm 1920 và 1930, khi thời gian làm việc 1 giờ/ ngày được đưa ra, sự thay đổi này đã có ảnh hưởng to lớn đối với cuộc sống thường nhật của người Xô Viết số liệu được quỹ thời gian trong

những năm đầu 1930 được đưa ra trong quyển sách thống kê “ lao động trong thời kỳ Cộng hoà Xô Viết (1934-36)” Số liệu thống kê lớn cũng được bắt đầu

tiến hành nghiên cứu quỹ thời gian trong thời kỳ này (ví dụ như nông trường tập thể) Giai đoạn thứ 3 được kéo dài từ 1950 trở đi khi chương trình làm ngắn ngày làm việc được yêu cầu điều tra quỹ thời gian của người lao động để tìm ra

sự thay đổi trong cuộc sống của họ và đưa ra phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao sản phẩm được tạo ra cho mỗi giờ lao động/ người, nhằm nâng cao tiêu chuẩn về vật chất và trình độ văn hóa của người Xô Viết và nâng cao hiệu quả kinh tế của quốc gia

Trong năm 1957 - 60, trung tâm nghiên cứu khoa học lao động đã bắt đầu tiến hành thực hiện nghiên cứu quỹ thời gian trong phần lớn lưc lượng lao động vất vả ở các công ty tư nhân tại Matsxcova, Leningrad và các thành phố khác Các nghiên cứu về quỹ thời gian này được thực hiện trên xấp xỉ 2000 người

Trang 31

trong năm 1960, trung tâm nghiên cứu khoa học lao động cũng tiến hành nghiên cứu quỹ thời gian của người nông dân ở nông trương tập thể tại Kherson Oblast and Altai Krai Vào cuối năm 1958, Trung Tâm Kinh Tế và tổ chức sản xuất công nghiệp của chi nhánh Siberian của trung tâm khoa học của Cộng hoà Xô Viết bắt đầu nghiên cứu quỹ thời gian của người công nhân tại Novosibirsk Năm 1959-60, tại cùng một trung tâm, dưới sự chỉ đạo của G A Prudenskii trong việc nghiên cứu quỹ thời gian trong những vùng chính của Cộng hoà Xô Viết Tại Siberia (Krasnoiarsk Krai, Novosibirsk và Kemerovo oblasts, và thành phố của Omsk), khoảng 13000 quỹ thời gian hàng ngày của công nhân lao động chân tay và lao động trí óc và các nhà nghiên cứu khoa học được ghi nhận và phân tích trong những năm 1958-60 Những nghiên cứu này cũng được tiến hành tại Sverdlovsk, Kostroma và những thành phố khác Trong năm 1958-60, hơn 21500 quỹ thời gian được nghiên cứu tại vùng nông thôn và thành thị của Cộng hoà Xô Viết Hầu hết quỹ thời gian nghiên cứu được tiến hành tại Irkutsk, Taganrog, và Gorky năm 1962, tại Krasnoiarsk Krai tại năm Ivanovo, Rostov,

và Sverdlovsk oblasts năm 1963, tại Leningrad năm 1964, và tại Pskov năm

1965 cùng với những nghiên cứu này là hơn 150.000 quỹ thời gian được ghi chép lại tại Cộng hoà Xô Viêt từ năm 1958-1965

Việc nghiên cứu quỹ thời gian được thực hiện bởi các nhà kinh tế học và

xã hội học trong các nước xã hội và tư bản năm 1959, nhóm các nhà xã hội học nghiên cứu quỹ thời gian quốc tế được hình thành tại UNESCO Các nghiên cứu

về quỹ thời gian được tiến hành tại Cộng Hòa liên bang Đức,the Netherlands,

Mỹ và Nhật Bản Bulgaria, Hungary, Phần Lan và Cộng hoà Xô Viết tiến hành nghiên cứu về các vấn đề về quỹ thời gian trong chương trình tiến bộ năm 1963 được phát hành trong tập san Problemy mira isotsializma (những vấn đề về hòa bình và xã hội, Prague) Năm 1964, trung tâm châu Âu của UNESCO tại Áo quyết định tiến hành nghiên cứu so sánh quỹ thời gian năm 1965 Buổi thảo luận cho chương trình nghiên cứu vấn đề này được tổ chức tại Budapest (1965) với

sự tham gia của Bỉ, Hungary, Poland, , Pháp, Cộng Hòa Liên Bang Đức, và

Trang 32

Yugoslavia Bulgaria, Peru, Mỹ, và Czechoslovakia có liên quan tham gia

chương trình.[26]

Ngoài ra vấn đề phân công lao động trong gia đình, Tác giả Lydia Morris,

trong cuốn The Workings of Household (Những công việc gia đình) (1990),

cũng chỉ ra những phân tích về việc dành thời gian của vợ và chồng cho công việc nhà Nghiên cứu cho thấy sự phân chia việc nhà theo truyền thống đối với phụ nữ hầu như không thay đổi: phụ nữ vẫn tiếp tục đảm nhận gánh nặng chính

về công việc gia đình Có một sự ổn định tương đối về lượng thời gian dành cho công việc nhà của nam giới, bất kể người vợ có đi làm hay không Những nghiên cứu về quỹ thời gian cho thấy hầu như chẳng có thay đổi đáng kể nào về đối tượng đảm trách việc nhà, mặc dù người chồng cũng có thể giúp đôi chút vào những việc quanh nhà Tuy nhiên, ngay cả khi người vợ làm cả ngày ở công

sở thì việc người chồng chia sẻ toàn bộ việc nhà cũng vẫn là điều bất thường

Và những trường hợp người phụ nữ cưới một ông chồng “nội trợ” vẫn còn là

chuyện hiếm [22].Ở các nước Bắc Mỹ, các cuộc khảo sát định lượng đều cho

thấy phụ nữ là đảm nhận chính các công việc giặt giũ, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa trong khi nam giới đóng góp rất ít vào hoạt động này (Kimmel 2000) Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng sự tham gia của nam giới vào việc nhà

“ít thay đổi một cách đáng ngạc nhiên” (Kimmel2000) [23]

Với một cái nhìn lạc quan, Michael Young và Peter Wilmott (1973, dẫn theo Marshall 1998) cho rằng các cặp vợ chồng đặc biệt trong gia đình trung lưu, ngày càng chia sẻ cùng nhau việc thực hiện các nhiệm vụ đảm bảo thu nhập

cho gia đình và quản lý chăm sóc gia đình [19] Còn Robert O.Blood và Donald

M.Wolfe (dẫn theo Marshall 1998) phát hiện ra rằng sự phân tách giới tính với công việc gia đình vẫn không hề thay đổi: đàn ông vẫn đảm đương các công việc bên ngoài gia đình đòi hỏi “năng khiếu máy móc”, còn đàn bà thì làm việc nhà Nhiều nghiên cứu ở các xã hội khác nhau đều cho thấy tuy có những khác biệt nào đó, nhưng phụ nữ nói chung chịu trách nhiệm về công việc gia đình, những công việc thiết yếu lặp đi lặp lại và cần phải tiến hành đều đặn; trong khi

Trang 33

nam giới đảm nhận công việc xã hội những việc ít nhàm chán hơn và có thể làm

khi nào thuận tiện [17]

Tóm lại những nghiên cứu trên thế giới về phân tích quỹ thời gian chủ yếu để khảo sát mức sống của các nhóm dân cư Ngoài ra, các nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình trên thế giới cũng cho thấy tình trạng bất bình đẳng, khoảng cách giới giữa vợ và chồng trong việc dành thời gian cho các công việc hàng ngày vẫn còn tồn tại Phụ nữ là người chịu trách nhiệm chính về việc nhà trong gia đình và sự tham gia của nam giới vào công việc này là không đáng

kể

4.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, cũng có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề khác biệt giới và việc sử dụng thời gian của vợ và chồng trong gia đình Trong Báo cáo khác biệt giới trong nền kinh chuyển đổi ở Việt Nam của UNDP – tháng 8/2002 đã đưa ra những bằng chứng về khác biệt giới phân tích số liệu từ cuộc điều tra mức sống ở Việt Nam lần 2, 1997 -1998 Báo cáo đã đánh giá tổng quan

về vị thế của phụ nữ so với nam giới trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam và

đã phân tích sự khác biệt giới trong giáo dục, thu nhập, tình trạng dinh dưỡng, trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ và cung ứng dịch vụ y tế Đặc biệt, báo cáo cũng chỉ ra sự khác biệt giới trong cách thức tạo thu nhập và phân bổ thời gian làm việc Theo đó, phụ nữ và nam giới dành một thời lượng thời gian như nhau cho công việc tạo thu nhập Tuy vậy, so với nam giới, phụ nữ phải mất thời gian gần gấp đôi để làm việc nhà hay làm công việc nội trợ lặt vặt mà không được thù lao Vì vậy, phụ nữ lúc nào cũng mất thời gian làm việc nhiều hơn đáng kể

so với nam giới dù ở thời điểm nào trong cuộc đời mình Do vậy, thời gian rảnh rỗi của họ ít hơn khá nhiều so với nam giới Ở lứa tuổi 25 – 64, tính trung bình một phụ nữ mất 13,6 giờ một tuần cho việc nội trợ, trong khi nam giới chỉ dành

có 6 tiếng một tuần cho việc nhà Ở nhóm tuổi trẻ nhất hoặc lớn tuổi nhất, sự khác biệt này cũng có nhưng ít hơn đáng kể Mức gia tăng về số giờ mà phụ nữ dành cho công việc tạo thu nhập lớn hơn so với nam giới trong cùng một thời kỳ thể hiện rằng phụ nữ đã đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng kinh tế so với nam

Trang 34

giới Ngoài ra, nếu xét cả công việc nhà thì sự đóng góp trên còn có ý nghĩa

đáng kể hơn nhiều [14,tr 8] Những phát hiện này cho phép kết luận rằng nếu

mức độ thiệt thòi của phụ nữ, trẻ em gái và các hộ gia đình do phụ nữ làm chủ

hộ không giống nhau thì hiện tượng khác biệt giới vẫn còn tồn tại cả trong lĩnh vực kinh tế và trong xã hội Báo cáo đã chỉ ra những khác biệt giới khá toàn diện Tuy nhiên, hạn chế của báo cáo này còn thiếu dữ liệu về để phân tích sự tồn tại của những ý kiến thiên lệch về giới trong phạm vi hộ gia đình

Nghiên cứu “Về sự phân công lao động ở các gia đình phụ nữ nghèo miền Trung” của Bùi Thị Thanh Hà (1997) đã chỉ ra rằng trong gia đình phụ nữ nghèo, phụ nữ đóng vai trò chủ yếu không chỉ trong công việc gia đình mà còn

cả trong công việc sản xuất ngoài đồng ruộng mặc dầu nam giới có sự chia sẻ ở mức độ nhất địnhTheo Nguyễn Hồng Quang (1997), thời gian lao động của phụ

nữ nông thôn dành cho các công việc tạo thu nhập chỉ chiếm 31,6% quỹ thời gian của họ Phần lớn quỹ thời gian họ dành cho các công việc nội trợ, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc con cái…

Trong nghiên cứu “Những khoảng cách giới trong hộ gia đình nông thôn

ở nước ta – Hoàng Thị Lịch – Tạp chí thông tin Phụ nữ - số 1 năm 1999) Đây là

một nghiên cứu quan tâm đến vai trò của người phụ nữ trong gia đình Nhưng điều đặc biệt ở nghiên cứu này là đã đề cập đến vấn đề khoảng cách giới trong gia đình và xã hội Những khoảng cách giới được thể hiện ở nhiều điểm khác nhau, trong nghiên cứu này đã hướng tới 3 khía cạnh chính là vai trò của nam giới và nữ giới trong lao động sản xuất và làm việc nhà, trong sử dụng và quản

lý nguồn lực của nam và nữ trong việc ra quyết định có liên quan đến sự phát triển của hộ và các thành viên

Tác giả Vũ Tuấn Huy và Deborah S Carr với nghiên cứu “Phân công lao động trong gia đình” (2000) đã khẳng định bất bình đẳng trong công việc nội trợ

- nơi phụ nữ đảm nhận chủ yếu Các tác giả cũng chỉ ra sự tác động của yếu tố nghề nghiệp, việc làm, số con, định hướng tâm thế nghề nghiệp có liên quan đến

việc phân công lao động trong gia đình.[15;35]

Trang 35

Tiếp theo, trong Định kiến và phân biệt đối xử theo giới – Lý thuyết và thực tiễn Trần Thị Minh Đức – Hoàng Xuân Dũng - Đỗ Hoàng) đã có một phần trìng bày về phân biệt, đối xử theo giới trong gia đình Để phân tích được nội dung này nhóm nghiên cứu đã so sánh giữa thời gian làm việc và nghỉ ngơi của nam giới và phụ nữ trong gia đình Dễ dàng nhận thấy người phụ nữ và nam giới cùng dành thời gian lao động sản xuất như nhau ngoài thị trường Tuy nhiên phụ

nữ lại sử dụng phần lớn thời gian mà nam giới dùng để nghỉ ngơi và giải trí để làm việc gia đình Hầu hết phụ nữ ở nông thôn đã thực hiện toàn bộ các công việc trong gia đình, các công việc tiêu tốn nhiều thời gian và sức lực của họ Các công việc gia đình cũng xé lẻ thời gian của người phụ nữ, trong khi nam giới được tập trung hơn, không bị gián đoạn hay phân tán thời gian Nghiên cứu này

cũng sử dụng công cụ tìm hiểu phân công lao động trong ngày [11,32]

Ở lĩnh vực nghiên cứu về việc sử dụng thời gian rỗi đặc biệt về nhu cầu giải trí hầu như chưa được chú trọng và chưa được coi là vấn đề ưu tiên trong danh mục đề tài của giới nghiên cứu Mặc dù vậy, cũng đã có một số tài liệu đề cập đến việc sử dụng thời gian rỗi của các nhóm xã hội (Đinh Thị Vân Chi,2003) Theo tác giả này, thời gian rỗi được xác định là đối tượng nghiên cứu của xã hội học và vai trò của nó ngày càng được khẳng định trong xã hội hiện đại bởi nó hàm chứa cả hai khía cạnh sinh học và xã hội Trong nghiên cứu của mình về nhu cầu giải trí của thanh niên Việt Nam, tác giả này đã đưa ra một khung lý thuyết hợp lý để nghiên cứu, bao gồm cả việc xem xét đến nhu cầu, xu hướng giải trí của thanh niên theo nhóm tuổi và khu vực, đồng thời có tính đến mức độ đáp ứng của xã hội đối với các nhu cầu giải trí đối với nhóm tuổi thanh

niên.[4;8]

Cũng cần phải nhắc đến của hai tác giả nước ngoài là Francois Houtart & Genevieve Lemercinier tại xã Hải Vân, Nam Định năm 1979, mặc dù chủ đề về thời gian tự do ở nghiên cứu này chỉ được tiến hành trên một số mẫu khiêm tốn

là 74 trường hợp (cả nam và nữ, trên 20 tuổi, có vợ chồng, là người tôn giáo và chủ yếu là nông dân) Theo các tác giả này đối với người dân nông thôn, khái niệm thời gian tự do là hoàn toàn mới mẻ, nên cần thiết lập sự phân biệt giữa

Trang 36

thời gian lao động nghề nghiệp với thời gian được gọi là “tự do”, mà theo họ, một phần của thời gian “tự do” đó chứa đựng nhiều hoạt động tái sản xuất Họ

đã phân tích việc có hay không có sự lựa chọn trả lời, chủ yếu là khả năng và trật tự lựa chọn theo kiểu loại hoạt động và các giá trị làm cơ sở cho lựa chọn

đó Kết quả là có sự khác nhau trong năng lực lựa chọn giữa nam và nữ, theo nhóm tuổi, học vấn, quy mô gia đình và việc tham gia chính trị của người trả lời

Ví dụ nhóm nữ trên 35 tuổi, không thuộc các đoàn thể, chính trị, chỉ biết đọc biết viết, thuộc gia đình nhỏ có năng lực lựa chọn kém nhất Sự lựa chọn và các nhóm xã hội, được chia ra thành hoạt động cá nhân với mức độ ưa thích mạnh yếu Các thái độ và giá trị được xếp theo tính chất và năng lực phát triển như cá nhân hoặc tập thể, chủ động hoặc thụ động; chân tay hoặc trí óc, thân thể hoặc

xã hội Những nhân tố có tính chất khác biệt nhất đó là tuổi tác, trình độ văn hoá, qui mô gia đình và nhấn mạnh đến yếu tố học vấn, theo tác giả, những người có trình độ văn hoá trung học thì mới có thể thưởng thức hay sử dụng thời gian rảnh rỗi một cách trí tuệ hơn (Francois Houtart & Genevieve

Lemercinier,2001) [ 5;9]

Một nghiên cứu tiếp theo về thời gian rỗi phải kể đến là “Việc sử dụng thời gia rỗi của phụ nữ và nam giới” của Hà Thị Minh Khương Nghiên cứu này dựa trên số liệu định lượng từ cuộc “Điều tra cơ bản về thực trạng bình đẳng giới và tác động của chính sách đối với phụ nữ và nam giới nhằm phục vụ cho công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam tiến hành từ 2004 đến 2006 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mức độ tham gia của phụ nữ và nam giới vào từng hoạt động giải trí có sự khác biệt đáng kể

Tỷ lệ phụ nữ tham gia đều thấphơn nam giới ở hầu hết các hoạt động trong thời gian rỗi Các hoạt động có sự khác biệt lớn là: đọc sách báo, tập thể dục thể thao,đặc biệt là ăn uống với bạn bè duy nhất việc đi lễ đền, chùa hoặc nhà thờ là phụ nữ có tỷ lệ cao hơn đáng kể so với nam giới Những nhân tố chi phối sự khác biệt trong việc tham gia các hoạt động này bao gồm khu vực sinh sống, dân tộc, mức sống, học vấn, nghề nghiệp, nhóm tuổi Trong đó, khi so sánh nông thôn và đô thị, hoặc giữa các nhóm dân tộc thì khoảng cách khác biệt về giới

Trang 37

trong hoạt động giải trí càng lớn [7;33] Nghiên cứu này đã phân tích khá sâu sự

khác biệt giới trong việc sử dụng thời gian rỗi của phụ nữ và nam giới cùng các yếu tố chi phối đến cơ hội tham gia các hoạt động trong thời gian rỗi với từng giới Tuy nhiên, điểm hạn chế ở nghiên cứu này ở chỗ cách thức khai thác thông tin và đo lường thời gian giải trí của nam giới và nữ giới chưa cụ thể Để khai thác thông tin hoạt động trong thời gian rỗi của vợ và chồng trong gia đình, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi cố, cụ thể người trả lời cung cấp một số thông tin về một số hoạt động mà họ (vợ hoặc chồng họ) đã thực hiện trong 12 tháng qua kể từ thời điểm phỏng vấn Nghiên cứu cũng sử dụng thang

đo thời gian như hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý và 1-2 lần/năm

Có thể thấy, phương thức đo lường thời gian như trên chưa cụ thể, mang tính hồi

cố trong khoảng thời gian khá dài (12tháng) nên độ chính xác về thời gian sẽ bị ảnh hưởng

Có th nh n th y có khá nhi u nghiên c u liên quan ể ậ ấ ề ứ đến phân tích th iờ

gian dành cho công vi c gia ình c các nệ đ ả ở ước phương Tây và Vi t Nam Tuyở ệ

nhiên, các nghiên c u v qu th i gian thứ ề ỹ ờ ường c p ở ấ độ ộ r ng, quy mô l n ớ để

ánh gia m c s ng dân c Còn các nghiên c u v phân công lao ng trong gia

ình ch y u là li t kê và h i xem ai là ng i ch y u làm vi c ó mà không chú

ý đế ựn s khác bi t v th i gian dành cho các lo i công vi c c trong và ngoài giaệ ề ờ ạ ệ ả

ình m t s nghiên c u khác b h n ch khi ch a phân tích kho ng cách gi i

trong ph m vi h gia ình v.v Trạ ộ đ ước th c ti n nghiên c u nh trên, chúng tôi ãự ễ ứ ư đ

ch n ọ đề tài nghiên c u “ứ Phân tích c c u qu th i gian c a v và ơ ấ ỹ ờ ủ ợ

ch ng trong gia ình – so sánh nông thôn – ô th ồ đ đ ị” v i m t mongớ ộ

mu n thông qua cách o lu ng th i gian m t cách c th (theo t nh ng phânố đ ờ ờ ộ ụ ể ừ ữ

tích v th i gian cho các ho t ề ờ ạ động c a v và ch ng có th tr l i ủ ợ ồ ể ả ờ được câu h iỏ

Trang 38

có hay không t n t i m t kho ng cách gi i trong gia ình và các y u t tác ồ ạ ộ ả ớ đ ế ố độ ng

n kho ng cách gi i này nh th nào

Trang 39

Chương 2

CƠ CẤU QUỸ THỜI GIAN CỦA VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIA ĐÌNH:

SO SÁNH NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ 2.1 Mô tả khoảng cách giới về cơ cấu quỹ thời gian trong gia đình

Để phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình, chúng

tôi tiến hành gộp các hoạt động của vợ và chồng trong gia đình thành 5 hoạt động chính bao gồm: Hoạt động ngủ, hoạt động cá nhân, công việc gia đình, kiếm thu nhập và giải trí Chúng tôi kiểm định giá trị trung bình của các cặp hoạt động của vợ và chồng Từ đó, chúng tôi có được bảng cơ cấu thời gian của

vợ và chồng trong gia đình như sau:

Bảng 2.1 Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình

Ngủ Công việc gia đình Thu nhập Kiếm Giải trí

có ý nghĩa thống kê (t= -7,980, df=181, p =0,001) Như vậy, sự khác nhau giữa chồng và vợ về công việc gia đình trong cả ngày thường và đặc biệt trong ngày nghỉ là khá cao Công việc gia đình là trách nhiệm chung của cả chồng và vợ

Ngày đăng: 21/07/2014, 09:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ăngghen, Ph. 1981 “ Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” trong C.Mác và Ph. Ăngghen - Tuyển tập (tập 2). Hà Nội: Nhà xuất bản Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
17. Coltrance, Scott.2000 “Research on household Labor: Modeling and Measuring the social Embeddedness of Ruotine Family Work trong Journal of Marriage and the Family Volum 62, trang 1208 -1233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research on household Labor: Modeling and Measuring the social Embeddedness of Ruotine Family Work trong "Journal of Marriage and the Family
22. Parkman, Allen M.2004 “Bargaining over housework: The Fustrating Situation of Secondary Wage Earners” the American Journal of Economics and Sociology, Volum 6 3, Number 4 (10/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bargaining over housework: The Fustrating Situation of Secondary Wage Earners
14. Barbara Adam, Time and Social Theory http://www.temple.edu/tempress/titles/830_reg.html Link
18. Global Gender Gap Report 2011http://reports.weforum.org/global-gender-gap-2011/ Link
3. Đinh Thị Vân Chi.2003. Nhu cầu giải trí của thanh niên (Sách thamkhảo). Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Khác
4. Francois Houtart & Geneviene Lemercinier, 2001. Xã hội học về một xã ở Việt Nam. Tham gia xã hội,các mô hình văn hoá, gia đình, tôn giáo ở xã Hải Vân, Viện Xã hội học, Hồ Hải Thuỵ dịch. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
5. Hoàng Bá Thịnh,2008. Giáo trình xã hội học về giới, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội,2008 Khác
6. Lê Thái Thị Băng Tâm, 2008. Phân công lao động và ra quyết định trong gia đình. Chương 5. Bất bình đẳng giới ở Việt Nam (phân tích số liệu điều tra) Nxb Khoa học xã hội Khác
7. Mai Huy Bích, 2004. Người làm thuê việc nhà và những tác động của họ tới gia đình trong thời kỳ đổi mới kinh tế - xã hội. Tạp chí khoa học về phụ nữ số 4 – 2004 Khác
8. Lê Thị Quý, 2009. Giáo trình xã hội học giới. Nxb Giáo Dục,2009 Khác
9. Trần Thị Minh Đức – Hoàng Xuân Dũng - Đỗ Hoàng, 2006 . Định kiến và phân biệt đối xử theo giới – Lý thuyết và thực tiễn. NXBNXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
10.Hà Thị Minh Khương, 2007. Việc sử dụng thời gian rỗi giữa phụ nữ và nam giới. Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới số 1, 2007 Khác
11.Trần Quý Long, 2007. Lao động nội trợ của phụ nữ trong gia đình nông thôn. Tạp chí xã hội học số 4, 2007 Khác
12.UNDP, 2002 Khác biệt giới trong nền kinh tế chuyển đổi ở Việt Nam (Báo cáo tháng 7/2002) Khác
13.Vũ Tuấn Huy – Deborals Carr, 2000, Phân công lao động nội trợ trong gia đình. Tạp chí Xã hội học, số 4.2000.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Khác
15. Coverman, Shelley 1985 “Explaining Husbands participation in Domestic Labor trong The Sociological Quarterly, Volum 26, Number 1, trang 81 – 97 Khác
16. Chris Rojeck. 2005.Leisure Theory: Principles and Practice. Palgrave Macmillan Khác
19.Iwasaki, Yoshi, Mackay, Kelly, Mactavish, Jennifer. 2005. Gender – Based analy-ses of coping with among professional managers: Leisure coping and non – leisure coping. Journal of Leisure Research, First Quarter Khác
20. Jary, D va Jary J 1991 The Harper Collins Dictionary of Sociology NewYork: Harper Collins Publisher Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình - Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình so sánh nông thôn đô thị
Bảng 2.1 Cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình (Trang 39)
Bảng 2.3. Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về công  việc gia đình - Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình so sánh nông thôn đô thị
Bảng 2.3. Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về công việc gia đình (Trang 47)
Bảng 2.4. Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về thời  gian kiếm thu nhập - Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình so sánh nông thôn đô thị
Bảng 2.4. Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về thời gian kiếm thu nhập (Trang 57)
Bảng 2.5 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về thời gian  giải trí ngày thường - Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình so sánh nông thôn đô thị
Bảng 2.5 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về thời gian giải trí ngày thường (Trang 59)
Bảng 2.6 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về thời gian  giải trí ngày nghỉ - Phân tích cơ cấu quỹ thời gian của vợ và chồng trong gia đình so sánh nông thôn đô thị
Bảng 2.6 Mô hình hoá các yếu tố tác động đến khoảng cách giới về thời gian giải trí ngày nghỉ (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w