Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tư tưởng của Khổng Tử có một vị trí rất đặc biệt. Sự đặc biệt ấy không chỉ bởi những giá trị đặc sắc trong nội dung tư tưởng và tầm ảnh hưởng của nó đối với thời đại nó ra đời mà còn bởi tư tưởng Khổng Tử đã sống một cuộc sống lâu bền và rất riêng, vượt qua khuôn khổ một thời đại, một quốc gia. Tư tưởng Khổng Tử nói riêng và tư tưởng nho giáo nói chung đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến trong suốt tiến trình phát triển qua các triều đại phong kiến ở Trung Hoa và nhiều nước Á Đông khác trong đó có Việt Nam. Với một hệ thống những quan điểm về thế giới và đặc biệt là quan điểm nhân sinh thể hiện trong quan niệm về chính trị xã hội và luân lý đạo đức, Khổng Tử là người đã đặt nền móng cho sự phát triển của Nho học trong lịch sử Trung Hoa. Quan điểm về Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trong quan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của Khổng Tử. Trong học thuyết về chính trị xã hội của Khổng Tử, Lễ được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng dù ở khía cạnh nào nó cũng không vượt ra khỏi mục đích tối cao nhằm giải quyết một vấn đề lớn của thời đại ông là bình ổn xã hội. Khổng Tử muốn khôi phục Lễ để thực hiện điều Nhân nhằm bình ổn xã hội loạn lạc để quay trở lại như thời Tây Chu. Tất nhiên, từ Lễ trong nền giáo dục phong kiến đến Lễ trong nền giáo dục hiện đại đã có rất nhiều biến đổi nhưng ở bất kỳ thời đại nào cũng có những giá trị được bảo tồn. Bởi vậy, hoàn toàn không ngẫu nhiên khi người Trung Hoa suy tôn Khổng Tử là “Vạn thế sư biểu” (thầy của muôn đời). Trong quá trình du nhập vào Việt Nam tư tưởng của Khổng Tử và Nho giáo từ chỗ bị đối xử thiếu thiện cảm do đi theo gót chân của kẻ xâm lược dần dần nó đã hòa nhập vào đời sống cộng đồng bởi những nét tương đồng và không ngừng thay đổi thích ứng với văn hóa bản địa. Người Việt đã sớm tiếp biến tư tưởng Khổng Tử không chỉ bởi sự giao thoa văn hóa tự nhiên mà còn bởi sự ủng hộ và tiếp sức của giai cấp phong kiến Việt Nam qua nhiều triều đại. Tư tưởng Khổng Tử và Nho giáo, trong đó có tư tưởng về Lễ cũng như chính Khổng Tử và nhiều danh nho khác sớm chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong nền giáo dục phong kiến và đời sống tinh thần của người Việt Nam. Trong những năm gần đây cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nền giáo dục Việt Nam cũng có những bước chuyển mình quan trọng và đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên cùng với quá trình ấy cũng đã đưa đến một số thay đổi tiêu cực trong các quan hệ xã hội. Một bộ phận học sinh có hành vi và suy nghĩ lệch lạc gây ảnh hưởng xấu đến môi trường giáo dục và báo hiệu một sự suy thoái về đạo đức và lối sống. Ở một nền văn hóa tương đối đậm chất nho học như Việt Nam thì điều đó càng khó chấp nhận vì nó đi ngược lại với truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, Kính trên nhường dưới. Để phát triển một thế hệ mới trong tương lai làm chủ đất nước và thực hiện thành công sự nghiệp phát triển đất nước bên cạnh việc giáo dục tri thức khoa học thì giáo dục đạo đức có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Tư tưởng của Khổng Tử nói chung và quan điểm về Lễ nói riêng có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay. Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều thế kỷ cùng với sự tiếp biến linh hoạt và cho vào Lễ một hơi thở của thời đại thì nó hoàn toàn có thể giúp khôi phục và định hình một nhân cách chuẩn đối với học sinh, đặc biệt là với một bộ phận học sinh lệch chuẩn hiện nay ở nước ta. Với những suy nghĩ đó, tôi đã làm luận văn cao học với đề tài: “Phạm trù Lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay”.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 QUAN NIỆM LỄ CỦA KHỔNG TỬ
1.1 Cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
1.1.1 Khổng Tử cuộc đời và sự nghiệp
1.1.2 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội thời kỳ Xuân Thu
1.2 Khổng Tử bàn về Lễ
1.2.1 Phạm trù Lễ
1.2.2 Các phạm trù trong mối tương quan với phạm trù Lễ
1.3 Một số nội dung cơ bản của Lễ
1.3.1 Lễ là những quy định về nghi thức tế lễ
1.3.2 Lễ là đường lối trị nước và luật lệ quốc gia
1.3.3 Lễ là chuẩn mực đạo đức của con người trong xã hội
1.3.4 Lễ là công cụ tiết chế hành vi của con người
Chương 2 Ý NGHĨA CỦA LỄ TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Khái quát quá trình du nhập Lễ của Khổng giáo ở Việt Nam
2.2 Thực trạng đạo đức học sinh hiện nay
2.3 Một số giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay
2.3.1 Phạm trù Lễ trong triết học Khổng Tử với việc giáo dục đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay………
2.3.2 Một số kiến nghị cho sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tư tưởng của Khổng Tử có một vị trírất đặc biệt Sự đặc biệt ấy không chỉ bởi những giá trị đặc sắc trong nội dung
tư tưởng và tầm ảnh hưởng của nó đối với thời đại nó ra đời mà còn bởi tưtưởng Khổng Tử đã sống một cuộc sống lâu bền và rất riêng, vượt qua khuônkhổ một thời đại, một quốc gia Tư tưởng Khổng Tử nói riêng và tư tưởngnho giáo nói chung đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến trongsuốt tiến trình phát triển qua các triều đại phong kiến ở Trung Hoa và nhiềunước Á Đông khác trong đó có Việt Nam
Với một hệ thống những quan điểm về thế giới và đặc biệt là quan điểmnhân sinh thể hiện trong quan niệm về chính trị xã hội và luân lý đạo đức,Khổng Tử là người đã đặt nền móng cho sự phát triển của Nho học trong lịch
sử Trung Hoa Quan điểm về Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trongquan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của Khổng Tử Trong họcthuyết về chính trị - xã hội của Khổng Tử, Lễ được hiểu theo nhiều khía cạnhkhác nhau nhưng dù ở khía cạnh nào nó cũng không vượt ra khỏi mục đích tốicao nhằm giải quyết một vấn đề lớn của thời đại ông là bình ổn xã hội Khổng
Tử muốn khôi phục Lễ để thực hiện điều Nhân nhằm bình ổn xã hội loạn lạc
để quay trở lại như thời Tây Chu Tất nhiên, từ Lễ trong nền giáo dục phongkiến đến Lễ trong nền giáo dục hiện đại đã có rất nhiều biến đổi nhưng ở bất
kỳ thời đại nào cũng có những giá trị được bảo tồn Bởi vậy, hoàn toàn khôngngẫu nhiên khi người Trung Hoa suy tôn Khổng Tử là “Vạn thế sư biểu”(thầy của muôn đời)
Trong quá trình du nhập vào Việt Nam tư tưởng của Khổng Tử và Nhogiáo từ chỗ bị đối xử thiếu thiện cảm do đi theo gót chân của kẻ xâm lược dầndần nó đã hòa nhập vào đời sống cộng đồng bởi những nét tương đồng và
Trang 3không ngừng thay đổi thích ứng với văn hóa bản địa Người Việt đã sớm tiếpbiến tư tưởng Khổng Tử không chỉ bởi sự giao thoa văn hóa tự nhiên mà cònbởi sự ủng hộ và tiếp sức của giai cấp phong kiến Việt Nam qua nhiều triềuđại Tư tưởng Khổng Tử và Nho giáo, trong đó có tư tưởng về Lễ cũng nhưchính Khổng Tử và nhiều danh nho khác sớm chiếm lĩnh một vị trí quan trọngtrong nền giáo dục phong kiến và đời sống tinh thần của người Việt Nam.
Trong những năm gần đây cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế
-xã hội của đất nước, nền giáo dục Việt Nam cũng có những bước chuyểnmình quan trọng và đạt được một số thành tựu nhất định Tuy nhiên cùng vớiquá trình ấy cũng đã đưa đến một số thay đổi tiêu cực trong các quan hệ xãhội Một bộ phận học sinh có hành vi và suy nghĩ lệch lạc gây ảnh hưởng xấuđến môi trường giáo dục và báo hiệu một sự suy thoái về đạo đức và lối sống
Ở một nền văn hóa tương đối đậm chất nho học như Việt Nam thì điều đócàng khó chấp nhận vì nó đi ngược lại với truyền thống “Tôn sư trọng đạo”,
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, Kính trên nhường dưới Để phát triển một thế hệmới trong tương lai làm chủ đất nước và thực hiện thành công sự nghiệp pháttriển đất nước bên cạnh việc giáo dục tri thức khoa học thì giáo dục đạo đức
có một ý nghĩa hết sức quan trọng
Tư tưởng của Khổng Tử nói chung và quan điểm về Lễ nói riêng có ýnghĩa rất lớn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay
Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều thế
kỷ cùng với sự tiếp biến linh hoạt và cho vào Lễ một hơi thở của thời đại thì
nó hoàn toàn có thể giúp khôi phục và định hình một nhân cách chuẩn đối vớihọc sinh, đặc biệt là với một bộ phận học sinh lệch chuẩn hiện nay ở nước ta
Với những suy nghĩ đó, tôi đã làm luận văn cao học với đề tài: “Phạm
trù Lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay”.
Trang 42 Tình hình nghiên cứu
Nho giáo nói chung và phạm trù Lễ trong triết học của Khổng Tử nóiriêng là đối tượng nghiên cứu đang thu hút nhiều ngành khoa học nghiên cứutrong nhiều thế kỷ qua cho tới hiện nay, như: triết học, văn hóa học, sử học,tôn giáo học, giáo dục học, đạo đức học… Có thể khái quát kết quả nghiêncứu đó theo ba hướng sau:
Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu về Khổng Tử trong tổng thể
các tác phẩm như: “Sử ký” của Tư Mã Thiên, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 1988; “Lịch sử văn minh và các triều đại Trung Quốc”, được biên soạn
năm 2004 bởi TS Dương Ngọc Dũng - Nhà nghiên cứu Anh Minh, Nxb Tổng
hợp, Thành phố Hồ Chí Minh; “Lịch sử văn minh Trung Hoa” của sử gia lớn
nhất thời hiện đại Will Durant, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội (dịch giả
Nguyễn Hiến Lê), 2004; “Đại cương triết học sử Trung Quốc”, của nhà triết
học Phùng Hữu Lan (Fung Yu-Lan), Nxb Thanh niên, Trung tâm nghiên cứuquốc học, Hà Nội (người dịch Nguyễn Văn Dương), xuất bản năm 1999;
“Nho giáo Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hóa thông tin, năm 2005; “Lịch sử triết học phương Đông”, của GS Nguyễn Đăng Thục, Nxb từ điển Bách khoa, Hà Nội, xuất bản năm 2006; “Đạo đức phương Đông cổ đại”, của PGS Vũ Tình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản
1998… Các công trình nghiên cứu đã trình bày một cách khái quát về tưtưởng triết học Khổng Tử, trong đó có tư tưởng về Lễ của ông tổ Nho giáo đểkhắc họa chân dung một con người, một nhân cách, một đại biểu văn hóa
Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu tư tưởng Khổng Tử
cứu này có thể kể đến những công trình tiêu biểu như: “Đại cương triết học Trung Quốc” của Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Nxb Cao Thơm, Sài Gòn, năm 1966; “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc” do Doãn Chính chủ biên,
Trang 5Nxb Chính trị quốc gia, năm 1999; Lịch sử triết học sử Trung Quốc (2 tập)
của tiến sĩ Phùng Hữu Lan (Feng You Lan), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,năm 2006; Các công trình nghiên cứu này đã trình bày, phân tích một cáchsâu sắc triết học Khổng Tử trong tiến trình lịch sử triết học Hơn nữa, cáccông trình này tập trung phân tích các học thuyết về chính trị, xã hội của
Khổng Tử, ít nhiều có đề cập đến phạm trù Lễ trong mối tương quan đến các phạm trù đạo đức trong “ngũ thường” như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Trong thời gian gần đây, đã xuất hiện tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu
về lịch sử triết học Trung Quốc là “Từ điển triết học Trung Quốc” của PGS.
TS Doãn Chính, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản vào năm 2009;tác phẩm này trình bày, phân tích một cách sâu sắc những vấn đề như: nộidung các học thuyết trong triết học của Khổng Tử; lịch sử hình thành, pháttriển và sự biến đổi của phạm trù Lễ trong tiến trình lịch sử, nguyên nhân sự
ra đời của Lễ cũng như ý nghĩa, công dụng Lễ Tuy nhiên, do đặc trưng củathể loại Từ điển và do khối lượng kiến thức đồ sộ mà tác phẩm đề cập đến,nên tác giả đành hạn chế phần phân tích nội dung của Lễ
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết của các
tác giả chuyên nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu riêng về Lễ trong triết học
Khổng Tử, như: “Lễ Ký - kinh điển về việc lễ” của tác giả Nhữ Nguyên, Nxb Đồng Nai, Biên Hòa, 1996; “Kinh lễ”, do Nguyễn Tôn Nhan biên dịch và giới thiệu, Nxb Văn học, năm 1996; “Tứ Thư”, Dịch giả Đoàn Trung Còn, Nxb
Thuận Hóa, Huế, 2006;… Những công trình nghiên cứu này biên dịch phầnnguyên bản chữ Hán, đồng thời các nhà nghiên cứu, dịch thuật cũng cố gắngbằng kiến thức uyên thâm của mình phân tích, thuyết minh một số nội dungnhằm giúp độc giả hiểu được phần lớn tinh thần của tác phẩm
Nhìn chung, mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận theo một hướng khácnhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào được coi là có cái nhìn toàndiện về phạm trù Lễ trong triết học của Khổng Tử, chưa có công trình nào
Trang 6nghiên cứu riêng biệt hoặc trình bày một cách có hệ thống nội dung của Lễ,chưa có công trình nào đánh giá hết những giá trị, hạn chế của tư tưởng về Lễcủa Khổng Tử, cũng như đề ra phương pháp vận dụng những bài học lịch sử đóvào việc hoạch định chính sách, biện pháp giáo dục đạo đức học sinh hiện nay.
Để có cái nhìn toàn điện về đạo đức, lối sống của thanh niên Việt Namhiện nay, trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng và quan điểm của Đảng, tác giả thamkhảo, kế thừa những công trình khảo sát, thống kê, nghiên cứu về thanh niên,
về đạo đức, lối sống của thanh thiếu niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.Những công trình này đã phản ánh thực trạng về tình hình đạo đức, lối sốngcủa thanh thiêu niên Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường đang pháttriển Có thể khẳng định đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu củanhững nhà khoa học, những công dân đang trăn trở về những biến động tronglối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội Có thể kể đến:
“Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay”, do Nguyễn Ngọc
Phú (chủ biên), Nxb Quân đội nhân dân, xuất bản năm 2008 Nhóm tác giả đãtrình bày quan niệm chung về chuẩn mực đạo đức theo quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phân tích các giá trị chuẩn mực đạođức truyền thống con người Việt Nam; đồng thời phân tích các tác động củanền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến sự vận động biếnđổi các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay
ThS Phạm Tấn Xuân Tước, PGS TS Huỳnh Thị Gấm (2008), “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho sinh viên ở thành phố
Hồ Chí Minh hiện nay”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Công trình trình bày
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống mới chothanh niên; phân tích thực trạng đạo đức, lối sống sinh viên; thực trạng côngtác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên; đề ra các nhóm giải pháp về giáodục đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 7Công trình “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” công bố ngày 26 tháng 8 năm 2005 Tính cho đến nay, đây là cuộc điều
tra về vị thành niên và thanh niên lớn nhất, toàn diện nhất ở Việt Nam, lànguồn thông tin bổ ích, đáng tin cậy về tình trạng sức khỏe, đời sống xã hội,thái độ, hoài bão của thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay
Đây là các công trình rất công phu, mỗi tác giả lại có cái nhìn chuyênsâu về từng khía cạnh của đời sống thanh niên hiện nay và từ đó đưa ra nhữnggiải pháp góp phần nâng cao đạo đức xã hội Song, các tác phẩm còn dừng lại
ở những giải pháp ở tầm vĩ mô, chung chung mang tính định hướng mà chưathực sự cụ thể, phù hợp để xây dựng những chuẩn mực đạo đức cho từngnhóm bộ phận những người Việt Nam, chưa xây dựng được chương trình,biện pháp giáo dục đạo đức hiệu quả cho đối tượng thanh thiếu niên
Một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ triết học đã được bảo vệ xoayquanh vấn đề con người, mẫu người, đạo làm người và vấn đề giáo dục đào tạocon người theo những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức của nho giáo như: “Tìmhiểu mẫu người quân tử qua hai tác phẩm “Luận Ngữ” và “Mạnh Tử” củaNguyễn Xuân Lộc, “Quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về con người quacác mối quan hệ thân - nhà - nước- thiên hạ” của Trần Đình Thảo, “Quan niệmcủa Khổng Tử về giáo dục” của Nguyễn Bá Cường, “Quan niệm của Khổng Tử
về con người và giáo dục đào tạo con người” của Nguyễn Thị Tuyết Mai…Mặc dù các luận văn, luận án đều có phạm vi nghiên cứu cụ thể của từng đề tàixong các tác giả ở những mức độ nhất định đã đề cập đến tư tưởng về lễ trongquan hệ mật thiết với các phạm trù đạo đức khác góp phần hình thành nên tínhtoàn vẹn của mẫu người lý tưởng mà Nho giáo muốn xây dựng
Với thái độ trân trọng những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi
trước đã cung cấp nhiều kiến thức về phạm trù Lễ cũng như đạo đức, lối sống
xã hội vô cùng bổ ích và có giá trị, tôi đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc và
Trang 8trung thực nguồn tư liệu quý báu đó trong quá trình thực hiện luận văn củamình.
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Từ việc nghiên cứu có hệ thống tư tưởng của Khổng Tử về Lễ, luận vănđánh giá những giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử của nó cùng nhữngkiến nghị đối với sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Trình bày cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
- Phân tích phạm trù Lễ và các phạm trù trong mối tương quan vớiphạm trù Lễ
- Trình bày các nội dung cơ bản trong phạm trù Lễ của Khổng Tử
- Phân tích thực trạng đạo đức học sinh ở Việt Nam hiện nay
- Đưa ra ý nghĩa của Lễ đối với việc giáo dục đạo đức học sinh ở ViệtNam và một số kiến nghị cho sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu Phạm trù Lễ của Khổng Tử để từ đó rút
ra ý nghĩa của Lễ đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiệnnay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Triết học Nho giáo nguyên thủy bao gồm rất nhiều vấn đề như conngười, chính trị - xã hội, giáo dục… nhưng ở đây luận văn chỉ nghiên cứu vềphạm trù Lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đứchọc sinh ở Việt Nam hiện nay
Trang 95 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng - chủnghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về vấn
đề đạo đức
Luận văn sử dụng các phương pháp như lịch sử - lôgic, phân tích, tổnghợp, quy nạp, diễn dịch…
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn đã làm rõ hơn những nội dung trong quan niệm về Lễ củaKhổng Tử và từ đó làm rõ vai trò quan trọng trong tư tưởng Lễ của Khổng Tửđối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay
- Luận văn góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận và phươngpháp giáo dục đạo đức con người qua tìm hiểu Lễ trong triết học Trung Quốc
cổ đại nói chung và trong triết học Khổng Tử nói riêng
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảngdạy triết học và đạo đức trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấpchuyên nghiệp, Trung học phổ thông… ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận vănbao gồm 2 chương, 7 tiết:
Chương 1: Quan niệm Lễ của Khổng Tử
Chương 2: Ý nghĩa của Lễ trong việc giáo dục đạo đức cho học sinhViệt Nam hiện nay
Trang 10Chương 1 QUAN NIỆM LỄ CỦA KHỔNG TỬ
1.1 Cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
1.1.1 Khổng Tử cuộc đời và sự nghiệp
Khổng Tử là người ấp Châu, làng Xương Bình, nước Lỗ nay là huyệnKhúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông dòng dõi nước Tống Ông tổ bađời rời sang ở nước Lỗ (Sơn Đông) Thân phụ ông là Thúc Lương Ngột làmquan võ, lấy người vợ trước sinh được chín người con gái Người vợ lẽ sinhđược một người con trai tên là Mạnh Bì, nhưng lại có tật què chân Đến lúcgần già ông thân phụ mới lấy bà Nhan thị sinh ra ông Khổng Tử sinh vàomùa đông tháng 10 năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhàChu, tức là năm 551 trước Công Nguyên Bà Nhan thị có lên cầu tự trên núiaNi Khâu, cho nên khi sinh ra ông mới nhân điềm ấy mà đặt tên ông là Khâu,tên tự là Trọng Ni Có sách chép rằng trán ông cao và gồ lên cho nên mới đặttên là Khâu Khâu nghĩa là cái gò
Theo chuyện chép trong chính sử thì khi Khổng Tử lên 3 tuổi ông thânphụ mất Thủa còn nhỏ học hành thế nào sử sách không chép rõ chỉ nói rằngkhi ông chơi với trẻ hay bày đồ cúng tế Điều đó cốt tỏ cái bản tính của ôngtrọng những điều lễ nghĩa
Năm ông 19 tuổi thì thành gia thất, rồi ra nhận chức Ủy lại, coi gạt thóc
ở kho, sau lại làm Tư chức lại coi việc nuôi bò dê để dùng về việc cúng tế.Thủa ấy tuy ông còn trẻ tuổi nhưng đã nổi tiếng là một người giỏi cho nênquan nước Lỗ là Trọng Tôn Cồ cho hai con là Hà Kị và Nam Cung Quát theoông học lễ Ông vốn là người học theo Nho thuật cho nên ông rất chú ý về lễnghi và những phép tắc của các đế vương thời trước Cho đến khi Khổng Tử
51 tuổi thì vua nước Lỗ mới dùng ông làm quan Trung đô tể Cách một nămthì cải chức làm quan Đại tư khấu Ông đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo
Trang 11khổ, lập ra phép tắc định rõ việc tống táng người chết Lớn nhỏ phân biệt traigái, không lẫn lộn, người đi ngoài đường thấy của rơi không nhặt, kẻ gian phikhông có, hình pháp đặt ra không hề dùng đến Ông làm Đại tư khấu đượcbốn năm, vua nước Lỗ cất ông lên nhiếp tướng sự nghĩa là cho ông quyềnnhiếp việc chính trị trong nước Theo sử sách, khi ông cầm quyền được bảyngày thì giết quan đại phu Thiếu Chính Mão là một người sảo quyệt gianhiểm thời bấy giờ, được ba tháng thì việc chính trị hoàn toàn: trật tự phânminh, con trai thì chuộng trung tín, con gái thì chuộng trinh thuận Lúc bấygiờ nước Tề bên cạnh không muốn nước Lỗ thịnh cho nên bày kế phản giáncho 80 người con gái đẹp, múa hát giỏi và 30 con ngựa tốt đem sang bày ởcửa Nam thành nước Lỗ để dâng cho Lỗ hầu Lỗ hầu say mê, bỏ việc ba ngàykhông thỉnh chính Khổng Tử thấy vua vì sự vui chơi bỏ trễ việc nước chonên nhân lúc nhà vua làm lễ tế Giao không chia thịt cho các quan ông liền từchức bỏ sang ở nước Vệ.
Ông ở nước Vệ được 10 tháng vua nước vệ không dùng ông định đisang nước Trần, nhưng khi đi đến nước Khuông, người nước ấy nhận nhầmông là Dương Hổ - là người tàn bạo ai cũng ghét cho nên mới đem quân ravây đánh Ông phải dùng tiếng đàn hát để giải thoát cho mình Ông thấy có sựngăn trở như thế nên trở về nước Vệ Ở nước Vệ được ít lâu ông sang ở nướcTống bị quan Tư mã nước Tống là Hoàn Khôi muốn giết nên ông lại bỏ sangTrần Ở nước Trần được ba năm thì vua nước Trần vẫn trọng đãi ông nhưngnước ấy bị giặc dã luôn nên ông lại trở về nước Vệ, rồi ông lại bỏ sang nướcTrần Ông ở nước Trần được ít lâu thì lại sang nước Thái đi qua đến nướcDiệp thì vua nước Sở cho người đón ông nhưng lại bị quan lệnh doãn là TửTây can ngăn nên ông lại trở về nước Vệ Thời bấy giờ vua các nước chư hầucòn muốn lấn quyền Thiên tử, quan Đại phu còn muốn lấn quyền của Thiên
tử, quan Đại phu còn muốn lấn quyền của vua Chư hầu, mà cái chủ nghĩa củaKhổng Tử thì lại cố tôn phù nhà Chu để giảm bớt cái quyền các nước Chư
Trang 12hầu, giữ quyền vua Chư hầu mà bớt quyền các quan Đại phu Ông nói rằng:
“Thiên hạ hữu đạo, tắc lễ nhạc chinh phạt tự Thiên tử xuất: Thiên hạ có đạothì việc lễ nhạc chinh phạt do ở Thiên tử mà ra; thiên hạ vô đạo thì việc lễnhạc chinh phạt do ở Thiên tử mà ra; thiên hạ vô đạo thì việc lễ nhạc chinhphạt do ở Chư hầu mà ra” Hay là: “Thiên hạ hữu đạo, tắc chính bất tại Đạiphu: Thiên hạ có đạo, việc chính trị không ở quan Đại phu” (Luận ngữ: Quíthị XVI) Cái chủ nghĩa của ông như thế, tất là phản đối với cái quyền lợi củacác vua chư hầu và các quan chư hầu, cho nên ông đi đến đâu, các nước vìdanh nghia mà trọng đãi, nhưng kỳ thực không ai muốn dùng ông, mà có aimuốn dùng ông đi nữa thì quan Đại phu ngăn trở, không cho dùng Vì vậycho nên ông đi chu du khắp thiên hạ mà không tìm được chỗ nào để thi hànhcái đạo của mình
Cũng bởi vậy nên ông đã chu du nhiều nước song không được trọngdụng Cuối đời, thấy thật sự bất lực việc làm chính trị ông về quê dạy học, sanđịnh Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc của cổ nhân, viết sách Xuân Thu để bộc lộquan điểm của mình Nhiều quan điểm của ông thể hiện qua các buổi tọa đàm
mà nội dung của nó sau này được trình bày trong “Luận Ngữ” do học trò củaông chép lại Sau khi Khổng Tử mất, nhất là qua giải pháp tàn khốc “đốt sách,chôn nho” của Tần Thủy Hoàng thì sách của Khổng Tử không còn giữ được
là bao Khi đạo Nho được phục hưng (đời Hán Vũ Đế), sách Nhạc chỉ cònmột thiên, được đem ghép vào bộ “Lễ ký” gọi là thiên “Nhạc ký” Nhữngsách khác được người đương thời sưu tầm, bổ sung tạo thành năm kinh là:Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu
1.1.2 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội thời kỳ Xuân Thu
Thời Xuân Thu về mặt kinh tế sức sản xuất đã phát triển Công cụ sảnxuất nhất là công cụ bằng sắt bắt đầu xuất hiện việc dùng bò kéo cày trở thànhphổ biến Trong sách “Quốc ngữ” có viết: “đồng thau để đúc kiếm kích…sắtdùng để đúc cuốc, cào và quả cân…” Điều đó không chỉ thúc đẩy kỹ thuật
Trang 13luyện sắt phát triển mà còn tạo điều kiện khai khẩn đất hoang, phát triển kỹthuật canh tác, “dẫn thủy nhập điền”, góp phần nâng cao năng suất lao độngtrong nông nghiệp Cuối Xuân Thu, nước Ngô dựng lò luyện sắt lớn dùng đến
300 người để thụt bễ, đổ than Nước Tấn trưng thu sắt đúc “đỉnh hình”
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, thươngnghiệp, buôn bán cũng phát đạt hơn trước Tiền tệ đã xuất hiện cùng với tầnglớp thương nhân ngày càng có thế lực, như Huyền Cao nước Trịnh, như TửTống Trên cơ sở phát triển của các ngành kinh tế, ruộng đất giờ đây giao chotừng gia đình để canh tác Đất do nông dân tự vỡ hoang trở thành ruộng tưngày càng tăng thêm Bọn quý tộc có thế lực chiếm đoạt ruộng đất công biếnthành ruộng tư ngày càng nhiều Chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất xuấthiện chế độ “tỉnh điền’’ dần dần tan dã
Về chính trị - xã hội, suốt thời Xuân Thu vì mệnh lệnh Thiên tử khôngđược chư hầu tuân thủ, chế độ tông pháp bị phá bỏ, trật tự lễ nghĩa, cươngthường xã hội đảo lộn, đạo đức suy vi nên các nước chư hầu đua nhau độngbinh gây chiến tranh thôn tính và tranh giành địa vị của nhau diễn ra liên miên
và vô cùng khốc liệt Lễ nghĩa nhà Chu giờ đây trở thành hình thức sáo rỗng
và chỉ là những thủ đoạn ngoại giao Nạn chư hầu chiếm quyền Thiên tử, đạiphu tiếm lễ Thiên tử và chư hầu, cha giết con, anh giết em, vợ lìa chồngthường xuyên xảy ra Chế độ cống nạp do nước lớn tiếm quyền Thiên tử tự ýđặt ra với các nước nhỏ là một tai họa cho các nước nhỏ yếu Mỗi lần nhàTrịnh cống nạp cho nhà Tấn phải dùng đến 100 xe chở lụa và da thú mà trăm
xe thì phải ngàn người Do vậy dân đã nghèo càng thêm đói khổ nên ở nướcTấn “thây người chết đầy đường”
Chính vì vậy trong thời kỳ này đã xuất hiện nhiều học thuyết nhằm tìmcách sửa đổi để cứu vớt thiên hạ trong đó có học thuyết của khổng Tử, lấynhân, nghĩa, lễ, trí để dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục đểgiữ trật tự ở trong xã hội cho bền vững
Trang 141.2 Khổng Tử bàn về Lễ
1.2.1 Phạm trù Lễ
Trước Khổng Tử, kể từ thời Chu Công, Lễ đã có hai nghĩa: nghĩa cũ là
tế lễ có tính chất tôn giáo, nghĩa mới là pháp điển phong kiến do Chu Côngchế định, có tính cách chính trị, để duy trì trật tự xã hội Sau dùng rộng ra ýnghĩa của Lễ chỉ cả phong tục tập quán và sau cùng qua thời Đông Chu nhất
là từ Khổng Tử nó có một nội dung mới, nội dung luận lý chỉ sự kỷ luật vềtinh thần: Người có lễ là người biết tự chủ khắc kỷ
Khổng Tử chủ trương tòng Chu, giữ pháp điển lễ nhạc của Chu Côngthì tất nhiên rất trọng Lễ và buộc vua chúa phải trọng Lễ Lễ để duy trì trật tự
xã hội, có trật tự đó thì vua mới được tôn, nước mới được trị, nếu vua khôngtrọng lễ thì còn bắt ai trọng nó được nữa
Chính vì vậy trong việc trị nước cũng như tu thân học đạo, sửa mình đểđạt đức “Nhân” thì “Lễ” là một trong những yếu tố được Khổng Tử rất mựccoi trọng Điều này được thể hiện rõ trong cuốn Luận ngữ
Trong Luận ngữ, Khổng Tử thường nhắc rất nhiều đến chữ Lễ Có thểnói, trong mỗi chương đều có nhiều đoạn bàn về Lễ, có khi chủ động giảnggiải, có khi thụ động trả lời câu hỏi của các đồ đệ liên quan tới lễ Có thể phânchia ý nghĩa của Lễ trong Luận Ngữ theo những phạm trù sau:
Thứ nhất, Lễ là một phương cách biểu tả hòa khí, và như vậy nó có thể
giúp tề gia, trị quốc Hữu Tử, một đồ đệ của Khổng Tử nói: "Lễ chi dụng, hòa
vi quý Tiên vương chi đạo, tư vi mỹ; tiểu đại do chi Hữu sở bất hành Trihòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành giã" (Trong việc giữ lễ, cóniềm hòa khí là quí trọng Đạo của những vị vua xưa rất tốt ở chỗ đó, từnhững việc lớn cho chí những việc nhỏ, các ngài dùng niềm hòa khí mà phổcập vào Lễ Nhưng có việc này chẳng nên làm: biết rằng hòa là quí, rồi trongmỗi việc, cứ dùng lấy hòa, chớ chẳng dùng Lễ mà kiềm chế, như vậy là phóngđãng xí xóa quá Đó là việc không nên làm) [Luận ngữ, Học nhi, 12]
Trang 15Thứ hai, Lễ biểu hiện chính nền đạo đức Theo Khổng Tử, căn bản của
Lễ không có chi khác hơn là chính nền đạo đức Ðạo nhân, đạo nghĩa, đạo tín(tức chân thành)…, là những đức tính căn bản củaLễ Khổng Tử viết: “Nhânnhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?” [Luận ngữ, Bát
dật, 3] Một người thiếu Lễ, không thể là người quân tử Trung, hiếu thực ra
chỉ là những quy tắc tất yếu xây dựng trên nhân, nghĩa, và tín, trong khi Lễ làmột phương thế biểu hiện những đức tính trên Khổng Tử viết: “Trong cuộc lễvui, nếu xa hoa thái quá, thì kiệm ước còn hơn Trong việc tang khó, nếu lòaloẹt thái quá, thì lòng đau xót còn hơn” (Trong những dịp vui sướng, maymắn, người ta hay bày cuộc lễ với mọi sự xa xỉ, ngỡ rằng có vẻ sang trọngmới gọi là lễ Nhưng gốc lễ ở tại nơi vừa phải, chớ xa xỉ cũng chớ bỏn sẻn.Trong lúc tống táng, người ta hay làm cho lớn đám để lấy thể diện, ngỡ rằng
đó là đúng lễ Nhưng trong dịp này, gốc lễ ở tại lòng đau thương) [Luận ngữ,Bát dật, 4]
Thứ ba, Lễ là những nghi thức mà ta phải theo, tùy theo nơi chốn, tùy
theo địa vị, tùy theo tương quan giữa chúng ta với những người ta gặp Trongchương Thuật Nhi, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái
độ ta phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên tai… Khổng tử viết:
“Sanh, sự chi dĩ lễ, tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ” (Hễ làm con, khi cha mẹ cònsống phải phụng sự cho có lễ, khi cha mẹ mãn phần, phải chôn cất cho có lễ,rồi những khi cúng tế, cũng phải giữ đủ lễ phép nghiêm trang) [Luận ngữ, Vichính, 5]
Thứ tư, Lễ dùng để chỉ chế độ đẳng cấp và trật tự luân lý Khổng Tử đề
xướng Lễ trị nhằm ổn định trật tự xã hội Thực hành đúng Lễ vừa là biểu hiệncủa Nhân, đồng thời cũng thể hiện con người phải làm đúng bổn phận, thânphận của mình tức là phải chính danh Bởi ông cho rằng trong xã hội, mỗi vật,mỗi người đều có một công dụng nhất định Nằm trong một mối quan hệ nhấtđịnh và tương ứng với nó là một danh nhất định Mỗi danh đều có những tiêu
Trang 16chuẩn riêng Vật nào, người nào mang danh nào phải được thực hiện và thựchiện bằng được những danh đó không thì phải gọi bằng danh khác Khổng Tửgiải thích Chính là làm cho mọi việc ngay thẳng, vua phải ra vua, bề tôi phải
ra bề tôi, cha phải ra cha, con phải ra con Khổng Tử nói “Nếu danh khôngchính thì lời nói sẽ không đúng đắn Lời nói không đúng đắn sẽ dẫn tới việcthi hành sai Khi đó, người với người trong xã hội sẽ không còn kính trọngnhau, không còn hòa khí, luật pháp lỏng lẻo và ngươì dân mất nơi trông cậy,nhờ vả” [Luận ngữ, Tử Lộ, 3] Cho chính danh là phương tiện nhằm thực hiện
Lễ trong xã hội nên Khổng Tử đã chia xã hội thành 5 quan hệ chính Quan hệ
vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, ban bè Mỗi quan hệ có những tiêu chuẩnriêng cho từng đối tượng như cha hiền con thảo, anh tốt em ngoan, chồng biếtđiều vợ nghe lẽ phải, bề trên rộng rãi - bề dưới kính thuận, vua nhân tôi trung
Quan niệm về Lễ không chỉ dừng ở Khổng Tử mà nó đã được pháttriển và mang những hàm nghĩa khác nhau trong quan niệm của một số triếtgia khác như Mạnh Tử, Tuân tử hay trong cả Lễ Ký - một tập sách do nhiềunho gia thời Hán viết ra
Mạnh Tử là người đã kế thừa và phát triển học thuyết của Khổng Tử.Song trong những quan niệm về Nhân, Lễ, Nghĩa cũng có những điểm khácbiệt Có thể nói Mạnh Tử là người đã gắn liền chữ nghĩa với các đức tínhkhác của nền đạo đức nho gia: nhân nghĩa, lễ nghĩa, đạo nghĩa, tín nghĩa…Ông chủ trương lấy nhân nghĩa làm nền tảng cho tất cả nền đạo đức Mạnh Tửviết: "Vị hữu nhân nhi di kỳ thân giả giã Vị hữu nghĩa nhi hậu kỳ quân giảgiã" (Không thể có người có lòng nhân mà không hiếu thảo cha mẹ Khôngthể có người có nghĩa mà lại tư lợi bỏ bê việc vua việc nước) [Mạnh Tử,Lương Huệ Vương, 1] Ở đây, chúng ta sẽ không bàn về lý do tại sao Mạnh
Tử lại chủ trương như vậy, và chú tâm tới ý nghĩa cũa chữ lễ nghĩa Khi ghép
lễ nghĩa với nhau, Lễ không chỉ còn là những phương thế, hay quy tắc, haychỉ là một tinh thần như thấy trong tư tưởng của Tuân Tử và Lễ Ký sau này
Trang 17Lễ nghĩa bây giờ mang tính chất như một cái thước đo lường, cái thước phátxuất từ nội tâm nhưng có thể đo được con người nhờ vào hình thức ở bênngoài Nói cách khác, nếu Nhân là cái bản chất của đạo đức, thì Nghĩa là cáithước đo, là cái mức, cái hình mà chỉ theo đó ta mới nhận ra được Nhân Thí
dụ, cùng một hành động bố thí, thì bố thí cho người nghèo túng là có lòngnhân, nhưng cho tiền cho người dư giả thì vô nghĩa, mà đút tiền cho thamquan ô lại thì là thất nhân Sự phân biệt nơi đây dựa trên Nghĩa Vậy thì, ta chỉnhận ra được lòng nhân, và chỉ thi hành đạo Nhân một cách chính xác nếuchúng ta hiểu được nghĩa
Cũng như trong quan niệm về Nghĩa, Mạnh Tử quan niệm Lễ là nhữnghình thức, nghi thức Nhưng nếu nghi thức đó áp dụng sai, hay cho nhữngngười không xứng đáng thì một nghi lễ như vậy mất hết cả ý nghĩa của nó, và
nó không thể phát huy được tinh thần của lễ Vậy nên, Mạnh Tử mới đòi buộc
Lễ luôn phải đi với Nghĩa, Nhân phải có Nghĩa, và ngay cả đạo cũng cần phải
có Nghĩa, mới có thể thực hiện được
Nếu như Mạnh Tử đề cao Nghĩa thì Tuân Tử lại kế thừa nhiều tư tưởngcủa Khổng Tử trong việc đề cao Lễ Tuân Tử là nhà nho cuối thời Chiến quốcsong với tư tưởng cho bản tính con người là tính ác nên Tuân Tử chủ trương,nhiệm vụ chính của đạo nho là giáo hóa khiến con người thành thiện Và nhưthế, Tuân Tử hiểu Lễ gần như pháp luật, hay như là một phương thế hữu dụng
để đạt tới mục đích trên Ðối với ông, Lễ được áp dụng để trị tính bản ác, đểlàm điều kiện hay quy tắc quy định sinh hoạt của mỗi người trong xã hội, Lễcũng là một phương thuốc để kiềm chế dục vọng, và quan trọng hơn cả, Lễphải là một mực thước, quy định rõ ràng để xác định, phân chia quyền lợicũng như nghĩa vụ cho mọi người Cho nên theo Tuân Tử Lễ là một loại phápluật tốt nhất, một phương thức có hiệu quả nhất để bảo tồn trật tự xã hội, đểcải hóa bản tính con người, và lẽ dĩ nhiên, để bảo vệ quyền lợi của giai cấpcầm quyền Tuân Tử nói: “Người sinh ra là có lòng muốn, muốn mà không
Trang 18được thì không thể không tìm, tìm mà không có chừng mực, giới hạn, thìkhông thể không tranh Tranh thì loạn, loạn thì khốn cùng Tiên vương ghétcái loạn, cho nên chế lễ nghĩa để phân biệt trật tự, để nuôi cái muốn của người
ta, khiến cái muốn không đến cùng kiệt các vật, các vật không làm cùng kiệtcái muốn, các vật với cái muốn phù trì lẫn nhau mà sinh trưởng, ấy là cái sởkhởi của lễ Cho nên lễ là nuôi vậy Bậc quân tử đã được cái nuôi, lại muốncái phân biệt Sao gọi là phân biệt? Rằng: sang hèn có bậc, lớn nhỏ có khácnhau, nghèo giàu khinh trọng đều có cái xứng đáng vậy” [Lễ luận, XIX]
Tuân Tử còn cho rằng bất cứ việc gì không có Lễ thì hỏng “Lễ là cáicùng cực của sự trị và sự biện biệt, cái gốc của sự là cho nước mạnh, cái đạocủa sự uy hành, cái cốt yếu của công danh Bậc vương bậc công theo đó màđược thiên hạ, không theo đó thì làm hỏng xã tắc Cho nên áo giáp bền, ngọngiáo nhọn không đủ để thắng trận, thành cao hào sâu không đủ lấy làm bềnvững, lệnh nghiêm hình nhiều không đủ lấy làm uy Dùng lễ thì việc gì cũngthi hành được, không dùng lễ thì việc gì cũng bỏ cả” [Nghị binh, XV]
Tuân Tử rất lạc quan về vai trò của Lễ, coi nó như thể là một vị thuốc
vạn năng, có thể “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được: “Lễ đối với việc quốcgia như quả cân và cán cân đối với sự nặng nhẹ, như dây và mực đối vớiđường thẳng và đường cong Cho nên người mà không có lễ thì không sinh,việc mà không có lễ thì không nên, quốc gia mà không có lễ thì không yên”[Đại lược, XXVII]
Lễ Ký là một tập sách được nhiều nho gia thời Hán (cả Tây Hán lẫnÐông Hán) viết ra Hay nói đúng hơn, họ sao chép lại những ý kiến của tiềnnhân về Lễ (từ các kinh điển như Kinh Lễ, Luận Ngữ, Ðại Học, Trung Dung,Mạnh Tử và cả Tuân Tử), rồi thêm thắt vào với những lý giải riêng Trong Lễ
Ký, có thể thấy Lễ có những công năng như sau:
Trang 19Thứ nhất, Lễ là một phương thế đào luyện tình cảm, khiến con người
hòa nhã Các tác giả Lễ Ký chủ trương, một khi có tính tình hòa nhã, conngười mới có thể thành người đạo đức được
Thứ hai, Lễ là một cái thước đo lường điều phải điều trái Lễ xác định
trật tự trên dưới, trước sau, cũng như sự quan hệ phải có giữa mọi người.Trong Lễ Ký có viết: “Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiểm nghi, biệtđồng dị, minh thi phi dã” - Đối với người có lễ thì dùng để xác định phân biệttình thân thiết với tình xa lạ, lễ cũng xác quyết được cái gì xác đáng khỏi cái
gì đáng nghi ngờ, cũng phân biệt được cái điều giống nhau với điều khácnhau, và minh xác về điều phải điều trái
Thứ ba, Lễ là quy tắc khiến ta phải luôn theo trung đạo, tức cái nền đạo
lý luôn đúng, và vì thế tránh được những quá khích, quá lố, cực đoan: “Lễ hồ,
lễ hồ, sở dĩ chế trung dã” - Ôi ái lễ, ôi ái lễ, mục đích cũng chỉ để tới trungđạo
Thứ tư, Lễ cũng có công năng giúp con người biết tiết dục: “Lễ dã,
nhân nhân chi tình nhi vi chi tiết văn, dĩ vi dân phường giả dã” - Từ tình cảmcủa con người, lễ khiến ta tiết độ, và như vậy giúp người dân biết phòng ngừa
Như vậy có thể thấy, vai trò của Lễ trong Lễ Ký bị hạn hẹp vào trongcái công năng giúp con người xã hội kìm hãm được những điều mà họ hamthích nhưng không được phép làm mà thôi Ðiều đáng nói, là khi hiểu nhưvậy, Lễ không khác pháp luật là bao Nếu có khác biệt, thì cũng chỉ là thờiđiểm: Lễ đề phòng không cho ta làm những điều trái, trong khi pháp luật đemlại trật tự một khi chúng ta đã có những hành động sai đạo lý
Nói tóm lại dù Lễ có được hiểu ở những khía cạnh nào và ở các nhàNho khác nhau, ở những giai đoạn lịch sử khác nhau song vẫn lấy tư tưởng Lễcủa Khổng Tử làm tiền đề lý luận bởi mục đích của Nho gia nói chung vàKhổng Tử nói riêng là nhằm ổn định trật tự xã hội và giáo hóa con người Và
Trang 20chúng ta không thể phủ nhận phạm trù Lễ của Khổng Tử đã ít nhiều thực hiệnđược mục đích đó trong lịch sử xã hội Trung Hoa.
1.2.2 Các phạm trù trong mối tương quan với phạm trù Lễ
1.2.2.1 Mối quan hệ giữa Lễ và Nhân
Trong Luận Ngữ khái niệm Nhân được Khổng Tử nhắc tới nhiều lầntùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà Nhân được hiểu theo nhiều nghĩa khácnhau Theo nghĩa rộng nhất Nhân là nguyên tắc đạo đức Theo Khổng TửNhân là nội dung, Lễ là hình thức của Nhân và Chính danh là con đường đểđạt đến điều Nhân Học trò của Khổng Tử hỏi, thế nào là Nhân, Khổng Tử trảlời: “Thương người (Ái nhân) “Thương người”, “điều gì mà mình khôngmuốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác”(Kỷ sở bất dục, vật thi ưnhân)¸ “Mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốnthành đạt cũng giúp người khác thành đạt” (Kỷ dục lập nhi, lập nhân, kỷ dụcđạt nhi đạt nhân) [Luận ngữ, Ung dã, 28] Đồng thời Nhân còn được coi là cáiquy định bản tính con người thông qua Lễ, Nghĩa, quy định quan hệ giữangười với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội Chính vì vậy mà Lễ vàNhân không thể tách rời
Trong mối quan hệ này Khổng Tử cho đức nhân là gốc của Lễ- Nhạc.Ông viết “Nhân nhi bất nhân như lễ hà? Nhơn nhi bất nhân như nhạc hà?”nghĩa là “Người ta mà chẳng có lòng nhân, làm sao mà thi hành lễ tiết? Người
ta chẳng có lòng nhân làm sao mà thi hành âm nhạc?” (Lễ gốc ở kính, ngườibất nhân chẳng có niềm cung kính, đâu có thể hành lễ cho nghiêm trang Nhạcchủ ở hòa, người bất nhân chẳng có niềm hòa khí thì đâu có thể nào trổi nhạccho tinh vi) [Luận ngữ, Bát dật, 3] Do đó người không có đức Nhân thì Lễ là
vô nghĩa và nhạc cũng chẳng để làm gì
Trong việc rèn luyện để trở thành người Nhân Khổng Tử viết: “Khắc
kỷ phục lễ vi nhân Nhứt nhựt khắc kỷ, phục lễ, thiên hạ qui nhân yên.Vi nhân
do kỷ, nhi do nhơn hồ tai?” (Làm nhân là khắc kỷ, phục lễ, tức là chế thắng
Trang 21lòng tư- dục, vọng- niệm của mình mà theo về lễ tiết Ngày nào mà mình khắc
kỷ, phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hóa mà theo vềđức nhân Vậy làm nhân là do nơi mình, chớ há do nơi ai) [Luận ngữ, NhanUyên, 1] Mà muốn thực hành điều đó theo Khổng Tử “Sắc chi chẳng hạp lễthì mình đừng ngó, tiếng chi chẳng hạp lễ thì mình đừng nghe, lời chi chẳnghạp lễ thì mình đừng nói, việc chi chẳng hạp lễ thì mình đừng làm” [Luậnngữ, Nhan Uyên, 1] Có nghĩa là cái gì không hợp lễ thì đừng nhìn, không hợp
lễ thì đừng nghe, không hợp lễ thì đừng nói, không hợp lễ thì đừng làm
Khổng Tử còn quan niệm “Khắc kỷ phục lễ vi nhân” người Nhân làngười biết sửa mình theo điều Lễ, biết chế ước những ham muốn, dục vọngcủa bản thân, hạn chế tất cả những gì về cá nhân mình, phục tùng kỷ cương
mà lễ giáo quy dịnh đó là người Nhân
Khổng Tử còn cho rằng con người muốn đạt được điều nhân phải thực
hiện được những điều Lễ, nếu nhân là mục đích thì Lễ là phương tiện để thực
hiện mục đích Bởi vậy không có Lễ thì không thể là Nhân được và là ngườiNhân thì luôn phải có Lễ Khổng Tử nói “Bất tri lễ vô dĩ lập dã”- không biết
lễ thì không biết lập thân Muốn làm người phải hiểu những điều lễ nghĩa,hiểu được nó thì mới có thể ứng xử phù hợp
Tóm lại để đạt được đức Nhân con người phải có Lễ, Lễ là hình thức
biểu hiện của Nhân, con người sẽ không đạt được Nhân nếu như: xem, nghe,nói, làm điều trái Lễ Và vì vậy cũng như nhạc, thi, thư, Lễ là phương tiện đểgiáo hóa con người Nếu không có Nhân mà dùng Lễ thì Lễ chỉ là hình thứcsáo rỗng mà thôi
1.2.2.2 Mối quan hệ giữa Lễ và Nghĩa
Theo Khổng Tử Nghĩa chính là để cái thích đáng hay cái đạo lý
“Khổng Tử nói: …thấy việc nghĩa mà chẳng làm, ấy là người chẳng có khídõng” (Tử viết: …kiến nghĩa bất vi, vô dõng dã) [Luận ngữ, Vi chính, 24]
Trang 22Hay Khổng Tử còn nói: “…Này, đạt nhân là phải có tính chất phác và ngaythẳng”.
Theo Khổng Tử Nghĩa trái ngược với lợi “Bực quân tử tinh tường vềviệc nghĩa, kẻ tiểu nhơn rành rẽ về việc lợi” (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ
ư lợi) [Luận ngữ, Lý nhân, 16]
Khổng tử cho rằng, con người theo đuổi phú quý là lẽ thường, phú quý
là dục vọng của con người
Khi bàn đến phú quý tức là nói đến lợi, con người luôn theo đuổi cái lợi
cá nhân cho mình Khổng Tử nói “Thấy lợi thì nghĩ tới nghĩa” tức là lấyNghĩa làm cơ sở để thu nhận hoặc từ chối lợi, nếu lợi ấy không hại đến Nghĩathì nhận, nếu lợi ấy có hại đến Nghĩa thì từ chối Khổng Tử nói: “Phú quí thì
ai cũng muốn, nhưng không lấy đạo mà được thì không nhận, bần tiện thì aicũng ghét, nhưng không lấy đạo mà làm cho khỏi, thì không bỏ” (Phú dữ quí,thị nhơn cho sở dục giã: bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất xử giã Bần dữ tiện, thịnhơn chi sở ố giã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khử giã) [Luận ngữ, Lý nhân, 5]
Hễ phải Nghĩa thì làm gì cũng không nề hà, mà không phải Nghĩa thì dẫuđược gì cũng không thiết Khổng Tử nói: “Phú nhi khả cầu giã,tuy chấp tiênchi sĩ, ngô diệc vi chi, như bất khả cầu, tùng ngô sở háo” (giàu mà nên cầuđược, thì dù làm người cầm roi đi hầu, ta cũng làm Nếu không nên cầu, thì cứtheo cái thích của ta) [Luận ngữ, Thuật nhi, 11] Người quân tử thì không baogiờ thấy điều lợi mà bỏ việc nghĩa, nếu làm việc phi nghĩa mà được phú quí,thì đành chịu bần tiện còn hơn Khổng Tử nói: Phạn sơ tự, ẩm thủy, khúcquăng nhi trẩm chi, lạc tại kỳ trung hỹ Bất nghĩa nhi phú thả quí, ư ngã nhưphù vân: ăn gạo xấu, uống nước lã, gấp cánh tay mà gối đầu, tuy thế cũng cócái vui ở trong đó Làm điều bất nghĩa mà giàu sang, thì ta coi như đám mâynổi [Luận ngữ, Thuật nhi, 15] Theo đuổi phú quý nhưng không được làm tráivới Nghĩa Khổng tử cho rằng con người ta cần cả lợi (phú quý) và Nghĩa
Trang 23Nhưng Nghĩa chiếm vị trí số một, Nghĩa chính là hành vi, "hành vi" conngười phù hợp với Lễ chính là Nghĩa.
Khổng Tử nói rằng: “Người quân tử lấy đạo nghĩa làm căn bản, dùng lễ
để thi hành, biểu lộ bằng đức khiêm tốn, hoàn thành nhờ chữ tín Quân tử vậythay!” (Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thànhchi Quân tử tai!) [Luận ngữ, Vệ Linh Công, 17] Cái gọi là “nghĩa dĩ vi chất,
lễ dĩ hành chi”, tức là lý luận lấy Lễ để quy về Nghĩa “Chất” ở đây chính làthực chất, “lễ dĩ hành chi” tức là lấy Lễ để hành Nghĩa, làm điều nghĩa Nóicách khác Lễ dựa vào nghĩa mà được xác lập nên, Nghĩa là thực chất của Lễ,
Lễ là biểu hiện của Nghĩa Tất cả mọi nghi thức, toàn bộ trật tự đời sống đềulấy tính chính đáng, hay lấy đạo lý làm cơ sở
Như vậy có thể nói rằng Nghĩa chính là cơ sở để hình thành Lễ còn Lễchính là mục tiêu, tiêu chuẩn để xác hành vi có Nghĩa hay không
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa Lễ và Pháp
Pháp theo nghĩa hẹp là luật lệ, quy định, là điều luật, hiến lệnh có tínhchất khuôn mẫu mà mọi người không phân biệt vua tôi, trên dưới, sang hènđều phải tuân theo, theo nghĩa rộng pháp có thể hiểu như là thể chế chế độ xãhội Hàn Phi Tử trong thiên “Định pháp” đã viết: “Luật pháp là những hiếnlệnh soạn ra dành riêng ở quan phủ, hình phạt ắt phải tùy lòng người Thưởngthì danh riêng cho ai tôn trọng luật pháp và phạt thì áp dụng cho những kẻ tráilệnh vậy” hay Pháp còn là tiêu chuẩn căn cứ khách quan để định rõ danhphận, tỏ rõ thị phi, phân rõ tốt xấu, để mọi người biết rõ bổn phận, tráchnhiệm của mình, biết rõ điều gì phải làm và điều không nên làm
Như vậy, có thể nói Lễ và Pháp đều là những quy định nhằm ổn địnhtrật tự xã hội Nếu như Khổng Tử chủ trương giáo hóa con người bằng đạođức thì Hàn phi lại chủ trương trị nước bằng Pháp
Với Khổng Tử đạo đức là gốc của con người, nói đến con người là nóiđến đạo đức “Làm người có nết hiếu đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên Không
Trang 24thích xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có Người quân tửchăm chú vào việc gốc, gốc mà vững thì đạo đức sinh ra Hiếu, đễ là cái gốccủa đức nhân” Chính vì vậy Khổng Tử đã đề xuất đường lối “Đức trị” - đườnglối trị nước bằng đạo đức Khổng Tử quan niệm làm chính trị mà dùng đức thìnhư sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả Ông còn chorằng dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình phạt để bắt dân vào khuônphép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn Dùng đạo đức để bắt dẫndân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân biết hổ thẹn mà lại theođường chính Để thực hiện được Đức trị phải có Nhân, Lễ và Chính danh.Khổng Tử cho rằng phải có Lễ bởi Lễ cần thiết để duy trì trật tự xã hội, có trật
tự xã hội thì vua mới được tôn, nước mới được trị Mặt khác Lễ có nội dungluân lý của nó trong mối quan hệ chặt chẽ với Nhân Ông coi Lễ là chính đạo
mà mọi người nên thi hành, còn nếu con người hay theo dục vọng của mình màtrái ngược với chính đạo tức là trái ngược với điều nhân Vì vậy người cầmquyền phải giữ Lễ: Vua khiến bề tôi phải giữ Lễ, bề tôi thờ vua phải trung Chonên Khổng Tử đã chủ trương Lễ trị nhằm ổn định trật tự xã hội
Ngược lại với quan điểm của Khổng Tử, Hàn Phi cho rằng trong thiên
hạ người hiền thì ít mà còn hạng bất nhân thì nhiều nên trị nước phải dùngluật pháp Tư tưởng Pháp trị được khởi xứng từ Quản Trọng, Thận Đáo, ThânBất Hại, Thương Hưởng và được hoàn thiện bởi Hàn Phi Tử Hàn Phi đã tổnghợp giữa Pháp, Thế và Thuật trong phép trị nước thì Pháp Thế Thuật tươngquan, liên hệ mật thiết với nhau Pháp là nội dung của chính sách cai trị cònThế và Thuật như là công cụ hay phương tiện để thực hiện chính sách đó HànPhi cho rằng sự trừng phạt không cần đến tước vị của giới quý tộc vì luậtkhông xu nịnh giới quý tộc Nội dung thưởng phạt nhằm mục đích thực hiệnPháp để cứu loạn cho dân chúng, trừ họa cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnhkhông lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đám ít người, người già được hưởng
Trang 25hết tuổi đời, bọn trẻ mô côi được nuôi lớn, biện giới không bị xâm phạm, vuatôi thân nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết hay cầm tù.
Tuy đường lối trị nước của Khổng Tử và Hàn Phi còn nhiều hạn chếsong có thể thấy Đức trị và Pháp trị đều có chung mục đích là tôn trọng phápluật, nhằm ổn định trật tự xã hội Luật của Pháp trị là luật pháp còn luật củanho giáo là tôn Lễ, Lễ không phải là luật nhưng Lễ có thể thay luật nếu nhưmọi người hiểu Lễ và thi Lễ
1.2.2.4 Mối quan hệ giữa Lễ và Nhạc
Khổng Tử cho rằng Nhạc thanh thiện ác đều do ở lòng người Lòngngười cảm điều thiện thì thiện thanh ứng Sự thiện ác của nhạc là bởi lòngngười mà sinh ra, rồi lại cảm lòng người mà khiến cho thành ra thiện hay ác
Cái tác dụng của Nhạc cốt hòa thanh âm cho tao nhã để di dưỡng tínhtình Khổng Tử đã nói: “Trí nhạc dĩ trị tâm, tắc dị trực từ lượng chi tâm du dunhiên sinh hỹ: xét về nhạc để trị lòng người, thì cái lòng giản dị, chính trực, từ
ái, thành tín, tự nhiên phơi phới mà sinh ra” (Lễ ký: Tế nghĩa, XXIV) Thánhnhân biết nhạc có cái thế lực rất mạnh về đường đạo đức, cho nên mới chếnhạc để dạy người
Nhạc cũng như Lễ rất có ảnh hưởng về đường chính trị “Thanh tâm chiđạo, dữ chính thông hỹ: đạo thanh âm thông với chính trị vậy” (Nhạc ký,XIX) Dùng Nhạc cũng như dùng Lễ phải lấy giữ đạo trung Nhạc khiếnngười ta đồng thương, đồng vui Nhưng thương hay vui đều phải lấy điều hòalàm chủ
Lễ và Nhạc đều dùng để sửa đổi tâm tính cho ngay chính hay nói cáchkhác Lễ và Nhạc đều là phương tiện nhằm giáo hóa con người góp phần ổnđịnh trật tự xã hội Lễ cốt ở sự cung kính, để trật tự cho phân minh, nhạc cốt ở
sự điều hòa, để khiến tâm tính cho tao nhã Hai bên dung hòa với nhau thìmới hoàn toàn được Nếu có Lễ mà không có Nhạc thì nhân quần ở với nhau
Trang 26thành ra phân biệt thái quá, nhân tình bất thông, có Nhạc mà không có Lễ thìthành ra lưu đãng khinh nhờn.
1.2.2.5 Mối quan hệ giữa Lễ và Hòa
Khổng Tử yêu cầu Lễ cần phải có chừng mực “Lễ chi dụng, hòa vi quí”(Luận ngữ, Học nhi, 12) Vai trò của Lễ quí nhất là Hòa và ông xem Trungdung là đức đẹp vì: “Dĩ ước thất chi giả, tiễn hỉ” nghĩa là: ít người có biết tựtiết chế (giữ được gốc hòa) mà phạm tội
Theo Khổng Tử, Hòa là do sự chi phối của “Thiên lý” của “Đạo”, các
sự vật và hiện tượng trong vũ trụ luôn biến hóa không ngừng nhờ sự “Trunghòa” giữa âm dương trời đất Trung là cái gốc của thiên hạ, mọi vật đều do cáinày sản sinh, tiến hóa, Hòa là đạo thông đạt của thiên hạ, mọi vật nhờ đó màthông hành
Quan điểm của Khổng Tử về Hòa còn xuất phát từ nhu cầu của thực tiễnlịch sử- xã hội thời Xuân Thu, là thời kì đang trải qua những biến động lịch sửsâu sắc và đứng trước yêu cầu là phải ổn định trật tự và cải biến xã hội
Như vậy tác dụng to lớn nhất của việc thực hiện Nhân và khôi phục Lễ
là Hòa Tuy nhiên quan điểm Hòa của Khổng Tử còn có phần hạn chế đó làthủ tiêu sự đấu tranh bởi theo ông người nghèo vùng lên đấu tranh là khôngnên, người quân tử cũng vậy họ chỉ biết nên tranh việc thi bắn mà thôi “Quân
tử vô sở tranh, tất dã xạ hồ Ấp nhượng nhi thăng, há nhi ẩm Kỳ tranh dãquân tử” [Luận ngữ, Bát Dật, 7] nghĩa là quân tử không có tranh cạnh với aihết Có tranh chăng chỉ có ở cuộc săn bắn mà thôi
1.3 Một số nội dung cơ bản của Lễ
1.3.1 Lễ là những quy định về nghi thức tế lễ
Lễ bái là việc mang ý nghĩa tôn giáo nhưng nó không chỉ là những nghithức có tính hình thức như tế lễ phải có lễ vật hương hoa khấn bái “Lễ ư, phảiđâu ngọc và lụa” mà thông qua tế lễ biểu hiện tấm lòng, tình cảm của người
Trang 27đang sống, của thế hệ sau với những người đã khuất như tổ tiên, ông bà, cha
mẹ, quỷ thần… tế lễ thể hiện tình cảm thương xót nhớ nhung sự kính trọngbiết ơn của những người đang sống thừa hưởng những gì mà người đã khuất
để lại Tế lễ phải thể hiện được những thái độ và tình cảm ấy cho nên “tế thầnnhư thần tạ” thái độ đó phải thật sự xuất phát từ tấm lòng chứ không chỉ làhình thức bên ngoài Tế lễ là lấy bụng thành thực cung kính đối với tổ tiênquỷ thần: “phù tế giả, phi vật tự ngoại trí giả dã, tự trung suất, sinh ư tâm giã:nghĩa là tế là không phải cái vật ở ngoài đến, tự trong bụng ra, ở tâm sinh ravậy” (Lễ ký: tế thống, XXV) Trong khi tế tự cha mẹ tổ tiên lúc nào người tacũng tưởng nghĩ đến luôn trước ba ngày tế đã trai giới để bụng chăm chămvào việc tế, đến ngày tế thì thật hình như đã trông thấy cha ông tổ tiên Sách
“Lễ ký” thiên Tế nghĩa nói rằng: trai tri nhật, tư kỳ cư sử, tư kỳ tiếu ngữ, tư
kỳ chí ý, tư kỳ sở lạc, tư kỳ sở thị Trai tam nhật nãi kiến kỳ sở vi trai giả Tếtri nhật, nhập thất, ái nhiên tất hữu kiến hồ kỳ vị, chu hoàn xuất hộ, túc nhiêntất hữu văn hồ kỳ dung thanh, xuất hộ nhi thính, khái nhiên tất hữu văn hồ kỳthán tức chi thanh: người trai giới thì nghĩ đến cách cư xử, nghĩ đến cách cườinói, nghĩ đến ý chí, nghĩ đến cái vui, nghĩ đến cái muốn của cha ông tổ tiên.Trai giới được ba ngày mới thấy rõ được thế nào là trai giới Ngày tế, bướcvào đến nhà thì mình phảng phất hình như trông thấy ở ngai thờ, lúc thong thả
đi ra ngoài cửa thì mình kính cẩn hình như nghe thấy tiếng, trông thấy dángđiệu, lúc ra ngoài cửa rồi thì mình băn khoăn hình như nghe tiếng than thở”.Sau này do có ảnh hưởng của các tôn giáo khác như đạo giáo, đạo phật và tínngưỡng cổ truyền mà việc tế lễ còn mang tính chất của các tôn giáo khác, nó
đã không còn mang ý nghĩa nguyên thủy
Tăng tử nói “Thận trung truy viễn, dân đức quy hậu” nghĩa là thậntrọng trong tang lễ cha mẹ và tế tự tổ tiên thì đức của dân sẽ thuần hậu Thái
độ kính cẩn trong tế lễ tổ tiên nó thể hiện tình cảm tốt đẹp của con người củathế hệ sau đối với thế hệ trước, kế thừa những phẩm chất cao quý, nhân ái,
Trang 28nghĩa tình xây dựng lên truyền thống đạo đức quý báu cho muôn đời con cháumai sau Chính vì ý nghĩa đó mà Nho giáo quan tâm tới thái độ mỗi ngườitrong tế lễ
Với Khổng Tử, khi tế lễ phải kính cẩn nghiêm túc ông nói “Cư thượngbất khoan, vi lễ bất kính, lâm tang bất ai, ngô hà dĩ quan tri tạng” nghĩa là ởbậc trên mà không khoan nhượng, làm lễ mà không nghiêm túc sẽ gặp việctang mà không bi thương hạng người đó còn gì cho ta xem xét nữa Khổng Tửcoi việc tế lễ như một hành vi thiêng liêng, nếu trong tế lễ có thái độ nghiêmtúc kính cẩn đó là hành vi tốt thể hiện con người nhân nghĩa, đức độ Nếutrong tế lễ thái độ không nghiêm túc là con người không có nhân đức coi như
bỏ đi không xét đến làm gì
Ngoài ra Khổng Tử còn quan tâm tới cả nghi thức, nghĩa vụ, bổn phậncủa mỗi con người khi tế lễ Điều đó nghĩa là khi tế lễ phải đúng danh phậncủa mình, đúng những nghi thức, quy định mà xã hội đã đặt ra thì không được
vi phạm nếu vi phạm thì sẽ là người thất lễ, tiếm lễ, tiếm quyền Về việc nàyKhổng Tử nói đến Quý Thị là người dùng vũ “bát dật”, vũ của triều đình,trong khi đó đáng lý ra ông ta chỉ được dùng lễ “tứ dật” vì ông ta chỉ là quanđại phu nước Lỗ Khổng Tử coi hành vi đó của Quý Thị là trái phép là tiếm lễlàm càn Ông cho rằng Quý Thị làm được việc đó thì những việc khác kể cảnhững việc trong triều đình ông ta cũng có thể làm càn được Một ví dụ khácvẫn là hành động tiếm lễ nhưng nó được biểu hiện bằng một việc làm kháccủa Quý Thị mà Khổng Tử coi đó là không được là hành vi phạm Lễ NúiThái Sơn cao nhất nước Lỗ, việc tế thần núi là công việc của vua nước Lỗnhưng Quý Thị chỉ là một quan đại phu nước Lỗ nhưng ông ta dám tế thầnnúi Thái Sơn Thực ra sự quy định quyền hạn trong việc tế lễ chỉ là hình thứcbiểu hiện ra bên ngoài của bản chất bên trong, đó là chế độ phân biệt đẳng cấptrong xã hội phong kiến đương thời sự phân biệt đẳng cấp được thể hiện trongmọi mặt của đời sống con người nó không chỉ biểu hiện về địa vị của mỗi con
Trang 29người về chế độ bổng lộc đãi ngộ mà con người đó được hưởng mà nó còn thểhiện ra biết bao nhiêu sự phân biệt trong mọi sinh hoạt của cuộc sống đờithường cả về trang phục, phương tiện đi lại chế độ kẻ hầu người hạ… Việc tế
lễ là một hoạt động nhỏ trong muôn vàn hoạt động của con người
Khổng Tử không chỉ quy định địa vị cho mỗi con người khi tế lễ màcòn quy định cả cách ăn mặc khi tế lễ Cách ăn mặc trong lúc tang chế, ở chỗtriều đường hay khi đi trận mạc phải theo Lễ cũng là có ý để gây nên nhữngtình cảm cho xứng đạo nhân Một hôm Ai công nước Lỗ hỏi Khổng Tử:
“Thân ủy chương phủ hữu ích ư nhân hồ: giải mũ và áo trương phủ có ích chođạo nhân không? Khổng Tử nghiêm sắc mặt mà thưa: “Quân hồ nhiên yên!Thôi ma thư trượng giả, chí bất tồn hồ lạc, phi nhĩ phất văn, phục sử nhiêngiã, phủ phất cổn miệng giả, dung bất tập mạng, phi tính căng trang, phục sửnhân giã, giới trụ chấp qua giả, vô thoái nọa chi khí, phi thể thuần mãnh, phục
sử nhân giã: sao vua lại nghĩ thế! Người mặc áo sô gai chống gậy trí không đểđến sự vui, không phải là tại không nghe thấy, vì y phục khiến như thế, ngườimặc cái phủ cái phất, áo cổn mũ miện, dáng điệu không nhờn, không phải lànguyên tính vốn trang nghiêm, vì y phục khiến như thế, người đội mũ trụ mặc
áo giáp, cầm cây giáo, không có cái khí nhút nhát, không phải là thần thể vốnmạnh bạo, vì y phục khiến như thế” (Khổng Tử gia ngữ: Hiếu sinh, X).Những quy định không những có tính đẳng cấp mà còn trở thành không khí lễnghĩa giúp cho việc xây dựng lên tập quán đạo đức để làm điều lành điều phảimột cách tự nhiên Sách Lễ ký thiên Đàn cung hạ chép chuyện Chu Phongthưa với Ai công nước Lỗ rằng: “Khư mộ chi giả, vị thi ai ư dân nhi dân ai, xãtắc tông miếu chi trung, vị thi kính ư dân nhi dân kính: ở chỗ mồ mả, chưadạy dân phải thương mà dân tự nhiên có lòng thương ở chỗ xã tắc tông miếuchưa dạy dân phải kính mà dân tự nhiên có lòng kính” Ở chỗ mồ mà thì cócái không khí bi ai, ở chỗ tông miếu thì có cái không khí tôn kính, ai đã hô
Trang 30hấp cái không khí ấy thì rồi tự hóa theo mà không biết Khổng Tử dùng Lễ đểgây ra thành cái không khí đạo đức ấy.
Trong những quy định của Lễ trong việc tế lễ tang ma còn có cả thờigian để tang và cư tang Về việc này sự quy định đó trong quan niệm lễ củaKhổng Tử cho đến nay đã trở thành tập quán và có nhiều quy định mà mọingười chỉ cần bắt chước nhau mà làm còn nếu không làm thì sợ không đúng
lễ, trái với tập quán và như vậy là trái với đạo đức cổ truyền sẽ bị nhân dân dịnghị chê cười như con phải để tang cha mẹ là ba năm vì Khổng Tử quan niệmcha mẹ đã có công nuôi dưỡng bồng bế ba năm lúc còn non nớt bởi vậy concái phải để tang ba năm là để nhớ lại công ơn của cha mẹ sinh thành nuôidưỡng mình Ngoài việc đối với cha mẹ, Lễ còn quy định việc tang tế với cácthành viên khác trong gia đình họ hàng
Ngoài thời gian cư tang còn quy định cách thức cư tang nhất là đối vớicha mẹ, nhưng khi cha mẹ chết phải làm nhà tạm ở nơi chôn cất và ở đó banăm Ba năm này là ba năm chịu đựng không được tham gia bất cứ cuộc vuinào không được dự cưới không được nghe nhạc, không được uống rượi,không được ăn ngon, không được mặc đẹp không được đi giày dép Dù là ởcương vị nào cũng phải chịu đựng như vậy kể cả việc quan cũng phải về nhàchịu tang cha mẹ Đây là ba năm sầu muộn nghiêm khắc với bản thân, rộnglượng với kẻ dưới, cung kính với kẻ trên, để tỏ lòng thành kính với cha mẹngười đã sinh dưỡng ra mình Ngoài những tính chất trên Lễ của Khổng Tửcòn có mục đích xây dựng cho con người một tình cảm tốt đẹp, một sự kínhtrọng biết ơn những người quá cố, những thần linh đã có nhiều ơn nghĩa vớimình Đây là thể hiện một nhân sinh quan giàu tính nhân đạo của Khổng Tử.Tuy nhiên, những quy định đó còn mang những khía cạnh tiêu cực
1.3.2 Lễ là đường lối trị nước và luật lệ quốc gia
Thời đại Khổng Tử là thời mà theo ông “Lễ nhạc hư hỏng”, cần phảikhôi phục lại Lễ Ông cho rằng, do vua không giữ đúng đạo vua, tôi không
Trang 31làm đúng đạo tôi, cha không giữ đúng đạo cha, con không đúng đạo con chonên thiên hạ “vô đạo”, và “thiên hạ đại loạn” Do vậy cần phải lập lại kỷcương cho vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con để cho thiên hạ “hữuđạo”, xã hội yên ổn Mặc khác, Khổng Tử lại cho rằng mỗi quốc gia mỗi dântộc, mỗi triều đại khác nhau đều có tập quán riêng, luật lệ riêng và truyềnthống văn hóa riêng Thời gian trôi đi, các triều đại kế tiếp nhau trong sự pháttriển, nhưng mỗi triều đại đều có những đặc trưng riêng biệt không thể lẫn vớicác triều đại khác
Khổng Tử dùng phạm trù Lễ trong văn cảnh này với nội dung chỉ luật
lệ của quốc gia, triều đại hay nói theo ngôn ngữ hiện đại là chế độ chính trịđất nước Cho nên đời sau có tiếp thu, kế thừa học tập đời trước nhưng vẫn có
sự khác nhau, cũng mang hàm ý chỉ luật lệ quốc gia, truyền thống dân tộc.Khổng Tử còn nói: “Hạ lễ, Ngô năng khôn chi, Kỷ bất túc trưng dã, Ân lễ ngônăng, ngôn chi, Tống bất túc trưng dã, văn hiến bất túc, cố dã Túc, tắc ngônăng chi hĩ” nghĩa là lễ chế nhà Hạ ta có thể nói được nhưng nước Kỷ không
đủ làm chứng, lễ chế nhà Ân ta có thể nói được nhưng nước Tống không đủlàm chứng vì văn kiện và người hiền hai nước đó không đủ Nếu đủ thì ta cóthể chứng minh lời ta nói được
Lễ được vận dụng trong lĩnh vực chính trị còn có tên là đường lối trịnước gọi là Lễ trị Lúc bấy giờ có hai quan điểm khác nhau về đường lối trịnước đó là Pháp trị và Lễ trị Khổng Tử phê phán Pháp trị và đề cao Lễ trị.Khổng Tử cho rằng dùng đức và Lễ để trị nước thì có sức quy tụ lớn Ôngnói: “Lấy đức làm cơ sở cho chính sự thì như sao Bắc đẩu ở trên trời, chỉđứng một chỗ mà các sao khác đều chầu về” Ông còn viết: “Vi chính dĩ đức,
tỉ như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi” [Luận ngữ, thiên vi chính,1] Vậy vì sao việc dùng Lễ trị để trị nước lại có tác dụng to lớn như thế?Khổng Tử đã giải thích, một là sử dụng đức và Lễ thì người ta có lòng liêm sỉ,
mà đã có liêm sỉ thì tự giác tin theo Ông nói “Dùng chính lệnh mà hướng dẫn
Trang 32người ta, dùng hình luật mà chỉnh đốn người ta thì người ta miễn cưỡng tránhđược tội lỗi, nhưng người ta không có lòng liêm sỉ Còn hướng dẫn người
bằng đạo đức và chỉnh đốn người ta bằng Lễ thì người ta có lòng liêm sỉ và tự
nguyện theo về” Hay Khổng Tử viết: “Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dânmiễn nhi vô sỉ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách”- Không nên lạmdụng luật pháp mà ép dân phải theo, không nên ham dùng các sự hình phạt
mà trừng trị dân, chế độ khủng bố chỉ tạo ra những mối thù hận, sợ sệt màthôi Tự nhà cầm quyền phải thi ân bố đứcvà đem điều đức hạnh mà chỉ bảodân, tự nhà cầm quyền phải giữ gìn lễ nghi và đem điều lễ nghi mà giảng dạydân Tự nhiên dân biết hổ thẹn, biết cảm mến mà theo đường phải [Luận ngữ,Thiên vi chính, 3] Hai là dùng Lễ thì có thể ngăn cấm được việc chưa xảy ra,còn dùng pháp luật thì chỉ để trị cái việc đã có rồi, bởi vậy thánh nhân chỉtrọng lễ chứ không trọng hình: “Phàm nhân chi tri, năng kiến dĩ nhiên, bấtkiến tương nhiên Lễ giả cấm ư tương nhiên chi tiền, nhi pháp giả cấm ư, dĩnhiên chi hậu… Lễ vân! Lễ vân, quý tuyệt ác ư vị manh, nhi khởi kính ưu vidiểu, sử dân nhật tỉ, tỉ thiện viễn tội nhi, bất tự tri giã: phàm cái biết của người
ta chỉ biết cái đã có rồi, không biết được cái sắp có Lễ là để cấm trước cái sắp
có, pháp luật là để cấm sai cái đã có rồi… lễ vậy, lễ vậy, lễ quí là dứt đượcđiều ác từ lúc chưa nảy mầm ra, dấy lòng kính ở chỗ người ta không trôngthấy, để cho dân ngày ngày đến gần điều thiện, xa điều tội, mà tự mình khôngbiết” [Đại đái Lễ ký: Lễ tế] Tư tưởng của Khổng Tử về Lễ trị đã trở thànhđường lối chính trị nhất quán của các triều đại phong kiến về sau
Phạm trù Lễ của Khổng Tử còn được dùng về phương diện phân tôn titrật tự, tức là phép tắc để tổ chức luân lí ở trong gia đình, xã hội và quốc gia
Ở trong xã hội có vua tôi, cha con, vợ chồng, có người thân kẻ sơ, có việcphải việc trái, cho nên phải có Lễ để phân biệt cho rõ mọi lẽ, khiến người tabiết đường ăn ở cho phải đạo: “Phù lễ giả, sở dĩ định thân sơ, quyết hiềmnghi, biệt đồng dị, minh thị phi giã: lễ là để định thân sơ, quyết sự hiềm nghi,
Trang 33phân biệt chỗ giống nhau, rõ lẻ phải trái” [Lễ ký: Khúc lễ thượng, I] Lễ làcốt để phân ra trật tự, khiến cho vạn vật không có điều gì hồ đồ hỗn độn “Phù
lễ giả sở dĩ chương nghi biệt vi, dĩ vi dân phường giả giã Cố quí tiện hữuđẳng, y phục hữu biệt, triều đình hữu vị, tắc dân hữu sở nhượng: lễ là dùng đểlàm cho rõ điều ngờ, biện bạch những điều vi ẩn, để làm sự phòng giữ chodân Cho nên người sang người hèn có bậc, y phục có phân biệt, có chỗ triềuđình có ngôi thứ, thì dân mới có đức nhượng” [Lễ ký: Phương ký, XXX] Nếukhông có Lễ thì làm thế nào mà biết cách thờ trời đất quỉ thần cho phải, lấy gì
mà phân biệt nghĩa vua tôi trên dưới cho hợp đạo lý? “Dân chi sở do sinh, lễ
vi đại Phí lễ vô dĩ tiết sự thiên địa chi thần giã; phi lễ vô dĩ biện quân thầnthượng hạ trưởng ấu chi vị giã; phi lễ vô dĩ biệt nam nữ phụ tử huynh đề chithân, hôn nhân sơ các chi giao giã: trong những cái của dân cậy mà sinh hoạtthì lễ là to hơn cả Không có lễ thì không có thể thờ thần của trời đất cho cóthức bậc; không có lễ thì không phân biêt ngôi vua tôi, trên dưới, lớn bé,không có lễ thì không thể phân biệt được cái lòng thần của trai gái, cha con,anh em, sự giao tiếp về việc hôn nhân về người thân hay người sơ” [Lễ ký: Aicông vấn, XXVII]
1.3.3 Lễ là chuẩn mực đạo đức của con người trong xã hội
Kế thừa và phát huy tinh thần lễ của Khổng Tử được ghi trong “Luậnngữ” cuốn “Tả truyện” có nhận định sau “Nhà vua sai khiến thì bề tôi cungkính nghe theo, cha thì hiền từ, con thì có hiếu, chồng thì hòa thuận vợ thì nhu
mì, mẹ chồng thì hiền tử, nàng dân thì nghe lời đó là lễ” [Tả truyện Chiêncông, 26]
Mục đích cơ bản của Khổng Tử là xây dựng Lễ, xây dựng mẫu người
có đạo đức nhân nghĩa mong muốn có một xã hội bình yên theo quan niệmcủa giai cấp phong kiến đương thời
Trước hết những quan hệ đạo đức đó được thể hiện trong gia đình, tếbào của xã hội mà trước hết là mối quan hệ với cha mẹ, bởi vì cha mẹ là
Trang 34người đầu tiên của các mối quan hệ xã hội Mặt khác theo quan điểm củaKhổng Tử thì đạo nhân có gốc là ái và kính, ái và kính là nền của hiếu đễ màlòng hiếu đễ luôn khởi lòng từ cha mẹ nên sự giáo dục của Khổng giáo là lấyhiếu đễ làm trọng
Người ta thường hiểu, người có hiếu là người phải nuôi dưỡng, phụng
sự cha mẹ cho đúng với đạo làm con “Sinh sự chi lễ” nhưng sự nuôi dưỡngphụng sự đó phải có lòng thành kính chứ không kính thì không phải là hiếu.Một hôm Tử Du hỏi về hiếu: Khổng Tử nói “Kim chi hiếu giã, thị vị năngdưỡng, trí ư khuyển mã, giai năng hiếu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ: hiếungày nay là bảo có thể nuôi được cha mẹ, đến như giống chó, giống ngựa đều
có người nuôi, nuôi mà không kính thì lấy gì mà phân biệt?” [Luận ngữ: Vichính, 7] Vậy nuôi cha mẹ cốt ở sự thành kính, dẫu phải ăn gạo xấu, uốngnước lã mà làm cho cha mẹ được hết cái vui ấy gọi là hiếu: “Xuyết thúc ẩmthủy, tân kỳ hoan, tư chi vị hiếu” [Lễ ký: đàn cung hạ]
Sự hiếu với cha mẹ còn được thể hiện là không làm điều gì để cho cha
mẹ lo buồn Bởi vậy không nên đi xa, có đi xa thì phải nói cho cha mẹ biếtchỗ đi để cha mẹ khỏi lo và nhỡ có việc gì thì có thể tìm gọi được: “Phụ mẫutại, bất biến du, du tất hữu phương” [Luận ngữ, Lý nhân, 19]
Theo Khổng Tử, trong sự hiếu đối với cha mẹ rất nên chú ý hai điều là
vô vi và vô cải Vô vi là xử cảnh thường, thì thờ cha mẹ không trái lễ, vô cải
là xử cảnh biến, thì không đổi ngay cái đạo của cha mẹ Hai điều ấy hàm cái ýphục tùng, song phục tùng theo đạo phải, chứ không phục tùng một cáchthuận thụ, không biết phân biệt phải trái gì cả
Sách Luận ngữ chép: Mạnh Ý Tử hỏi về hiếu Khổng Tử đáp lại rằng:
“Vô vi”, rồi sau Phàn Trì không hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy mới hỏi lại Ông giảithích rõ nghĩa là: “Sinh sự chi dĩ lễ, tử táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ: sống thì lấy
lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế” [Luận ngữ, Vi chính, 5] Vậy
sự vô vi đó là sự thờ cha mẹ cho đúng lế Lễ là hợp nghĩa lý, là vừa phải, chứ
Trang 35không thái quá hay bất cập, miễn là “Xứng gia chi hữu vô: vừa sức nhà giàunhà nghèo mà làm cho phải lẽ thường” [Lễ ký: Đàn cung thượng] Có chỗKhổng Tử lại nói rằng “Lễ giữ kỳ xa giã, ninh kiệm, tang giữ kỳ dị giã, ninhthích: lễ với xa xỉ, thì thà rằng kiệm ước còn hơn, tang với nghi văn quá, thìthà rằng thương buồn còn hơn” [Luận ngữ: Bát dật, 4] Nghĩa là nếu theo Lễ
mà không được trung dung thì thà bất cập còn hơn thái quá Khổng Tử nóinhư thế chủ ý là bảo phải theo Lễ Theo Lễ là theo cái lý phải
Lấy Lễ mà thờ cha mẹ không phải là cha mẹ làm điều gì trái đạo cũngtheo Khổng Tử nói: “Sự phụ mẫu cơ gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi,lao nhi bất oán: thờ cha mẹ thì khi cha mẹ có làm điều gì lầm lỗi, con phải tìmcách êm đềm, dịu dang mà can khăn, thấy cha mẹ không nghe thì lại kính màkhông trái lễ, dẫu có phải điều đau đớn khó nhọc cũng không oán giận” [Luậnngữ, Lý nhân, 18] Nghĩa là khi cha mẹ có điều gì trái đạo, thì con phải dùngcách ôn hòa mà can ngăn Nếu cha mẹ không nghe, thì lại tỏ lòng cung kính
và hiếu thảo, rồi dần dần lựa cách nói cho cha mẹ biết lẽ phải mà sửa đổi lại.Dẫu có khi cha mẹ giận mà đánh đập hay bắt phải chịu khổ sở, cũng khôngoán Việc giữ cái danh tiết của cha mẹ được trong sạch là cái bổn phận ngườicon hiểu đạo hiếu ấy
Một hôm Ai công nước Lỗ hỏi Khổng Tử rằng: “Con theo mệnh cha cóphải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là trung không?” Hỏi ba lần
mà Khổng Tử không thưa Khi ông ra ngoài mang chuyện ấy nói với thầy TửCống và hỏi ý thầy ấy thế nào Thầy Tử Cống thưa: “Con theo mệnh cha làhiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì nữa?” Khổng Tử nói: “Ngươikhông biết gì Đời xưa đấng minh quân làm vua nước Vạn Thăng có tránhthần bảy người, thì vua không làm điều lỗi, làm vua nước thiên thặng cóchánh thần năm người, thì xã tắc không nguy, làm chủ một nhà, có tránh thần
ba người, thì lộc vị không suy Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ,
kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa Cho nên con theo mệnh cha
Trang 36há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung Chỉ có biết xét cái đáng theo
mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy” [Khổng Tử gia ngữ: Tam thứ, IX].Như vậy, thì làm điều hiếu thì không phải cha làm thế nào cũng phải theo Cókhi cha làm điều gì trái lẽ thì phải hết sức can ngăn, để cho cha không bịnhững điều lầm lỗi Nhưng chỉ cốt phải theo Lễ phải can ngăn
Khổng Tử còn cho rằng người có hiếu là khéo nối được cái chí của cha
mẹ, khéo noi được việc làm của cha mẹ: “Phù hiếu giả thiện kế nhân chi chí,thiện thuật nhân chi sự giả giã” [Trung dung] Tức là con phải khéo biết phânbiệt cái chí của cha mẹ và công việc của cha mẹ đã làm để xem cái gì hay thìtheo cái gì dở thì bỏ chứ không phải gặp cái nào cũng nhắm mắt mà theo
Khổng Tử có dạy phải vô cải, ông nói: “Phụ tại quan kỳ chí, phụ mộtquan kỳ hành, tam niên vô cải ư phụ chí đạo, khả vị hiếu hỹ: cha còn thì phảixem cái chí của cha, cha mất rồi phải xem việc làm của cha, ba năm khôngđổi cái đạo của cha, khả gọi là hiếu vậy” [Luận ngữ, Học nhi, 11] Lúc chacòn thì phải xem cái chí của cha để xem có điều gì phải thì theo điều gì trái thìcan Việc cha đã làm mà có nên thay đổi thì đợi hết ba năm tang chế thì hãythay đổi, trước là để tỏ lòng bất nhẫn của người hiếu tử, sau là khi làm việcthay đổi như vậy cần phải kính cẩn thận trọng
Khổng Tử dạy hiếu, nhưng bao giờ cũng dạy phải giữ đạo trung dung.Một hôm Diệp công bảo Khổng Tử rằng: “Ngô đảng hữu trực cung giả, kỳphụ nhương dương, nhi tử chứng chi: ở xóm tôi có những người giữ phépngay thẳng rất mực, như cha ăn trộm dê, thì con đứng ra làm chứng khaithật” Khổng Tử nói rằng: “Ngô đảng chi trực giả dị ư thị, phụ vị tử ẩn, tử vịphụ ẩn, trực tại kỳ trung hỹ: ở xóm ta người ngay thẳng cư xử có khác, chache lỗi cho con, con che lỗi cho cha, tình ngay thẳng vẫn ngụ trong đó vậy”.[Luận ngữ, Tử Lộ, 18]
Khổng giáo vốn không phải thuần là một tông giáo, vì không có định ra
sự thờ cúng một vị thần nào Song lấy sự thờ cha mẹ và tổ tiên làm rất tôn
Trang 37trọng Khổng Tử cho sự thờ cha mẹ rất hiếu là: “Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân,
sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giã: kính những người cha
mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết rồicũng như lúc còn sống, lúc mất rồi cũng như lúc hãy còn, ấy là hiếu đến rấtmực vậy” [Trung dung] Theo cái ý chỉ ấy thì sự thờ cha mẹ có cái thái độ tựanhư một tông giáo Huống chi lại nói cách con thờ cha mẹ phải: “Thích ư vôthanh, thị ư vô hình: nghe thấy ở chỗ không có tiếng, trông thấy ở chỗ không
có hình” [Lễ ký, Khúc Lễ thượng, I] Nghĩa là phải chuyên tâm trí ý mà thờcha mẹ, lúc nào cũng tưởng tượng như trông thấy cha mẹ ngồi trước mặt, vànghe thấy lời cha mẹ dạy bảo vậy
Lễ còn được quy định cả những cách ứng xử của những người có chức,
có quyền trong xã hội như trong quan hệ vua tôi:
“Quân tử tử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung”
Vua khiến bề tôi phải giữ Lễ, bề tôi thờ vua phải trung (hết lòng) Đây
là quan hệ hai chiều có đi có lại nhưng phải đúng Lễ
Về sau Mạnh Tử đã nói rõ tư tưởng này: Nếu vua coi tôi như chân taythì tôi coi vua như tim gan mình Nếu vua coi tôi như chó ngựa thì tôi coi vuanhư người dưng trong nước và nếu vua coi tôi như cỏ rác thì tôi coi vua như
kẻ thù…
Đối với những người hiền tài có chức sắc trong xã hội phải biết dùngngười, biết chọn những người có tài có đức ra làm việc cho dân cho nước.Khổng Tử nói: “Thủy ngô ư nhơn dã, thính kỳ ngôn nhi tín kỳ hành, kim ngô
ư nhơn dã, thính kỳ ngôn nhi quan kỳ hành: trước ta đối với người nghe lờinói thì tin việc làm, nay ta đối với người, nghe lời nói phải xem việc làm”[Luận ngữ, Công dả tràng, 9] Nói thì dễ, làm thì khó, mà ở đời thường lại cónhững người miệng nói giỏi thì nhiều, bụng ở trung hậu, thật thà thì ít vậy nênmuốn biết người hay người dở phải xem xét công việc người ta làm, chứ đừngvội tin lời người ta nói Không Tử nói: “Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở
Trang 38an, nhân an sưu tai! nhân an sưu tai!: trông người ta làm việc gì, xem người tanói theo cái gì mà làm việc ấy, xét cái vui của người ta về việc ấy thế nào,như thế thì người ta còn giấu sao được nữa!” [Luận ngữ, Vi chính, 10] Xétngười hay dở, không nên theo lời khen chê của dân chúng Khổng tử nói:
“Chúng ố chi, tất sát yên, chúng hiếu chi, tất sát yên: người ta ghét ai ta cũngphải xét, người ta yêu ai ta cũng phải xét” (Luận ngữ, Vệ linh công, 27) Vìrằng có khi người hay mà bị thiên hạ ghét, người dở được thiên hạ yêu Vậynên ta phải xem xét kỹ càng, thì mới phân biệt được người hay kẻ dở, để đốiphó với người ta cho khỏi sai lầm Thường muốn biết rõ người hay người dở
mà chỉ theo dư luận của nhân chúng cũng không lấy gì làm chắc chắn lắm,cho nên Khổng tử dạy người ta phải xem xét cái dư luận của người thiệnngười ác là thế nào, mới biết rõ được Thầy Tử Cống hỏi Khổng Tử: “Hươngnhơn giai hiếu hỉ, hà như? Tử viết: “vị khả giã Bất như hương nhân chi thiệngiả hiếu chi, kỳ bất thiện giả ố chi”: người mà trong làng ai lấy đều ghét, làngười thế nào? Khổng tử nói: chưa phải là người hiền Người mà cả làng ghéthết thảy là người thế nào? Khổng tử nói: chưa phải là người hiền Không bằngngười thiện trong làng ưa, kẻ bất thiện trong làng ghét” [Luận ngữ, Tử Lộ,24] Thầy Tử Cống lấy số đồng làm một mà xét, Khổng tử chia ra làm từngloại mà xét Dư luận bao giờ cũng nên có, nhưng cái dư luận đồng làm một thìkhông thật, vì tựu trung có người thiện kẻ ác Nếu người thiện ưa mà kẻ áckhông ghét là không thật, hoặc kẻ ác ghét mà người thiện không ưa cũngkhông thật Chi bằng theo từng loại mà xét, người thiện ưa mà kẻ ác ghét thìmới thật Người thiện ưa là bởi người kia cũng theo thiên lý mà làm điều lànhnhư mình: kẻ bất thiện ghét là bởi người kia làm những điều trái với tư lợi củamình Xét như thế thì mới biết rõ người hay người dở
Trong công việc trị dân, trị nước phải thận trọng dốc sức của mình ralàm việc, toàn tâm, toàn ý nghĩ về trách nhiệm, bổn phận trước rồi mới nghĩtới bổng lộc, tới những lợi ích vật chất “Sự quân kính kỳ sự nhi hậu kỳ thực”
Trang 39Nghĩa là: Thờ vua thì phải thận trọng trong công việc rồi sau mới nghĩ tớibổng lộc.
Đối với những bậc quân tử khi trông coi các công việc trị dân, trị nướcphải chú ý rằng: Trong công việc muốn nhanh thành đạt thì không bao giờ đạtđược mục đích đặt ra Muốn làm những việc lớn thì đừng chú ý đến lợi nhỏ
Khổng Tử nói: “Vô dục tốc, vô kiến tiểu lợi, dục tốc bất đạt, kiến tiểulợi tắc dại sự bất thành” Nghĩa là: đừng muốn mau thành, đừng nhìn lợi nhỏ,muốn mau thành thì không đạt mục đích Chỉ nhìn cái lợi nhỏ thì việc lớnkhông thành
Khổng Tử còn khuyên răn bề tôi rằng: phải trung thành với vua, khôngđược lừa gạt vua, nhưng không sợ xúc phạm vua mà phải dám can ngăn, làngười thẳng thắn, cương trực vì sự nghiệp quốc gia mà phò vua đừng vì mụcđích cá nhân mà đẩy vua tới chỗ sai lầm
Lễ giáo khuyên người ta trong quan hệ với bạn bè phải chân thành thânmật “Cửu nhi kính chi” Trong quan hệ bạn bè tuy xa cách lâu ngày nhưngvẫn tôn kính bạn Những khi bạn bè có việc gì cần phải thường xuyên khuyênnhủ nhưng đừng can gián quá nhiều mà bạn bè sẽ xa lánh
Bạn bè giúp đỡ nhau nhiều điều trong cuộc sống nhưng phải lấy bạn màgiúp mình làm điều nhân đức Tăng tử nói rằng: “Quân tử dĩ văn hội hữu, dĩhữu phụ nhân: Quân tử lấy văn học mà họp bạn, lấy bạn mà giúp minh làmđiều nhân” [Luận ngữ, Nhan Uyên, 24] Bạn với người nhân tử trung chính,thì học được nết hay, bạn với người gian tà quỉ quyệt, thì nhiễm lấy điều dở.Bởi t hế cho nên ta phải chọn bạn mà chơi Bạn hữu chơi với nhau, phải lấyđiều phải trái hay dở mà khuyên bảo nhau, nhưng việc gì cũng phải giữ chophải nghĩa thì thôi Đừng sờm sỡ quá mà thành ra sơ Khổng tử nói: “Trungcáo nhi thiện đạo chi, bất khả tắc chỉ, vô tự nhục yên: lấy nghe điều ngaythẳng mà bảo, khéo tìm cách mà khuyên răn, không nghe thì thôi, đừng để lấycái nhục cho mình” [Luận ngữ, Nhan Uyên, 23] Người nào mình đã lấy lẽ