1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG vấn đề PHÁP lí về MUA bán và sáp NHẬP DOANH NGHIỆP (ma) tại NHẬT bản và một số bài học KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

89 1K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 595 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (mergers and acquisitions MA) là những hoạt động kinh doanh và quản trị không xa lạ ở các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Các hoạt động MA đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ và trải qua bao thăng trầm. Làn sóng MA diễn ra mạnh mẽ và song hành với những giai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng. Sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới tiếp tục chứng kiến một làn sóng MA mới, dưới những hình thức đa dạng và quy mô lớn chưa từng có. Đó là thời điểm ban quản trị của các công ty liên tục hoạt động dưới sức ép cạnh tranh rất lớn từ thị trường. Khái niệm tăng trưởng lợi nhuận và mở rộng hoạt động thông qua hoạt động MA đồng nghĩa với sự tồn tại của DN nói chung, cũng như địa vị của họ trong DN nói riêng. Tại Việt Nam, những năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng và thậm chí cả một số văn bản pháp luật của Việt Nam cũng đã sử dụng thuật ngữ “mua bán và sáp nhập” để chỉ khái niệm MA. Thêm vào đó, cơ hội thu hút vốn đầy tiềm năng từ thị trường chứng khoán cùng sự kiện Luật Doanh nghiệp (LDN) và Luật Đầu tư (LĐT) 2005 thực sự là một có huých mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp (DN) nhà nước và nỗ lực mở rộng kinh doanh của khu vực tư nhân, tạo nguồn cung và cầu “hàng hóa công ty” dồi dào cho các hoạt động tài chính, đầu tư. Trên một sân chơi phổ biến hơn và khuôn khổ pháp lý đã trở nên thuận lợi hơn, các DN Việt Nam ở tất cả các thành phần kinh tế nhanh chóng làm quen và sử dụng MA như một công cụ chiến lược để phát triển hay cơ cấu lại DN của mình, đối phó với sức nóng cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường Tuy nhiên, thị trường MA của Việt Nam mới chỉ có chưa đầy 10 năm để làm quen với các khái niệm quản trị doanh nghiệp (QTDN) theo các thông lệ phổ biến của quốc tế. Do đó, các khái niệm về góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, mua bán, sáp nhập, chia tách, giải thể công ty, và các vấn đề kỹ thuật như chuyển nhượng cổ phần, thanh toán, xử lý quyền lợi cổ đông, thuế, nợ, thương hiệu, thực hiện quyền chủ sở hữu trong QTDN nhìn tổng thể vẫn còn rất mới mẻ đối với các DN cổ phần hóa và tư nhân. Nghiên cứu, giới thiệu các khái niệm và kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề thu mua thù địch trong hoạt động MA của Nhật Bản có ý nghĩa cấp thiết nhằm góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh của các DN trong nước, thích ứng với những đổi thay nhanh chóng từ áp lực hội nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đặt ra. Trong những năm gần đây, Nhật Bản trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực hợp tác giữa hai nước. Đặc biệt là trong lĩnh vực tài trợ vốn ODA và lĩnh vực thương mại, đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản vào Việt Nam. Việt Nam là một thị trường mới nổi, có rất nhiều lĩnh vực kinh doanh mà DN Nhật Bản quan tâm và cách tiếp cận nhanh nhất là thu mua và sáp nhập(MA). Doanh nghiệp Nhật Bản thực tế cũng đã tiến hành một số thương vụ MA tại thị trường Việt Nam. Ví dụ như: Công ty Daiichi Nhật Bản mua lại toàn bộ Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG,Vinabico mua lại Kotobuki Vietnam... Nhật Bản là nước đi trước Việt Nam trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty cổ phần nói riêng từ sau khi có sự ra đời của thị trường chứng khoán có thể nói là có nhiều cơ hội nhưng mặt khác cũng phải chịu rất nhiều áp lực từ thị trường và đã vấp phải khá nhiều những vấn đề pháp lý mới phát sinh. Ví dụ như thu mua công ty... Nghiên cứu về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp(MA) tại Nhật Bản và Việt Nam giúp chúng ta có cái nhìn khái quát hơn về MA và góp phần giúp cho doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi được nhiều bài học kinh nghiệm từ doanh nghiệp Nhật Bản, có thêm kinh nghiệm tự bảo vệ mình trước nguy cơ bị thu mua, hoặc tiến hành thu mua một doanh nghiệp khác có kết quả, phù hợp pháp luật. Từ lý do trên tác giả đã chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý về mua bán và sát nhập doanh nghiệp(MA) tại Nhật Bản và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ” cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục đích của bài khóa luận là hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơ bản về MA dưới khía cạnh pháp lý, các bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản và đánh giá đúng thực trạng tình hình MA tại Việt Nam. Từ đó có thể đưa ra một số giải pháp để đẩy mạnh và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động MA tại Việt Nam. Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và các phương pháp cụ thể khác như phân tích kinh tế, thu thập và tổng hợp thông tin, thống kê, so sánh, đánh giá, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn… Khóa luận cũng sử dụng các tài liệu được tổng hợp từ sách báo trong nước và nước ngoài, từ báo cáo của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực có liên quan. Với phương pháp nghiên cứu khoa học trên, bài khóa luận được xây dựng với bố cục gồm ba chương chính sau: Chương I: Những vấn đề pháp lý chung về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (MA) . Chương II: Thực trạng hoạt động MA và việc kiểm soát hoạt động MA tại Nhật Bản. Chương III: Hoàn thiện hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (MA) ở Việt Nam từ bài học kinh nghiệm của Nhật Bản. Đây là một đề tài có tính chuyên sâu, đòi hỏi kiến thức sâu rộng, nhiều tài liệu tham khảo cũng như thời gian nghiên cứu dài. Mặc dù tác giả đã rất cố gắng nhưng do những hạn chế nhất định về lý luận, kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên bài khóa luận chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên trong trường Đại học Đại Học Quốc Gia Hà Nội, những ai quan tâm tới vấn đề này để bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn.

Trang 1

NHẬP DOANH NGHIỆP (M&A)

1.1 Khái quát về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 5

1.1.1.1 Khái niệm 5

1.1.1.2 Phân biệt hợp nhất, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 9

1.1.1.3 Sự cộng hưởng trong M&A 11

1.1.2 Phân loại M&A 12

1.1.2.1 Dựa trên mối quan hệ giữa các DN mua bán và sáp nhập 13

1.1.2.1.1 Sáp nhập ngang 13

1.1.2.1.2 Sáp nhập dọc 13

1.1.2.1.3 Sáp nhập mở rộng thị trường 14

1.1.2.1.4 Sáp nhập mở rộng sản phẩm 14

1.1.2.1.5 Sáp nhập tổ hợp 14

1.1.2.2 Phân loại dựa trên cơ cấu tài chính 15

1.1.2.2.1 Sáp nhập mua 15

1.1.2.2.2 Sáp nhập hợp nhất 15

1.1.3 Các phương thức M&A 15

1.1.3.1 Phương thức chào thầu 15

1.1.3.2 Phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn 16

Trang 2

1.1.3.4 Phương thức thu gom cổ phiếu 18

1.1.3.5 Phương thức mua lại tài sản công ty 18

1.1.4 Động cơ thực hiện M&A 19

1.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động M&A 21

1.2.1 Hợp đồng mua bán và sáp nhập doanh nghiệp 21

1.2.1.1 Đối tượng của hợp đồng M&A 22

1.2.1.2 Đàm phán, giao kết hợp đồng M&A 24

1.2.1.3 Nội dung cơ bản của hợp đồng M&A 25

- Xác định sản nghiệp thương mại của DN bị mua lại, sáp nhập 25

- Xử lí nợ của DN bị mua lại, sáp nhập 27

- Xử lí các hợp đồng còn dang dở của DN bị mua lại, sáp nhập 27

- Xử lí quan hệ lao động của DN bị mua lại, sáp nhập… 28

1.2.2 Giới hạn của chính sách và pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động M&A 29

1.3 Các mô hình kiểm soát hoạt động M&A điển hình trên thế giới 30

1.3.1 Mô hình kiểm soát kiểu Mỹ 31

1.3.2 Mô hình kiểm soát kiểu Châu âu 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG M&A VÀ VIỆC KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG M&A TẠI NHẬT BẢN 2.1 Tình hình hoạt động M&A tại Nhật bản trong thời gian qua 40

2.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động M&A tại Nhật Bản 40

Trang 3

2.2.2 Cách thức cơ bản tiến hành giao dịch M&A tại Nhật Bản 41

2.2.3 Thu mua mang tính thù địch và các biện pháp nhằm chống lại việc thu mua mang tính thù địch tại Nhật Bản 41

2.2.3.1 Giao dịch thu mua mang tính thù địch 41

2.2.3.2 Những biện pháp phòng vệ khi bị thu mua 45

2.2.3.2 1 Những biện pháp chống lại sự thu mua( Biện pháp phòng vệ khi bị thu mua) 47

2.2.3.3 Điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề thu mua mang tính thù địch tại Nhật Bản 52

2.3 Kiểm soát hoạt động M&A tại Nhật Bản 55

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM TỪ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN 3.1 Thực trạng và triển vọng về hoạt động M&A tại Việt Nam hiện nay 57

3.1.1 Thực trạng hoạt động M&A ở Việt Nam 57

3.1.2 Triển vọng phát triển của hoạt động M&A ở Việt Nam 62

3.2 Thực trạng khung pháp luật về hoạt động M&A ở Việt Nam hiện nay .65

3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao tính lành mạnh và hiệu quả trong hoạt động M&A tại Việt Nam 68

3.3.1 Những giải pháp pháp lí 68

3.3.2 Những giải pháp bổ trợ 75

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

Bảng 1 Phân biệt M&A dưới góc độ pháp lý 9Bảng 2 Tổng giá trị & số lượng vụ M&A ở Việt Nam 61

Bảng 3 Các thương vụ M&A có giá trị cao ở Việt Nam năm 2007 61

Trang 6

M&A Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

FIE Doanh nghiệp có vốn đấu tư nước ngoài

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (mergers and acquisitions - M&A)

là những hoạt động kinh doanh và quản trị không xa lạ ở các nền kinh tế pháttriển trên thế giới Các hoạt động M&A đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ và trảiqua bao thăng trầm Làn sóng M&A diễn ra mạnh mẽ và song hành với nhữnggiai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng Sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới tiếptục chứng kiến một làn sóng M&A mới, dưới những hình thức đa dạng và quy

mô lớn chưa từng có Đó là thời điểm ban quản trị của các công ty liên tụchoạt động dưới sức ép cạnh tranh rất lớn từ thị trường Khái niệm tăng trưởnglợi nhuận và mở rộng hoạt động thông qua hoạt động M&A đồng nghĩa với sựtồn tại của DN nói chung, cũng như địa vị của họ trong DN nói riêng

Tại Việt Nam, những năm gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng

và thậm chí cả một số văn bản pháp luật của Việt Nam cũng đã sử dụng thuậtngữ “mua bán và sáp nhập” để chỉ khái niệm M&A Thêm vào đó, cơ hội thuhút vốn đầy tiềm năng từ thị trường chứng khoán cùng sự kiện Luật Doanhnghiệp (LDN) và Luật Đầu tư (LĐT) 2005 thực sự là một có huých mạnh mẽthúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp (DN) nhà nước và nỗ lực

mở rộng kinh doanh của khu vực tư nhân, tạo nguồn cung và cầu “hàng hóa công ty” dồi dào cho các hoạt động tài chính, đầu tư Trên một sân chơi phổbiến hơn và khuôn khổ pháp lý đã trở nên thuận lợi hơn, các DN Việt Nam ởtất cả các thành phần kinh tế nhanh chóng làm quen và sử dụng M&A nhưmột công cụ chiến lược để phát triển hay cơ cấu lại DN của mình, đối phó vớisức nóng cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường

Tuy nhiên, thị trường M&A của Việt Nam mới chỉ có chưa đầy 10năm để làm quen với các khái niệm quản trị doanh nghiệp (QTDN) theo cácthông lệ phổ biến của quốc tế Do đó, các khái niệm về góp vốn, chuyểnnhượng phần vốn góp, mua bán, sáp nhập, chia tách, giải thể công ty, và cácvấn đề kỹ thuật như chuyển nhượng cổ phần, thanh toán, xử lý quyền lợi cổ

Trang 8

đông, thuế, nợ, thương hiệu, thực hiện quyền chủ sở hữu trong QTDN nhìntổng thể vẫn còn rất mới mẻ đối với các DN cổ phần hóa và tư nhân Nghiêncứu, giới thiệu các khái niệm và kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề thu mua thùđịch trong hoạt động M&A của Nhật Bản có ý nghĩa cấp thiết nhằm góp phầntăng cường khả năng cạnh tranh của các DN trong nước, thích ứng với nhữngđổi thay nhanh chóng từ áp lực hội nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)đặt ra

Trong những năm gần đây, Nhật Bản trở thành đối tác chiến lược củaViệt Nam trong nhiều lĩnh vực hợp tác giữa hai nước Đặc biệt là trong lĩnhvực tài trợ vốn ODA và lĩnh vực thương mại, đầu tư của các doanh nghiệpNhật Bản vào Việt Nam Việt Nam là một thị trường mới nổi, có rất nhiềulĩnh vực kinh doanh mà DN Nhật Bản quan tâm và cách tiếp cận nhanh nhất

là thu mua và sáp nhập(M&A) Doanh nghiệp Nhật Bản thực tế cũng đã tiếnhành một số thương vụ M&A tại thị trường Việt Nam Ví dụ như: Công tyDaiichi Nhật Bản mua lại toàn bộ Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo MinhCMG,Vinabico mua lại Kotobuki Vietnam

Nhật Bản là nước đi trước Việt Nam trong lĩnh vực mua bán và sápnhập doanh nghiệp Doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty cổ phầnnói riêng từ sau khi có sự ra đời của thị trường chứng khoán có thể nói là cónhiều cơ hội nhưng mặt khác cũng phải chịu rất nhiều áp lực từ thị trường và

đã vấp phải khá nhiều những vấn đề pháp lý mới phát sinh Ví dụ như thumua công ty Nghiên cứu về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp(M&A) tạiNhật Bản và Việt Nam giúp chúng ta có cái nhìn khái quát hơn về M&A vàgóp phần giúp cho doanh nghiệp Việt Nam có thể học hỏi được nhiều bài họckinh nghiệm từ doanh nghiệp Nhật Bản, có thêm kinh nghiệm tự bảo vệ mìnhtrước nguy cơ bị thu mua, hoặc tiến hành thu mua một doanh nghiệp khác cókết quả, phù hợp pháp luật

Trang 9

Từ lý do trên tác giả đã chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý về mua bán và sát nhập doanh nghiệp(M&A) tại Nhật Bản và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ” cho bài khóa luận tốt nghiệp của mình.

Mục đích của bài khóa luận là hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơbản về M&A dưới khía cạnh pháp lý, các bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản vàđánh giá đúng thực trạng tình hình M&A tại Việt Nam Từ đó có thể đưa ramột số giải pháp để đẩy mạnh và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt độngM&A tại Việt Nam

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng và các phương pháp cụ thể khác như phân tích kinh tế, thu thập và tổnghợp thông tin, thống kê, so sánh, đánh giá, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn…Khóa luận cũng sử dụng các tài liệu được tổng hợp từ sách báo trong nước vànước ngoài, từ báo cáo của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực có liênquan

Với phương pháp nghiên cứu khoa học trên, bài khóa luận được xâydựng với bố cục gồm ba chương chính sau:

Chương I: Những vấn đề pháp lý chung về mua bán và sáp nhập

doanh nghiệp (M&A)

Chương II: Thực trạng hoạt động M&A và việc kiểm soát hoạt

động M&A tại Nhật Bản.

Chương III: Hoàn thiện hoạt động mua bán và sáp nhập doanh

nghiệp (M&A) ở Việt Nam từ bài học kinh nghiệm của Nhật Bản.

Đây là một đề tài có tính chuyên sâu, đòi hỏi kiến thức sâu rộng, nhiềutài liệu tham khảo cũng như thời gian nghiên cứu dài Mặc dù tác giả đã rất cốgắng nhưng do những hạn chế nhất định về lý luận, kiến thức cũng như kinhnghiệm thực tiễn nên bài khóa luận chắc chắn không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót, khiếm khuyết Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến củacác thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên trong trường Đại học Đại Học Quốc

Trang 10

Gia Hà Nội, những ai quan tâm tới vấn đề này để bài khóa luận được hoànchỉnh hơn.

Trang 11

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÍ CHUNG VỀ MUA

BÁN VÀ SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP (M&A)

1.1 Khái quát về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm

M&A Mergers and Acquisitions、là thuật ngữ viết tắt của (sáp nhập và mualại) có nghĩa là sáp nhập và mua lại doanh nghiệp Khi định mua lại doanhnghiệp khác thì người mua sẽ tiến hành thâu tóm sáp nhập, ngoài ra có thểdùng phương pháp mua lại cổ phiếu của doanh nghiệp định mua và biến nóthành công ty con của mình và với mục tiêu thu được doanh nghiệp nên người

ta gọi chung là sáp nhập và mua bán

M&A được thực hiện với mục tiêu tham gia vào thị trường, cơ hội đầu tưmới, tái cấu trúc lại tập đoàn, thống nhất lại danh mục đầu tư, cứu trợ doanhnghiệp đang gặp khó khăn kinh doanh.Về nghĩa rộng nó bao gồm mang tínhbao quát như hợp tác kinh doanh, hợp tác OEM

Trong quản trị doanh nghiệp QTDN có hai điểm quan trọng đó là quyền

sở hữu và người quản lý thì quyền sở hữu vẫn mang trọng tâm hơn1 Mặc

dù xu hướng quản trị hiện đại tách biệt quyền sở hữu và người quản lýnhưng thực chất quyền sở hữu có ý nghĩa quyết định trong việc bầu Hộiđồng quản trị và qua đó lựa chọn người quản lý đồng thời quyết địnhchiến lược phát triển, phương án chia lợi nhuận và xử lý tài sản công ty.Các khái niệm sáp nhập (acquisitions), hợp nhất (mergers hoặcconsolidations) đều xoay quanh mối tương quan này

Mua bán hay sáp nhập doanh nghiệp (M&A) được sử dụng để chỉmột doanh nghiệp (DN)2 tìm cách thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ sốlượng cổ phần hoặc tài sản của DN khác đủ để có thể khống chế toàn bộcác quyết định của DN đó Tỷ lệ này có thể khác nhau theo quy định cụthể trong Luật Doanh nghiệp của từng nước Ví dụ ở Việt Nam tỷ lệ này

1 http://www.saga.vn/utilities/download/downloaddetail.aspx?id=9995

2 DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh – Điều 3, Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005

Trang 12

là 75%, trong trường hợp Điều lệ công ty mục tiêu quy định mức thấphơn (tối thiểu là 65%) thì áp dụng mức đó3 Sau khi kết thúc thương vụ,

DN mục tiêu sẽ chấm dứt hoạt động (bị sáp nhập) hoặc trở thành mộtcông ty con của công ty thâu tóm Thương hiệu của công ty mục tiêu nếuđược đánh giá là vẫn còn giá trị để duy trì thị phần sản phẩm thì có thểđược giữ lại như một thương hiệu độc lập (trường hợp hãng BP muaCastrol), hoặc được gộp lại thành một thương hiệu chung, như trườnghợp sáp nhập hai công ty dầu lửa Mỹ là Exxon và Mobil (năm 1999)thành Exxon–Mobil4 Điều 153, LDN năm 2005, hiệu lực ngày 1/7/2006

đã định nghĩa về sáp nhập DN là :”Một hoặc một số công ty cùng loại(sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công tykhác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộtài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập,đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập” Còn theo quyđịnh của LCT năm 20055 thì: “Sáp nhập DN là một hay một số DN chuyểntoàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một DNkhác đồng thời chấm dứt sự tồn tại của DN bị sáp nhập” Ví dụ: A + B = B (Bkhông phải là một DN mới, A chấm dứt sự tồn tại)

Về mua bán DN, LCT năm 20053 quy định: “Mua bán DN là một DNtiến hành mua toàn bộ hay một phần của DN khác đủ để kiểm soát, chi phốitoàn bộ hay một ngành nghề của DN bị mua lại” Ví dụ: DN A mua lại 51%

số vốn của DN B (B không chấm dứt hoạt động, vẫn là một pháp nhân theoquy định của pháp luật, và có mặt trên thị trường nhưng thuộc quyền kiểmsoát của A)

Hợp nhất DN là khái niệm để chỉ hai hoặc một số DN cùng thỏathuận chia sẻ tài sản, thị phần, thương hiệu với nhau để hình thành một

DN hoàn toàn mới, với tên gọi mới (có thể gộp tên của hai DN cũ) trong

3 Khoản2-Điều 52; khoản1d – điều 59; khoản 3b,5-điều 104 Luật doanh nghiệp năm 2005

4 http://www.saga.vn/dictview.aspx?id=8397

5 Điều 17, Luật Cạnh tranh năm 2005

Trang 13

khi đó chấm dứt sự tồn tại của các DN cũ Điều 152, LDN năm 2005 đãđịnh nghĩa hợp nhất DN là: “Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đâygọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sauđây gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền,nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứttồn tại của công ty bị hợp nhất” Ví dụ: A + B = C, C là DN mới trên thịtrường, A và B chấm dứt sự tồn tại kể từ khi hợp nhất.

Nguyên tắc then chốt của một thương vụ M&A là nhằm tăng giá trị cho cả haicông ty Nói cách khác, hai công ty sáp nhập hoặc hợp nhất cùng nhau sẽ cógiá trị lớn hơn hai công ty riêng lẻ - và ít nhất nó cũng là lý do đằng sau hoạtđộng M&A Nguyên lý này đặc biệt hữu ích khi các công ty rơi vào nhữngthời kỳ khó khăn do cạnh tranh, thị trường hay bất kỳ yếu tố nào Những công

ty lớn sẽ mua hoặc sáp nhập với các công ty khác nhằm tạo nên một công tymới có sức cạnh tranh hơn và giảm thiểu chi phí Các công ty sau khi M&A

sẽ có cơ hội mở rộng thị phần lớn hơn và đạt được hiệu quả kinh doanh tốthơn Những công ty nhỏ là đối tượng bị M&A cũng sẵn sàng để công ty khácmua vì như vậy sẽ tốt hơn nhiều là bị phá sản hoặc rất khó khăn tồn tại trênthị trường Việc mua lại hay sáp nhập doanh nghiệp có khuynh hướng tănglên từng năm, mục đích của việc này thì có nhiều nhưng mục đích chủ yếu lànâng cao sức cạnh tranh trong và ngoài nước, để dễ dàng đầu tư ra nướcngoài, để sử dụng cho việc mở rộng kinh doanh và cạnh tranh sinh tồn cùngvới việc mở rộng marketing mang tính quốc tế, về quy mô cũng có khuynhhướng mở rộng

Về mặt luật pháp Nhật Bản, những khái niệm như sáp nhập, chia tách doanhnghiệp, trao đổi cổ phiếu, di chuyển cổ phiếu, mua công khai cổ phiếu đó lànhững yếu tố mang tính pháp lí cơ bản nhưng từ các yếu tố này phải nắm chắcnhững phương pháp để điều hành doanh nghiệp là đối tượng mua Trongtrường hợp M&A, những khái niệm dùng để chỉ sự nắm chắc chiến lược củadoanh nghiệp bao gồm cả việc thiết kế thủ pháp sử dụng được dùng nhiều.Trong những năm gần đây do có sự sửa đổi Luật thương mại Nhật Bản do vậy

có rất nhiều phương thức M&A đã được lập ra

Trước tiên với phương thức mở rộng quy mô kinh doanh, khi thì người tadùng phương pháp từ việc hợp đồng sáp nhập nhiều công ty thành một công

ty “sáp nhập”(Luật Công ty Nhật Bản, Điều 748~Điều 756), “Di chuyển cổphiếu”(Luật Công ty Nhật Bản, Điều 772~Điều 774),khi thì người ta dùngphương pháp “trao đổi cổ phiếu”(Luật Công ty Nhật Bản, Điều 767~Điều771) và “Chia tách công ty”(Luật Công ty Nhật Bản, Điều 757~Điều 766) để

Trang 14

thành lập nên một công ty có nhiều công ty cùng nắm giữ cổ phiếu công ty

đó Các công ty đều nằm dưới một cái ô chung nên người ta gọi là “hợp nhấtkinh doanh”, ngoài ra có một phương pháp nữa là từ việc “mua gom cổ phiếucông khai”(TOB) sẽ chiếm quyền chi phối công ty đối tượng bị thu mua mà

đó mua gom cổ phiếu

Tiếp theo là với phương thức thu nhỏ quy mô kinh doanh, người ta bán cổphiếu theo phương pháp(MBO) tức là người kinh doanh nhận sự giúp đỡ chiviện của cơ quan đầu tư tài chính mua lại chính công ty mình hoặc một bộphận sản xuất kinh doanh theo phương thức “chuyển nhượng kinhdoanh”(Luật Công ty Nhật Bản, Điều 476~Điều 470), “chia tách côngty”(Luật Công ty Nhật Bản, Điều 757~Điều 766)

Với những phương thức nêu trên, chủ thể của nó sẽ thay đổi, có sự di chuyển

về vốn và tạo nên sự kết hợp vững chắc, thế nhưng cũng có thể nêu ra nhiềuphương thức tạo nên sự kết hợp mềm dẻo hơn như là các dạng liên kết, phốihợp đó là những phương pháp liên kết bộ phận bán hàng như là cùng khaithác phát triển theo hợp đồng hợp tác, hoặc tiến hành OEM(nhận ủy thác củađối tác tiến hành cung ứng phụ từng và hàng thành phẩm với thương hiệu củađối tác)

Trong nước Nhật, M&A đặc biệt hay được dùng vì lý do vấn đề doanh nghiệpvừa và nhỏ không có người kế tục Ngoài ra, tái cấu trúc doanh nghiệp lớn vàM&A còn được tiến hành phổ biến trong các lĩnh vực như doanh nghiệp bán

lẻ lớn là siêu thị, cửa hàng 24 giờ; thực phẩm; ngân hàng; công nghệ thôngtin; may mặc; chế biến giấy Gần đây việc mua bán website người ta gọi làsite M&A nhưng cái này khác hẳn với M&A công ty, thực tế M&A của nógiống mà cũng không giống

Ở Nhật Bản, có nhiều người nghĩ rằng M&A là đối với doanh nghiệp lớnnhưng thực tế người ta nói 70 % M&A của Nhật Bản là đối tượng doanhnghiệp vừa và nhỏ

Đặc trưng của M&A Nhật Bản là công ty tư vấn có thể thu phí từ cả hai phíabên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng

1.1.1.2 Phân biệt hợp nhất, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Hoạt động hợp nhất, mua bán và sáp nhập có điểm chung là đềuđược thực hiện để nhằm mục đích đạt được lợi thế nhờ quy mô, tănghiệu quả và thị phần Đây cũng là mục đích chung của tất cả các DNtham gia vào họat động M&A Tuy nhiên, giữa các hoạt động này cũng

có những khác điểm khác biệt nhất định:

Trang 15

Thứ nhất, sự khác biệt giữa mua bán và sáp nhập Hoạt động mua bán

chỉ khác đôi chút so với hoạt động sáp nhập Một thương vụ mua bán cũng cóthể được gọi là sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng nhau vì lợiích cho cả hai DN Nhưng khi bên bị mua không muốn bị thâu tóm thì sẽđược coi là một thương vụ mua bán hoặc khi vụ mua bán diễn ra rất căngthẳng - hai đối thủ dùng tiềm lực tài chính để thâu tóm nhau nhằm triệt tiêu sựcạnh tranh lẫn nhau Một thương vụ được coi là mua bán hay sáp nhập hoàntoàn phụ thuộc vào việc nó được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên haychỉ nhằm mục đích thâu tóm nhau

Thứ hai, xét dưới khía cạnh pháp lý, sự khác biệt giữa mua bán và sáp

nhập, hợp nhất DN có thể được tóm tắt như sau:

Bảng 1: Phân biệt M&A dưới góc độ pháp lý Hình

vụ do DN bị sáp nhập chuyển sangnhưng phải tiến hành đăng ký kinhdoanh

=> không phải một DN mới nhưngdưới góc độ pháp lý vẫn là mộtpháp nhân mới

Là DN nhận mua nhưng có quyềnchi phối một phần hay toàn bộngành nghề DN bị mua => khôngphải DN mới, không phải phápnhân mới

Trang 16

tại nhất.

=> là DN mới, pháp nhân mới

Thứ ba, sự phân biệt giữa hợp nhất và sáp nhập Về mặt bản chất khái

niệm và hệ quả pháp lý thì hợp nhất và sáp nhập là khác biệt; tuy nhiên nếuxét về tác động thực tế đối với QTDN thì ranh giới phân biệt giữa chúngnhiều khi lại rất mong manh Chẳng hạn trong trường hợp các công ty thươngthảo với nhau để sáp nhập thông qua trao đổi cổ phần và chia sẻ thương hiệu6.Ban quản trị công ty có ưu thế hơn sẽ nắm quyền quyết định trong khi đối tác

là công ty còn lại vẫn có tiếng nói của mình, công ty lớn chỉ phải làm thủ tụcđổi tên (có thể là gộp chung thương hiệu) và các báo cáo tài chính hợp nhất

mà không phải đăng ký lại công ty mới, văn hóa DN và cơ cấu tổ chức vẫnhoạt động một cách độc lập như mô hình công ty mẹ - công ty con Do đó,nhìn bề ngoài là sáp nhập, nhưng bên trong thực chất là hợp nhất Đây chính

là hính thức phổ biến nhất trong làn sóng M&A hiện nay Bằng hình thức này,các công ty vẫn đạt được mục tiêu liên kết nguồn lực, giảm thiểu cạnh tranh,chia sẻ thị trường, thương hiệu mà không làm thay đổi cơ cấu cổ đông, giá trịcông ty, sự linh hoạt và quyền chủ động trong điều hành, trong khi tránh đượcchi phí chuyển nhượng đắt đỏ Mặt khác, nếu căn cứ vào tính độc lập của banđiều hành hoặc thương hiệu sau sáp nhập thì trong rất nhiều trường hợp, banđiều hành, cơ cấu tổ chức và thương hiệu của công ty bị sáp nhập vẫn đượcgiữ lại nguyên vẹn và hoạt động một cách tương đối độc lập với công ty nhậnsáp nhập (trừ báo cáo tài chính được gộp vào báo cáo hợp nhất của công tynhận sáp nhập như một công ty thành viên) Thậm chí, sau một thời gian, cácgiám đốc điều hành trong công ty bị sáp nhập có thể được thăng tiến vào các

vị trí lãnh đạo cao hơn trong cấu trúc tổ chức của công ty nhận sáp nhập Nhưvậy, có thể thấy hợp nhất đòi hỏi mức độ hợp tác rất cao giữa các công tytham gia Điều này giải thích tại sao hình thức sáp nhập phổ biến hơn rất

66 Xem Mục 3.3, trang 20

Trang 17

nhiều so với hợp nhất Việc chia sẻ sở hữu, quyền lực và lợi ích một cáchđồng đều và lâu dài luôn khó khăn và cá biệt

1.1.1.3 Sự cộng hưởng trong M&A

Cộng hưởng trong M&A chính là những lợi ích mà các DN tham giahoạt động M&A mong muốn đạt được Cộng hưởng là động cơ quan trọng và

kì diệu nhất giải thích cho mọi thương vụ M&A Cộng hưởng sẽ cho phéphiệu quả và giá trị của DN mới (sau khi M&A) được nâng cao hơn so với các

DN trước khi thực hiện M&A Chính vì vậy, lợi ích mà các DN kỳ vọng saumỗi thương vụ M&A thường bao gồm:

Giảm số lượng nhân viên: Xu hướng chung thì sáp nhập hay hợp

nhất DN thường có khuynh hướng giảm số lượng công việc phải làm Hai DNsáp nhập lại sẽ làm giảm nhiều công việc gián tiếp, ví dụ các công việc vănphòng, tài chính kế toán hay marketing… Do vậy, bộ máy hành chính củacông ty sau M&A sẽ bớt cồng kềnh hơn rất nhiều so với bộ máy hành chính

đồ sộ của các công trước khi M&A Hơn nữa, việc giảm thiểu vị trí công việccũng đồng thời với đòi hỏi tăng năng suất lao động Đây cũng là dịp tốt để các

DN sa thải những vị trí làm việc kém hiệu quả

Thu được những lợi ích và hiệu quả dựa vào quy mô: Không thể

phủ nhận một điều là một DN lớn lúc nào cũng có lợi thế hơn khi giao dịchvới các đối tác, kể từ việc như mua văn phòng phẩm hay đến một hệ thốngcông nghệ thông tin phức tạp thì công ty lớn vẫn có ưu thế khi đàm phán hơn

là so với công ty nhỏ Do đó, hai công ty có quy mô vừa hoặc nhỏ trên thịtrường khi sáp nhập chúng lại thành một công ty có quy mô lớn, sẽ có đượcnhững lợi ích mà khi đứng riêng lẻ không có được

Trang bị công nghệ mới, tiên tiến và hiện đại hơn: Để duy trì cạnh

tranh, các công ty luôn cần vị trí đỉnh cao về phát triển kỹ thuật và công nghệ

Sự kết hợp công nghệ và chuyên môn giữa các công ty sẽ tạo ra những công

ty, tập đoàn mới có tính chuyên sâu, cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cóchất lượng cao hơn, hiện đại và tiên tiến hơn Thông qua hoạt động M&A,

Trang 18

công ty mới có thể tận dụng công nghệ của các công ty tham gia M&A để tạolợi thế cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường.

Tăng cường thị phần và danh tiếng trong ngành: Một trong những

mục tiêu của M&A là nhằm mở rộng thị trường mới, tăng trưởng doanh thu

và lợi nhuận Sáp nhập cho phép mở rộng các kênh marketing và hệ thốngphân phối Thông qua hoạt động M&A, các công ty tận dụng được lợi thế thịtrường và kênh phân phối của nhau Qua đó, hệ thống bán hàng và dịch vụ sẽđược mở rộng, các kênh phân phối được nối dài tới tất cả các khách hàng trênthế giới Bên cạnh đó, vị thế của công ty mới sau khi M&A sẽ tăng lên trongmắt cộng đồng đầu tư, công ty lớn hơn có lợi thế hơn và có khả năng tăng vốn

dễ dàng hơn một công ty nhỏ

Trên thực tế, đạt được sự cộng hưởng thường không dễ - nó không tựđến khi hai công ty sáp nhập hay hợp nhất Đương nhiên khi hai công ty sápnhập hay hợp nhất dễ nhìn thấy khả năng đạt được lợi thế quy mô nhưng đôikhi nó lại có hiệu ứng ngược lại Hai công ty tiến hành M&A, đằng sau nhữnglợi ích là đi kèm với rủi ro Các công ty không thể tránh khỏi việc phải đốimặt với những vấn đề phức tạp như độc quyền, thuế, kế toán, pháp luật, vănhóa DN…

1.1 2 Phân loại M&A

Trên thực tế có nhiều loại hình M&A, nhìn chung có thể phân chia theocác cách phân loại sau:

1.1.2.1 Dựa trên mối quan hệ giữa các DN mua bán và sáp nhập

1.1.2.1.1 Sáp nhập ngang

Sáp nhập ngang là sự sáp nhập hoặc hợp nhất giữa hai hay một số DNkinh doanh và cạnh tranh trên cùng một dòng sản phẩm, trong cùng một thịtrường Ví dụ: Hai công ty sản xuất ôtô sáp nhập với nhau

Kết quả từ những vụ M&A theo hình thức này sẽ đem lại cho bên sápnhập cơ hội mở rộng thị trường, kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định,tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối và hậu cần Rõ ràng, khi hai đối

Trang 19

thủ cạnh tranh trên thương trường kết hợp lại với nhau (dù sáp nhập hay hợpnhất) họ không những giảm bớt cho mình một đối thủ mà còn tạo nên một sứcmạnh lớn hơn để đương đầu với các đối thủ còn lại Mặc dù vậy, cũng cótrường hợp công ty bị sáp nhập trở thành gánh nặng cho DN mua lại.

1.1.2.1.2 Sáp nhập dọc

Sáp nhập dọc là sự sáp nhập hoặc hợp nhất giữa hai hay một số DNnằm trên cùng một chuỗi giá trị hay kênh phân phối, dẫn tới sự mở rộng vềphía trước hoặc phía sau của DN sáp nhập trên chuỗi giá trị đó Ví dụ: Sápnhập giữa nhà cung cấp ốc quế với một đơn vị sản xuất kem

Được chia thành hai phân nhóm:

o Sáp nhập tiến (Forward) khi một DN mua lại DN khách hàng củamình, ví dụ công ty may mặc mua lại chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo

o Sáp nhập lùi (Backward) khi một DN mua lại nhà cung cấp củamình, ví dụ như công ty sản xuất sữa mua lại công ty bao bì, đóng chai hoặccông ty chăn nuôi bò sữa

Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho DN nhận sáp nhập lợi thế về đảmbảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phítrung gian, khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh

Sáp nhập mở rộng thị trường đem lại cho DN nhận sáp nhập lợi thế về

mở rộng thị trường, giảm các chi phí về việc nghiên cứu tìm hiểu và trách cácrủi ro khi thâm nhập thị trường mới

1.1.2.1.4 Sáp nhập mở rộng sản phẩm

Sáp nhập mở rộng sản phẩm là sáp nhập giữa hai hay một số DN bánnhững loại sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau trong cùng một

Trang 20

thị trường Ví dụ: Công ty bán máy in sáp nhập với công ty bán mực in và hai

công ty này đều hoạt động trên cùng một thị trường Mỹ

Sáp nhập mở rộng thị trường đem lại cho DN nhận sáp nhập lợi thế đadạng hóa sản phẩm, giảm chi phí nghiên cứu sản phẩm, đồng thời tận dụngnhững lợi thế mà DN bị sáp nhập có sẵn trên thị trường đó như uy tín, thươnghiệu, danh tiếng

1.1.2.1.5 Sáp nhập tổ hợp

Sáp nhập tổ hợp là sáp nhập giữa hai hay một số DN khác hoàn toàn

nhau từ thị trường tới sản phẩm kinh doanh Ví dụ: Sáp nhập giữa Công ty sản

xuất bánh kẹo kinh doanh trên thị trường Việt Nam với Công ty sản xuất máytính kinh doanh trên thị trường Mỹ

Sáp nhập tổ hợp đem lại cho cả DN nhận sáp nhập và DN bị sáp nhập

cơ hội đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa ngành nghềkinh doanh Hình thức sáp nhập này thường hiếm xảy ra theo hình thức hợpnhất

1.1.2.2 Phân loại dựa trên cơ cấu tài chính

1.1.2.2.1 Sáp nhập mua

Sáp nhập mua là hình thức sáp nhập khi một DN mua lại một DN khác.Việc mua lại được tiến hành bằng tiền mặt hoặc thông qua một số công cụ tàichính như cổ phiếu, cổ phần

Trang 21

công ty đó Các thỏa thuận này mang tính chất chuyên biệt hóa đậm nét và sẽ

là căn cứ cao nhất để xử lý tất cả các vấn đề liên quan hậu chuyển đổi, vớiđiều kiện không vi phạm các quy định pháp luật về DN, cạnh tranh và thuế

Do đó, cách thức thực hiện M&A cũng rất đa dạng tùy thuộc vào mục tiêu,đặc điểm quản trị, cấu trúc sở hữu và ưu thế so sánh của các DN liên quantrong từng trường hợp cụ thể Có thể tổng hợp một số cách thức phổ biếnthường được sử dụng sau:

1.1.3.1 Phương thức chào thầu

Chào thầu (tender offer) là hình thức một hay một số công ty hoặc cánhân hoặc một nhóm nhà đầu tư có ý định mua đứt (buyout) toàn bộ công tymục tiêu với đề nghị cổ đông hiện hữu của công ty đó bán lại cổ phần của họvới một mức giá cao hơn thị trường rất nhiều (premium price) Giá chào thầu

đó phải đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũngnhư quản lý công ty của mình

Hình thức đặt giá chào thầu này thường được áp dụng trong các vụ thôntính mang tính “thù địch” đối thủ cạnh tranh Công ty bị mua thường là công

ty yếu hơn Tuy vậy, vẫn có một số trường hợp một công ty nhỏ thâu tómđược một công ty lớn hơn, đó là khi họ huy động được nguồn tài chính khổng

lồ từ bên ngoài để thực hiện được vụ thôn tính Các công ty thực hiện thôntính theo hình thức này thường huy động nguồn tiền mặt bằng cách như: sửdụng thặng dư vốn, huy động vốn từ cổ đông hiện hữu, thông qua phát hành

cổ phiếu mới hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành trái phiếu chuyển đổi,vay từ các tổ chức tín dụng

Điểm đáng chú ý trong các thương vụ “chào thầu” là ban quản trị công

ty bị mua bị mất quyền định đoạt, bởi đây là sự trao đổi trực tiếp giữa công tymua và cổ đông của công ty bị mua, trong khi ban quản trị (lúc này nắmkhông đủ số lượng cổ phần chi phối) bị gạt sang một bên Thông thường, banquản trị và các vị trí quản lý chủ chốt của công ty bị mua sẽ bị thay thế, mặc

dù thương hiệu và cơ cấu tổ chức của nó vẫn có thể được giữ lại mà không

Trang 22

nhất thiết bị sáp nhập hoàn toàn vào công ty thôn tính Để chống lại vụ sápnhập bất lợi cho mình, ban quản trị công ty bị mua có thể thực hiện một sốbiện pháp nhằm chống lại sự thôn tính này như tìm kiếm sự trợ giúp/bảo lãnhtài chính mạnh hơn, để có thể đưa ra mức giá chào thầu cổ phần cao hơn nữa

cổ phần của các cổ đông hiện hữu đang ngã lòng

1.1.3.2 Phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn

Phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn (Proxy fights) cũng thường được

sử dụng trong các thương vụ “thôn tính mang tính thù địch” lẫn nhau Khimột công ty lâm vào tình trạng kinh doanh yếu kém và thua lỗ, có một bộphận không nhỏ cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản trị và điều hànhcông ty mình Công ty cạnh tranh có thể lợi dụng tình huống này để lôi kéo bộphận cổ đông đó

Trước tiên, thông qua thị trường, công ty cạnh tranh sẽ mua một sốlượng cổ phần tương đối lớn (nhưng chưa đủ để chi phối) cổ phiếu trên thịtrường để trở thành cổ đông của công ty mục tiêu Sau khi đã hội đủ số lượng

cổ phần chi phối đủ để loại ban quản trị cũ, công ty cạnh tranh và các cổ đôngbất mãn sẽ triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông và bầu đại diện của công tycạnh tranh vào Hội đồng quản trị mới

Để ngăn chặn hình thức thôn tính này, ban quản trị của công ty mụctiêu có thể sắp đặt các nhiệm kỳ của ban điều hành và ban quản trị xen kẽnhau ngay từ trong Điều lệ công ty Bởi vì mục đích cuối cùng của công tycạnh tranh và các cổ đông bất mãn là thay đổi ban điều hành công ty

1.1.3.3 Phương thức thương lượng giữa các ban quản trị

Thương lượng tự nguyện với ban quản trị và điều hành là hình thức phổbiến trong các vụ sáp nhập “thân thiện” (friendly mergers) Khi hai công tyđều nhận thấy lợi ích chung tiềm tàng trong thương vụ sáp nhập và nhữngđiểm tương đồng giữa hai công ty (về văn hóa DN, hoặc thị phần, sảnphẩm ), người trung gian sẽ xúc tiến để ban quản trị của hai công ty ngồi lại

và thương thảo cho một hợp đồng sáp nhập Có không ít trường hợp, chủ sở

Trang 23

hữu các công ty nhỏ, thua lỗ hoặc yếu thế trong cuộc cạnh tranh tìm cách rútlui bằng cách bán lại, hoặc tự tìm đến các công ty lớn hơn để đề nghị đượcsáp nhập nhằm lật ngược tình thế của công ty mình trên thị trường

Ngoài các phương án chuyển nhượng cổ phiếu hay tài sản bằng tiềnmặt hoặc kết hợp tiền mặt và nợ, các công ty thực hiện sát nhập thân thiện còn

có thể chọn phương thức hoán đổi cổ phiếu (stock swap) để biến cổ đông củacông ty này trở thành cổ đông của công ty kia và ngược lại

Một hình thức khá phổ biến trong thời gian gần đây là trao đổi cổ phần,

để nắm giữ chéo sở hữu công ty của nhau Thực chất, hình thức này mangtính liên minh hơn là sáp nhập Ví dụ, tập đoàn News Corp của nhà tỷ phú MỹMurdoch bán lại mạng xã hội ảo MySpace để đổi lấy 25% cổ phần của Yahoo(tương đương 12 tỷ USD) Nếu nhìn nhận MySpace như khoản tiền mặt NewsCorp trả cho Yahoo thì có thể coi đây là một vụ thâu tóm theo đúng nghĩa.Tuy nhiên, xuất phát từ động cơ liên minh giữa hai hãng chia sẻ nhiều điểmchung về lợi ích, cơ sở khách hàng, vụ sáp nhập này có lợi cho cả hai bên.Yahoo sẽ được MySpace tiếp sức cho cuộc chiến với Google, đổi lại NewsCorp sẽ có quyền trong ban quản trị của Yahoo

1.1.3.4 Phương thức thu gom cổ phiếu

Thu gom cổ phiếu là phương thức mà công ty có ý định M&A sẽ giảingân để gom dần cổ phiếu của công ty bị M&A thông qua giao dịch trên thịtrường chứng khoán, hoặc mua lại cổ phiếu của các cổ đông chiến lược hiệnhữu Phương pháp này đòi hỏi thời gian, đồng thời nếu thông tin về thương vụM&A bị bại lộ, giá của cổ phiếu của công ty bị M&A có thể tăng cao trên thịtrường

Ngược lại, phương thức này nếu được thực hiện dần dần và trôi chảy,công ty nhận M&A có thể đạt được mục đích cuối cùng của mình một cách

êm thấm, không gây xáo động lớn cho công ty bị M&A, trong khi chỉ cần trảmột mức giá rẻ hơn so với phương thức chào thầu rất nhiều

Trang 24

1.1.3.5 Phương thức mua lại tài sản công ty

Phương thức này gần giống phương thức chào thầu Công ty nhận sápnhập có thể đơn phương hoặc cùng công ty bị M&A định giá tài sản của công

ty đó (thường thuê một công ty tư vấn chuyên định giá tài sản độc lập) Sau

đó các bên sẽ tiến hành thương thảo để đưa ra mức giá phù hợp (có thể caohoặc thấp hơn) Phương thức thanh toán có thể bằng tiền mặt và nợ

Điểm hạn chế của phương thức này là các tài sản vô hình như thươnghiệu, thị phần, khách hàng, nhân sự, văn hóa DN rất khó được định giá vàđược các bên thống nhất Do đó, phương thức này thường áp dụng để tiếpquản lại các công ty nhỏ, thực chất là nhắm đến các cơ sở sản xuất, nhà xưởngmáy móc, dây chuyền công nghệ, hệ thống cửa hàng, đại lý đang thuộc sởhữu của công ty đó

Như vậy, cách thức thực hiện M&A cũng rất đa dạng tùy thuộc vàomục tiêu, đặc điểm quản trị, cấu trúc sở hữu và ưu thế so sánh của các DNliên quan trong từng trường hợp cụ thể Các vấn đề quyết định đến việc lựachọn phương thức M&A như xác định giá trị chuyển đổi, chia - nhập cổphiếu, tài sản, thương hiệu, cơ cấu tổ chức của công ty sau sáp nhập hoặc hợpnhất cần được xem xét một cách cụ thể và là những nội dung thỏa thuận giữahai bên trong bản hợp đồng M&A

1.1.4 Động cơ thực hiện M&A

Dưới sức ép cạnh tranh của môi trường kinh doanh toàn cầu hôm nay,các công ty buộc phải phát triển để tồn tại, và một trong những cách tốt nhất

để tồn tại là hợp nhất hoặc thâu tóm các công ty khác Để công ty của mìnhkhông bị đối thủ cạnh tranh thâu tóm và địa vị của bản thân không bị đe dọa,ban quản trị và điều hành các công ty luôn phải chủ động tìm cơ hội thực hiệnM&A để giành lợi thế cạnh tranh trước thị trường:

Thứ nhất, thay vì cạnh tranh với nhau, các công ty sẽ chuyển sang hợp

tác, sáp nhập, hợp nhất với nhau Chắc chắn số lượng công ty trên cùng thịtrường sẽ giảm đi khi có một thương vụ M&A giữa các công ty vốn là đối thủ

Trang 25

của nhau trên thương trường thành công, cũng có nghĩa là sức nóng cạnhtranh không những giữa các bên liên quan mà cả thị trường nói chung sẽ được

hạ nhiệt Hơn nữa, xu hướng các công ty hiện nay không còn theo mô hìnhcông ty của một chủ sở hữu - gia đình sáng lập, mang tính chất “đóng” nhưtrước, mà các cổ đông bên ngoài ngày càng có vị thế lớn hơn do công ty luôn

có nhu cầu cần thêm vốn Chủ sở hữu chiến lược của các công ty đều có thể

dễ dàng thay đổi, và việc nắm sở hữu chéo của nhau đã trở nên phổ biến

Thứ hai, thông qua hoạt động M&A các công ty có thể nâng cao hiệu

quả kinh tế nhờ quy mô (economies of scale) khi nhân đôi thị phần, giảm chiphí cố định (trụ sở, nhà xưởng), chi phí nhân công, hậu cần, phân phối Cáccông ty còn có thể bổ sung cho nhau về nguồn lực và các thế mạnh khác củanhau như thương hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sởkhách hàng, hay tận dụng những tài sản mà mỗi công ty chưa sử dụng hết giátrị (ví dụ một công ty chứng khoán sáp nhập với một ngân hàng, công ty điệnthoại sáp nhập với công ty cung cấp Internet )

Thứ ba, M&A là phương pháp nhanh nhất để một DN thâm nhập thị

trường mới với mức chi phí và rủi ro thấp nhất Ở những thị trường có sự điềutiết mạnh của chính phủ, việc gia nhập thị trường đòi hỏi DN phải đáp ứngnhiều điều kiện khắt khe, hoặc chỉ thuận lợi trong một giai đoạn nhất định, thìnhững công ty đến sau chỉ có thể gia nhập thị trường đó thông qua M&A với

DN đã hoạt động trên thị trường Điều này rất phổ biến đối với các DN nướcngoài đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là ngành ngân hàng, tài chính, bảo hiểm.Theo cam kết của Việt Nam với WTO, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phépthành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài từ tháng 4/2007, mở chi nhánhnhưng không được lập chi nhánh phụ, không được huy động tiền gửi bằngđồng Việt Nam từ người Việt Nam trong 5 năm Công ty chứng khoán 100%vốn nước ngoài chỉ được thành lập sau 5 năm (vào năm 2012) Như vậy, rõràng nếu các ngân hàng, công ty chứng khoán nước ngoài không muốn chậmchân trong việc cung cấp đầy đủ các dịch vụ và giành thị phần trong giai đoạn

Trang 26

phát triển rất mạnh của thị trường ngân hàng tài chính Việt Nam hiện nay, thì

họ buộc phải mua lại cổ phần của các DN trong nước (cũng chỉ được phépmua tối đa là 30% cổ phần) Hơn nữa, không những tránh được các rào cản vềthủ tục để đăng ký thành lập (vốn pháp định, giấy phép…), bên mua lại còngiảm được chi phí và rủi ro trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất và cơ sởkhách hàng ban đầu Và nếu sáp nhập với một công ty đang ở thế yếu trên thịtrường, những lợi ích này còn lớn hơn giá trị vụ mua bán Trong một sốtrường hợp, mục đích chính của người thực hiện M&A không chỉ là gia nhậpthị trường mà còn nhằm mua lại một ý tưởng kinh doanh có nhiều triển vọng

Thứ tư, nhiều công ty chủ động thực hiện M&A để hiện thực hóa chiến

lược đa dạng hóa sản phẩm hoặc mở rộng thị trường của mình Khi thực hiệnchiến lược này, các công ty sẽ xây dựng được cho mình một danh mục đầu tưcân bằng hơn nhằm tránh rủi ro phi hệ thống Ngoài ra, một số công ty cònthực hiện chiến lược tiến hay lùi trong chuỗi giá trị (forward/backwardintegration) thông qua M&A Lợi ích từ những vụ M&A này đã được nêu ởphần trên, trong hai loại hình sáp nhập dọc và sáp nhập tổ hợp

Trang 27

1.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động M&A

1.2.1 Hợp đồng mua bán và sáp nhập doanh nghiệp

Có thể nói xác lập hợp đồng mua bán và sáp nhập doanh nghiệp(M&A) làkhâu cuối cùng khi hoàn tất thủ tục M&A sau khi trải qua quá trình thẩmđịnh, đàm phán

Mặc dù trên quan điểm quản trị doanh nghiệp hiện đại vấn đề quyền sở hữu

và quyền quản trị được tách bạch riêng rẽ với nhau, thế nhưng với mục đíchthâu tóm nắm giữ quyền quản trị của doanh nghiệp bên mua có thể thông quahoạt động M&A trước tiên nắm giữ quyền sở hữu doanh nghiệp, tiếp theo đó

sẽ nắm giữ quyền quản trị điều hành doanh nghiệp, hay nói cách khác quyềnquản trị doanh nghiệp là quyền phái sinh của quyền sở hữu doanh nghiệp.Việc xác lập quyền sở hữu doanh nghiệp trước tiên được thông qua việc xáclập hợp đồng mua bán doanh nghiệp và sau đó là các thủ tục mua bán doanhnghiệp(M&A) Nói chung hợp đồng mua bán và sáp nhập doanhnghiệp(M&A) cũng đều có những điều khoản cơ bản thông thường của mộthợp đồng mua bán hàng hóa, có chăng hàng hóa được mua bán ở đây là mộtloại hàng hóa đặc biệt đó là doanh nghiệp Bên mua cũng như bên bán phảiđảm bảo duy trì mạch sống của doanh nghiệp cũng như là đảm bảo quyền lợicủa các cổ đông Do vậy trong các điều khoản của hợp đồng mua bán và sápnhập doanh nghiệp đều phải có những điều khoản ràng buộc trách nhiệm đốivới bên mua và bên bán về quyền và nghĩa vụ phát sinh đối với doanh nghiệptrước khi diễn ra hoạt động mua bán doanh nghiệp

Do vậy tại một số nước ví dụ như Nhật Bản, khi ban lãnh đạo của công ty đithâu tóm công ty khác mà không đệ trình được một bản đề án phát triển sảnxuất kinh doanh của công ty sau khi thâu tóm có tính hợp lý, tính hiệu quả vàtính khả thi cao thì khi có đơn kiện và yêu cầu tòa án xét xử và đưa ra nhữngbiện pháp nhằm chống hoạt động thu mua thù địch này thì công ty đi thu muacũng phải chịu phán quyết của tòa án và từ bỏ ý định thâu tóm Ví dụ cụ thể làtrường hợp công ty LIVER DOOR thâu tóm đài truyền hình FUJI TELEVI

Trang 28

Bên mua phải thực hiện nốt những nghĩa vụ với người lao động thông quahợp đồng lao động Bên mua phải thực hiện nghĩa vụ đối với các trái chủthông qua các hợp đồng thương mại, dịch vụ và hợp đồng mua bán hàng hóa.

Do vậy có thể nói cơ sở pháp lý của mua bán và sáp nhập doanh nghiệp đó

là quan hệ hợp đồng

1.2.1.1 Đối tượng của hợp đồng M&A

Trong bất cứ một hoạt động nào, điều kiện đầu tiên để hình thành nênmột thương vụ là phải hội tụ đủ các bên tham gia - bên mua và bên bán Hoạtđộng M&A cũng không nằm ngoài quy luật này, nên trước khi thực hiệnM&A điều đầu tiên phải xác định được đầy đủ các bên tham gia thương vụ,

đó là đối tượng của hợp đồng bằng cách xác định DN mục tiêu Mục đích củaviệc xác định DN mục tiêu đó là tìm đúng DN phù hợp mà DN nhận M&Ađang tìm Tức là tìm được DN đáp ứng được các mục đích và chiến lược củamình

Tuy nhiên, để xác định được DN mục tiêu là việc không dễ dàng, nhất

là trong trường hợp muốn xác định nhiều DN mục tiêu Việc xác định DNmục tiêu về bản chất là lấy được các thông tin chính xác về DN đó Có nhiềucách thức để tiếp cận và có được thông tin Trong số đó, cách thức hợp tác vớinhững tổ chức tài chính (như công ty chứng khoán, quỹ đầu tư…) là mộttrong những cách thức hiệu quả để đạt được mục đích

Trang 29

Khi đã xác định được mục tiêu của mình, thông thường các bên sẽ thành lậpmột nhóm bao gồm những người quản lý, kế toán, các nhà tư vấn tài chính,thuế, pháp lý và nếu là bên mua thì có thể là cả các ngân hàng đầu tư Nhiệm

vụ của nhóm này là tìm kiếm các công ty đối tác mục tiêu của mình Quátrình này có thể dẫn đến việc: nhóm của bên mua sẽ đề xuất để tiến hành việcthẩm tra toàn diện doanh nghiệp bên bán Mục đích của việc thẩm tra doanhnghiệp này là để bên mua có thể đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật,thực trạng hoạt động kinh doanh và quản trị doanh nghiệp của bên bán Cụ thể

là bên mua sẽ xem xét các vấn đề liên quan đến cơ cấu cổ đông, cách thức vàcác quy định của cụng ty về quyền lợi cơ bản của các cổ đông (đặc biệt làquyền lợi của cổ đông thiểu số), các vấn đề về tài chính (các khoản nợ, khoảnvay, các nghĩa vụ và cam kết tài chính, các khoản phải thu, phải trả và bảngcân đối tài sản của doanh nghiệp), chế độ và chuẩn mực kế toán, kiểm toán,việc quản lý và điều hành doanh nghiệp (quyền hạn và trách nhiệm của cácthành viờn hội đồng quản trị, ban điều hành, cơ chế họp hành và biểu quyết),các quy định về lao động, tiền lương, bảo hiểm, môi trường, danh sách cáckhách hàng truyền thống, các hợp đồng chủ yếu đó được bên bán ký và nghĩa

vụ của bên bán theo các hợp đồng này, quyền sở hữu trí tuệ, tranh tụng, khiếunại và các vấn đề khác Việc bên mua quyết định có tiến hành M &A haykhông sẽ phụ thuộc rất nhiều vào kết quả thẩm tra một cách toàn diện các vấn

đề nói trên liên quan đến bên bán

* Đánh giá doanh nghiệp mục tiêu

- Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp mục tiêu

Trước khi tiến hành M&A, công ty nhận M&A cần thẩm định tìnhtrạng tài chính của DN mục tiêu Để đánh giá được tình hình tài chính củamột DN, trước tiên phải xem xét cả các báo cáo tài chính và các bản kê khaithuế của DN trong một khoảng thời gian mới có thể đánh giá được tình trạngtài chính hiện tại và các xu hướng tài chính trong tương lai của DN mục tiêu

DN nhận M&A phải chắc chắn rằng những số liệu đó đã được kiểm toán bởi

Trang 30

một công ty kiểm toán có uy tín và danh tiếng, không nên chấp nhận một bảnđánh giá tài chính sơ sài hoặc một bản hồ sơ lắp ghép, bởi chúng có thể dựatrên những số liệu do DN bị M&A cung cấp Vì vậy, để có thể có cái nhìntoàn diện, đúng đắn về tình hình tài chính của DN, bên mua hay sáp nhậpngoài việc phân tích các số liệu trong báo cáo tài chính cần dựa trên nhiều tàiliệu và tiến hành thẩm định với nhiều cách thức phối hợp khác nhau để có thểtrả lời được các câu hỏi sau: DN đó có ở trong tình trạng tài chính lành mạnhkhông? Các báo cáo tài chính có khớp với các bản kê khai thuế không? Tỷ sốvận hành và bán hàng của DN có phù hợp với mức trung bình trong ngànhkinh doanh đó không?

DN chỉ có thể được thực hiện khi thoả mãn một số điều kiện nhất định nhưphải có giấy phép của sở kế hoạch và đầu tư, quyết định đồng ý của hội đồngquản trị… do vậy giao dịch chỉ có thể kết thúc khi bên bán đã trao cho bênmua những giấy tờ nói trên

Như vậy, có thể nói quá trình này là rất quan trọng đối với hoạt độngM&A, nếu hợp đồng M&A không phản ánh đủ và chính xác tất cả các kết quả

Trang 31

của những công việc trước đó, các mong muốn và kỳ vọng của các bên hayhạn chế không tối đa các rủi ro thì những công việc đã thực hiện sẽ không cógiá trị hoặc giảm giá trị đi rất nhiều cũng như mục đích M&A có thể bị ảnhhưởng không tốt Hợp đồng M&A không chỉ là yếu tố pháp lý, mà còn là sựphối hợp một cách hài hòa các yếu tố có liên quan đến giao dịch M&A khácnhư tài chính, kinh doanh… Chỉ khi kết hợp một cách hoàn chỉnh các yếu tố

có liên quan thì hợp đồng M&A mới thật sự là công cụ để bảo đảm quyền lợicho các bên tham gia giao dịch Việc đàm phán hợp đồng có thể thực hiện tạibất cứ giai đoạn nào, thông thường các bên chỉ chính thức tiến hành đàm phánkhi đã có được một lượng thông tin nhất định về nhau cũng như hiểu đượcmục đích của nhau Giao kết hợp đồng là công đoạn cuối cùng của việc thỏathuận giao dịch M&A Đó là khi các bên đã hiểu rõ về nhau cũng như hiểu rõ

về mục đích và yêu cầu của mỗi bên, hiểu rõ các lợi ích và rủi ro khi thựchiện M&A Hợp đồng là sự thể hiện và ghi nhận những cam kết của các bênđối với giao dịch

1.2.1.3 Nội dung cơ bản của hợp đồng M&A

- Xác định sản nghiệp thương mại của DN bị mua lại, sáp nhập

a) Định giá doanh nghiệp

Một câu hỏi luôn được các cấp QTDN đặt ra khi tiến hành M&A với

DN khác đó là mua ở mức giá bao nhiêu thì có lợi nhất? Và việc định giá DNcũng sẽ ảnh hưởng tới quyết định “mua hay từ bỏ” thương vụ này Nên việcđịnh giá DN thường được các bên tham gia thương vụ M&A rất quan tâm

Thông thường, các bên trong thương vụ M&A đều có cách đánh giákhác nhau về giá trị DN bị M&A: bên bán có khuynh hướng định giá công tycủa mình ở mức cao nhất có thể, trong khi bên mua sẽ cố gắng trả giá thấpnhất trong khả năng có thể Để đưa ra một mức giá công bằng và được cácbên chấp nhận, các chuyên gia đã đưa ra nhiều phương pháp định giá DN vàmỗi phương pháp cho một đáp án khác nhau, con số cao nhất có thể cách xacon số thấp nhất Tuy nhiên, trong hoạt động M&A, giá trị của một DN

Trang 32

(Value) được “định” với một số giả thuyết chủ quan, khác với giá (Price) làgiá trị thuận mua vừa bán Mức giá các nhà QTDN quan tâm là mức giá cuốicùng mà người mua và người bán có thể gặp nhau Mục đích định giá của bênmua và bên bán là chỉ để tính bài toán giá trị với một số giả thuyết chủ quantương đối hợp lý, nhưng sẽ có lợi cho bên họ để làm khởi điểm cho cuộcthương thuyết M&A Các nhà QTDN sẽ giao cho các chuyên gia định giá làmcông việc định lượng này nhưng giá cuối cùng của thương vụ thường đượcquyết định bởi những yếu tố định tính.

Trong các phương pháp định giá DN, giá trị lớn nhất của DN là conngười thì thường chưa được tính đến – một điểm bất cập trong các phươngpháp định giá Chính vì vậy, nhân sự, hệ thống tổ chức quản lý, văn hoá DN

là những yếu tố không dễ dàng định lượng nhưng lại là giá trị định tính đượcthuyết phục trong cuộc thương thuyết M&A Mặc dù vậy, bên mua hay sápnhập không thể coi nhẹ việc định giá DN bằng định lượng vì đấy là giá khởiđầu cho một thương vụ M&A

b) Định giá thương hiệu

Giá trị thương hiệu là một yếu tố vô hình, giá trị này chỉ có thể địnhđược ở một mức độ tương đối cho những DN đã có một quá trình hoạt động

ổn định lâu dài và đã được niêm yết Việc định giá thương hiệu một cáchchính xác là vô cùng quan trọng trong quá trình đàm phán và quyết định giácuối cùng cho cả hai bên khi tiến hành M&A Vì nếu bên mua hay nhận sápnhập không nắm bắt được chính xác giá trị thương hiệu DN, bên bán có thểđưa ra mức giá chào bán quá cao so với thực tế và rất khó đi đến một mức giáchung Có nhiều cách định giá thương hiệu, có thể tính giá trị thương hiệubằng tổng giá trị cổ phiếu của công ty trừ đi tổng giá trị tài sản, hoặc theocách tính dựa trên tổng giá trị thu nhập hàng năm cho một khoảng thời giantrong tương lai Hoặc cũng có thể tính giá trị thương hiệu giống như ngânhàng Vietcombank định giá bằng cách lấy giá trung bình của các nhà đầu tưnước ngoài nộp thầu trừ cho tổng giá trị tài sản của Vietcombank Tuy nhiên,

Trang 33

đây cũng chỉ là một cách tính tương đối vì giá trị tài sản cũng chỉ được định ởmột mức độ tùy theo từng cách tính.

Trang 34

- Xử lí nợ của DN bị mua lại, sáp nhập

Việc xác định rõ các khoản nợ của DN bị mua lại, sáp nhập giúp cho bên mua có thể định giá chính xác giá trị của doanh nghiệp Bên mua có thể vẫn chấp nhận tiếp tục thâu tóm hoặc sáp nhập DN mặc dù DN này bị nợ nần một khi phán đoán được khả năng sinh lời trong tương lai Ví dụ như Ngân hàng Liên Việt vừa qua đã tiến hành sáp nhập với Công ty tiết kiệm Bưu điện và đổi tên thành Ngân hàng Bưu điện Liên việt, khi tiến hành đàm phán, thực hiện thủ tục sáp nhập Ngân hàng Liên Việt đã chấp nhận khoản lỗ hơn 400 tỷ đồng của Công ty tiết kiệm Bưu điện, đổi lại Ngân hàng Liên Việt có thể sử dụng toàn bộ hệ thống đại lý của Công ty tiết kiệm Bưu điện trên toàn quốc.Hiện nay trên thế giới tồn tại một nghề là nghề mua lại các DN làm ăn thua

lỗ, tiến hành tái cấu trúc lại DN, vực DN này lên làm ăn có lãi, rồi lại bán đi.Bên mua có thể thỏa thuận với ngân hàng cấp vốn và vay vốn để mua lại cổ phần đồng thời để chi trả các khoản nợ của DN bị mua lại

Để tránh bị thu mua thù địch DN bị thâu tóm cũng có thể tìm kiếm một bên thứ ba mua lại DN theo phương thức thua mua thân thiện nên người ta gọi cách này “kỵ sỹ áo trắng” Bên thứ ba thu mua thân thiện này có thể cứu giúpcác khoản nợ của DN bị thu mua, đưa DN ra khỏi thời kỳ khó khăn

- Xử lí các hợp đồng còn dang dở của DN bị mua lại, sáp nhập

Một trong những nguyên tắc của M&A là phải đảm bảo quyền lợi của các tráichủ và cổ đông, do vậy để tránh xung đột tranh chấp có thể xảy ra sau quá trình mua lại sáp nhập Bên bị mua lại(hoặc bên bị sáp nhập) và Bên đi mua lạicần có điều khoản trong hợp đồng mua bán DN quy định rõ việc tiếp tục thực hiện những trái vụ còn đang dang dở nhằm đảm bảo quyền lợi các trái chủ và không tổn hại đến uy tín và thương hiệu DN

Trong Luật DN Việt Nam 2005 Điều 159 khoản 6 cũng đã quy định : Các hoạt động bị cấm từ khi có quyết định giải thể: “ Chấm dứt hợp đồng đã có hiệu lực”

- Xử lí quan hệ lao động của DN bị mua lại, sáp nhập….

Trang 35

Pháp luật Nhật Bản cũng quy định rõ ràng về việc tiếp tục thực hiện hợp đồnglao động trong M&A, đó là trong Luật kế thừa hợp đồng lao động trong sápnhập và chia tách DN.

Pháp luật Việt Nam cũng có những quy định về ưu tiên chi trả tiền lương chongười lao động khi công ty giải thể hoặc sáp nhập

- Điều khoản hậu M&A

Lợi ích từ các thương vụ M&A là vô cùng to lớn, nhưng đi kèm theo nó

là rất nhiêu khó khăn phát sinh sau khi thực hiện M&A Các DN không thểtránh khỏi việc phải đối mặt với những vấn đề khá phức tạp như độc quyền,thuế, kế toán, chuyển đổi tài sản, phân chia lợi nhuận, giải quyết các khoản nợchưa thanh toán của mỗi DN, giải quyết lao động dư thừa, môi trường vănhoá DN, trách nhiệm bảo vệ môi trường, tính toán các vấn đề hậu sát nhậplàm sao cho giá trị DN ngày càng tăng để hấp dẫn các nhà đầu tư

Tùy đặc điểm và mục tiêu của từng vụ M&A, nếu DN mục tiêu đanghoạt động tốt và mục đích sáp nhập nhằm thâu tóm tài sản cũng như nguồn lợinhuận thì việc thay đổi ban điều hành cũng như cơ cấu lại tổ chức của DN bịsáp nhập thường không xảy ra DN sáp nhập sẽ chỉ tiếp quản các chức danhtrong ban quản trị để thực hiện quyền chủ sở hữu, trong khi giữ DN bị sápnhập cùng ban điều hành hoạt động bình thường và độc lập như một DNthành viên của mình Trong trường hợp ngược lại, nếu DN mục tiêu đang thua

lỗ và xuống dốc, DN sáp nhập hy vọng sẽ thực hiện được một cuộc “lộingược dòng” (turn - around), thì ban điều hành cũ được thay thế bằng banđiều hành mới, cơ cấu tổ chức sẽ bị xáo trộn hoặc sáp nhập thẳng vào cácphòng ban của DN mới và nhân công bị sa thải hàng loạt Do đó, để tránh sựphản đối có thể đến từ phía công đoàn, các bên cần thỏa thuận cả vấn đề chế

độ bồi thường hợp lý cho các nhân viên và công nhân một khi bị hãng mới sathải

Một điểm đáng chú ý là hầu hết các thương vụ M&A đều thất bại trong việchòa nhập văn hóa của các DN với nhau Văn hóa DN là một thực thể trừu

Trang 36

tượng và vô hình, gắn chặt với lịch sử phát triển, tài sản nhân lực và chínhsách của từng DN7, và đúng ra phải được tính vào tài sản chung của DN đó.

Do đó, chúng không dễ tìm được tiếng nói chung và thỏa hiệp, kể cả khi banlãnh đạo của hai DN đồng lòng thực hiện hợp nhất Vì vậy, để có thể tránhđược những xung đột văn hóa tiềm tàng, ban quản trị DN sáp nhập cần thựchiện những hoạt động tuyên truyền định hướng về các chính sách, chế độ liênquan một cách sâu rộng cho các nhân viên ở mọi cấp của cả hai doanh DN,đồng thời xây dựng cho DN mới một chiến lược hòa nhập văn hóa DN vớitầm nhìn mới để có thể lôi cuốn toàn bộ nguồn nhân lực DN vào những sứmệnh lớn lao hơn những lợi ích và văn hóa cục bộ trước đây của mình

1.2.2 Giới hạn của chính sách và pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động M&A

Nhu cầu đối với hoạt động M&A là rất lớn trong mọi lĩnh vực tài chính, ngân hàng chứng khoán, viễn thông Lý do của M&A thì có rất nhiều, có thể DN muốn tăng cường sức mạnh, mở rộng kinh doanh, tái cấu trúc lại DN để vượt qua giai đoạn khó khăn Thế nhưng, M&A lại có khả năng dẫn đến sự độc quyền trên thị trường bằng việc chiếm thị phần lớn sau khi sáp nhập

Theo Luật Cạnh tranh, các doanh nghiệp không được thực hiện tập trung kinh

tế nếu thị phần kết hợp chiếm trên 50% Trong khi đó, Sách Trắng Công nghệthông tin năm 2011 cho thấy, Viettel chiếm 36,72% thị phần, MobiFonechiếm 29,11% và VinaPhone chiếm 28,71% thị phần Các doanh nghiệp cònlại chỉ chiếm hơn 5% thị phần Như vậy, với việc nắm giữ đến hơn 55% thịphần viễn thông hậu sáp nhập MobiFone-VinaPhone, đề án tái cơ cấu của Tậpđoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) có thể vướng luật Cạnh tranh

1.3 Các mô hình kiểm soát hoạt động M&A điển hình trên thế giới

Mỗi quốc gia khi xây dựng hệ thống pháp lý về kiểm soát hoạt độngM&A đều có hai vấn đề lớn cần chú trọng, đó là bảo vệ quyền lợi cổ đông -nhất là cổ đông thiểu số và bảo vệ tính cạnh tranh của thị trường Với các cổđông lớn, họ luôn biết cách và có đủ công cụ cũng như thẩm quyền để bảo vệquyền lợi của mình trong các vụ M&A Nhưng với các cổ đông thiểu số, họ

có thể bị gạt ra khỏi các quyết định M&A Nếu không được quan tâm, lợi íchcủa nhóm này rất có khả năng bị bỏ qua, thậm chí còn bị lợi dụng để làm lợi

7 Chủ biên PGS.Ts Lê Văn Tâm, Ts Ngô Kim Thanh, Giáo trình quản trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản lao động – xã hội, tr 295

Trang 37

cho các cổ đông lớn Chính vì vậy, nhà nước kiểm soát hoạt động M&A phảidựa trên góc độ bảo vệ lợi ích cổ đông thiểu số Tuy nhiên, điều này lại có thểthực hiện được khi điều lệ công ty quy định nâng cao yêu cầu tỷ lệ phiếu bầucần phải đạt được trong các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông để thông quanhững quyết định lớn của công ty trong đó có hoạt động M&A Do vậy, trọngtâm lớn nhất của nhà nước về kiểm soát hoạt động M&A là bảo vệ tính cạnhtranh của thị trường Nhà nước cần chống lại nguy cơ dẫn tới độc quyền màmột thương vụ M&A có thể mang lại.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc kiểm soát hoạt động M&A đượcxem xét, điều tiết chủ yếu dưới góc độ của pháp luật về cạnh tranh theo cơchế kiểm soát tập trung kinh tế Tập trung kinh tế là khái niệm dùng để chỉnhiều cách thức tích tụ, tập trung của DN trên thị trường nhằm hình thành DNlớn hơn hay liên kết với DN khác Chủ thể của tập trung kinh tế là các DNhoạt động trên thị trường Các DN tham gia tập trung kinh tế có thể là các DNhoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan Hình thức tậptrung kinh tế bao gồm: sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các

DN Các DN tham gia tập trung kinh tế đã chủ động tích tụ các nguồn lựckinh tế như vốn, lao động, kỹ thuật, năng lực quản lý, tổ chức kinh doanh…

mà chúng đang nắm giữ riêng lẻ để hình thành một khối thống nhất hoặc phốihợp hình thành các nhóm DN, các tập đoàn kinh tế Tập trung kinh tế khácvới việc tích tụ tư bản Tích tụ tư bản là tăng thêm tư bản dựa vào tích lũy giátrị thặng dư, biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản Có thể thấy rằng,tích tụ tư bản là quá trình phát triển nội sinh của một DN theo thời gian bằngkết quả kinh doanh Một DN có thể tích tụ tư bản để có được vị trí đáng kểtrên thị trường, song để điều đó xảy ra đòi hỏi một khoảng thời gian khá dài.Trong khi đó, tập trung kinh tế cũng có dấu hiệu của sự tích tụ nhưng khôngphải từ kết quả kinh doanh mà từ hành vi của DN Tập trung kinh tế đã hìnhthành nên DN có năng lực cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm DN,

Trang 38

tập đoàn kinh tế, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnhtranh hiện có trên thị trường.

Kiểm soát tập trung kinh tế hay kiểm soát hoạt động M&A có thể đượcthực hiện thông qua thủ tục hành chính, thủ tục xét xử tại toà án hoặc áp dụngđồng thời cả hai thủ tục Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy cónhiều cách thức điều chỉnh bằng pháp luật khác nhau đối với cơ chế kiểm soáthoạt động M&A: bằng những luật chống độc quyền riêng biệt (như ở Áo, TâyBan Nha, Canada, Đức, Thụy Sỹ); bằng luật chống độc quyền và những quyphạm chung trong Luật Dân sự (như ở Italia, Pháp), bằng những luật chốngđộc quyền và bằng án lệ (ở Anh, Mỹ) Nhìn chung, trên thế giới tồn tại hai môhình chính của cơ chế kiểm soát hoạt động M&A cơ bản là mô hình kiểu Mỹ

và mô hình kiểu châu Âu Mô hình kiểu Mỹ được áp dụng ở Mỹ, Canada,Achentina và nhiều nước khác Mô hình châu Âu được áp dụng ở các nướcChâu Âu, Úc, New Zeland, Nam Phi

1.3.1 Mô hình kiểm soát kiểu Mỹ

Tại Mỹ, người ta cấm hoạt động M&A và độc quyền về mặt hình thức

Mỹ là nước mà chủ nghĩa tư bản đã có bước phát triển rất nhanh trong thế kỷXIX Sự tích tụ tư bản dưới hình thức Trust (tờ - rớt)8 đã làm cho một sốngành công nghiệp của Mỹ như thuốc lá, sắt, đường rơi vào tay những tậpđoàn tư bản lũng đoạn Sự lạm dụng vị thế của những tập đoàn này trên thịtrường vào cuối thế kỷ XIX đã buộc Chính phủ Mỹ phải ban hành những đạoluật chống Trust

Mỹ có lẽ là một trong những nước đi đầu về kinh nghiệm thực hiệnkiểm soát hoạt động M&A Luật chống độc quyền Sherman9 được ban hành

từ năm 1890 Tuy nhiên, những viện dẫn luật của Quốc hội lại phụ thuộc rấtlớn vào xu hướng và quan điểm của Tòa án trong từng thời kỳ khác nhau Ví

8 Trust (tờ -rớt) là sự kết hợp các tập đoàn mà cổ đông của mỗi tập đoàn lại giao cổ phần cho các ủy viên quản trị quản lý Trust tạo ra sự kết hợp trên quy mô lớn, tập trung kiểm soát và điều hành, dùng chung các bằng phát minh sáng chế Http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ushistory_8.html

9 Nội dung chủ yếu là cấm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Trang 39

dụ, trong vụ Northern Securities Co v US.10 (1904), Tòa án tối cao đã đưa raphán quyết cấm tất cả những vụ M&A giữa hai đối thủ cạnh tranh trực tiếptrên cùng một thị trường (sáp nhập ngang) Đến năm 1914, Thượng nghị việntiếp tục ban hành đạo Luật Clayton11 nhằm cứu vãn Luật Sherman vốn bịgiảm hiệu lực qua vụ M&A của tập đoàn dầu lửa Standard Oil Co Mỹ(1911)12, theo đó Luật đưa những vụ sáp nhập bằng cổ phiếu vào đối tượng bịcấm Mặc dù vậy, các công ty Mỹ vẫn dễ dàng lách luật bằng cách thực hiệnsáp nhập, mua lại tài sản ví dụ vụ Thatcher Manufacturing Co v FTC -

192613 Do đó, đến năm 1950 Luật Celler-Kefauver14 ra đời nhằm cấm cảnhững vụ sáp nhập thông qua mua tài sản

Điểm đáng chú ý là sự phát triển khá rõ nét trong quan điểm của Tòa án

Mỹ về cách thức xác định và đánh giá mức độ nguy cơ đối với tính cạnh tranhcủa vụ M&A Cho đến thập niên 60, Tòa án vẫn dựa vào những số liệu thống

kê về thị phần, doanh thu, và mức độ tập trung cạnh tranh như một công cụchủ yếu để rà soát các vụ M&A Tuy nhiên, trong vụ United States v.General Dynamics năm 197415, họ đã rời bỏ cách tiếp cận này với quan điểmmới rằng “các vụ sáp nhập phải được nghiên cứu sâu sắc trên tất cả bình diện:

cơ cấu, lịch sử, và triển vọng” để có thể phán quyết vụ sáp nhập ấy có phá vỡtính cạnh tranh của thị trường hay không Phương pháp luận này được sửdụng phổ biến cho đến ngày nay

Về các định chế quản lý M&A, đạo luật ủy ban Thương mại liên bang

Mỹ (FTC) - thành lập cơ quan cạnh tranh tại Mỹ năm 1914 đã quy định “ngăncấm mọi hành vi không lành mạnh đe dọa tính cạnh tranh của thị trường”; vàtrao cho cơ quan hành pháp nước này chức năng độc lập thực thi các luậtchống độc quyền của liên bang Tiếp theo, năm 1976 Luật chống độc quyền

10 http://en.wikipedia.org/wiki/Northern_Securities_Co._v._United_States

11 Bổ sung Luật Sherman thêm bốn hành vi: cấm phân biệt đối xử về giá, cấm ký kết hợp đồng mang tính độc quyền hoặc có nội dung ràng buộc; cấm việc chiếm vốn giữa các công ty; cấm kiêm nhiệm chức vụ)

12 http://en.wikipedia.org/wiki/Standard_Oil_Co._of_New_Jersey_v._United_States

13 Trang 272.US.554,564; http://cte.rockhurst.edu/FileUploads/indthatcher.doc

14 Quy định việc kiểm soát sáp nhập, mua lại

15 http://supreme.justia.com/us/415/486/

Trang 40

Hart-Scott-Rodino (HSR)16 bắt buộc các bên liên quan phải thông báo và nộp

hồ sơ thẩm tra lên FTC và Bộ Tư pháp trước khi hoàn tất vụ M&A Quy địnhnày được áp dụng đối với tất cả những vụ M&A mà một trong hai bên códoanh thu trên 100 triệu USD và bên còn lại trên 10 triệu USD, với giá trịchuyển nhượng vượt quá 15 triệu USD Nếu các công ty thuộc đối tượng nhưtrên thực hiện M&A mà không qua thẩm tra của FTC và Bộ Tư pháp sẽ bịhủy thỏa thuận chuyển nhượng và có thể bị phạt lên đến 10.000USD/ngày Luật HSR cũng quy định thời hạn thẩm tra là 15 ngày đối với một

vụ M&A qua chào thầu bằng tiền mặt, và 30 ngày đối với các vụ khác Cơquan quản lý nhà nước có thể yêu cầu các bên bổ sung thông tin lần thứ 2 vàgia hạn thêm tối đa là 10 ngày đối với sáp nhập chào thầu và 20 ngày đối vớicác vụ sáp nhập theo hình thức khác Qua thời hạn trên, các bên mới có thểkết thúc thủ tục cho vụ chuyển nhượng và đi vào hoạt động chung Sau thờihạn này, cơ quan liên bang không thể kiện ra tòa đòi hủy bỏ vụ sáp nhập Mặc

dù vậy, các bên liên quan vẫn có thể bị kiện bởi chính quyền bang và một cánhân khác

Cho đến những năm đầu thập niên 80, dưới chính quyền Tổng thống

Mỹ Ronald Reagan, chính quyền liên bang đã thực hiện điều chỉnh nhiềuchính sách theo hướng cho phép các vụ M&A rộng rãi hơn Bản hướng dẫnM&A đã được Bộ Tư pháp và FTC thiết kế vào năm 1992 nhằm cung cấpthêm công cụ để tất cả các bên có cơ sở phân tích các vụ sáp nhập được đềxuất Bản hướng dẫn đưa ra 5 câu hỏi tổng quát: (1) Vụ sáp nhập có tạo rathay đổi nào lớn theo hướng tập trung hóa thị trường không? (2) Vụ sáp nhập

có khả năng gây ra những hệ quả xấu cho tính cạnh tranh? (3) Liệu khả nănggia nhập thị trường của các chủ thể mới có thể kịp làm thay đổi lại tình trạngthiếu cạnh tranh của thị trường? (4) Vụ sáp nhập có làm tăng hiệu suất và hiệuquả mà các bên trong đó không thể làm được bằng một cách khác? (5) Nếu vụ

16 http://en.wikipedia.org/wiki/Hart-Scott-Rodino_Antitrust_Improvements_Act

Ngày đăng: 21/07/2014, 09:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chủ biên Ts. Mai Văn Bưu, Ts. Phan Kim Chiến (2004), Giáo trình Lý thuyết quản trị kinh doanh, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, tr 5-6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết quản trị kinh doanh
Tác giả: Chủ biên Ts. Mai Văn Bưu, Ts. Phan Kim Chiến
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2004
2. Dương Hữu Hạnh, Nhà sách Lộc, Giáo trình quản trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê, tr 13; 158-159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị doanh nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
3. Chủ biên PGS.Ts. Lê Văn Tâm, Ts. Ngô Kim Thanh, Giáo trình quản trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản lao động – xã hội, tr 8-9; 27- 31, 295 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị doanh nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động – xã hội
4. Chủ biên TS. Nghiêm Xuân Đạt, GS.TS Tô Xuân Dân, TS Vũ Trọng Lâm, Phát triển và quản lý các DN ngoài quốc doanh, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2002, tr. 5; 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý các DN ngoài quốc doanh
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
5. Luật doanh nghiệp năm 2005, Nhà xuất bản thống kê, tr 6; 171-174 6. Luật đầu tư, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 Phân biệt M&A dưới góc độ pháp lý 9 Bảng 2 Tổng giá trị & số lượng vụ M&A ở Việt Nam 61 Bảng 3 Các thương vụ M&A có giá trị cao ở Việt Nam năm 2007 61 - NHỮNG vấn đề PHÁP lí về MUA bán và sáp NHẬP DOANH NGHIỆP (ma) tại NHẬT bản và một số bài học KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Bảng 1 Phân biệt M&A dưới góc độ pháp lý 9 Bảng 2 Tổng giá trị & số lượng vụ M&A ở Việt Nam 61 Bảng 3 Các thương vụ M&A có giá trị cao ở Việt Nam năm 2007 61 (Trang 5)
Bảng 1: Phân biệt M&A dưới góc độ pháp lý - NHỮNG vấn đề PHÁP lí về MUA bán và sáp NHẬP DOANH NGHIỆP (ma) tại NHẬT bản và một số bài học KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Bảng 1 Phân biệt M&A dưới góc độ pháp lý (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w