1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” của mặc tử và ý nghĩa của chúng trong xây dựng đạo đức của người việt nam hiện nay

87 3,4K 30

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” của mặc tử và ý nghĩa của chúng trong xây dựng đạo đức của người Việt Nam hiện nay
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Đạo đức học
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 373 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Loài người ngày càng nhận thức rõ sự phát triển của một đất nước không chỉ là phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ. Sự giàu có vật chất, phương tiện tiêu dùng, kỹ thuật chỉ mới là những điều kiện quan trọng, thực hiện lý tưởng sống cao đẹp nhất của con người là cuộc sống văn minh, hạnh phúc. Đáp ứng cuộc sống văn minh, hạnh phúc gồm nhiều yếu tố trong đó văn hóa đạo đức chiếm một vị trí quan trọng. Người ta cũng thấy được rằng, văn hóa không chỉ là yếu tố phát sinh, song song tồn tại với cuộc sống, mà nó nằm ngay trong cuộc sống, là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào phát triển được nếu nó đứng cô lập, tách rời với các nền văn hóa khác. Như chúng ta đã thấy vào thời cổ đại, nhiều tộc người da đỏ châu Mỹ và da đen Nam Phi đã đạt được trình độ phát triển cao nhưng do bị ngăn cách bởi các đại dương và sa mạc cho nên các nền văn minh ấy bị suy thoái dần dần. Trong thời cận đại thì Trung Hoa thi hành “chính sách bế quan tỏa cảng” tự ru ngủ mình bằng hào quang của quá khứ và đã dẫn đến tình trạng trì trệ. Còn Nhật Bản thì chủ trương mở của, tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của phương Tây với nền tảng văn hóa, đạo lý truyền thống dân tộc, nên đã phát triển nhanh. Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới, vì vậy chúng ta đã nhận thức ra được việc phát triển kinh tế như thế nào cho phù hợp với xu hướng của thế giới trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời đánh giá về kết quả thu được cho nền văn hóa nước nhà, nhất là về văn hóa đạo đức khi gia nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu. Thêm vào đó, thấy được sự giao lưu, hòa trộn giữa các nền văn hóa khác nhau của nhân loại. Hiện nay, khi mà đất nước chúng ta đang tiến hành mở cửa hội nhập với các quốc gia trên thế giới, ngoài việc tiếp thu được các thành tựu khoa học tiên tiến cùng với những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, thì chúng ta còn chịu ảnh hưởng lớn về mặt đời sống xã hội, mà cụ thể là mặt đạo đức. Nền đạo đức Việt Nam chịu sự tác động của kinh tế thị trường có nhiều điểm tích cực nhưng đồng thời nó cũng làm nảy sinh một số hiện tượng tiêu cực, gây mất ổn định trong đời sống đạo đức của người dân trong các tỉnh thành khắp cả nước. Nền kinh tế mở mang tới cho con người cách sống năng động, linh hoạt trong việc xử lý mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng đồng thời nó đã làm cho con người sống thực dụng hơn, mối quan hệ tình cảm tốt đẹp giữa người với người giờ đây bị chi phối bởi tiền bạc, địa vị, lợi ích cá nhân, những giá trị truyền thống của cha ông giờ đây đã bị phai nhạt đi trong lối sống của tầng lớp trẻ. Những biểu hiện này chính là mầm mống cho một quan niệm sống thực dụng nếu chúng ta không có biện pháp kịp thời ngăn chặn thì có thể dẫn tới việc mất cân bằng xã hội, mất đi niềm tin của giới trẻ vào xã hội tương lai, làm cho họ không có được nền tảng vững chắc để chuẩn bị cho công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Chính vì thế, trong khi Việt Nam đang nổ lực hết mình để vươn lên sánh vai cùng bạn bè năm châu về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, thì vấn đề đạo đức mới được rất nhiều người quan tâm. Đảng và nhà nước ta trong các chính sách của mình cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới vấn đề này. Việc xây dựng đời sống đạo đức mới cho người dân phải lấy những tư tưởng truyền thống làm nền tảng như tư tưởng Nho gia, Mặc gia, đạo Phật, đạo Thiên Chúa v.v… Ở mỗi học thuyết, tôn giáo chúng ta đều chọn lọc lấy những giá trị đạo đức tốt đẹp, phù hợp với cuộc sống của con người trong giai đoạn hiện nay, sau khi đã gạt bỏ đi tính chất duy tâm thần bí của những tư tưởng ấy và có sự cải biến phù hợp. Nghiên cứu tư tưởng của Mặc Tử ở nhiều khía cạnh khác nhau như “Phi công”, “Thượng đồng”, “Thượng hiền”, “Tiết dụng”, “Phi nhạc”, “Tiết táng” với những nội dung có thể vận dụng vào việc xây dựng đời sống đạo đức mới của người Việt Nam hiện nay, đặc biệt là học thuyết “kiêm ái”. Đây là một tư tưởng về việc xây dựng khối đại đoàn kết nhằm đưa xã hội đi lên xuất phát từ tình yêu thương giữa con người với con người, không phân biệt sang hèn. “kiêm ái là yêu thương con người”, là sự gắn bó lợi ích giữa con người với nhau trong xã hội. Để đi tới xây dựng một xã hội đại đồng, con người sống với nhau chan hòa, tình cảm. Hiện nay, chúng ta đang phải chứng kiến sự suy đồi về đạo đức của một bộ phận người trong xã hội, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên. Đạo đức suy thoái làm cho mối quan hệ giữa người với người bị cách biệt, sự thương cảm giữa những con người với nhau bị phai nhạt đi ngay cả trong gia đình nơi mà tình cảm con người gắn bó nhất. Thế nên cần phải có biện pháp tích cực để khắc phục những hạn chế, tiêu cực trên. Với lý do này tôi đi đến việc lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử và ý nghĩa của chúng trong xây dựng đạo đức của người Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Loài người ngày càng nhận thức rõ sự phát triển của một đất nướckhông chỉ là phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ Sự giàu có vật chất,phương tiện tiêu dùng, kỹ thuật chỉ mới là những điều kiện quan trọng, thựchiện lý tưởng sống cao đẹp nhất của con người là cuộc sống văn minh, hạnhphúc Đáp ứng cuộc sống văn minh, hạnh phúc gồm nhiều yếu tố trong đó vănhóa đạo đức chiếm một vị trí quan trọng Người ta cũng thấy được rằng, vănhóa không chỉ là yếu tố phát sinh, song song tồn tại với cuộc sống, mà nó nằmngay trong cuộc sống, là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Lịch sử cho thấy, không một nền văn hóa nào phát triển được nếu nóđứng cô lập, tách rời với các nền văn hóa khác Như chúng ta đã thấy vào thời

cổ đại, nhiều tộc người da đỏ châu Mỹ và da đen Nam Phi đã đạt được trình

độ phát triển cao nhưng do bị ngăn cách bởi các đại dương và sa mạc cho nêncác nền văn minh ấy bị suy thoái dần dần Trong thời cận đại thì Trung Hoathi hành “chính sách bế quan tỏa cảng” tự ru ngủ mình bằng hào quang củaquá khứ và đã dẫn đến tình trạng trì trệ Còn Nhật Bản thì chủ trương mở của,tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến của phương Tây với nền tảng văn hóa, đạo

lý truyền thống dân tộc, nên đã phát triển nhanh Việt Nam là một trongnhững quốc gia trên thế giới, vì vậy chúng ta đã nhận thức ra được việc pháttriển kinh tế như thế nào cho phù hợp với xu hướng của thế giới trong giaiđoạn hiện nay Đồng thời đánh giá về kết quả thu được cho nền văn hóa nướcnhà, nhất là về văn hóa đạo đức khi gia nhập vào nền kinh tế thị trường toàncầu Thêm vào đó, thấy được sự giao lưu, hòa trộn giữa các nền văn hóa khácnhau của nhân loại

Hiện nay, khi mà đất nước chúng ta đang tiến hành mở cửa hội nhậpvới các quốc gia trên thế giới, ngoài việc tiếp thu được các thành tựu khoa học

Trang 2

tiên tiến cùng với những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, góp phần thúc đẩysản xuất phát triển, thì chúng ta còn chịu ảnh hưởng lớn về mặt đời sống xãhội, mà cụ thể là mặt đạo đức Nền đạo đức Việt Nam chịu sự tác động củakinh tế thị trường có nhiều điểm tích cực nhưng đồng thời nó cũng làm nảysinh một số hiện tượng tiêu cực, gây mất ổn định trong đời sống đạo đức củangười dân trong các tỉnh thành khắp cả nước.

Nền kinh tế mở mang tới cho con người cách sống năng động, linh hoạttrong việc xử lý mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Nhưngđồng thời nó đã làm cho con người sống thực dụng hơn, mối quan hệ tình cảmtốt đẹp giữa người với người giờ đây bị chi phối bởi tiền bạc, địa vị, lợi ích cánhân, những giá trị truyền thống của cha ông giờ đây đã bị phai nhạt đi tronglối sống của tầng lớp trẻ Những biểu hiện này chính là mầm mống cho mộtquan niệm sống thực dụng nếu chúng ta không có biện pháp kịp thời ngănchặn thì có thể dẫn tới việc mất cân bằng xã hội, mất đi niềm tin của giới trẻvào xã hội tương lai, làm cho họ không có được nền tảng vững chắc để chuẩn

bị cho công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh

Chính vì thế, trong khi Việt Nam đang nổ lực hết mình để vươn lênsánh vai cùng bạn bè năm châu về mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa, thì vấn

đề đạo đức mới được rất nhiều người quan tâm Đảng và nhà nước ta trongcác chính sách của mình cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới vấn đề này.Việc xây dựng đời sống đạo đức mới cho người dân phải lấy những tư tưởngtruyền thống làm nền tảng như tư tưởng Nho gia, Mặc gia, đạo Phật, đạoThiên Chúa v.v… Ở mỗi học thuyết, tôn giáo chúng ta đều chọn lọc lấynhững giá trị đạo đức tốt đẹp, phù hợp với cuộc sống của con người trong giaiđoạn hiện nay, sau khi đã gạt bỏ đi tính chất duy tâm thần bí của những tưtưởng ấy và có sự cải biến phù hợp

Nghiên cứu tư tưởng của Mặc Tử ở nhiều khía cạnh khác nhau như

“Phi công”, “Thượng đồng”, “Thượng hiền”, “Tiết dụng”, “Phi nhạc”, “Tiết

Trang 3

táng” với những nội dung có thể vận dụng vào việc xây dựng đời sống đạođức mới của người Việt Nam hiện nay, đặc biệt là học thuyết “kiêm ái” Đây

là một tư tưởng về việc xây dựng khối đại đoàn kết nhằm đưa xã hội đi lênxuất phát từ tình yêu thương giữa con người với con người, không phân biệtsang hèn “kiêm ái là yêu thương con người”, là sự gắn bó lợi ích giữa conngười với nhau trong xã hội Để đi tới xây dựng một xã hội đại đồng, conngười sống với nhau chan hòa, tình cảm

Hiện nay, chúng ta đang phải chứng kiến sự suy đồi về đạo đức củamột bộ phận người trong xã hội, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên Đạo đứcsuy thoái làm cho mối quan hệ giữa người với người bị cách biệt, sự thươngcảm giữa những con người với nhau bị phai nhạt đi ngay cả trong gia đình -nơi mà tình cảm con người gắn bó nhất Thế nên cần phải có biện pháp tíchcực để khắc phục những hạn chế, tiêu cực trên Với lý do này tôi đi đến việc

lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết

“Kiêm ái” của Mặc Tử và ý nghĩa của chúng trong xây dựng đạo đức củangười Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Tư tưởng của Mặc Tử đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đi sâuvào nghiên cứu với nhiều công trình và khai thác dưới nhiều góc độ khácnhau Có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu như: PGS TS Đoàn ĐứcHiếu, "Lịch sử triết học phương Đông" (Huế, 2002); Phùng Hữu Lan, "Đạicương triết học sử Trung Quốc" (Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1968, Bản dịch củaNguyễn Văn Dương); Hồ Thích, "Trung Quốc triết học sử" (Khai Trí, SàiGòn, 1969, Bản dịch của Huỳnh Minh Đức) Các tác phẩm này, nêu lên mộtcách tóm tắt thân thế sự nghiệp và những nội dung cơ bản nhất trong tư tưởngtriết học của Mặc Tử

PTS Vũ Tình, "Đạo đức học phương Đông cổ đại" (Nhà xuất bảnChính trị quốc gia, Hà Nội, 1998) Tác phẩm này tác giả đã trình bày đạo đức

Trang 4

của xã hội và đạo đức trong sinh hoạt đời thường xuất phát từ luận điểm

“kiêm ái” của Mặc Tử

Cao Xuân Huy, "Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn thamchiếu" (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1995) Thảo đường cư sĩ Trần VănHải Minh, "Bách gia chư tử" (Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học Thànhphố Hồ Chí Minh, 1991) Trần Đình Hượu, "Các bài giảng về tư tưởngphương Đông" (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002) GS La QuốcViệt, "Tu dưỡng đạo đức tư tưởng" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,2003) Nguyễn Gia Phu, Nguyễn Huy Quý, "Lịch sử Trung Quốc" (Nhà xuấtbản Giáo dục, 2001) PGS TS Doãn Chính (chủ biên), "Đại cương lịch sửtriết học Trung Quốc" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002) GS

TS Nguyễn Hữu Vui (chủ biên), "Lịch sử triết học" (Nhà xuất bản Chính trịquốc gia, Hà Nội, 2002) Các tác giả trên trình bày khái quát các phạm trùtrong tư tưởng triết học của Mặc Tử một cách sơ lược

Vũ Văn Gầu, "Kiêm ái nhân sinh - triết lý độc đáo của Mặc Tử" (Tạpchí Triết học, số 5, tháng 5 - 2003, tr.36-41) Trong bài báo này tác giả nghiêncứu rút ra cái hay trong tư tưởng của Mặc Tử ở học thuyết “kiêm ái”, cụ thể ởđây là tình yêu thương giữa những con người trong xã hội với nhau Tác giảcòn chỉ ra hoàn cảnh ra đời của học thuyết

Các công trình nghiên cứu trên đi sâu vào tìm hiểu tư tưởng của Mặc

Tử ở một số phương diện như các phạm trù cơ bản: “phi công”, “thượngđồng”, “thượng hiền” Tuy nhiên các tác giả trên chưa đi vào nghiên cứuphạm trù "kiêm ái" với tư cách là một học thuyết quan trọng về đạo đức trong

xã hội

Tác giả luận văn kế thừa các công trình nghiên cứu trước, đồng thờivận dụng những giá trị tích cực của học thuyết "kiêm ái" vào thực tiễn xâydựng đạo đức mới của người Việt Nam hiện nay

Trang 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích của đề tài: Phân tích những tư tưởng cơ bản trong học

thuyết “kiêm ái” của Mặc Tử Từ đó nêu lên được những nội dung cơ bản củahọc thuyết ý nghĩa của chúng đối với việc xây dựng đạo đức mới ở Việt Namhiện nay

* Nhiệm vụ của đề tài:

+ Phân tích thân thế và sự nghiệp của Mặc Tử, cũng như hoàn cảnh ra

đời của học thuyết “kiêm ái”

+ Phân tích những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” của Mặc

Tử cùng với sự đóng góp và hạn chế của nó

+ Ý nghĩa của tư tưởng “kiêm ái” đối với việc xây dựng đạo đức mới ởViệt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Học thuyết “kiêm ái” và sự thể hiện của nó

qua các phạm trù khác nhau trong tư tưởng của Mặc Tử

* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các tài liệu bàn về Mặc

Tử và học thuyết “kiêm ái”

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu làphương pháp biện chứng duy vật, với tính cách là phương pháp luận chungnhất Trên cơ sở đó tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phươngpháp thống nhất giữa lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích và tổng hợp,phương pháp so sánh đối chiếu để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ củaluận văn

6 Dự kiến đóng góp của đề tài

- Nêu lên những giá trị và hạn chế của Mặc Tử, nhất là học thuyết

“kiêm ái”

Trang 6

- Chỉ ra ý nghĩa của học thuyết “kiêm ái” đối với việc xây dựng lốisống đạo đức của người Việt Nam hiện nay.

- Làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết:

Chương 1: Mặc Tử và hoàn cảnh ra đời của học thuyết “kiêm ái” Chương 2: Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “kiêm ái” - giá trị,

hạn chế và ý nghĩa của chúng

Trang 7

Chương 1 MẶC TỬ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI”

1.1 Thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử

1.1.1 Giải nghĩa chữ “Mặc” trong Triết học Trung Hoa cổ đại

Trong lịch sử tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại vào cuối thời XuânThu - Chiến Quốc đã xuất hiện một trường phái triết học lớn, cùng với Nhogia, Đạo gia chia nhau thống trị đời sống tinh thần ở Trung Hoa thời kỳ này,

đó là trường phái triết học Mặc gia Sự ảnh hưởng to lớn của triết học Mặc gia

đã khiến Mạnh Tử phải lo lắng thốt lên rằng: “Lời của Dương Chu, Mặc Địchtràn lan thiên hạ Những kẻ nói đạo trong thiên hạ thời nay không theo họDương thì theo họ Mặc” [4, tr.262] Người sáng lập ra trường phái triết họcMặc gia với học thuyết “Kiêm ái” nổi tiếng là kẻ thù của Khổng giáo, đó làMặc Địch Sau khi Mặc Tử mất học thuyết này được bảo vệ và phát triển bởicác triết gia hậu Mặc vào thế kỷ thứ IV - III trước công nguyên, với tư tưởngnổi bật nhất về lôgic và nhận thức luận trên cơ sở duy vật của họ

Khi nghiên cứu về Mặc Tử chúng ta phải hiểu được nghĩa của từ “Mặc”trong triết học Trung Hoa cổ đại là gì? Hiểu được nó, sẽ giúp chúng ta cóđược một cách nhìn toàn diện hơn về trường phái Mặc gia

Theo rất nhiều sách viết về trường phái này thì họ nhìn chung đều chorằng Mặc Tử họ Mặc, tên là Địch Đến cuối đời nhà Thanh, Giang Tuyền cógiải thích đại khái như sau: “đời xưa các học phái của Chu Tử gồm có chíndòng ai truyền lại học thống của mình thì đều xưng là nhà, là gia Vậy chữ gia

là trỏ vào học phái, chứ không phải trỏ vào dòng họ Cho nên về thời trướcnhà Tần, chữ Mặc gia là trỏ vào học phái, không phải trỏ vào dòng họ của tácgiả Đây là lệ chung của chín nhà, theo Hán Chí có nói rõ, như Nho gia, Đạogia, Danh gia, Âm dương gia, Tung Hoành gia, Nông gia, Tạp gia” [38,tr.305] Bởi vậy Giang Tuyền đi đến kết luận: “Cổ chi sở vị Mặc gia, phi tính

Trang 8

thị chi xưng, nãi học thuật chi xưng giả” [38, tr.305], có nghĩa là xưa kiangười ta gọi “Mặc”, không phải gọi họ tên người, mà là nói về mặt học thuậtcủa trường phái đó mà thôi.

“Mặc” còn có nghĩa là đen, như Mạnh Tử nói “diện thâm mặc”, tức làmặt đen xì Vậy “Mặc” có nghĩa là mặc đồ đen Mặc Tử lấy sự cực khổ làmđức hạnh, cho nên mệnh danh học thuật của mình là Mặc

Hơn nữa, chữ Mặc còn là để gọi một tội hình khắc vào mặt và thoa mựcđen đi Và theo Chu Lễ thì kẻ phạm tội khinh hình thường bị sa vào hạng nô

lệ làm công việc khổ nhục Như vậy, mới biết được rằng “Mặc” là hình đồbiến thành, là nô dịch Mặc gia sinh hoạt kham khổ, lấy sự khổ hạnh để thihành điều nhân nghĩa, xác lập đạo đức cho bản thân, từ đó đề ra đạo đức cho

Như vậy, theo Giang Tuyền, chữ “Mặc” không phải là tên là dòng họ

mà nó là tên gọi một học thuật Qua thuật ngữ này chúng ta thấy được phầnnào cái tinh thần của Mặc học, đó là thứ tinh thần đại diện cho nguyện vọngcủa tầng lớp nhân dân cần lao bị nô dịch chống lại chủ trương phục hưng chế

độ phong kiến, bênh vực quyền lợi quý tộc đề đòi về xã hội nguyên thủy sơkhai với mọi thứ đều là của công, mọi người phải làm lụng, ai làm nhiều ănnhiều, ai làm ít ăn ít của thời vua Vũ nhà Hạ

1.1.2 Thân thế sự nghiệp của Mặc Tử

Mặc Tử là người sáng lập ra Mặc gia và ông đã được một học giả nhậnxét “là một nhân vật kỳ dị nhất của Trung Hoa, kỳ dị từ tên gọi đến tư tưởng

Trang 9

và đời sống, kỳ dị đến nỗi gần đây người Trung Hoa ngờ rằng ông có dòngmáu Ấn Độ hoặc Ả Rập chứ không thể là con cháu của Phục Hy và ThầnNông được” [21, tr.7] Lời nhận xét này dựa trên cơ sở nghiên cứu về Mặc

Tử, nghiên cứu này cho thấy họ Mặc là một họ cực kỳ hiếm hoi ở Trung Quốc

và đồng thời tư tưởng mà Mặc gia đề xuất rất mới lạ, khác biệt rất nhiều sovới các luồng tư tưởng đang tồn tại trong xã hội thời bấy giờ

Về cuộc đời và sự nghiệp của Mặc Tử người ta có nhiều cách lý giảikhác nhau Một số học giả căn cứ vào “Hán Thư”, “Nghệ Văn Chí” của Ban

Cố (32 - 95) cho rằng, Mặc Tử là người nước Tống, ở miền Đông, tỉnh HàNam và miền Tây tỉnh Sơn Đông bây giờ Một số khác như Tôn Di Nhượng(Đời Thanh) và Hồ Thích lại cho rằng ông là người nước Lỗ, cùng quê vớiKhổng Tử, quan điểm này dựa vào Hoài Nam Tử trong sách “Hoài Nam yếulược” Lại có người cho rằng Mặc Tử là người nước Sở Để trả lời xem luậnđiểm nào là phù hợp thì trong sách “Mặc Tử”, chương “Công - Thâu” cóchép: “thầy Mặc Tử ra về, qua nước Tống”; chương “Quý - Nghĩa” có chép:

“thầy Mặc Tử đi phương Nam, chơi ở nước Sở” Sách “Lã Thị Xuân Thu”,chương “Ái Loại” có chép: “Công Thâu Ban muốn đánh nước Tống cho nước

Sở, Mặc Tử biết chuyện đó, từ nước Lỗ ra đi” Gần đây viện hàn lâm khoahọc Trung Quốc đã xác định có thể nói Mặc Tử là người nước Lỗ

Về vấn đề niên đại của Mặc Tử cũng là một vấn đề tốn khá nhiều giấymực của các nhà nghiên cứu mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ Theo Hồ Thích:Mặc Tử “sinh vào khoảng giữa những năm 20 và 30 đời Chu Kính Vương(Tức là từ năm 500 đến năm 490 trước công nguyên), chết vào khoảng giữanhững năm nguyên niên và năm thứ 10 đời Chu Uy - Liệt Vương (Tức lànhững năm 425 đến năm 416 trước công nguyên) Mặc Tử ra đời vào khiKhổng Tử 50, 60 tuổi” [35, tr.167]

Theo công trình khảo cứu của Lương Hán Siêu thì: “Mặc sinh vàokhoảng những năm 468 đến 459 trước công nguyên Đại thể vào khoảng hơn

Trang 10

10 năm sau khi Khổng Tử chết ( Khổng Tử chết năm 479 trước công nguyên).Mặc Tử chết vào khoảng đời Chu An Vương (Tức là vào khoảng những năm

390 đến 382 trước công nguyên) tức độ hơn 10 năm trước ngày sinh củaMạnh Tử (Mạnh Tử sinh năm 372 trước công nguyên)

Tiền Mục lại cho rằng, Mặc Tử sinh năm 479 trước công nguyên, chậmlắm cũng không ngoài 10 năm; chết năm 394, chậm lắm cũng không ngoài 10năm Trương Quý Đồng lại cho rằng, Mặc Tử sinh năm 480 và chết năm 400trước công nguyên

Mỗi luận thuyết trên đây cũng có những dẫn chứng riêng để chứng minhtính đúng đắn của mình Nhưng ở các luận thuyết ấy đều có một điểm chung đó

là cùng cho rằng Mặc Tử sinh vào khoảng giữa thời Khổng Tử và Mạnh Tử,nói một cách khác tức là vào khoảng giữa thời Xuân Thu - Chiến Quốc giaonhau Điều đó có căn cứ để biết được năm sinh, năm mất của Mặc Tử

Về tính giai cấp của Mặc Tử, thì trong các sách cổ chép rất ít về lúcsinh thời của ông, cho nên cũng có phần không tìm ra được rõ ràng Tư MãThiên cho rằng Mặc Tử làm đại phu nước Tống, Lương Khải Siêu lại chorằng: “xem trong sách gốc, thì không có vết tích gì là Mặc Tử đã làm quannước Tống” Thuyết này có thể đúng Sách “Trang Tử”, chương “Thiên hạ”cho rằng “Mặc Tử lấy việc giữ thân khổ hạnh là điều quan trọng nhất”.Chuyện Mặc Tử không hề làm quan có lẽ đúng sự thật Chính Mặc Tử cũngthường nói: “không thi hành được đạo thì không hưởng lộc nhà vua; khôngnghe thấy điều nghĩa thì không ở với triều đình nhà vua” Khác với Trang Tử,Mặc Tử không chủ trương tuyệt đối không tham gia chính trị, mà lấy việc cóthể hay không thể thực hành tư tưởng của mình làm điều kiện có hay khôngtham gia chính trị Tinh thần này của Mặc Tử khác rất nhiều so với giai cấpthống trị đương thời Chính “việc sang chơi nước Sở”, “đi sứ sang nước Vệ”,

“đi cứu nước Tống” là quá trình Mặc Tử tiến hành thực thi các chủ thuyết củamình Tư tưởng của ông khác hẳn với với tư tưởng của tầng lớp lãnh chúa

Trang 11

phong kiến và bọn địa chủ mới lên và dường như một phần nào đó nó phảnánh tình hình tư tưởng và yêu cầu của nông dân thời đó.

Tuy nhiên có một điều chúng ta phải hiểu rõ đó là Mặc Tử có thểkhông phải xuất thân từ tầng lớp nông dân Mặc dù, thời kỳ này đã có nhữngnông dân tự cày lấy ruộng của mình, họ cũng đã có cơ hội để học hành, nhưngchưa lấy việc học hành coi như là một việc làm thường xuyên Theo sách

“Hoài Nam Tử yếu lược” chép thì: “Hồi nhỏ Mặc Tử có học lấy nghiệp củanhà Nho, chịu nhận học thuật của Khổng Tử, nhưng lại cho rằng cái lễ củađạo Nho quá phiền nhiễu mà không vui lòng, việc tống táng phiền phức quáchỉ tốn của và làm nghèo dân, việc tang phục lâu quá chỉ kéo dài sự đau buồncủa người sống và có hại cho công việc” Sách “Hoài Nam Tử yếu lược” tuy

có thể là do người đời Tây Hán làm ra, những lời trong ấy cũng không thểhoàn toàn căn cứ được Nhưng chúng ta đọc sách Mặc Tử thì lại thấy rõ ràng

là Mặc Tử có một công trình học tập và tu dưỡng rất sâu rộng và có một lậpluận rất chặt chẽ Điều đó, tuy không thể tách rời đời sống thực tế mà cóđược, nhưng cũng không thể không đưa vào một công phu tu dưỡng lý luận.Theo Lã Trấn Vũ việc xuất thân của Mặc Tử có thể dính líu với gia thế củatầng lớp địa chủ mới đã bị sa sút hoặc gia thế của một nhà đời trước là nôngdân tự do đã chuyển thành một nhà sản xuất nhỏ độc lập, nhất là thuyết sau có

vẻ đúng hơn cho nên trong hệ thống tư tưởng của Mặc Tử có phản ánh đôichút ý thức tư tưởng của bọn địa chủ mới Hồi đó bọn địa chủ mới mà bị sasút thì rất có thể bị giáng xuống hàng nông dân Học thuyết của Mặc Tử cóthể phản ánh một số những yêu cầu của nông dân có lẽ cũng vì thế

Mặc Tử rất giỏi biện luận, “tài biện luận này là một trong nhữngnguyên nhân làm cho học trò của ông rất đông Tuy họ thuộc hạ tầng xã hộinhưng họ có tổ chức rất chặt chẽ” [19, tr.446] Mặc Tử đã đào tạo được mộtđội ngũ học trò có đức hạnh và lòng quả cảm cao độ Sách “Hoài Nam Tử”chép rằng: “Mặc Tử có một trăm tám mươi người phục dịch, đều có thể khiến

Trang 12

nhảy vào lửa, đạp chân lên lưỡi dao, chết mà không quay gót” Chính từ tưtưởng và hành động nghĩa hiệp cao cả của Mặc Tử, nên người công kích Mặcgia nhiều nhất như Mạnh Tử cũng phải thốt lên rằng: “họ Mặc kiêm ái đếnmòn trán lỏng gót, cái gì lợi cho thiên hạ thì làm” [5, tr.86] Trong cuộc đờicủa mình Mặc Tử đã dắt học trò của mình bôn ba nhiều nước Ông đã từng ởTống, Vệ, Sở, Tề và cũng đã tiếp kiến với vua các nước này Ông cũng đã đề

cử rất nhiều học trò ra làm quan để cùng ông thực thi học thuyết của mình màmột trong những nội dung của nó là chống chiến tranh xâm lược Điều nàylàm cho cuộc đời của Mặc Tử là cuộc đời của con người lo việc cho thiên hạ

Hễ nghe nói một nước nào chuẩn bị tấn công nước khác thì dù xa xôi tới đâuông cũng gấp rút đi tới khuyên ngăn Có lần ông đã đi suốt mười ngày đêmkhông nghỉ để từ Lỗ tới Sở khi biết tin Sở chuẩn bị đánh Tống; đi đến nỗiquần rách, giày lòi cả chân ra ngoài mà vẫn cố đi cho kịp Tương truyền rằngCông Thâu Ban chế giúp nước Sở một cái thang máy để đánh thành đã xongđịnh đem đi đánh nước Tống Trước mặt vua Tống, Mặc Tử cùng Công ThâuBan biểu diễn khí giới công thủ của đôi bên Mặc Tử cởi thắt lưng đánhthành, lấy đũa nhỏ làm khí giới Công Thâu Ban chín lần đặt máy phá thành,Mặc Tử chín lần đều cự được Máy phá thành Công Thấu Ban đã dùng hết,sức giữ thành của Mặc Tử còn thừa Công Thâu Ban bèn nói: “Ta biết cáchđánh ngươi Ta không nói” Mặc Tử cũng nói: “Ta biết cách ngươi đánh làmsao Ta không nói” Vua Sở nghe xong câu nói này, hiểu hết ý nghĩa của nóbèn từ bỏ ý định đánh Tống Sau đó, Công Thâu Ban cũng bị tài trí của Mặc

Tử thuyết phục mà thốt lên rằng: “Khi tôi chưa được tiếp ông, tôi muốn chiếmnước Tống Sau khi gặp ông thì dù có người mang nước Tống đến tặng tôi mà

có ẩn một chút gì bất nghĩa tôi cũng không thèm” [5, tr.85] Mặc Tử cũng đáplại: “Nói như thế, dường như là tôi đã mang cả nước Tống mà tặng cho ôngrồi vậy Nếu như ông cố gắng thi hành điều nghĩa, tôi sẽ mang cả thiên hạ màtặng cho ông nữa kia” [5, tr.85] Đây là một câu chuyện hay về việc hòa giải

Trang 13

giữa hai nước trong thế giới hiện tại Ngày nay, nếu có chiến tranh thì trướctiên hai nước đem vũ khí ra đối chọi với nhau, bên nào có thực lực hơn sẽđược phân định rõ ràng không cần sự đổ máu.

Với lòng bác ái vị tha, Mặc Tử đã bôn ba giữa các nước, khẩn thiết kêugọi “kiêm ái phi công” Nhưng vì chủ trương “kiêm ái phi công” của ôngnghịch lại với chính sách “Binh nông” (nuôi quân ở dân) của vua chúa cácnước đương thời, cho nên đã gặp nhiều trở ngại, khó thực hiện được Chẳnghạn khi Mặc Tử sang nước Sở, dâng tác phẩm của mình cho Sở Huệ Vương.Vua Sở tuy khen sách viết rất hay, nhưng chẳng thực hành theo lời khuyêncủa Mặc Tử mà chỉ ngỏ ý “vinh dưỡng hiền nhân” (trọng đãi kẻ hiền sĩ) Thấyvậy, Mặc Tử liền tạ từ rằng: “Địch văn hiền nhân tiến, đạo bất hành, bất thụ

kỳ thưởng; nghĩa bất thính, bất xử kỳ triều, khất kim thư vị dụng, thỉnh toạihành dĩ” (nghĩa là: Địch này nghe nói, khi hiền sĩ đã đem lời tiến dâng mà đạochẳng hành, thì nào dám nhận phần thưởng; khi nghĩa chẳng được nghe theo,thì không thể cộng sự tại triều đình, mãi đến nay, sách của tôi chưa được ápdụng, thì xin lui thôi)

Khổng Tử cùng Mạnh Tử, trước sau đều có dẫn nhóm học trò đi chu duliệt quốc, nghiễm nhiên thành một tập đoàn sĩ nhân, dựa vào lớp người quyềnthế trên thượng tầng xã hội, để hoạt động chính trị, không làm cũng có ăn.Trái lại, Mặc Tử cùng môn đệ nhà Mặc, vẫn sống tự túc với nghề lao độngthợ thuyền, bằng tinh thần khắc khổ, trong khi phải đi tuyên truyền, vận độngthuyết “kiêm ái phi công” Cho nên Mặc Tử rất ác cảm với hàng Nho sĩ Cólần Mặc Tử đến nước Vệ, mục kích người Vệ sống theo lối xa sỉ, rất cảm khái

mà nói với quan Đại phu nước Vệ rằng: “Vệ là một nước nhỏ, lại nằm giữahai nước lớn Tề và Tấn, chẳng khác nào nhà nghèo sống trong xóm nhà giàu,rồi học theo thói xa hoa, ngoài khả năng của mình, thì tránh sao cho khỏi sẽmất nước sớm”

Trang 14

Biết rằng vua quan các nước đều vì quyền lợi riêng tư, chẳng ai chịu thihành chính sách “phi công” của mình nên Mặc Tử và những tín đồ theo Mặchọc, tự tổ chức lấy đoàn thể xã hội để tuyên truyền giáo lý của mình Nhữnglời khuyên ngăn và truyền giáo của Mặc Tử có khi được chấp nhận nhưngnhiều khi bị người đời bỏ ngoài tai, nhưng chưa bao giờ Mặc Tử tỏ ý chánnản hay nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, mà ông bôn ba thực hiện ý tưởng củamình cho đến khi chết Thật khó có thể tưởng tượng nỗi thời đại đó lại có mộtngười chịu khổ như thế vì thiên hạ Ngay cả người Trung Quốc cũng phải kêulên rằng: “Thử hỏi trong lịch sử Trung Hoa còn có người thứ hai nào ma đỉnhphỏng chủng lợi thiên hạ vi chi như Mặc Tử nữa hay không?” [35, tr.306].

Bàn tới Mặc Tử và các học trò của ông, chúng ta nhận thấy rằng họkhác với những người du hiệp trong xã hội thời ấy (Du hiệp: là những chuyêngia về việc binh nhưng bị mất địa vị chức tước để phân tán trong dân gian vàmưu sinh bằng cách giúp việc cho những ai có điều kiện dùng đến họ) Ở haiđiểm sau: trước hết, nếu các du hiệp thường đều sẵn sàng nhận bất kỳ cuộcchiến đấu nào, miễn là họ được trả công, họ được các vua chư hầu trọng dụng,thì trái lại, Mặc Tử và các môn nhân đều triệt để chống lại các cuộc chiếntranh xâm lăng và do đó họ chỉ chịu đánh nhau trong trường hợp phòng vệchính đáng Điều thứ hai là, nếu bọn du hiệp thường chỉ biết có luật lệ luân lýcủa nghề họ, thì Mặc Tử cố đào sâu luân lý ấy và cố biện giải cho luân lý ấy.Cho nên, mặc dầu cơ sở khởi phát của Mặc Tử là cơ sở của du hiệp, nhưngMặc Tử đã trở thành người sáng lập một học phái triết học mới Phái Mặc học

có tổ chức hết sức chặt chẽ, dưới sự chỉ huy của người đứng đầu gọi là “cựtử” Đoàn thể Mặc giả do Mặc Tử lãnh đạo lúc đó, được chứng minh là hội đủcác điều kiện sau:

- Đang lúc Mặc Tử là “cự tử”, chỉ trong một thời gian ngắn, đã độngviên được 300 tín đồ, sang giúp Tống, sẵn sàng chống quân Sở

Trang 15

- Sau ngày Mặc Tử mất, “cự tử” kế nhiệm là Mạnh Thắng, cũng đãtừng chỉ huy một nhóm tín đồ, giúp Dương Thành Quân bảo vệ phong ấp,trong một trận kịch liệt đã hi sinh đến 183 người.

- Cao Thạch Tử là môn sinh của Mặc Tử, làm quan tại nước Vệ, hưởnglộc rất hậu, nhưng vì chính kiến nêu ra không được vua Vệ chấp nhận nên từquan trở về với đời sống cơ hàn

- Mặc Tử từng cử học trò là Thắng Trác, làm việc dưới quyền của Hạn

Tử Ngưu Sau đó vì Ngưu đã ba lần xuất quân đánh Lỗ, Thắng Trác đều tham

dự, đó là hành động trái ngược với chủ trương “kiêm ái phi công”, nên bị Mặc

Tử đuổi ra khỏi hội đoàn Mặc giả

Tính kiên định đối với những tín điều của mình, tính kỷ luật nghiêmkhắc đối với đoàn thể, tinh thần thực thế khắc khổ bản thân, không tiếc hi sinhthân mình, tất cả cho đấu tranh cách mạng, về sau đều vẫn được lưu truyềnmãi trong dòng máu nông dân Trung Quốc và dân tộc Trung Hoa, đó làtruyền thống tốt đẹp của dân tộc Trung Hoa

Về vấn đề trước tác của Mặc Tử: về tập sách “Mặc Tử”, xưa nay tranhluận đã nhiều Có người cho rằng những phần “Kinh thượng, hạ”; “Kinhthuyết thượng, hạ”; “Đại Tiểu Thủ” là không phải của Mặc Tử, phần còn lại

do chính tay Mặc Tử viết Có người cho rằng những phần sáu chương “Kinhthượng, hạ”; “Kinh thuyết thượng, hạ”; “Đại Tiểu Thủ” đều là “Kinh MặcTử”, phần còn lại là những “Lời bàn về Mặc Tử” Lại có người cho rằng kể từchương “Thân sĩ” trở xuống bảy chương là do người đời sau viết thêm vào.Hai chương “Thân sĩ”, “Tu thân” thì văn chương bay bướm gần như văn Tuân

Tử, đều là lời lẽ của các nhà Nho Năm chương: “Sở nhiễm”, “Pháp nghi”,

“Thất hoạn”, “Từ quá”, “Tam biện” đều là do người sau học “Mặc Tử” màviết ra: chương “Sở nhiễm” thì lấy tinh thần của chương “Thượng hiền”;chương “Pháp nghi” thì lấy tinh thần của chương “Thiên chí”, “Thượngđồng”; hai chương “Thất hoạn”, “Từ quá” thì lấy tinh thần ở chương “Tiết

Trang 16

dụng”, “Tiết táng”; chương “Tam biện” thì lấy tinh thần ở chương “Phi nhạc”.Cũng có người cho rằng chương “Sở nhiễm” là do những người bỏ đạo Mặc

về với đạo Nho làm ra Gần đây lại có người cho rằng chương “Thiên chí”cũng không phải là ý tứ của Mặc Tử Tất cả những điều đó đều không phảixuất phát từ một lập trường khoa học nghiêm chỉnh, từ một ý thức giai cấp đãbiểu hiện qua tài liệu nhận định, và chỉ là biện luận trên hình thức cấu tạo củavăn, cho nên trước sau họ vẫn không thể có được một kết cấu rõ rệt nào Cácchương trong tập sách “Mặc Tử” ngày nay có thể biểu hiện là một dòng pháitriết học đồng nhất, đồng thời biểu hiện thành một hình thái ý thức giai cấp xãhội đồng nhất Tuy nhiên các chương trong tập sách “Mặc Tử” không phải domột tay Mặc Tử viết ra, đó là sự thực Tác phẩm ấy, một mặt có chỗ có thể dohọc trò của Mặc Tử ghi chép lại và cũng có thể toàn trước tác của Mặc Tử đều

do sự ghi chép như vậy tập hợp Về phần này cũng có thể là do những ngườiđời sau theo phái Mặc Tử sưu tầm lại Một mặt có thể do phái Mặc học đờisau biên tập vào, bởi vì giữa tác phẩm, những câu văn ở các chương khôngnhững có cách viết, lối hành văn khác nhau mà còn có sự khác nhau về phần ýthức giai cấp xã hội, thấy rõ sự khác nhau về thời gian Song về điểm này đốivới chúng ta không quan trọng lắm, vì chúng ta nghiên cứu học thuyết củaMặc Tử như là một hình thái ý thức giai cấp của thời đó

Theo tác phẩm “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc” do PGS TSDoãn Chính chủ biên thì các nhà nghiên cứu cho rằng cuốn “Mặc Tử” gồm 53thiên Đây là cuốn sách ghi lại những lời dạy và trước tác của Mặc Địch cũngnhư của các học trò ông Trong đó, các thiên như “Thiên chí” (ba thiên),

“Minh quỷ” (một thiên), “Thượng đồng” (ba thiên), “Thượng hiền” (ba thiên),

“Kiêm ái” (ba thiên), “Phi nho” (một thiên), “Phi công” (ba thiên), “Phi nhạc”(một thiên), “Phi mệnh” (ba thiên), “Tiết táng” (một thiên), “Tiết dụng” (haithiên) đều là những thiên diễn đạt chính tư tưởng của Mặc Tử Năm thiênkhác như “Canh quế”, “Quý nghĩa”, “Công mệnh”, “Lỗ vấn”, “Công Thâu

Trang 17

Ban” là do những người của phái Mặc gia ghi lại những lời nói và hành độngcủa Mặc Tử mà làm ra Các thiên “Kinh thượng và hạ”, “Kinh thuyết thượng

và hạ”, “Đại thủ”, “Tiểu thủ” với nội dung lý luận học và lôgic học đặc sắc làcủa hậu Mặc còn các thiên khác không quan trọng lắm và đều do người đờisau thêm vào

Với những tư tưởng trong học thuyết của Mặc Tử nhiều nhà nghiên cứulịch sử tư tưởng Trung Quốc đã so sánh học thuyết của ông với tư tưởng từ bi,bác ái của Phật giáo và Kitô giáo Thậm chí với học thuyết “kiêm ái” và chủnghĩa công lợi, người ta còn cho rằng Mặc Tử là người đầu tiên có ý tưởng vềthế giới đại đồng Cùng với Nho gia và Đạo gia, học thuyết của Mặc Tử đãthịnh hành và ảnh hưởng một thời ở Trung Quốc

Khi nghiên cứu thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử chúng ta không thể bỏqua việc tìm hiểu thế giới quan của ông Vì đó là cơ sở nền tảng để xây dựnglên toàn bộ hệ thống triết học Mặc gia

Thế giới quan của Mặc Tử cơ bản là duy tâm và hữu thần Trong quanđiểm về thế giới, cả ông và Khổng Tử đều tin có một lực lượng với quyềnnăng tối cao chi phối vũ trụ vạn vật, đó là Trời Theo Khổng Tử “đạo trời”,

“thiên lý” là lẽ tự nhiên, lưu hành khắp vũ trụ, định phép sống cho vạn vậtnhư là sức mạnh tuyệt đối Con người là kết tinh của trời đất nên luôn chịu sựchi phối của “đạo trời” không ai cưỡng lại được Vì vậy, Khổng Tử cho rằngcon người ta phải biết mệnh, sợ mệnh, thuận mệnh và đợi mệnh Mặc Tử đãbài bác lại học thuyết “thiên mệnh” đó của Khổng Tử Nhưng ông lại đưa ramột thế giới quan mang tính chất tôn giáo, thần bí, coi ý chí của trời lànguyên tắc tối cao của hành vi con người, đồng thời cho rằng sự biến hóa củahiện tượng tự nhiên cũng bị ý chí của trời chi phối Trời tạo ra muôn vật, nuôidưỡng muôn loài Trời xoay vần bốn mùa, sinh ra các tiết, tạo ra hoa lá cỏcây, động vật và con người Trời là một đấng linh thiêng tối cao có ý chí, cónhân cách, quyền uy như gia trưởng trong nhà, như quốc quân một nước Do

Trang 18

vây, ý chí của trời là khuôn phép cho tất cả mọi người noi theo, là phép tắc cho

kẻ thống trị thực hiện việc chính trị của mình Không những thế, ý chí của trờicòn là nguyên tắc, chuẩn mực để nhận biết mọi sự đúng sai, thiện ác, tốt xấucủa con người và thể chế xã hội Nếu thuận theo ý trời, làm điều thiện, điều tốt

sẽ được trời khen thưởng Ngược lại, nếu làm sai ý trời gây ra điều ác sẽ bị trờitrừng phạt Bởi vậy, trời mới khiến cho sang thì làm đến thiên tử, giàu thì có cảthiên hạ, cơ nghiệp để lại cho con cháu muôn đời Ông cho rằng “ý trời quyđịnh là muốn người ta cùng thương yêu nhau, làm lợi cho nhau mà chẳng muốnngười ta cùng ghét nhau, làm hại nhau” và trời đem cái ý muốn ấy giao chothánh nhân trị thiên hạ, đặt tên là “thượng đồng” (trên dưới đồng lòng) Tin vàotrời, coi trời có ý chí và là vị chúa tể tối cao trong vũ trụ, nên Mặc Tử cũng tin

có quỷ thần Quỷ thần cũng là một thế lực đầy quyền uy, linh thiêng, côngminh chính trực, luôn giám sát mọi việc làm của con người Ông nhân cách hóaquỷ thần, quỷ thần “có thể thưởng kẻ hiền mà phạt kẻ dữ” Đây là cơ sở chothuyết “kiêm ái” (thương yêu lẫn nhau) của ông Mặc Tử cũng cho rằng, mọingười đều có quyền lợi như nhau đối với việc thờ cúng quỷ thần, bình đẳngtrước quyền lợi về tín ngưỡng tôn giáo, đó là sự phản ánh nhu cầu đòi quyềnbình đẳng xã hội của giai tầng mà ông đại biểu

Tuy Mặc Tử sùng bái trời và quỷ thần, nhưng ông lại chống lại thuyếtđịnh mệnh Ông cho rằng, mọi thành bại, họa phúc của con người đều là kếtquả do hành vi của con người gây nên, là tại sức người chưa đủ, lực ngườichưa mạnh, tuyệt nhiên không phải là do số mệnh như Nho gia quan niệm.Theo ông, nếu con người ta cố gắng hết sức làm những điều ích lợi cho ngườikhác thì có thể làm cho đời sống của mình được đầy đủ, ấm no, ngược lại nếukhông ra sức làm việc sẽ bị nghèo đói Đây là một bước tiến bộ trong triết họccủa Mặc Tử, nó đề cao sự nỗ lực của con người trong đời sống nhưng khiđem nguyện vọng thoát khỏi nghèo khổ của muôn dân gửi gắm vào ý chí củatrời và quỷ thần, dùng quyền uy của trời và quỷ thần tác động đến bọn thống

Trang 19

trị trên mặt đất, cải thiện đời sống nhân dân, thì ông đã rơi vào vũng bùn lầycủa chủ nghĩa ảo tưởng, duy tâm tôn giáo thần bí Đó là một bước lùi trong tưtưởng triết học của ông Có thể nói, dưới một hình thức khác, thuận ý trời củaMặc Tử cũng là mục đích luận vậy.

Cùng với Nho gia và Đạo gia, học thuyết của Mặc Tử đã thịnh hành vàảnh hưởng một thời ở Trung Quốc Vào thời Chiến quốc Mặc gia nổi tiếngngang hàng với Nho gia Tuy nhiên giữa hai người sáng lập hai học phái này

là Mặc Tử và Khổng Tử luôn luôn tồn tại sự đối lập không chỉ về tư tưởng,chủ trương, phương pháp mà còn đối lập nhau cả về nền tảng giai cấp xã hội.Khổng Tử đề cao “thiên mệnh” ưa chuộng những chế độ cổ truyền như thi,thư, lễ, nhạc Ông chủ trương giáo hóa con người bằng các quy tắc đạo đức cơbản như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và theo những nghi lễ tôn giáo của chế độ phụquyền Thì ngược lại, Mặc Tử lại đưa ra chủ trương “phi nhạc”, “tiết dụng”,

“tiết táng” nhằm chống lại những nghi lễ rườm rà, sự xa hoa không có lợi chodân, cho nước của Nho gia, không tin vào mệnh trời Nếu Khổng Tử chủtrương không đánh đuổi kẻ bại binh, không bắn kẻ trốn chạy, chấp nhận cóchiến tranh Mặc Tử lại chủ trương “phi công”, phản đối chiến tranh và vẫngiết những kẻ bạo loạn trừ hại cho thiên hạ Nếu Khổng Tử chủ trương không

ở địa vị chính quyền thì không được mưu tính việc chính trị, không được bàntính chuyện gì về quốc gia đại sự, phải trung thành với vua tuyệt đối Mặc Tửthì cho rằng không kể người ở tầng lớp nào trong xã hội, nếu có tài thì đềuđược bàn chính sự, khi phụng sự nhà vua phải hết sức trung thành nhưng nếuvua có sai lầm thì có thể đứng ra can gián

Về phương pháp, nếu Nho gia chỉ nói “là thế” thì Mặc Tử muốn biết

“tại sao?” Nho gia chỉ muốn nêu lên một cái mẫu lý tưởng thật cao làm tấmgương cho đời, thì Mặc Tử bất cứ việc gì cũng đều hỏi “để làm gì?”, phải cócông dụng nhất định Bởi vậy, khi bàn về lợi ích của thuyết “kiêm ái”, Mặc

Trang 20

Tử đã khẳng khái nói: “Dùng mà không được, đến như ta đây cũng bị côngkích Và khi nào lại có cái phải mà không dùng được?” [5, tr.88].

Sự khác nhau giữa Khổng Tử và Mặc Tử thực chất là sự khác nhau vềđịa vị, lợi ích giai cấp xã hội quy định Nếu như Khổng Tử là nhà quý tộc vàcác nhà Nho thường xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội, thì Mặc Tử vốnxuất thân từ kỹ nghệ tinh thông hay bậc du hiệp, đại biểu cho lợi ích của tầnglớp tiểu tư hữu, phu dịch, võ sĩ lớp dưới của xã hội, nên ít nhiều gần gũi vớiquần chúng lao động Chính vì vậy, các quan điểm và chuẩn mực đạo đức cảuNho gia đã trở thành đối tượng phê phán mạnh mẽ của Mặc Địch

Cần nói thêm rằng, thời Mặc Tử sống, Lão giáo cũng phát triển rấtmạnh Do vậy quan điểm của Mặc Tử không chỉ đối lập với Nho gia mà cònđối lập với tư tưởng tự nhiên chủ nghĩa, “vô vi” phóng túng của Đạo gia NếuLão Tử nói “Trời đất bất nhân, coi vạn vật như loài chó rơm”, thì Mặc Tử chorằng: “Trời yêu cả thiên hạ, làm lợi cho cả muôn vật tỉ mỉ như cái múp sợilông” [5, tr.88] Nếu Dương Chu chủ trương “trọng kỷ, quý sinh, vị ngã”, thìMặc Tử đối lại là “kiêm ái”, “thượng đồng”, “thượng hiền”

Mạnh Tử từng phê phán rất nghiêm khắc, cả Dương Chu lẫn Mặc Địchrằng: “Dương Chu, Mặc Địch chi ngôn dinh thiên hạ… Dương thị vị ngã, thị

vô quân giã; Mặc thị kiêm ái, thị vô phụ giã; vô quân vô phụ, thị cầm thú giã”(dịch là: nay thuyết của Dương Chu cùng với Mặc Địch lan tràn khắp thiênhạ… Họ Dương chủ trương vị kỷ, ấy là không có chúa; họ Mặc chủ trươngkiêm ái, đó là không có cha; kẻ không chúa không cha, là loài cầm thú vậy).Tuân Tử cũng có lời phê phán tương tự, cho rằng thuyết của Mặc Tử làm đảolộn luân thường, mà thoáng nghe như là có lý, rất dễ mê hoặc người đời Tuân

Tử vốn chủ trương “túc dục”, cho nên chê Mặc Tử khuyên người ta thắt lưngbuộc bụng, chỉ làm cho người đời sống trong cảnh nghèo khó và buồn tẻ thôi.Cũng vì vậy mà Mặc học đã đi vào mạt vận từ thời Tây Hán Tuy nhiên, tinhthần nghĩa hiệp của những người theo Mặc học, đã bén rễ ăn sâu vào hạ tầng

Trang 21

xã hội và tiếp tục phát huy Tinh thần nghĩa hiệp đó là thái độ công bằng, lậptrường ngay thẳng, hết lòng bênh vực cho tầng lớp bình dân và giữ gìn chínhnghĩa cho xã hội, bằng lời nói và hành động hào hiệp, coi thường tính mạng vìhai chữ “chính nghĩa” Tinh thần nghĩa hiệp ấy được kết hợp với ý thức dântộc, đã phát huy công dụng về mặt chính trị xã hội lớn lao, như “hội BạchLiên” đã trỗi dậy vào cuối thời nhà Nguyên Mông Cổ, cũng như Thanh Bang

và Hồng Bang hoạt động mạnh mẽ vào cuối thời nhà Minh Truy nguyên ra,những tổ chức đó đều bắt nguồn từ tinh thần nghĩa hiệp của tập đoàn dân sự,

mà Mặc Tử là người sáng lập đầu tiên

Tư tưởng trung tâm của Mặc Tử - “kiêm ái” sẽ là công cụ hữu hiệu nhất

để chống lại đạo đức Nho gia Vậy tư tưởng này ra đời như thế nào?

1.2 Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Kiêm ái”

* Về kinh tế - xã hội

Tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại phát triển rực rở nhất là lúc xãhội Trung Quốc bước vào thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, thời kỳ tan rã củachế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên

Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc đã tồn tại và phát triển từ triềuđại nhà Hạ, qua nhà Thương, đến cuối thời Tây Chu thì bắt đầu bước vào giaiđoạn khủng hoảng và ngày càng đi tới suy tàn Xã hội Trung Quốc trải quamột thời kỳ giao thời, từ chế độ tông tộc chuyển sang chế độ gia trưởng, giátrị tư tưởng, đạo đức của xã hội cũ bị băng hoại, nhưng giá trị tư tưởng, đạođức mới còn manh nha và đang trên con đường xác lập Sự biến đổi toàn diện

về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa thời kỳ này đã tạo ra tiền đề giải phóng

tư tưởng con người thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan thần thoại, tôngiáo, thần bí truyền thống, ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của tưtưởng triết học

Thời Tây Chu, khi nhà Chu còn thịnh, chế độ tông pháp và trật tự lễnghi nhà Chu còn được duy trì Từ thời Chu Lệ Vương đến Chu U Vương,

Trang 22

mâu thuẫn nội bộ nhà Chu ngày càng trở nên gay gắt Hơn nữa, do phảithường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh đàn áp sự nổi dậy của chư hầu

và chống lại sự xâm lăng của các bộ lạc khác, thêm vào đó là hạn hán liên tiếpxảy ra, nạn đói lan tràn làm cho nhà Chu nhanh chóng suy vong Vị trí, quyềnlợi của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội bị đảo lộn

Năm 771 trước công nguyên Chu Bình Vương lên ngôi đưa xã hộiTrung Quốc bước vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời kỳ Xuân Thu Ở thời kỳ này,nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt.Việc dùng bò kéo cày đã trở thành phổ biến Phát minh mới về kỹ thuật khaithác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công

cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Thời kỳ này hệ thống thủy lợi đã trảikhắp khu vực Trường Giang Diện tích đất đai canh tác nhờ đó mà được mởrộng Kỹ thuật trồng trọt cũng được cải tiến tạo điều kiện tăng năng suất tronglao động nông nghiệp Từ đó người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộngđất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt đất xấu như trước kia nữa Giờ đâycông xã giao hẳn đất công cho từng hộ gia đình nông nô cày cấy trong thờihạn lâu dài Vì vậy, nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luâncanh để tăng năng suất cây trồng Mặt khác, nhờ công cụ sản xuất bằng sắtphát triển và thủy lợi mở mang, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thànhruộng tư ngày một nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộngcủa công xã làm ruộng tư Chế độ “tỉnh điền”dần tan rã Sau đó chế độ tư hữuruộng đất còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ Khi chế độ tưhữu ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằngnhau, nhà nước đã bỏ hình thức thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thuế đánhvào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu) và cùng với nó thi hành chế độ quân

sự mới

Do đồ sắt phát triển cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩmlao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức

Trang 23

chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệpphát triển, như nghề luyện kim, nghề rèn, nghề đúc v.v… Thương nghiệp lúcnày cũng đã phát triển hơn trước Tiền tệ đã xuất hiện Trong xã hội đã hìnhthành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực gây nhiềuảnh hưởng đối với chính trị đương thời Chính việc xuất hiện tầng lớp này đãtạo ra sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội Từ tầng lớp này dần dần xuấthiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranhgiành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ.

* Về chính trị

Nếu như thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu kiến địa” vừa có

ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về huyếtthống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài hưngthịnh thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôntrọng, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và cácnước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩanhà Chu không còn được tôn trọng như trước Thiên tử nhà Chu hầu nhưkhông còn quyền uy gì với các nước chư hầu

Thời Xuân Thu các lãnh chúa tăng cường bóc lột nhân dân lao động.Người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt của cáctập đoàn quý tộc còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên taithường xuyên xảy ra, nạn trộm cướp nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhândân ngày càng thêm khốn khổ Dân lưu vong khắp nơi, ruộng đồng thì bị bỏhoang nhiều nơi

Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnhchúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạtcác nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triềuhội, triều cống, chinh phạt giữa các nước làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng

Trang 24

gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tăng Có thể tóm tắt mấy mâuthuẫn chính nổi lên trong thời kỳ này là:

- Mâu thuẫn giữa tầng lớp mới lên có tư hữu tài sản, có địa vị kinh tếtrong xã hội mà không được tham gia chính quyền với giai cấp quý tộc thị tộc

cũ của nhà Chu đang nắm chính quyền

- Mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân vớigiai cấp quý tộc thị tộc nhà Chu

- Trong bản thân giai cấp quý tộc thị tộc Chu có một bộ phận tách ra,chuyển hóa lên thành giai tầng mới, một mặt họ muốn bảo lưu nhà Chu, mộtmặt họ cũng không hài lòng với trật tự cũ của nó Họ muốn cải tiến nó bằngcon đường cải lương, cải cách

- Tầng lớp tiểu quý tộc thị tộc, một mặt họ đang bị tầng lớp mới lên tấncông về chính trị và kinh tế, mặt khác họ cũng có mâu thuẫn với tầng lớp đạiquý tộc thị tộc đang nắm chính quyền

- Mâu thuẫn nông dân công xã thuộc các tộc bị người Chu nô dịch vớinhà Chu và tầng lớp mới lên đang ra sức bóc lột, tận dụng sức lao động của họ

Đó là những mâu thuẫn của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ

nô lệ thị tộc, tiến vào xã hội phong kiến, đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độgia trưởng, xây dựng nhà nước của giai cấp quốc dân, giải phóng lực lượngsản xuất, mở đường cho xã hội phát triển

Xã hội đang có những bước chuyển mình dữ dội, kinh tế phát triển,tầng lớp dân tự do xuất hiện, đặc biệt là sự ra đời của các thành thị tự do phồnvinh và thành quả đạt được trên lĩnh vực khoa học tự nhiên là nguồn động lựcquan trọng cho sự phát triển có tính chất đột biến của tư tưởng thời kỳ này.Trong nước xuất hiện những trung tâm, những tụ điểm mà ở đó “kẻ sĩ bànngang” hay “bàn việc nước” Nhìn chung, họ đều đứng trên lập trường giaicấp mình, tầng lớp mình mà phê phán trật tự xã hội cũ, xây dựng xã hội tươnglai và tranh luận, phê phán, đả kích lẫn nhau Lịch sử gọi thời kỳ này là thời

Trang 25

kỳ “bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “bách gia tranh minh” (trăm nhàđua tiếng).

Chính trong quá trình “tranh minh” đó đã cho ra đời những nhà tưtưởng vĩ đại, hình thành nên những hệ thống triết học khá hoàn chỉnh, mở đầucho lịch sử tư tưởng Trung Quốc có ngôn ngữ và ý nghĩa chặt chẽ

Học thuyết triết học “kiêm ái” của Mặc Tử đã ra đời trong hoàn cảnh

đó, nó phản ánh một phần những tư tưởng, những tình cảnh và những yêu cầucủa tầng lớp nông dân bị bóc lột, thống trị nặng nề trong xã hội

* Phân biệt hai khái niệm “kiêm” và “biệt” trong quan điểm của Mặc Tử

Trong sách “Mặc Tử” có ba thiên bàn về “kiêm ái” (kiêm ái thượng,trung, hạ) Trung tâm giáo lý của Mặc Tử chính là ở điểm thực hành tương ái,công lợi Kể từ Mạnh Tử cao tiếng phê bình và công kích Mặc Địch với kếtluận: “Mặc Tử kiêm ái mòn trán lỏng gót, cái gì lợi cho thiên hạ thì làm” Câunói tuy để công kích mà thật ra đã hóa thành câu tán dương Người về sau khinhắc tới Mặc Tử là nhắc tới học thuyết “kiêm ái” của ông

Theo Mặc Tử những kẻ chia rẽ nhau, làm thiệt hại cho nhau thuộc phái

“biệt” “Biệt” là bậy Đã là bậy thì phải có cái thay vào Nếu chê mà khôngthay thì cũng như lấy nước cứu nước, lấy lửa cứu lửa mà thôi Cái thay “biệt”

là “kiêm” “Kiêm” bao gồm những kẻ yêu thương nhau, “kiêm” là tốt

Ngô Tất Tố giải thích: “kiêm” tức là gồm, trái lại với “biệt” là rẽ “Ái”tức là yêu, trái lại với “ố” là ghét, chỉ về tấm lòng thương mến lẫn nhau củaloài người “Kiêm ái” là yêu hết mọi người

Để so sánh và xác minh ý nghĩa của “kiêm” khác với “biệt”, Mặc Tử có

ví dụ sau: “Có hai kẻ sĩ, một kẻ chuyên giữ thuyết “biệt”, một kẻ chuyên giữthuyết “kiêm” Kẻ sĩ phái “biệt” nói: “Ta há có thể ví thân bạn như thân ta, coiđấng thân của bạn như đấng thân của ta?” Và rồi thì kẻ đó thấy bạn đói khôngcho ăn, rét không cho mặc, ốm đau không thăm nuôi, chết không chôn cất

Trang 26

Kẻ sĩ phái “kiêm” nói: “Ta nghe nói làm kẻ cao sĩ ở thiên hạ, ắt ví thânbạn như thân mình, ví đấng thân của ban như đấng thân của mình, như thếmới là kẻ cao sĩ” Và rồi kẻ đó thấy bạn đói thì chia ăn, rét thì chia mặc, ốmđau thì thăm nuôi, chết thì chôn cất.

Bây giờ lại có người sắp sửa phải mặc áo giáp, đội mũ trụ ra chốn chiếntrường, sống thác chưa hay, hoặc vì việc vua quan sắp sửa phải đi sứ các nước

Ba, Việt, Tề, Hinh, tới nơi hay không tới nơi chưa biết Trong hai kẻ sĩ trênđây, người ấy sẽ đem cha mẹ, vợ con mà gửi vào nhà kẻ sĩ nào?

Có hai ông vua, một ông chuyên giữ thuyết “kiêm”, một ông chuyêngiữ thuyết “biệt”

Ông vua phái “biệt” nói: “Ta đâu có thể ví thân muôn dân như thân ta?Cái đó không phải là tính tự nhiên của thiên hạ Người ta sống ở trên đất khôngbao lâu, ví như ngựa tứ qua lỗ nẻ vậy” Và ông ta thấy dân nào đói không cho

ăn, rét không cho mặc, ốm đau không thăm nuôi, chết không chôn cất

Ông vua “kiêm” nói: “Ta nghe đấng minh quân trong thiên hạ thì trướcphải vì thân muôn dân, sau mới đến thân mình như thế mới là minh quântrong thiên hạ” Và rồi ông ta thấy dân đói thì cho ăn, rét thì mặc, đau ốm thìthăm nuôi, chết thì chôn cất

Mặc Tử quyết là dẫu kẻ ngu phu, không phải phái “kiêm” cũng gửi cha

mẹ, vợ con vào nhà kẻ sĩ phái “kiêm”, dẫu kẻ ngu phu, ngu phụ không phảidân của vua “kiêm” cũng phải đi theo vua “kiêm”, rồi kết luận: đó là người tanói thì chê bai phái “kiêm” nhưng khi kén chọn thì vẫn muốn lấy phái “kiêm”,

ấy là lời nói việc làm phản nhau” [24, tr.97]

Vậy với hai nguyên tắc “kiêm” và “biệt” lấy gì để xác định nguyên tắcnào đúng, nguyên tắc nào sai ? Mặc Tử đã đưa ra phép “tam biểu” làm quytắc, chuẩn mực để xác định sự đúng sai, lợi hại của “kiêm” và “biệt” Vớiphép “tam biểu” Mặc Tử đã có sự đóng góp lớn trong việc phát triển lý luận

về nhận thức ở Trung Quốc cổ đại

Trang 27

“Tam biểu” là gì? Mặc Tử giải thích: “nói phải dựng mẫu Nói không

có mẫu ví như ở trên bàn xoay mà nói sớm tối, phải trái, lợi hại khác nhaunhư thế nào không thể biết được Cho nên khi nói ắt phải có tam biểu - Ngôntất lập nghi… Cố ngôn tất tam biểu” [5, tr.98] Nói một cách khái quát “biểu”chính là khuôn mẫu, phép tắc, chuẩn mực để người ta suy nghĩ, ngôn luận vàhành động Với phép “tam biểu”, Mặc Tử chủ trương rằng muốn ngôn luận và

tư tưởng chính xác phải căn cứ vào ba biểu là “gốc”, “nguyên” và “dụng”

“Gốc ở đâu? Thưa trên thì lấy gốc ở chí trời và việc của các thánhvương xưa Nguyên là ở chỗ nào? Thưa thì dò xét trước sự thật tai mắt trăm

họ Dụng ở chỗ nào? Thưa là đưa ra làm việc hành chính xem có lợi cho nhànước trăm họ hay không? [5, tr.98]

Cụ thể hơn là, biểu thứ nhất, gốc ở việc thánh vương đời xưa, Mặc Tử

có ý phản đối những kẻ bảo thủ phục cổ, hơi một chút là đem Tam HoàngNgũ Đế để chứng minh, tuyệt nhiên không suy xét gì hết, cũng như hậu Nholấy Tử viết làm chứng cứ, tuyệt nhiên không có ý tứ gì riêng hay cố tìm đểsuy luận cả Mặc Tử không phản đối tòng cổ, nhưng mà phải tòng cái hay của

cổ nhân

Biểu thứ hai, xét theo sự thực trước tai mắt trăm họ Tai mắt là thuộc vềtri thức kinh nghiệm, giác quan rất thô sơ, chỉ cho ta những chứng cứ về cái gìhiển hiện, cụ thể, hữu hình Còn những vật vô hình như quỷ thần, số mệnh thìlàm sao có thể căn cứ vào kinh nghiệm cảm giác được Đây là nhược điểmcủa chủ trương thực nghiệm bên ngoài của phép luận chứng thứ hai là

“nguyên” vậy “Ngã sở dĩ tri mệnh chi hữu dữ vô giả, dĩ chúng nhân nhĩ mụcchi tình tri hữu dữ vô Hữu chi văn, hữu kiến chi, vị chi hữu Mạc chi văn,mạc chi kiến, vị chi vô Nhiên hồ bất thường khảo chi bách tính chi tình, tự cổ

dĩ cập kim, sinh dân dĩ lai giả, diệc thường kiến mệnh chi vật, văn mệnh chithanh giả hồ? Tắc vị thường hữu dã” (có nghĩa là: ta sở dĩ biết mệnh có haykhông là xét sự thực trước mắt tai mọi người mà biết là có hay không Có

Trang 28

nghe thấy, có nhìn thấy thì bảo là có, chẳng nhìn thấy, chẳng nghe thấy thìbảo là không Ta từng xét về sự thực của trăm họ, từ xưa đến nay, có dân sinhhoạt đến bây giờ có ai từng thấy cái vật số mệnh chưa? Nghe tiếng của sốmệnh chưa? Hẳn là chưa từng có vậy) [38, tr.321-322].

Đến biểu thứ ba, tuy là ưu điểm của Mặc Tử đối với thời đại nhưngcũng không khỏi có nhiều điều hạn chế Đây là biểu nói về dụng Mặc Tử chorằng cái gì đem ra ứng dụng mà không mang lại lợi ích cho dân thì xếp vàoloại vô giá trị Ở đây chúng ta nhận thấy được hạn chế của Mặc Tử đó là ở ýnghĩa của chữ lợi Có lợi chung, cũng có lợi riêng, có lợi trước mắt, cũng cólợi về lâu dài Từ xưa đến nay bao nhiêu nhà đề xướng ra chân lý, bao nhiêunhà phát minh ít ra đã thấy được cái lợi của sự phát minh của mình ngay trongđời mình

Trong “tam biểu’ thì biểu thứ nhất và biểu thứ hai có khi thay đổi vị trícho nhau Duy chỉ có biểu thứ ba luôn luôn là cuối cùng Do đó, có thể Mặc

Tử rất chú trọng đến việc ứng dụng thực tế

Như thế, “tam biểu” chính là quy tắc hướng dẫn nhận thức và hànhđộng của con người Để nhận thức, phân biệt phải trái, lợi hại người ta trướctiên phải lấy chí trời quỷ và việc làm của thánh vương xưa làm gốc Trongquá trình nhận thức, việc tổng kết, khái quát và kế thừa những kinh nghiệmcủa các thế hệ đã qua là điều hết sức quan trọng Tuy nhiên, trong tư tưởng vềphép “tam biểu” chúng ta nhận thấy Mặc Tử đặc biệt coi trọng tác dụng củakinh nghiệm cảm giác Ông cho rằng cái gì lỗ tai, con mắt không cảm thấy làkhông có Căn cứ vào những quan điểm ấy ông bác bỏ tư tưởng định mệnhluận Vì ông xuất phát từ chỗ coi trọng kinh nghiệm cảm quan và bằng chứngxác thực khách quan nên học thuyết của ông có những nhân tố duy vật chủnghĩa Nhưng do ông quá đề cao cảm giác, đồng thời coi thường tính kháchquan của nội dung kinh nghiệm cảm giác, cho rằng sự hồi tưởng của conngười cũng là cảm giác đúng đắn và lấy đó để chứng minh là có quỷ thần, nên

Trang 29

ông lại quay về với chủ nghĩa duy tâm và rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm cựcđoan hạn hẹp.

Theo “tam biểu” và lấy công lợi làm căn cứ, tiêu chuẩn cao nhất đểxem xét, thẩm định giá trị, công dụng của “kiêm” và “biệt”, Mặc Tử đã khẳngđịnh “kiêm” là đúng, là mang lợi cho dân, cho nước; “biệt” là trái, là gieo taihọa lớn cho thiên hạ Ông lập luận: “người nhân làm việc ắt vụ lấy điều lợitrừ điều hại cho thiên hạ Những điều hại cho thiên hạ thời nay, điều nào lớnhơn cả? Như nước lớn đánh nước nhỏ, nhà lớn cướp nhà nhỏ, mạnh lấn yếu,đông hiếp ít, láu lừa ngu, sang khinh hèn, đó là những điều lớn cho thiên hạ…Hãy tìm nguồn gốc của những điều hại ấy bởi đâu mà ra? Có phải bởi ghétngười, làm hại người là “kiêm” hay “biệt”? Ắt phải nói là “biệt” Thế thìnhững kẻ gieo “biệt” quả là hại lớn cho thiên hạ chăng? Cho nên “biệt” là tráivậy” [5, tr.100]

“Kẻ cho người ắt là sai phải có gì thay vào…”, cho nên ta nói “kiêm đểthay biệt” Nhưng “kiêm” có thể thay “biệt” vì cớ gì ? Trả lời rằng, nếu đã coinước người như nước mình thì có còn ai đem nước mình đánh nước đánhnước người nữa không, vì người cũng như mình Nếu coi đô người như đômình thì còn ai đi đánh chiếm đô người, vì người cũng như mình Nếu coi nhàngười cũng như nhà mình thì còn có ai đi làm loạn nhà người nữa không, vìngười cũng như mình Nay các nước, các đô không chiếm nhau, các nhà, cácngười không gây nhau thì đó là cái lợi cho thiên hạ “Hãy thử truy nguyênnhững điều ích lợi ở đâu mà ra Có phải ở sự ghét nhau, làm hại người mà rachăng? Ắt rằng không phải Ắt rằng do sự yêu người, làm lợi cho người màra… Những kẻ yêu người, làm lợi cho người là phái Biệt hay là Kiêm? Ắtrằng phái Kiêm Thế thì những kẻ gồm chung mọi người quả đã sinh ra lợilớn cho thiên hạ vậy” [38, tr.338]

Như vậy ở đây Mặc Tử đã chỉ rõ việc “Biệt là sai Kiêm là đúng” vàtrong cuộc sống phải “Lấy Kiêm làm chính” Để chứng minh cho quan điểm

Trang 30

này của mình Mặc Tử đã đưa ra những dẫn chứng xác đáng từ những điềumắt thấy tai nghe của dân chúng; từ những việc làm, hành động của các bậctiên vương

Từ tư tưởng về “Kiêm” và “Biệt” trong đạo đức Mặc Tử còn quy nó vềmặt xã hội để từ đó phân biệt tốt xấu Ông quy xã hội xấu là một xã hội dohạng “Biệt sĩ”, “Biệt quân” chi phối và quy xã hội tốt thành xã hội do dạng

“Kiêm sĩ”, “Kiêm quân” chi phối Ở đây, Mặc Tử dám dùng danh từ “Biệtquân”, việc đó cũng cùng có tinh thần như việc Khuất Nguyên dùng danh từ

“úng quân” để phê phán giai cấp thống trị; Và Mặc Tử lại còn dũng cảm hơnnữa khi ông không những lột trần mâu thuẫn hiện thực lịch sử, mà còn phânbiệt giai cấp người “biệt” và giai cấp người “kiêm” trong xã hội loài ngườithời đó; người “biệt” trên thực tế là quý tộc thị tộc, người “kiêm” trên thực tế

là dân chúng; cái gọi là “dùng kiêm thay cho biệt”, tức là biểu hiện sự thịnhsuy của giai cấp xã hội Trong “nguyên lý kinh tế học”, Ri-các-đô đã chia loàingười ra thành ba giai cấp lớn, việc đó được Mác thừa nhận là có giá trị khoahọc, Mặc Tử ở trong một thời đại khác cũng đã có một sáng kiến tương tựnhư vậy

Trang 31

Chương 2 NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT “KIÊM ÁI” -

GIÁ TRỊ , HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÚNG

2.1 Nội dung chủ yếu của học thuyết “kiêm ái”

Thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, những người phát ngôn cho giai cấpthống trị phong kiến họ dùng những hình thức biểu hiện lý luận của mình rấtkhác nhau nhưng tựu chung lại đều muốn bảo vệ chế độ phong kiến với sựphân biệt đẳng cấp trong xã hội Xuất phát từ lợi ích giai cấp nông dân vànhững người hèn kém trong xã hội, Mặc Tử đã lên tiếng chống lại nhữngquan điểm trên và đặc biệt bài trừ chế độ phân biệt đẳng cấp đang tồn tại Đểlàm được điều này ông đã đề ra học thuyết “kiêm ái” Đây là nội dung chínhtrong tư tưởng triết học của Mặc Tử, nó là gốc, là điểm xuất phát để từ đó ôngxây dựng lên hệ thống triết học của mình Vậy “kiêm ái” là gì ? Chúng ta hãy

đi vào tìm hiểu những khía cạnh cơ bản của phạm trù này

2.1.1 Kiêm ái là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp, sang hèn

Ở chương 1 chúng ta đã phân biệt được hai khái niệm “kiêm” và “biệt”.Theo Mặc Tử con người phải kiêm ái, vì “trời muốn con người yêu thươngnhau, làm lợi cho nhau chứ không muốn con người ghét nhau, làm hại nhau”(Thiên dục chi nhân tương ái, tương lợi; nhi bất dục nhân tương ố, tương tặcdã) Bởi vậy, kiêm ái thì xã hội thái bình ngược lại thì xã hội sẽ hỗn loạn

“Ái” là “nhân”, “kiêm” là “nghĩa”, “kiêm ái” là “nhân nghĩa” Cho nênkhi thực hiện được cái đức căn bản ấy sẽ làm cho đạo đức luân lý xã hội trởnên tốt đẹp và người ta có thể đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức khácnhư huệ, trung, từ, hiếu, kính đễ…, người người no đủ, nhà nhà hạnh phúc,quốc gia yên lành, thiên hạ bình trị Mặc Tử viết: “Nếu thiên hạ cùng yêuthương nhau, ai ai cũng yêu người như yêu thân mình thì còn kẻ bất hiếu nữa

Trang 32

chăng? Coi cha mẹ và vua như thân mình thì còn kẻ bất hiếu, bất trung nữachăng? Coi anh em và bề tôi như thân mình, ghét làm những điều bất từ, bấthiếu thì sự bất từ, bất hiếu sẽ không còn nữa Còn có trộm giặc nữa chăng? Đãcoi nhà người như nhà mình thì ai ăn trộm? Đã coi thân người như thân mìnhthì còn ai làm giặc? Cho nên trộm, giặc sẽ không còn nữa Còn đại phu làmloạn nhau, chư hầu đánh nhau nữa chăng? Đã coi nhà người như nhà mình thìcòn ai làm loạn? Đã coi nước người như nước mình thì còn ai đánh lẫn nhaunữa? Cho nên cái nạn đại phu làm loạn lẫn nhau, chư hầu đánh lẫn nhau sẽkhông còn nữa Nếu như thiên hạ đã gồm yêu nhau, nước nọ nước kia khôngcòn đánh lẫn nhau, nhà nọ nhà kia không còn loạn lẫn nhau, trộm giặc không

có, vua tôi, cha con đều hiếu từ, như thế thì thiên hạ trị” [5, tr.101-102]

Như vậy, qua đây chúng ta nhận thấy trong tư tưởng của Mặc Tử “kiêmái” cụ thể là gì ? Tuy nhiên, “kiêm ái” đối với ông không chỉ là mọi người yêuthương những người thân với mình, gần với mình, mà nó còn có một bướcphát triển cao hơn Do chỗ trong xã hội có sự khác nhau về thứ bậc sang hèn,giàu nghèo nên “kiêm ái” ở đây phải là “thương yêu rộng khắp, không kể thân

sơ, không phân biệt thứ bậc”, chỉ lấy tình yêu thương của con người để đốiđãi với nhau Ông viết: “Thương yêu người phải yêu cho rộng khắp rồi mớicho là thương yêu người, không thương yêu người thì không rộng khắp”;

“Thân với họ hàng thì sẽ riêng biệt, yêu cái riêng tư thì sẽ phải hiểm ác vớimọi người Dân thì đông đảo mà chỉ nhắm vào cái riêng biệt và hiểm ác thìdân sẽ loạn” [45, tr.136]

Quan điểm yêu thương tất cả mọi người trong xã hội của Mặc Tử đã vôtình chống đối lại một cách gay gắt so với các tư tưởng đương thời, đặc biệt làNho giáo của Khổng Tử Nếu như Khổng Tử coi “nhân” là đạo sống của conngười, hết lòng hết dạ thành tâm thật ý, suy lòng mình ra lòng người, cái gìmình không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác, nhưng lại có sựphân biệt luân loại thứ bậc, “thương yêu người thân, quý trọng người sang”

Trang 33

Thì với Mặc Tử, nhân nghĩa hay “kiêm ái” lại là yêu thương tất cả mọi ngườinhư nhau không phân biệt trên dưới, thân sơ, quý tiện.

“Kiêm ái” của Mặc Tử ở đây có nét giống với “bác ái” của Thiên chúagiáo, “từ bi” của Phật giáo… Đó là điều hướng tới con người, vì con người.Mặc dù nó vẫn còn mang đậm tính chất duy tâm

2.1.2 Mối quan hệ giữa “kiêm” với “lợi”

“Kiêm ái” là cái quyết định bộ mặt đạo đức của xã hội Song cái gì làtiêu chí để xem xét xã hội ấy có thực sự “kiêm ái” hay không ? Theo Mặc Tử

đó là “lợi” Kiêm ái là vì lợi Khi nào con người thực sự yêu thương nhau thìkhi đó con người sẽ làm lợi cho nhau Nên kiêm ái của Mặc Tử là “kiêmtương ái, giao tương lợi” (thương yêu lẫn nhau, đem lại điều lợi cho nhau).Mặc Tử giải thích: “Ta không biết rằng: người con có hiếu muốn làm cho cha

mẹ mình sung sướng thì có muốn rằng người khác cũng yêu thương nhau vàlàm điều lợi cho cha mẹ họ không? Hay là lại muốn người khác ghét bỏ vàlàm hại cha mẹ họ? Lấy lý mà xét thì chắc là người con có hiếu ấy cũng muốnngười khác thương yêu và làm điều lợi cho cha mẹ họ Như thế thì trước hết

ta phải làm thế nào để được như thế? Ta có muốn trước hết là làm điềuthương yêu và có lợi cho cha mẹ người khác, rồi sau người báo đáp lại ta sẽlàm điều thương yêu và có lợi cho cha mẹ ta? Hay là ta muốn trước hết ta cứghét bỏ và làm hại cha mẹ người khác rồi sau người khác báo đáp lại ta cứlàm điều thương yêu và có lợi cho cha mẹ ta? Chắc hẳn là ta muốn trước hếtphải làm điều thương yêu và có lợi cho cha mẹ ta vậy… Trong thơ Đại Nhã(Kinh Thi) có nói rằng: “không có lời nói nào mà không được trả lại, không

có ân đức nào mà không được báo đáp: Ném cho ta quả đào, ta sẽ báo đền lạiquả mận” Điều đó có nghĩa là thương yêu người thì sẽ thấy được tình yêuthương, ghét bỏ người sẽ thấy sự ghét bỏ vậy” [45, tr.136-137]

Mặc Tử cho rằng giữa người với người chỉ có trên cơ sở “đối đãi vớinhau cùng có lợi” mới có thể thực hiện được thứ tình yêu thương rộng khắp

Trang 34

không phân biệt thứ bậc của ông Nếu làm được điều này thì việc xây dựngmột xã hội mới mà ở đó con người sống trên nguyên tắc bình đẳng, yêuthương nhau sớm được thực hiện.

“Lợi” và “kiêm” quan hệ với nhau rất khăng khít “đem cái tai tinh, mắtsáng trông nghe cho nhau, đem cái tay chân khỏe mạnh làm lụng giúp nhau,

mà kẻ có đạo thì dạy bảo nhau Cho nên những người già nua không có vợ conthì có kẻ hầu, người nuôi cho trọn tuổi thọ, những kẻ nhỏ yếu, mồ côi cha mẹthì có chỗ nương tựa cho đến khi khôn lớn Nếu cho “kiêm” là phải thì cái lợinhư thế đó” [5, tr.102] Cái lợi trong tư tưởng của Mặc Tử có nét độc đáo riêng

* “Lợi” luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với “nhân” và “nghĩa”

Nếu như ở Nho gia của Khổng Tử, “lợi” là cái gì đó hoàn toàn đối lậpvới “nhân”, “nghĩa” thì ở Mặc Tử “lợi” lại gắn bó không tách rời với haiphạm trù này

Về nhân, Mặc Tử nói “người nhân làm việc gì cũng mang lấy cái lợi,trờ cái hại cho thiên hạ Họ lấy điều sau đây làm phép tắc: Cái gì lợi chongười thì làm, không có lợi thì ngừng” (Nhân giả chi sự tất vụ hưng thiên hạchi lợi, trừ thiên hạ chi hại: Lợi nhân hồ vi, bất lợi nhân hồ tắc chi) Mặc Tửchỉ rõ: người có đức nhân mưu tính cho thiên hạ không khác gì người con cóhiếu mưu tính cho cha mẹ Người con có hiếu mưu tính cho cha mẹ ra sao?Đáp là cha mẹ nghèo thì làm cho cha mẹ giàu lên Người nhân khi mưu tínhcho thiên hạ cũng phải nghĩ tới việc thiên hạ nghèo thì phải cố gắng làm chothiên hạ giàu lên

Về nghĩa, Mặc Tử nói: “Nghĩa là cái chính đáng Tại sao biết đượcnghĩa là cái chính đáng? Bởi thiên hạ có lợi thì trị, vô nghĩa thì loạn Từ đóbiết rằng nghĩa là cái chính đáng” (Nghĩa giả chính giả Hà dĩ tri nghĩa chi vichính dã? Thiên hạ hữu lợi tắc trị, vô nghĩa tắc loạn Ngã dĩ thủ tri nghĩa chi

vi chính dã) Ở đây, khi Mặc Tử cho rằng thiên hạ nếu có lợi thì trị, không cónghĩa thì loạn Điều này có nghĩa ông quan niệm rằng có lợi thì thiên hạ trị,

Trang 35

vô lợi thì thiên hạ loạn Như vậy, Mặc Tử đã đồng nhất lợi với nghĩa trong tưtưởng của mình.

* “Lợi” luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với thiên hạ

Sách Mặc Tử kể rằng: có người khen vua các nước Kinh, Ngô ởphương Nam; vua các nước Tề, Tấn ở phương Bắc khi mới làm chư hầu thìđất không được vài trăm dặm, dân không được vài chục vạn thế mà nhờchiếm nước người mà đất, mà dân nhiều lên gấp mấy chục lần Mặc Tử bảo:Tuy bốn nước Kinh, Ngô, Tề, Tấn được lợi nhưng cái lợi ấy không phải đạo;giống như người thầy thuốc, trị bệnh cho cả thiên hạ mà chỉ có bốn, nămngười khỏi thì sao gọi là thầy thuốc biết nghề Như vậy, lợi của Mặc Tửkhông phải là tư lợi, nó không dành riêng cho một vài nước, một vài dân tộc

mà là cái lợi của toàn thiên hạ

Ý nghĩa, công dụng và ích lợi của “kiêm ái” do Mặc Tử đề ra thật là tolớn và thiết thực Nhưng làm thế nào để cho mọi người tin tưởng vào nó, dựavào đó để hành động trong đời sống Bởi vì thực hiện “kiêm ái” khó chẳngkhác nào như “kẹp núi Thái Sơn nhảy qua sông Hoàng Hà” Mặc Tử đã bác

bỏ lại luận điệu trên, ông cho rằng việc xách núi Thái Sơn nhảy qua sôngHoàng Hà là việc xưa nay chưa ai làm được, nhưng nếu con người biết yêuthương nhau, làm lợi cho nhau, thì đó là việc mà các đấng quân vương đờitrước đã làm nhiều rồi Ngày nay cho rằng không làm được chỉ vì các đấngquân vương không thích Và từ đó Mặc Tử đưa ra tấm gương của các đấngquân vương xưa để chứng minh cho mọi người thấy “kiêm ái” được thựchành trong đời sống như thế nào Ví dụ như, vua Vũ trong mấy năm trời loviệc trị thủy, làm việc ngày đêm, vì nghĩa, đi ngang qua nhà cũng không kịpghé thăm người thân Vua Thang trong lúc đại hạn đã cầu trời nhận mình làmvật hi sinh chuộc tội để trời tha cho dân chúng thoát khỏi hạn hán

Trong quan điểm của Mặc Tử, muốn thực hành “kiêm ái” thì trước hếtnhững người trên phải gương mẫu đem “kiêm ái” ra làm chính trị thì kẻ dưới

ắt sẽ noi theo, vì: “tới những việc đánh thành đánh đồng, tự thân giết mình để

Trang 36

giữ danh tiếng mà khi ông vua muốn thì dân cũng làm được, huống chi cáiviệc yêu thương lẫn nhau và làm lợi cho nhau Yêu người thì người yêu mình,làm lợi cho người thì người làm lợi cho mình, cái đó có khó gì đâu Chỉ vìngười trên không đem “kiêm ái” ra làm chính trị, kẻ sĩ không coi đó là nết củamình, thế thôi” [5, tr.103].

Kiêm ái là cái đạo của thánh nhân, bậc quân vương, đại phu nhờ nó màyên ổn, đời sống nhân dân nhờ nó mà no đủ Cho nên bậc quân vương khôngthể không xem kỹ đức “kiêm” mà thi hành nó Thi hành nó thì vua chúa ắt cólòng huệ, bề tôi ắt có lòng trung, cha mẹ ắt có lòng từ, con ắt có lòng hiếu,anh ắt có lòng thương em, em ắt có lòng kính anh… Kiêm ái là đạo của thánhnhân mà là cái lợi của muôn dân

Kiêm ái là đức cơ bản của mọi đức tính con người, là lợi lớn cho thiên

hạ Vì vậy, ngoài việc dùng quyền uy anh minh của trời và quỷ thần để thuphục mọi người yêu thương nhau, làm lợi cho nhau không phân biệt sang hèn,trên dưới Mặc Tử còn chủ trương dùng sức mạnh và thế lực của nhà nước, thểchế xã hội để thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội

“Kiêm tương ái - giao thương lợi” là một tư tưởng đại đồng để lấy tríthức xây dựng cho một tôn giáo tình yêu bình đẳng, của một ý chí tối caotuyệt đối vượt lên trên cả xã hội mà không độc đoán như một mệnh lệnhchính trị Tuy nhiên, vì quá thiên về mặt “kiêm” mà bỏ rơi mặt “biệt” cho nênMặc Tử đã vướng phải sai lầm

Sau này phái Hậu Mặc cũng chỉ ra rằng đặc trưng cơ bản của “kiêm ái”

là gồm yêu hết thảy mọi người như nhau và lợi ích là tiêu chuẩn để xem xét ýthức và hành động của con người ta có “kiêm ái” hay không Không nhữngthế họ còn cho rằng ngay cả những phạm trù đạo đức như: trung hiếu, chícông v.v…, cũng phải lấy mục đích làm lợi người là tiêu chuẩn trên hết.Thiên “Kinh thượng” viết: “Hiếu là lợi cha mẹ; trung là lợi vua; công là lợidân” [4, tr.285] Nhưng trước sự phê phán, công kích của các triết gia thuộccác trường phái triết học khác thời bấy giờ như Mạnh Kha, Tuân Hống, Hàn

Trang 37

Phi v.v …, và để cho học thuyết “kiêm ái” của Mặc gia phù hợp với điều kiệnlịch sử xã hội mới, phái Hậu Mặc đã bổ sung và điều chỉnh thuyết “kiêm ái”,rằng: kiêm ái là gồm yêu và làm lợi cho tất cả mọi người như nhau, nhưng có

sự phân biệt thân sơ, trên dưới, gần xa, già trẻ

Kiêm ái là nền tảng đạo đức xã hội; nó được thể hiện trong đời sốngchính trị thông qua các phạm trù “phi công”, “thượng hiền”, “thượng đồng”;thể hiện qua sinh hoạt đời thường thông qua các phạm trù “tiết dụng”, “phinhạc”, “tiết táng”

2.1.3 Sự thể hiện của “kiêm ái” trong đời sống chính trị và sinh hoạt thường ngày

2.1.3.1 “Kiêm ái” trong đời sống chính trị với các phạm trù “phi công”, “thượng đồng”, “thượng hiền”

* Phi công

Đây là thiên nói về chiến tranh rất nổi tiếng của Mặc Tử Mặc Tử đãchủ trương “kiêm ái” nay lại tận mắt nhìn thấy những thảm họa chiến tranh docác nước chư hầu gây ra, Mặc Tử tỏ thái độ căm ghét chiến tranh, phản đốicác cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, đả phá, mạt sát thái độ hiếu chiếncủa bọn vua chúa đương thời Ông cho rằng, chính sách “nghi binh” thườngdùng không phải là gốc rễ để giữ sự thái bình thịnh trị cho xã hội Khi thấycác nước giao chiến với nhau Mặc Tử luôn đem thuyết “chiến tranh luôn bấtlợi cho hai bên” để giảng giải can ngăn họ Ông chỉ ra chiến tranh bất lợi vì ba

lý do:

- Một là, chiến tranh xâm lược nếu thua thì tất nhiên là bất lợi, mà nếuthắng thì lợi không đủ bù hại Vì muốn giành được chiến thắng thì phải tàn sát,đốt phá tan hoang thành địch, khi chiếm được chỉ là thành không, thành chết

- Hai là, kẻ đi xâm lược hiểu lầm rằng hễ chiếm được đất đai, mở mangthêm bờ cõi là giàu mạnh mà không biết rằng khi mình đánh người thì mìnhcũng lực cạn sức suy Lúc đó kẻ thứ ba đang rình mình, nếu có cơ hội sẽ đánh

Trang 38

mình Nếu không, thì chính kẻ thua sẽ nuôi thù, giữ hận, tự cường đến khimình yếu rồi sẽ đánh lại Cứ xét lịch sử sẽ rõ, không có nước nào dùng chiếntranh mà mạnh và giữ được đất lâu.

- Ba là, người là do trời sinh, là dân của trời Nay gây chiến tranh giếtngười, gây điều ác là trái với ý trời, trời sẽ trừng phạt

Mặc Tử cho rằng, việc nước này tấn công nước khác chỉ vì hai lý do:một là hám lợi cho riêng nước mình và hai là ham danh thắng người khác chobản thân mình

Về lợi, Mặc Tử chỉ rõ muốn chiến tranh phải bắt dân bỏ việc ruộngđồng Bỏ một mùa, một trăm họ đói rét Khi cất quân đi thì người khỏe, ngựamập, tên tre, cờ lông, màn trướng, giáp dày, mác nhọn nhiều không biết baonhiêu mà kể Khi về thì quân khí hư hỏng, người, ngựa gầy còm, bệnh tật, chếtchóc cũng nhiều không biết bao nhiêu mà kể Cho nên cái lợi là lợi của vuachúa chứ thần dân cả bên thắng lẫn bên thua đều bị hại Như vậy, chiến tranh

có lợi cho ít người, có hại cho nhiều người Vì vậy, cần phản đối chiến tranh

Về danh, Mặc Tử cho rằng người đời thường ham danh thắng ngườikhác nhưng xét đến cùng, cái danh ấy chẳng dùng được vào việc gì, nó chỉ làthứ vô dụng

Như vậy, vì lợi của mình, vì danh của mình mà xâm chiếm nước khác

là bất nhân, bất nghĩa, trái với ý trời, trái với đạo làm người, nên “kiêm ái” làphải “phi công”

Mặc Tử đã đưa ra những quan điểm đầy tính biện luận về sự chết chóctrong chiến tranh, phân biệt điều nghĩa, điều bất nghĩa trong đời sống xã hội.Ông đưa ra ví dụ: “Giết một người thì gọi là bất nghĩa, tất có một tội chết.Nếu cứ theo đấy mà luận, thì giết mười người thì mười lần bất nghĩa nặnghơn, tất phải tội mười lần chết Giết trăm người, bất nghĩa nặng lên trăm lần,tất phải đền tội trăm cái chết Như thế người quân tử trong thiên hạ đều biết

mà chê gọi là bất nghĩa Nay điều bất nghĩa cực lớn là cướp nước thì không

Trang 39

biết là trái, còn hùa theo mà khen, gọi là nghĩa Tình thực không biết là bấtnghĩa, cho nên chép lại lời nói để lại cho thế hệ về sau Nếu có biết là bấtnghĩa thì sao còn viết sách nói điều bất nghĩa để lại hậu thế hay sao?… Naythấy làm điều trái nhỏ thì biết cho là trái, làm điều trái lớn như cướp nước thìkhông biết là trái, còn hùa theo mà khen là nghĩa Như thế có thể cho là biếtphân biệt điều nghĩa với bất nghĩa chăng? Bởi thế nên biết rằng người quân tửtrong thiên hạ rối loạn trong việc biện biệt điều nghĩa với bất nghĩa vậy” [38,tr.317-318].

Đưa ra quan điểm phản đối chiến tranh xâm lược nhưng Mặc Tử vẫnbênh vực chiến tranh tự vệ, trong thực tế tổ chức của Mặc gia rất giỏi tự vệ

Tư tưởng này của ông đã bị rất nhiều người phê phán, bởi lẽ họ cho rằng Mặc

Tử tự mâu thuẫn với chính mình “vừa ghét chiến tranh - vừa ủng hộ chiếntranh” Thực ra thì trong “phi công”, Mặc Tử chỉ bàn về chiến tranh tự vệ haythuật phòng vệ của một nước nhỏ mà thôi Ông nói: “Binh là cái móng nhọncủa nước, thành trì là để tự thủ”, hay “nước lớn mà không dám đánh nước nhỏ

là vì nước nhỏ chất chứa quân nhu nhiều, thành quách được sửa sang, trêndưới đều hòa thuận với nhau” [5, tr.115]

Như vậy, qua thiên “phi công” chúng ta thấy tư tưởng phản đối chiếntranh của Mặc Tử một mặt thể hiện thái độ của ông đối với sự xâm lược thôntính lẫn nhau trong xã hội đương thời, mặt khác nó cũng là đòn cảnh cáo đốivới bọn gây chiến và những điều lợi, điều bất lợi trong và sau chiến tranh ởmỗi nước

* Thượng hiền

Vào thời Mặc Tử, nền chính trị quý tộc theo tông pháp nhà Chu đã bịlung lay, nhưng chế độ thống trị cha truyền con nối vẫn chưa bị tiêu diệt,quyền thế nói chung vẫn nằm trong tay quan lại quý tộc Bàn về chính trị lúc

ấy, ngay cả Khổng Tử, mặc dù phản đối chế độ cai trị theo dòng dõi huyếtthống, chủ trương “hữu giáo vô loại”, đòi kẻ thống trị phải coi trọng con

Trang 40

người, nhưng vì lợi ích giai cấp nên vẫn bảo vệ chế độ lễ nghĩa nhà Chu, “yêuthương người thân, quý trọng người sang” Điều này hoàn toàn đối lập vớichủ nghĩa “kiêm ái” của Mặc Tử Dựa trên nền tảng quan điểm yêu thương tất

cả mọi người của “kiêm ái”, Mặc Tử đã kịch liệt phản đối chế độ cai trị cótính chất thế tập Ông đã phê bình nền thống trị đương thời một cách gay gắt

ở chỗ: trong chế độ này họ hàng thân thuộc thì dùng, bỗng nhiên vô cớ trởnên giàu có, thấy mặt mũi sáng sủa thì dùng Vì thế cho nên mới xảy rachuyện, một người không thể cai trị nổi một trăm người thì lại cho làm quancai trị cả một ngàn người, một người không đủ sức cai trị một ngàn người thìlại cho làm quan cai trị cả một vạn người Điều đó dẫn đến chức quan lớn gấpmười lần năng lực của họ Mà việc của dân, của nước ngày nào cũng phải thihành nhưng năng lực của quan thì không thể trong ngày một, ngày hai màtăng nhanh chóng được nên dù quan có cố gắng hết sức thì mười phần côngviệc chỉ giải quyết được một phần Từ đó dẫn tới việc xã hội bê trễ, người dânđói không có ăn, rét không có mặc, mệt nhọc không được nghỉ ngơi và từ đódẫn tới sự bất bình trong dân khiến dân nổi loạn làm cho xã hội rối ren khôngđược thịnh trị

Từ những gì nhìn nhận thấy trong xã hội Mặc Tử đã đưa ra chủ trương

“thượng hiền”, lựa chọn và sử dụng những người hiền tài, nhân đức bất kể họ

ở địa vị nào trong xã hội để đưa lên giữ trọng trách chăn dân, trị nước Ôngnói: “Quan không quý đời đời, mà dân không tiện mãi mãi Ai có tài năng thì

đề cử họ Ai không có tài năng thì hạ họ xuống” [5, tr.111]

Với quan điểm trọng người hiền tài Mặc Tử muốn đả phá sự hạn chếcủa giai cấp thống trị đương thời và muốn lấy một thứ chế độ dựa trên tàinăng, đức hạnh làm tiêu chuẩn để thay thế cho chế độ cha truyền con nối đangthống trị trong xã hội Đây là mầm mống của những tư tưởng dân chủ Mặc

Tử nói: “Các bậc vua chúa và những chức quan to, nếu sáng suốt biết tôntrọng người hiền và sử dụng các tài năng vào chính sự thì sẽ làm cho dân

Ngày đăng: 21/07/2014, 09:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Tuyết Ba (2003), “Chuẩn mực đạo đức trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực đạo đức trong bối cảnh của nềnkinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Thị Tuyết Ba
Năm: 2003
2. Phan Bội Châu (1991), Toàn tập, tập 10, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1991
3. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (1996), Đại cương triết học Trung Quốc (Thượng và hạ), Nxb. Cảo Thơm, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc(Thượng và hạ)
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Cảo Thơm
Năm: 1996
6. PGS. TS. Doãn Chính (2009), Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học Trung Quốc
Tác giả: PGS. TS. Doãn Chính
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 2009
7. Ngô Vinh Chính, Vương Miện Quý (chủ biên - 1994), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịchsử văn hóa Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
8. Đảng cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 1996
9. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Năm: 2001
10. Vũ Văn Gầu (2003), “Kiêm ái nhân sinh - triết lý độc đáo của Mặc Tử”, Tạp chí Triết học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiêm ái nhân sinh - triết lý độc đáo của Mặc Tử”,"Tạp chí Triết học
Tác giả: Vũ Văn Gầu
Năm: 2003
11. PGS. TS. Đoàn Đức Hiếu (2001), “Giá trị đạo đức trong cơ chế thị trường”, Thông tin khoa học, (12), Trường Đại học Khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị đạo đức trong cơ chế thịtrường”, "Thông tin khoa học
Tác giả: PGS. TS. Đoàn Đức Hiếu
Năm: 2001
12. Đoàn Đức Hiếu (2002), Giáo trình lịch sử triết học phương Đông, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử triết học phương Đông
Tác giả: Đoàn Đức Hiếu
Năm: 2002
13. PGS. TS. Đoàn Đức Hiếu (2003), Sự phát triển của cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của cá nhân trong nềnkinh tế thị trường định hướng XHCN
Tác giả: PGS. TS. Đoàn Đức Hiếu
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
14. Ri Giang Hồng (2010), 100 vĩ nhân trong lịch sử Trung Hoa, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 vĩ nhân trong lịch sử Trung Hoa
Tác giả: Ri Giang Hồng
Nhà XB: Nxb. Tổnghợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
15. Đỗ Huy (1995), “Sự thay đổi các chuẩn mực các giá trị văn hóa khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường”, Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thay đổi các chuẩn mực các giá trị văn hóa khi nềnkinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Đỗ Huy
Năm: 1995
16. Đỗ Huy (2006), “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bước phát triển mới về đạo đức trong văn hóa Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bước phát triển mớivề đạo đức trong văn hóa Việt Nam”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Đỗ Huy
Năm: 2006
17. Ian. P. MeGreal (2005), Những tư tưởng gia vĩ đại phương Đông, Nxb.Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tưởng gia vĩ đại phương Đông
Tác giả: Ian. P. MeGreal
Nhà XB: Nxb.Lao động
Năm: 2005
18. Nguyễn Thiện Kế (1996), “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay”, Tạp chí Triết học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việcđịnh hướng các giá trị đạo đức hiện nay”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Thiện Kế
Năm: 1996
19. Đàm Gia Kiện (chủ biên, bản dịch của Phan Văn Các, Thạch Giang, Trương Chính) (1996), Lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Đàm Gia Kiện (chủ biên, bản dịch của Phan Văn Các, Thạch Giang, Trương Chính)
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xãhội
Năm: 1996
20. Phùng Hữu Lan (bản dịch Nguyễn Văn Dương) (1999), Đại cương triết học sử Trung Quốc, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triếthọc sử Trung Quốc
Tác giả: Phùng Hữu Lan (bản dịch Nguyễn Văn Dương)
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 1999
21. Phan Huy Lê (1995), “Truyền thống dân tộc trong công cuộc đổi mới và hiện đại hóa đất nước Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu con người, giáo dục, phát triển và thế kỷ XXI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống dân tộc trong công cuộc đổi mới vàhiện đại hóa đất nước Việt Nam”
Tác giả: Phan Huy Lê
Năm: 1995
22. Hầu Ngoại Lư, Triệu Kỳ Bân, Đỗ Quốc Tưởng (1959), Hiển học Khổng Mặc, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiển học KhổngMặc
Tác giả: Hầu Ngoại Lư, Triệu Kỳ Bân, Đỗ Quốc Tưởng
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1959

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w