Du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong những năm gần đây trong đó không thể không kể đến sự đóng góp của hoạt động du lịch cộng đồng. Với mục tiêu chính là tạo ra thu nhập bổ sung cho người dân, bảo tồn và duy trì các nguồn tài nguyên văn hóa của địa phương, phát triển và tăng cường cơ sở hạ tầng và cơ sở kinh doanh du lịch, xây dựng năng lực và tăng thêm quyền cho cộng đồng, tạo sự hiểu biết giữa dân cư địa phương với cơ sở kinh doanh và khách du lịch, du lịch dựa vào cộng đồng ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển hoạt động du lịch của địa phương nói riêng. Thông qua hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng, người dân có thêm thu nhập từ việc đón khách, cho thuê đất cắm trại, chỗ nghỉ đêm (home stay), dịch vụ ăn uống và hướng dẫn khách tham quan... Tham gia các chương trình tour du lịch dựa vào cộng đồng, du khách có cơ hội khám phá nơi sinh sống, tham quan, tìm hiểu các tập tục sinh hoạt, tập quán canh tác của người dân bản địa. Tại các vùng nông thôn và vùng ven biển, nơi chưa có sự tác động lớn của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là vùng có nhiều người dân nghèo sinh sống với các nếp sinh hoạt mang đậm đà bản sắc riêng rất phù hợp để phát triển loại hình du lịch dựa vào cộng đồng Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch còn mới ở Việt Nam. Một số mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng đã được hình thành bước đầu ở một số địa phương như tại SaPa (Lào Cai), Thừa Thiên Huế... do Tổ chức phát triển Hà Lan giúp đỡ; tại Hòn Mun Khánh Hòa, Giao Thủy Nam Định do Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng tài trợ... Một số địa phương cũng đã hình thành ở mức độ khác nhau sự liên kết của cộng đồng trong kinh doanh du lịch... Nhìn chung, phát triển du lịch dựa vào cộng đồng nêu trên đã có tác dụng tích cực, đem lại lợi ích cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo và nâng cao ý thức về bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường. Song các kết quả này còn ở phạm vi hẹp, tự phát, hoạt động du lịch cộng đồng còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa khai thác mạnh được những đặc điểm, lợi thế của du lịch dựa vào cộng đồng. Vùng ven biển Nam Định bao gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu Nghĩa Hưng tiếp giáp với biển Đông ở phía Đông Nam, diện tích khoảng 700km2. Bờ biển kéo dài 72km từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy. Vùng ven biển Nam Định là khu vực rất phong phú về các kiểu sinh cảnh, trong đó quan trọng nhất là các bãi cát ngập triều, trảng sậy và rừng ngập mặn. Ngoài ra, các bãi bồi ngập triều cũng là một sinh cảnh quan trọng, là nơi kiếm ăn của các loài chim ven bờ, trong số đó có một số loài được đưa vào sách đỏ bị đe doạ toàn cầu như: Mòng bể mỏ ngắn, Cò mỏ thìa... Đây còn là nơi trú ngụ của một số loài chim khác với số lượng lớn. Rừng ngập mặn ở vùng ven biển Nam Định có thực vật ưu thế thuộc loài Trang, Bần Chua, Vẹt Dù và Sú. Khu vực có giá trị về sinh cảnh và đa dạng sinh học phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là du lịch. Vùng ven biển Nam Định cũng là nơi có nhiều địa danh lịch sử và giàu truyền thống văn hoá như là ngọn hải đăng cồn Vành, thăm tượng đài Trường Chinh, thăm làng quê Hành Thiện, nhà thờ Bùi Chu, nhà thờ Phú Nhai, đình, chùa của các xã, làng ven biển... hoặc đi thuyền xa xa chút du khách đến thăm các nông trường cói, chiếu (Thái Bình)… Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tài nguyên và môi trường tự nhiên ở vùng ven biển Nam Định đã và đang bị suy thoái, ô nhiễm do tình trạng khai thác tài nguyên quá mức, tạo ra các sức ép đối với tài nguyên môi trường của vùng ven biển. Do vậy, đề tài đã chọn vùng ven biển Nam Định là điểm nghiên cứu.. Các giá trị tài nguyên môi trường hiện đang bị tác động bởi sức ép mưu sinh, sinh kế của người dân. Để bảo tồn và phát huy các giá trị trên, góp phần phát triển bền vững cần có sự chuyển đổi phương thức sinh kế truyền thống và du lịch cộng đồng là một phương pháp tiếp cận có hiệu quả. Có thể dễ dàng nhận thấy, cộng đồng dân cư ở vùng ven biển Nam Định sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, và khai thác các nguồn lợi sẵn có về thuỷ sản và các giá trị sinh thái ven biển. Việc khai thác quá mức tự nhiên này đã dẫn đến huỷ hoại sự đa dạng của các hệ sinh thái ven biển, đặc biệt là hệ thống rừng ngập mặn ở VQG Xuân Thủy. Biến diện tích đất canh tác nông nghiệp thành các ao nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt cũng là một cách tàn phá tài nguyên đất đai, làm mặn hoá các cánh đồng đã được thau chua rửa mặn. Trong bối cảnh trên việc lựa chọn một phương thức tiếp cận mới về sinh kế của người dân sao cho vừa khai thác được những tiềm năng đa dạng và phong phú về tự nhiên và văn hóa bản địa, vừa hạn chế được những tác động, góp phần bảo tồn tự nhiên và văn hóa là hết sức cần thiết. Phát triển du lịch nói chung, đặc biệt là du lịch dựa vào cộng đồng chính là phương thức tiếp cận phù hợp với mục tiêu trên. Đây chính là lý do chọn đề tài nghiên cứu. Đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại vùng ven biển tỉnh Nam Đinh” sẽ góp phần khơi dậy tiềm năng phát triển loại hình du lịch dựa vào cộng đồng của vùng ven biển, đồng thời hướng tới mục tiêu bảo tồn bền vững đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái thuỷ sinh vùng ven biển.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu.
Du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong nhữngnăm gần đây trong đó không thể không kể đến sự đóng góp của hoạt động dulịch cộng đồng Với mục tiêu chính là tạo ra thu nhập bổ sung cho người dân,bảo tồn và duy trì các nguồn tài nguyên văn hóa của địa phương, phát triển vàtăng cường cơ sở hạ tầng và cơ sở kinh doanh du lịch, xây dựng năng lực và tăngthêm quyền cho cộng đồng, tạo sự hiểu biết giữa dân cư địa phương với cơ sởkinh doanh và khách du lịch, du lịch dựa vào cộng đồng ngày càng khẳng địnhđược vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và pháttriển hoạt động du lịch của địa phương nói riêng Thông qua hoạt động du lịchdựa vào cộng đồng, người dân có thêm thu nhập từ việc đón khách, cho thuê đấtcắm trại, chỗ nghỉ đêm (home stay), dịch vụ ăn uống và hướng dẫn khách thamquan
Tham gia các chương trình tour du lịch dựa vào cộng đồng, du khách có
cơ hội khám phá nơi sinh sống, tham quan, tìm hiểu các tập tục sinh hoạt, tậpquán canh tác của người dân bản địa Tại các vùng nông thôn và vùng ven biển,nơi chưa có sự tác động lớn của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là vùng có nhiềungười dân nghèo sinh sống với các nếp sinh hoạt mang đậm đà bản sắc riêng rấtphù hợp để phát triển loại hình du lịch dựa vào cộng đồng
Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch còn mới ở ViệtNam Một số mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng đã được hình thànhbước đầu ở một số địa phương như tại SaPa (Lào Cai), Thừa Thiên - Huế do
Tổ chức phát triển Hà Lan giúp đỡ; tại Hòn Mun - Khánh Hòa, Giao Thủy - Nam
Trang 2Định do Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng tài trợ Một
số địa phương cũng đã hình thành ở mức độ khác nhau sự liên kết của cộng đồngtrong kinh doanh du lịch Nhìn chung, phát triển du lịch dựa vào cộng đồng nêutrên đã có tác dụng tích cực, đem lại lợi ích cho người dân, góp phần xoá đóigiảm nghèo và nâng cao ý thức về bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường Songcác kết quả này còn ở phạm vi hẹp, tự phát, hoạt động du lịch cộng đồng cònnhiều khó khăn, bất cập, chưa khai thác mạnh được những đặc điểm, lợi thế của
du lịch dựa vào cộng đồng
Vùng ven biển Nam Định bao gồm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu NghĩaHưng tiếp giáp với biển Đông ở phía Đông Nam, diện tích khoảng 700km2 Bờbiển kéo dài 72km từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy
Vùng ven biển Nam Định là khu vực rất phong phú về các kiểu sinh cảnh,trong đó quan trọng nhất là các bãi cát ngập triều, trảng sậy và rừng ngập mặn.Ngoài ra, các bãi bồi ngập triều cũng là một sinh cảnh quan trọng, là nơi kiếm ăncủa các loài chim ven bờ, trong số đó có một số loài được đưa vào sách đỏ bị đedoạ toàn cầu như: Mòng bể mỏ ngắn, Cò mỏ thìa Đây còn là nơi trú ngụ củamột số loài chim khác với số lượng lớn Rừng ngập mặn ở vùng ven biển NamĐịnh có thực vật ưu thế thuộc loài Trang, Bần Chua, Vẹt Dù và Sú
Khu vực có giá trị về sinh cảnh và đa dạng sinh học phục vụ phát triểnkinh tế - xã hội, đặc biệt là du lịch Vùng ven biển Nam Định cũng là nơi cónhiều địa danh lịch sử và giàu truyền thống văn hoá như là ngọn hải đăng cồnVành, thăm tượng đài Trường Chinh, thăm làng quê Hành Thiện, nhà thờ Bùi
Trang 3Chu, nhà thờ Phú Nhai, đình, chùa của các xã, làng ven biển hoặc đi thuyền xa
xa chút du khách đến thăm các nông trường cói, chiếu (Thái Bình)…
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tài nguyên và môitrường tự nhiên ở vùng ven biển Nam Định đã và đang bị suy thoái, ô nhiễm dotình trạng khai thác tài nguyên quá mức, tạo ra các sức ép đối với tài nguyên môitrường của vùng ven biển Do vậy, đề tài đã chọn vùng ven biển Nam Định làđiểm nghiên cứu
Các giá trị tài nguyên môi trường hiện đang bị tác động bởi sức ép mưusinh, sinh kế của người dân Để bảo tồn và phát huy các giá trị trên, góp phầnphát triển bền vững cần có sự chuyển đổi phương thức sinh kế truyền thống và
du lịch cộng đồng là một phương pháp tiếp cận có hiệu quả
Có thể dễ dàng nhận thấy, cộng đồng dân cư ở vùng ven biển Nam Địnhsống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, và khai thác các nguồn lợi sẵn có về thuỷ sản
và các giá trị sinh thái ven biển Việc khai thác quá mức tự nhiên này đã dẫn đếnhuỷ hoại sự đa dạng của các hệ sinh thái ven biển, đặc biệt là hệ thống rừng ngậpmặn ở VQG Xuân Thủy Biến diện tích đất canh tác nông nghiệp thành các aonuôi trồng thuỷ sản ồ ạt cũng là một cách tàn phá tài nguyên đất đai, làm mặnhoá các cánh đồng đã được thau chua rửa mặn
Trong bối cảnh trên việc lựa chọn một phương thức tiếp cận mới về sinh
kế của người dân sao cho vừa khai thác được những tiềm năng đa dạng và phongphú về tự nhiên và văn hóa bản địa, vừa hạn chế được những tác động, góp phầnbảo tồn tự nhiên và văn hóa là hết sức cần thiết
Trang 4Phát triển du lịch nói chung, đặc biệt là du lịch dựa vào cộng đồng chính
là phương thức tiếp cận phù hợp với mục tiêu trên Đây chính là lý do chọn đềtài nghiên cứu
Đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại vùng ven
biển tỉnh Nam Đinh” sẽ góp phần khơi dậy tiềm năng phát triển loại hình du lịch
dựa vào cộng đồng của vùng ven biển, đồng thời hướng tới mục tiêu bảo tồn bềnvững đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái thuỷ sinhvùng ven biển
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu ngắn hạn: Cộng đồng dân cư ven biển có được phương thứclàm kinh tế với nghề mới, có được một mô hình quản lý khai thác tài nguyên bềnvững dưới góc độ tiếp cận mới
- Mục tiêu lâu dài: Góp phần phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy cácgiá trị cảnh quan, sinh thái và văn hoá bản địa vùng ven biển Nam Định
Thiết lập mối quan hệ lâu dài giữa các bên liên quan nhà quản lý - công ty
lữ hành - cộng đồng dân cư ven biển nhằm phát triển hiệu quả việc kinh doanh
du lịch vùng ven biển và nâng cao được đời sống của cộng đồng vùng ven biển
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan một số cơ sở lý luận về cộng đồng, du lịch cộng đồng, du lịchdựa vào cộng đồng Đánh giá tiềm năng các điều kiện có liên quan và hiện trạng
Trang 5phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, xác định những vấn đề đặt ra đối với pháttriển du lịch dựa vào cộng đồng và nguyên nhân
- Xác định định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch dựavào cộng đồng tại vùng ven biển Nam Định
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu gồm có 3 huyện vùng ven biển là Giao Thủy,Hải Hậu, Nghĩa Hưng
3.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá các điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội, các vấn đề về tài nguyên du lịch, môi trường trong hoạt độngkinh doanh du lịch và các lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch dựa vào cộngđồng của vùng trên quan điểm tổng hợp và từ đó đưa ra các khuyến nghị vềkhông gian sử dụng hợp lý cho phát triển du lịch cộng đồng, đặc biệt là phát triển
du lịch dựa vào cộng đồng cho vùng ven biển nói chung và vùng đệm VQGXuân Thủy, từ đó đề xuất mô hình quản lý, tổ chức du lịch dựa vào cộng đồngcho vùng ven biển Nam Định
3.2 Cơ sở dữ liệu sẽ được sử dụng trong nghiên cứu
- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội đã công bố (số liệukhí hậu, thuỷ văn; số liệu về kinh tế, xã hội; hiện trạng sử dụng đất )
- Bản đồ địa hình khu vực nghiên cứu
- Các tài liệu nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài
- Các tài liệu, số liệu về hiện trạng du lịch cộng đồng xã Giao Xuân do
Trang 6hiện trạng phát triển du lịch vùng ven biển của Sở Văn hóa Thể thao Du lịchNam Định cung cấp.
- Tài liệu nghiên cứu khảo sát thực địa
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếusau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là một phương pháp truyền thống
trong nghiên cứu khoa học Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trongquá trình giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp chuyên gia: Nhằm thu thập những số liệu, thông tin thực tế
về nhận thức, suy nghĩ của những nhà hoạch định chính sách Số liệu, thông tinthu thập được sẽ giúp hình thành bức tranh thực tế của vấn đề nghiên cứu mangtính thực tế, có khả năng thực thi
- Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá
trình nghiên cứu về định lượng trong mối quan hệ chặt chẽ về mặt định tính củacác hiện tượng và quá trình, đối chiếu với quá trình phát triển du lịch Phươngpháp toán thống kê được vận dụng nghiên cứu trong luận văn này để xác địnhhiện trạng hoạt động du lịch thông qua các chỉ tiêu phát triển ngành cơ bản Vềmặt nghiên cứu các vấn đề cộng đồng, phương pháp này hỗ trợ xử lý các thôngtin để xây dựng mô hình phù hợp cho nhiệm vụ đã đặt ra
- Phương pháp sơ đồ, bản đồ: Đây là phương pháp cần thiết trong quá
trình nghiên cứu có liên quan đến tổ chức lãnh thổ Bản đồ được sử dụng chủyếu theo hướng chuyên ngành để phân tích đánh giá tiềm năng phát triển du lịch
và điều kiện có liên quan Ngoài mục đích minh họa về vị trí địa lý, phương pháp
Trang 7này còn giúp cho các nhận định, đánh giá trong quá trình nghiên cứu được thểhiện một cách tổng quát.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Công tác thực địa có mục đích
cơ bản là kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư liệu, đối chiếu và lên danh mục
cụ thể từng đối tượng nghiên cứu, sơ bộ đánh giá các yếu tố cần thiết cho việcxây dựng các yếu tố hợp phần của mô hình tổ chức quản lý du lịch dựa vào cộngđồng vùng ven biển Nam Định
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung củakhoá luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch dựa vào cộng đồng.
Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch dựa vào cộng
đồng ở vùng ven biển Nam Định.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch dựa vào
cộng đồng tại vùng ven biển tỉnh Nam Định
Trang 8CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1.1 Cơ sở lý luận về du lịch dựa vào cộng đồng
Cộng đồng là nền tảng phát triển của mọi xã hội Khái niệm cộng đồng cóthể được hiểu ở những mức độ quy mô khác nhau từ làng, bản đến bộ tộc, dântộc, quốc gia Tuy nhiên trong thực tế, cộng đồng thường được hiểu theo nghĩahẹp, hạn chế đối với những nhóm cư dân sinh sống ở những vùng có điều kiệnkinh tế - xã hội còn kém phát triển, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào việckhai thác trực tiếp các nguồn tài nguyên thiên nhiên [15, tr37]
Cộng đồng thường xem các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, đấtđai, nguồn nước…là “ngân hàng” của họ, nơi mà họ có thể dựa vào để sinh sống.Cộng đồng sử dụng các nguồn tài nguyên nơi mình sinh sống cùng với việc pháttriển các tập quán quản lý riêng Họ khai thác tài nguyên theo nhiều phương thức
và chia sẻ lợi ích từ việc khai thác cho những thành viên khác trong cộng đồngcủa mình Việc chia sẻ nguồn lợi luôn đi liền với chia sẻ trách nhiệm bảo tồnđược xem là triết lý sống của cộng đồng được truyền từ thế hệ này qua thế hệkhác [15, tr38]
Trang 9Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặtchẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc kháphân tán, được liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dàihay ngắn như phong trào quần chúng, công chúng khán giả, đám đông… Đây làmột định nghĩa rất hay được sử dụng trong khoa học xã hội, gắn với các thực thể
xã hội nhất định
Có một định nghĩa khác nhìn nhận cộng đồng như một đặc thù chỉ có ởnền văn minh con người, ở đó, con người hợp tác với nhau vì những lợi íchchung, thường được gọi là tính cộng đồng
Nhìn chung có hai cách hiểu về cộng đồng: một là cộng đồng tính và hai làcộng đồng thể Hai cách hiểu về cộng đồng này khác nhau nhưng không đối lậpnhau Cộng đồng tính là thuộc tính hay là quan hệ xã hội có những đặc trưng màcác nhà xã hội học đã cố gắng xác định và cụ thể hoá, chẳng hạn như tình cảmcộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng… Cộng đồng thể tức là nhữngnhóm người, những nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều thể có quy môkhác nhau, đó là các thể nhỏ, thể vừa, thể lớn và thể cực lớn, kể từ gia đình, quốcgia đến nhân loại [15, tr40]
1.1.1.2 Bản chất cộng đồng
Theo một số nhà khoa học, khái niệm cộng đồng bao gồm bốn yếu tố:
1 Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan nàyđôi khi được gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt,tương quan thân mật
2 Có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc nơi cá nhân trong những nhiệm
vụ và công tác xã hội của tập thể
Trang 103 Có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị đượctập thể coi là cao cả và có ý nghĩa.
4 Một ý thức đoàn kết với những người trong tập thể
Các cộng đồng hội đủ bốn yếu tố trên khá phổ biến trước khi có sự xuấthiện cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và nền kinh tế tư bản Trong thế giớingày nay, vẫn có các cộng đồng có được các đặc tính trên và là những cộng đồnghoàn chỉnh ở các khu vực mà một số các nhà nhân chủng học, dân tộc học gọi là
"tiền hiện đại" như các làng chẳng hạn [15, tr42]
1.1.1.3 Các yếu tố tác động đến sự hình thành một cộng đồng
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã cho thấy có nhiều cách
để tập hợp những yếu tố hình thành cộng đồng và đặc biệt là xác định xem yếu tốnào đóng vai trò quan trọng nhất Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, có
ba yếu tố quan trọng để tạo lập nên cộng đồng là yếu tố địa vực, yếu tố kinh tế(nghề nghiệp) và yếu tố văn hoá
+ Địa vực: nói đến cộng đồng là nói đến một tập thể người định cư trênmột vùng đất đai Điều này giải thích tại sao yếu tố đất đai đã và vẫn có nhữnggiá trị tinh thần tạo nên sự cấu kết tập thể mà câu nói cả miệng của bất cứ ngườidân nào trên thế giới này thường hay nói đó là "đất mẹ của tôi"
+ Kinh tế (nghề nghiệp): các hoạt động kinh tế không chỉ tạo cho cộngđồng một sự đảm bảo về mặt vật chất để họ cùng nhau tồn tại mà chúng còn cónhững đóng góp quan trọng khác Nghề nghiệp chỉ là một phần của các yếu tốkinh tế nhưng trong việc tạo nên sự cấu kết cộng đồng, tạo ra một sức mạnh, một
sự thống nhất chung thì nghề nghiệp có một vai trò hết sức quan trọng Các cộngđồng nông thôn với một hoặc vài nghề chính thì việc có cùng một hoặc vài nghề
Trang 11trong một cộng đồng là một yếu tố tương đồng về địa vị kinh tế, sở hữu, cáchthức làm ăn.
+ Văn hoá: yếu tố văn hoá là một biểu thị có tính tổng hợp khi nhận biếtcác cộng đồng, trong đó các khía cạnh đặc biệt cần chú ý trong phân tích là tộcngười, tôn giáo - tín ngưỡng và hệ giá trị và chuẩn mực
Cùng chung một niềm tin tín ngưỡng - tôn giáo là sự chia sẻ những ướcnguyện về mặt tinh thần, tạo nên sự thống nhất tinh thần, củng cố nền đạo lýchung tại cộng đồng Trong thực tế, các tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo có
sự lồng ghép với nhau trên một số nguyên lý, từ đó thống nhất về mặt lịch sử cácniềm tin của người dân, tránh những xung đột, tạo ra những sức mạnh cấu kếtcộng đồng mới có tính hiệu quả mạnh mẽ [15, tr43-47]
1.1.2 Các vấn đề liên quan giữa cộng đồng, phát triển du lịch
1.1.2.1 Khả năng tham gia của cộng đồng với hoạt động phát triển du lịch.
Trong tất cả các nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu bền vững trong phát triểnnói chung, phát triển du lịch nói riêng, thì sự tham gia của cộng đồng địa phương
đã đặc biệt được quan tâm và khuyến khích Có rất nhiều nguyên nhân khi đềcập đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch
Trước tiên về mặt đạo đức và công bằng xã hội, cộng đồng là những chủnhân thực sự của các tài nguyên du lịch, cả tự nhiên lẫn nhân văn, mà ngành dulịch dựa vào để thu hút khách, cho nên họ có quyền tham gia và hưởng lợi từ cáchoạt động du lịch trong khu vực Qua đó, họ sẽ tự giác và đóng vai trò chínhtrong việc gìn giữ tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch nói riêng và sựphát triển bền vững nói chung
Các cộng đồng địa phương không chỉ là những yếu tố thu hút khách trong
Trang 12du lịch, điều này đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển Họ chính lànguồn nhân công với chi phí thấp nhất trong các dự án đầu tư phát triển du lịch,điều mà các nhà đầu tư rất quan tâm nhằm tạo ra hiệu quả chi phí trong đầu tư.Hơn nữa, với nguồn kiến thức bản địa phong phú của mình, nếu được đào tạohướng dẫn thì chính họ là những người phục vụ du khách tốt hơn ai hết trong cáchoạt động nghiệp vụ du lịch như: đón tiếp, phục vụ ăn nghỉ, dẫn đường và hướngdẫn khách thăm quan…
Về mặt vĩ mô, sự tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động du lịch của cộngđồng còn đóng góp vào việc bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội vùngsâu, vùng xa, xoá đói giảm nghèo, giảm chênh lệch giữa các vùng trong pháttriển, định canh định cư, ổn định an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội,chính trị, văn hoá, tôn giáo tín ngưỡng…
Có 7 mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển
1 Thụ động: Cộng đồng không có quyền và trách nhiệm xem xét, dự báo
về tương lai của hoạt động phát triển Những thông tin này chỉ chia sẻ giữa các tổchức bên ngoài cộng đồng
2 Đưa tin: Cộng đồng chỉ có trách nhiệm trả lời câu hỏi mà không có vai
trò, ảnh hưởng tới nội dung cần xử lý cho hoạt động phát triển Kết quả xử lýthông tin không được chia sẻ với cộng đồng
3 Tư vấn: Cộng đồng được tham khảo ý kiến và quan điểm của cộng đồng
có được lưu ý Tuy nhiên cộng đồng không được tham gia vào quá trình ra quyếtđịnh
4 Khuyến khích: Sự tham gia vào các hoạt động phát triển của cộng đồng
sẽ được khuyến khích bằng vật chất hay tinh thần, do vậy cộng đồng thường sẽkhông tiếp tục tham gia khi những khuyến khích này không còn
Trang 135 Chức năng: Cộng đồng tham gia vào hoạt động phát triển theo nhóm
với các mục tiêu chức năng đã được xác định trước, do vậy sự tham gia chưađược đầy đủ vì đã có những quyết định mang tính áp đặt
6 Tương tác: Cộng đồng được tham gia vào quá trình ra quyết định sau đó
thông tin được phân tích để đưa ra kế hoạch hành động và thực hiện
7 Tự vận động: Sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động phát triển
được thực hiện độc lập với mọi can thiệp từ bên ngoài Cộng đồng sẽ tự đưa racác sáng kiến và có thể làm thay đổi cả hệ thống [15.tr41]
Như vậy, đối với việc người dân tham gia vào hoạt động phát triển du lịch,các phương thức tham gia này của cộng đồng sẽ là một quá trình để xác định vàcủng cố vai trò của cộng đồng trong công tác quy hoạch, trong quá trình thựchiện, giám sát và đánh giá các hoạt động có ảnh hưởng đến đời sống của cộngđồng Sự tham gia của cộng đồng còn có thể được nhìn dưới một góc độ khácnhư sau:
Tham gia vào việc xác định những cơ hội và điểm mạnh cho phát triển
-cộng đồng địa phương hiểu về nhu cầu của họ rõ hơn bất kỳ người bên ngoài nàokhác và có những ý tưởng tốt nhất để lập ra các chiến lược phù hợp với các hoạtđộng du lịch cộng đồng của họ
- Tham gia vào quá trình quy hoạch - cộng đồng địa phương nắm được
những hạn chế và tiềm năng tài nguyên của họ có thể sử dụng cho việc xây dựng
để đạt được các mục đích hay mục tiêu đã xác định của họ
- Tham gia vào quá trình thực hiện - mặc dù bị hạn chế về tài chính, nhưng
cộng đồng địa phương cũng có thể đóng góp bằng việc đưa ra những gợi ý, chia
sẻ kinh nghiệm và các hình thức giúp đỡ khác và trở thành một phần của chương
Trang 14- Tham gia vào việc chia sẻ lợi ích - những lợi ích đạt được từ các hoạt
động du lịch cộng đồng cần được phân phối tới mọi nhóm người có liên quantrong cộng đồng nếu không sẽ không khuyến khích được sự tham gia của họ
- Tham gia vào quá trình giám sát và đánh giá - cộng đồng địa phương là
những người bảo vệ các tài nguyên quanh mình và họ có thể theo dõi những thayđổi và sửa đổi các sản phẩm du lịch theo nhu cầu và những gì mà họ cho là tốtnhất theo kiến thức bản địa của họ Họ có thể đánh giá những can thiệp bênngoài hay nhu cầu sửa đổi [25]
1.1.2.2 Cộng đồng vùng ven biển.
Cuộc sống cộng đồng người dân vùng ven biển dựa chủ yếu vào cácnguồn lợi có nguồn gốc từ biển và chính cuộc sống của họ lại là sức ép và nguồngây ô nhiễm đáng kể tác động làm suy giảm các nguồn tài nguyên, môi trườngvốn rất nhạy cảm ở khu vực này Những tác động chủ yếu của cộng đồng vùngven biển bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư trên đất liền ở vùng ven biển và từcác "làng" thuyền chài trên các vũng, vịnh ven bờ trực tiếp đổ ra biển làm ônhiễm chất lượng nước biển ven bờ và lâu dài làm suy thoái môi trường và các
hệ sinh thái vùng ven bờ và hải đảo
- Việc khai thác rừng ngập mặn để phục vụ sinh hoạt và gần đây để pháttriển nuôi tôm, làm tổn hại đến nơi cư trú (habitat) của các loài thuỷ sinh vốn rấtphong phú ở hệ sinh thái này Kết quả tác động này của cộng đồng không chỉlàm suy giảm đa dạng sinh học hệ sinh thái đất ngập nước ven biển mà còn làmtăng nguy cơ xói mòn môi trường đất vùng bờ biển, hải đảo vốn rất mong manh
Ở những khu vực ven biển có hệ sinh thái rừng phát triển thì ngoài nhữngtác động trên, việc khai thác rừng cũng có những tác động đáng kể không chỉ
Trang 15làm suy thoái bản thân hệ sinh thái rừng mà sẽ còn làm gia tăng quá trình bồi lấpcác cửa sông, tăng độ đục vùng nước biển khu vực cửa sông do quá trình rửatrôi Kết quả của quá trình này cũng sẽ ảnh hưởng, làm suy thoái hệ sinh thái san
hô, cỏ biển ở những khu vực này
- Hoạt động đánh bắt thuỷ sản vùng nước ven bờ (vốn rất phổ biến ởnhững nước đang phát triển như Việt Nam do hạn chế về năng lực đánh bắt xa
bờ của cộng đồng) làm suy giảm đáng kể đa dạng sinh học vùng nước ven bờ.Tác động này càng trở nên nghiêm trọng khi cộng đồng sử dụng những công cụđánh bắt có tính huỷ diệt như lưới vét, mìn, xung điện, v.v Đây là vấn đề ảnhhưởng đáng kể của cộng đồng dân cư đến môi trường vùng ven biển, hải đảo
- Hoạt động neo đậu tàu thuyền của cộng đồng thiếu quy hoạch cũng cónhững ảnh hưởng đáng kể đến sự tồn tại, phát triển của các rạn san hô ven bờ.Kết quả của tác động này cũng ảnh hưởng đến đa dạng sinh học hệ sinh thái san
hô - hệ sinh thái đặc thù rất có giá trị du lịch ở các nước nhiệt đới
Cùng với những tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội,sinh hoạt đời sống cộng đồng cũng có những tác động đáng kể đến tài nguyên vàmôi trường vùng ven biển, hải đảo Như vậy hoạt động du lịch với sự tham giacủa cộng đồng, nhất là ở vùng ven biển, trước hết cần được tổ chức sao cho bảnthân cộng đồng hạn chế được những tác động tiêu cực của chính mình đối vớimôi trường vốn rất nhạy cảm ở khu vực này Vấn đề này cần được cân nhắc vàquan tâm trong quá trình nghiên cứu đề xuất mô hình hoạt động du lịch với sựtham gia của cộng đồng
1.1.3 Du lịch cộng đồng
1.1.3.1 Khái niệm
Trang 16Khái niệm du lịch cộng đồng xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ 20, tuynhiên đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất cho khái niệm này.
Do có những quan điểm nghiên cứu, góc nhìn khác nhau về vị trí của dulịch cộng đồng mà cho đến nay còn tồn tại khá nhiều ý kiến, khái niệm về vấn đềnày, những khái niệm này được sử dụng khá linh hoạt và được thay đổi tùy thuộcvào tác giả, địa điểm và các dự án cụ thể, song các vấn đề về bền vững và cộngđồng địa phương (điển hình ở khu vực nông thôn, những người nghèo, và ở vùngsâu vùng xa) là những nội dung chính được đề cập, xem xét
Theo Nicole Hausle và Wolffang Strasdas: “Du lịch cộng đồng là mộthình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển vàquản lý Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”
Theo Hsien Hue Lee, Đại học cộng đồng Hsin-Hsing, Đài Loan: “Du lịchcộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì
sự phát triển du lịch bền vững dài hạn Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơhội tham gia của người dân địa phương trong du lịch”
Tại hội thảo “Chia sẻ Bài học Kinh nghiệm Phát triển Du lịch Cộng đồng”được Tổng cục Du lịch tổ chức tại Hà Nội năm 2003 đã xác định: “Phát triển dulịch có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo văn hóa, thiên nhiên bền vững,nâng cao nhận thức và tăng quyền lực cho cộng đồng Cộng đồng được chia sẻlợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính phủ và các tổchức quốc tế”
Ngoài ra còn nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau, tuy nhiên có thểthống nhất và hiểu du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộngđồng địa phương Du lịch cộng đồng là một cách tiếp cận nhằm tạo ra lợi nhuậncao nhất cho người dân địa phương, những người sử dụng du lịch như một công
Trang 17cụ tạo nguồn lợi kinh tế Du khách phải trả tiền khi họ đến tham quan khu vực vàkhoản tiền này được sử dụng để bảo vệ các di sản văn hóa và thiên nhiên và giúpphát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó.
Căn cứ vào những nội hàm được đa số thống nhất, có thể đưa ra khái niệmchung về du lịch cộng đồng như sau:
“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mang lại cho du khách những trải nghiệm về bản sắc cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, được hưởng lợi ích kinh tế - xã hội từ hoạt động du lịch và có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường, bản sắc văn hóa của cộng đồng”[8 tr6].
1.1.3.2 Mức độ tham gia của cộng đồng vào phát triển du lịch
Mức độ tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch khác nhau tùythuộc vào vai trò của cộng đồng:
- Mức độ thụ động: theo đó cộng đồng chỉ được xem là đối tượng du lịch(tài nguyên) và hầu như không có vai trò gì đối với hoạt động phát triển du lịch.Trong trường hợp này các công ty du lịch sẽ đưa điểm quần cư cộng đồng vớinhững yếu tố chính là con người, lối sống cộng đồng, văn hóa, tín ngưỡng, kiếntrúc quần cư,v.v.) vào chương trình du lịch và coi đó là một điểm đến để đưakhách đến tham quan, tìm hiểu, trải nghiệm về con người, văn hóa, lối sống củacộng đồng Cộng đồng không có vai trò gì (tham gia thụ động) đối với kế hoạchphát triểnp;’du lịch và hầu như không được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch.Hoạt động du lịch trong trường hợp cộng đồng tham gia một cách thụ độngthường được gọi là “Du lịch tham quan cộng đồng”
- Mức độ có tham gia: theo đó cộng đồng tham gia cung cấp một số dịch
Trang 18sinh sống và qua đó được hưởng một số lợi ích về vật chất Trong trường hợpnày, ngoài vai trò là “tài nguyên” như trên, cộng đồng đã có vai trò nhất địnhtrong hoạt động du lịch và được hưởng một phần lợi ích trong chuỗi giá trị dulịch Hoạt động du lịch trong trường hợp này thường được gọi là “Du lịch có sựtham gia của cộng đồng”
- Mức độ chủ động: theo đó cộng đồng là chủ thể tổ chức và cung cấp dịch
vụ và qua đó sẽ đem đến cho du khách những trải nghiệm tốt về cộng đồng, vềnhững giá trị tự nhiên và văn hóa nơi cộng đồng sinh sống Trong trường hợpnày các công ty du lịch sẽ chỉ đóng vai trò là đối tác của cộng đồng Cộng đồngvừa có vai trò là “tài nguyên” vừa đóng vai trò là người tổ chức khai thác chínhcác giá trị “tài nguyên” đó Trong trường hợp này hoạt động du lịch thường đượcgọi là “Du lịch dựa vào cộng đồng” hay “Du lịch cộng đồng” Du lịch cộng đồngchính là hình thức nơi đảm bảo mức độ tham gia cao nhất của cộng đồng vàohoạt động du lịch [8, tr7-10]
1.1.4 Cơ sở lý luận về du lịch dựa vào cộng đồng
1.1.4.1 Khái niệm về du lịch dựa vào cộng đồng
Du lịch dựa vào cộng đồng nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm dulịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn Du lịch dựa vào cộngđồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và cần
có cơ chế tạo ra các cơ hội cho cộng đồng
Du lịch dựa vào cộng đồng là sự tương tác giữa khách và chủ mà có sựtham gia có ý nghĩa của cả hai phía và tạo các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộngđồng địa phương và môi trường (Học viện nghiên cứu núi, Malaixia 2002)
Trang 19Theo Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas – 2002 có định nghĩa: Du lịchdựa vào cộng đồng là loại hình du lịch mà một số lớn người dân địa phương cóquyền kiểm soát nó và và có sự tham gia trong việc quản lý và phát triển du lịchcộng đồng Phần lớn thu nhập được giữ lại cho kinh tế của địa phương
Du lịch dựa vào cộng đồng đó được thống nhất tại cuộc họp Bộ trưởng dulịch lần đầu tiên năm 2000 tại Hàn Quốc và được trình bày tại Hiến chương về
du lịch của APEC Hiến chương thừa nhận vai trò quan trọng của du lịch trongviệc phát triển kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa của các nền kinh tế thànhviên trong tổ chức APEC Hiến chương nhấn mạnh tầm quan trọng của du lịchdựa vào cộng đồng thông qua các nhận định sau [2]:
- Du lịch dựa vào cộng đồng là động lực quan trọng tăng cường cơ hội kinhdoanh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Là một phương tiện hữu ích để cân bằng lợi ích kinh tế giữa các vùngmiền trong nền kinh tế, đặc biệt là vùng nông thôn
- Là cầu nối giữa lĩnh vực nhà nước và tư nhân
Du lịch dựa vào cộng đồng đó và đang được áp dụng không chỉ ở các nềnkinh tế phát triển như Canada, Australia mà cũng được áp dụng ở các nền kinh tếđang phát triển như Việt Nam, Lào Có rất nhiều dự án phát triển du lịch dựavào cộng đồng trong khu vực APEC nhưng các dự án này chủ yếu là dự án thựchiện một lần do các tổ chức phi chính phủ (NGOs) đề xuất và quản lý thực hiện.Năm 1999, Chính APEC đó quản lý các dự án CBT ở một số nền kinh tế thànhviên với mục đích phân tích các nhân tố có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế khithực hiện CBT Cho đến nay, vẫn chưa có những đánh giá về ảnh hưởng củaCBT tới tương lai lâu dài của nền kinh tế Nhưng phát triển du lịch được xem
Trang 20đúng mọi nguyên tắc và cơ chế của CBT Phát triển du lịch dựa vào cộng đồngnhư là một phần của tiến trỉên phát triển cân đối nền kinh tế Điều đó cũngchứng tỏ, CBT không phải là mô hình phát triển kinh tế mới lạ mà nó chỉ là mộtcông cụ phát triển của nền kinh tế.
Cộng đồng dựa vào du lịch như là một công cụ xóa đói, giảm nghèo, cânbằng lợi ích kinh tế ở vùng nông thôn do Bộ du lịch Malaysia phối hợp với nhómnghiên cứu kế hoạch Du lịch tại trường đại học kỹ thuật Malaysia thực hiện từtháng 11/2008 đến tháng 4/2009 Nghiên cứu thực hiện nhằm mục đích nâng caohiểu biết của các nước thành viên về khái niệm CBT, cách thực hiện tốt mô hìnhCBT và tương lai phát triển lâu dài của CBT thông qua kinh nghiệm thực hiệnthành công mô hình CBT ở khu vực APEC
Du lịch dựa vào cộng đồng (CBT) là một công cụ phát triển cộng đồng, ở
đó tăng cường khả năng của cộng đồng địa phương trong việc quản lý nguồn du lịch và đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương trong hoạt động du lịch [2] CBT có thể giúp nhân dân địa phương tăng thêm thu nhập, đa dạng hóa nền
kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường và có cơ hội nhận thêm cácchương trình đào tạo, giáo dục Vì CBT có thể tạo thêm thu nhập cho người dânđịa phương nên nó được xem như là một công cụ xóa đói, giảm nghèo CBT yêucầu phải thực hiện trong thời gian dài và mục đích chính là tối ưu hóa lợi nhuậncho cộng đồng địa phương và hạn chế các ảnh hưởng xấu của du lịch tới cộngđồng và nguồn tài nguyên thiên nhiên
Du lịch dựa vào cộng đồng cần được tiếp cận theo một cách có hệ thống,
từ việc nghiên cứu tính ổn định của cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịchđến việc đảm bảo tất cả thành viên trong cộng đồng được tham gia vào thực hiện
dự án đồng thời tham gia vào việc kiểm soát và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực
Trang 21tới cuộc sống của họ Một số đặc điểm của CBT được UNEP và UNWTO chỉ ranhư sau [2]:
- Cộng đồng tham gia vào giám sát và đánh giá từ những khâu đầu tiên củaviệc kinh doanh du lịch, không chỉ tài nguyên thiên nhiên mà còn đánh giá vănhóa địa phương ở những nơi họ đi thăm
- Cộng đồng cung cấp các dịch vụ ăn ngủ nghỉ đến giải thích thuyết minhtrong tour du lịch
- Hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường tự nhiên và đời sống vănhóa xã hội của người dân
- Hỗ trợ bảo vệ tự nhiên và văn hóa thông qua việc tạo ra lợi ích kinh tế từcác nguồn lợi đó
- Tạo nguồn thu nhập khác và tạo công ăn việc làm cho người dân
- Tăng cường hiểu biết của người dân và khách du lịch về sự bảo tồn tựnhiên và bản sắc văn hóa dân tộc
- Sự khác biệt giữa “Du lịch dựa vào cộng đồng” và “Du lịch cộng đồng” ởchỗ khi đề cập đến “Du lịch dựa vào cộng đồng” là muốn nhấn mạnh đến hìnhthái tổ chức hoạt động du lịch còn khi đề cập đến “Du lịch cộng đồng” là đề cập
cả đến hình thái tổ chức và đối tượng du lịch là công cộng [13]
1.1.4.2 Vai trò của du lịch dựa vào cộng đồng
Với bản chất của du lịch dựa vào cộng đồng, việc phát triển du lịch dựavào cộng đồng sẽ có những tác động tích cực bao gồm [11]:
- Góp phần tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, đặc biệt ở vùngnông thôn nơi tỷ lệ đói nghèo còn cao Đây sẽ là yếu tố tích cực góp phần làmgiảm tác động của cộng đồng đến các giá trị cảnh quan, tự nhiên và qua đó sẽ
Trang 22góp phần bảo tồn tài nguyên, môi trường đảm bảo cho phát triển du lịch bềnvững;
- Góp phần để cộng đồng, đặc biệt là những người dân chưa có điều kiệntrực tiếp tham gia vào các dịch vụ du lịch, được hưởng lợi từ việc phát triển hạtầng du lịch (giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, v.v.) Đây cũng sẽ làyếu tố tích vực để đảm bảo sự công bằng trong phát triển du lịch, một trongnhững nội dung quan trọng của phát triển du lịch bền vững;
- Góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng và qua đó sẽ góp phầnlàm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động khu vực này Đây sẽ là yếu tốquan trọng góp phần hạn chế được dòng di cư của cộng đồng từ khu vực nôngthôn ra ku vực thành thị, ổn định xã hội đảm bảo cho phát triển bền vững chung;
- Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng sẽ góp phần tích cực trong việcphục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nghề truyền thống, vì vậy
có đóng góp cho phát triển du lịch bền vững từ góc độ tài nguyên, môi trường dulịch;
- Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh giaolưu văn hóa và kế đến là giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa Việt Nam vớicác dân tộc trên thế giới Đây cũng là yếu tố quan trọng trong bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam đồng thời tạo cơ hội để phát triểnkinh tế ở những vùng còn khó khăn, đảm bảo sự phát triển bền vững nói chung,
du lịch nói riêng
Với những tác động tích cực trên, việc đẩy mạnh phát triển du lịch nóichung, du lịch dựa vào cộng đồng nói riêng sẽ có vai trò rất quan trọng trongphát triển bền vững ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ người dân sống ở
Trang 23vùng nông thôn ở Viêt Nam còn cao, chiếm tới hơn 70% dân số cả nước, tỷ lệ hộđói nghèo cũng còn khá cao [8].
1.1.4.3 Các nguyên tắc của phát triển du lịch dựa vào cộng đồng.
Một số nguyên tắc chủ yếu đối với phát triển du lịch dựa vào cộng đồngđược xác định dựa trên bản chất của du lịch cộng đồng bao gồm:
- Công bằng về mặt xã hội: các thành viên của cộng đồng sẽ tham gia vàoviệc lên kế hoạch, triển khai, kiểm soát các hoạt động du lịch tại cộng đồng, ởđây cần nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào quá trình
tổ chức và thực hiện các hoạt động du lịch Từ đó lợi ích kinh tế sẽ được chia sẻcông bằng và rộng khắp, không chỉ riêng cho các công ty du lịch mà còn dànhcho các thành viên của cộng đồng
- Tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng: thực tế cho thấy chươngtrình du lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương Điều quantrọng là các giá trị văn hóa của cộng đồng phải được bảo vệ và giữ gìn với sựđóng góp tích cực của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặcbiệt là cư dân địa phương bởi không đối tượng nào có khả năng bảo vệ và duy trìcác giá trị văn hóa tốt hơn chính họ Cộng đồng địa phương phải nhận thức đượcvai trò và vị trí của mình cũng như những lợi, hại mà phát triển du lịch mangđến
- Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng: Theo nguyên tắc này cộng đồngcùng được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào các hoạt động kinhdoanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch Nguồn thu từ hoạt động du lịchđược phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợiích đó cũng được trích một phần thông qua “Quỹ cộng đồng” để sử dụng cho lợi
Trang 24ích chung của cộng đồng: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường sá, cầucống, điện và chăm sóc sức khỏe giáo dục v.v
- Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với việc bảo vệ tàinguyên thiên nhiên và văn hóa hướng tới sự phát triển bền vững [8]
1.1.5 Tổng quan các kết quả nghiên cứu có liên quan
* Tăng quyền lực cho cộng đồng
- Du lịch dựa vào cộng đồng do cộng đồng tự tổ chức quản lý
- Du lịch dựa vào cộng đồng thúc đẩy, tạo cơ hội cho cộng đồng tham gianhiệt tình vào phát triển du lịch Cộng đồng tự làm chủ điểm du lịch, và có thểlập kế hoạch phát triển
- Người dân địa phương được trao quyền làm chủ và quản lý phát triển dulịch, thực hiện các dịch vụ du lịch
Trang 25- Du lịch dựa vào cộng đồng tạo cho cộng đồng niềm tự hào bản thân vàtinh thần tốt.
* Đảm bảo sự hợp tác chiến lược
- Thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược Muốn vậy phải có sự hỗ trợ củachính phủ, trực tiếp thực hiện là chính quyền sở tại và có sự hướng dẫn của cơquan chuyên môn từ Tổng cục du lịch
- Cần có sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và tổ chức phi Chính phủ
- Chính quyền địa phương phải thực sự tác động hỗ trợ các nhà quản lýphát triển du lịch, giúp đỡ về chuyên môn, tuyền truyền quảng bá
- Du lịch dựa vào cộng đồng cần có sự tác động của Nhà nước về chínhsách và tài chính
- Có chính sách đào tạo du lịch cộng đồng
- Du lịch cộng đồng cần có phương pháp luận chính sách quản lý
- Cần có chiến lược của quốc gia
Trang 26- Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng cần phải có cơ chế chung và cần có sự quan tâm của các cấp, nhất là các cấp chính quyền cơ sở.
Bảng 1: Tóm tắt các hoạt động của du lịch dựa vào cộng
đồng
Cộng đồng được trao quyền làm chủ
- Cộng đồng tham gia trong quá trình ra quyết định
- Cộng đồng tham gia trong quy hoạch, lập kế hoạch
- Cộng đồng được hưởng lợi từ các hoạt động du lịch
- Chia sẻ lợi ích một cách công bằng
- Tái đầu tư lại cho cộng đồng
Quyền sở hữu
- Cộng đồng là những người quản lý di sản
- Đảo bảo tính bền vững
- Sở hữu tài nguyên nhân văn
- Sở hữu tài nguyên tự nhiên
Hợp tác chiến lược và sự ủng hộ của chính phủ
- Sở Văn hoá thể thao du lịch tỉnh
Sự phát triển du lịch cộng đồng sẽ bảo vệ môi trường sinh thái và
văn hóa tốt hơn
Trang 271.1.6 Những yêu cầu cần thiết đối với phát triển du lịch dựa vào cộng đồng.
1.1.6.1 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Với tư cách là một loại hình du lịch, việc phát triển du lịch dựa vào cộngđồng cũng cần một số điều kiện cơ bản bên cạnh một số điều kiện đặc thù liênquan đến cộng đồng Những điều kiện cụ thể để phát triển loại hình du lịch nàybao gồm:
- Cần có nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn hấp dẫn có khả năng thuhút khách du lịch Đây là điều kiện cơ bản vì tài nguyên du lịch chính là tiền đềhay cơ sở để tổ chức các hoạt động du lịch Tuy nhiên mức độ thu hút khách củamột điểm đến phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, chủng loại, tính độc đáo… củanguồn tài nguyên Đồng thời khả năng duy trì phát triển nguồn khách phụ thuộcvào vai trò của cộng đồng dân cư ở địa phương trong việc bảo tồn, tôn tạo nhữnggiá trị của tài nguyên tại điểm đến [8]
- Cần có khả năng tiếp cận điểm đến du lịch dựa vào cộng đồng Cũngtương tự như đối với việc phát triển các loại hình du lịch khác, hoạt động pháttriển du lịch không thể thực hiện được nếu không có hạ tầng tiếp cận điểm tàinguyên Đây là đặc điểm rất đặc trưng của du lịch khi sản phẩm du lịch được xâydựng và tiêu thụ tại chỗ Điều này khác với hoạt động sản xuất kinh doanh kháckhi sản phẩm thương mại có thể được sản xuất ở một nơi rồi vận chuyển đến thịtrường tiêu thụ ở nơi khác [19]
- Cần có sự hiện diện của cộng đồng dân cư sinh sống tại điểm đến hoặctại khu vực liền kề phát triển du lịch Phong tục tập quán, lối sống, trình độ họcvấn, quy mô cộng đồng, cơ cấu nghề nghiệp …là những yếu tố cần được xác
Trang 28định và đánh giá rõ ràng trước khi quyết định xây dựng điểm đến du lịch dựa vàocộng đồng.
- Cần có sự tự nguyện của cộng đồng đối với đề xuất phát triển du lịchdựa vào cộng đồng Đây là điều kiện đặc thù rất quan trọng để có thể phát triển
du lịch dựa vào cộng đồng bởi loại hình du lịch này chỉ có thể phát triển cùngvới sự nhận thức sâu sắc của cộng đồng về trách nhiệm và quyền lợi của họ khitham gia vào hoạt động du lịch
- Cần có nhu cầu đối với sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng: Phát triển
du lịch nói chung và du lịch dựa vào cộng đồng nói riêng phải phù hợp với quyluật “Cung – Cầu” Thị trường khách đủ lớn về số lượng và đảm bảo chất lượng(khả năng chi trả), ổn định cho vùng, từ đó đảm bảo khối lượng công ăn việc làmcho cộng đồng, thu nhập đều đặn cho họ [8]
- Điểm đến du lịch dựa vào cộng đồng cần được quy hoạch và đưa vào
hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ Đây là điều kiện chung để phát triểnbất kỳ một điểm đến du lịch nào, trong đó có điểm đến du lịch dựa vào cộngđồng Tuy nhiên trong trường hợp du lịch dựa vào cộng đồng, điều kiện này trởnên quan trọng hơn bởi bản thân cộng đồng thường không có khả năng tự tổchức quy hoạch và kết nối với hệ thống tuyến điểm du lịch của lãnh thổ [8]
1.1.6.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
- Tính hiệu quả của hệ thống cơ chế chính sách và các biện pháp khuyếnkhích hợp lý từ các cơ quan quản lý, các ngành liên quan để tạo ra một môitrường thuận lợi cho du lịch dựa vào cộng đồng phát triển Các cơ chế, chínhsách này liên quan đến việc:
Hỗ trợ hạ tầng du lịch tại các điểm du lịch dựa vào cộng đồng;
Tăng khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với các nguồn vốn tín dụng vớilãi suất ưu đãi như một phần của chính sách xóa đói giảm nghèo;
Trang 29 Quảng bá du lịch dựa vào cộng đồng và xúc tiến hình ảnh điểm đến dulịch dựa vào cộng đồng;
Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho cộng đồng;
Ưu đãi và giá thuê đất lập dự án, thuế kinh doanh dịch vụ du lịch dựa vàocộng đồng, v.v
Hỗ trợ các doanh nghiệp lữ hành có hợp tác đưa khách đến các điểm dulịch dựa vào cộng đồng [19]
- Tính hấp dẫn và hình ảnh điểm đến: Có nguồn tài nguyên tại điểm đến dulịch dựa vào cộng đồng là điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch dựa vào cộngđồng, tuy nhiên điểm đến đó có thu hút được nhiều khách du lịch không hay nóicách khác mức độ phát triển của điểm đến du lịch dựa vào cộng đồng sẽ phụthuộc nhiều vào mức độ hấp dẫn và hình ảnh điểm đến
- Năng lực của cộng đồng: bao gồm năng lực về tổ chức quản lý hoạt động
du lịch; kỹ năng cung cấp các dịch vụ cơ bản (dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống,dịch vụ hướng dẫn), khả năng về tài chính để phát triển các sản phẩm du lịch tạiđiểm đến
- Mức độ hỗ trợ của cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch đối với thực hiệnquy hoạch điểm đến du lịch dựa vào cộng đồng, đầu tư nâng cấp hạ tầng du lịchtại điểm đến, đào tạo kỹ năng tổ chức quản lý và cung cấp dịch vụ, xúc tiến hìnhảnh điểm đến
- Mức độ hợp tác của các công ty du lịch, đặc biệt là các công ty lữ hànhtrong việc quảng bá sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng và đảm bảo nguồnkhách
- Mức độ hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ về kinhnghiệm tổ chức du lịch dựa vào cộng đồng cũng như tăng cường năng lực chocộng đồng tổ chức quản lý và tham gia hoạt động du lịch
Trang 30Tiểu kết chương 1
Du lịch dựa vào cộng đồng không giống với các loại hình du lịch khác.Trong các hoạt động của du lịch dựa vào cộng đồng, khách du lịch sẽ được mờitham gia vào các hoạt động của mỗi gia đình và của mỗi thành viên trong cộngđồng Do vậy, du lịch dựa vào cộng đồng cần được tiến hành một cách thậntrọng và có đầy đủ sự tham gia của các thành phần trong cộng đồng Các thànhviên của cộng đồng đều có tiếng nói trong sự phát triển của loại hình du lịch nàytại địa phương như lên kế hoạch, triển khai, quản lý và đánh giá Cộng đồng, baogồm các cá nhân và nhóm người, các doanh nghiệp nhỏ, các hiệp hội địa phương
và các quan chức địa phương đều phải chung tay để xây dựng du lịch tại địaphương mình
Về cơ bản có thể nói du lịch dựa vào cộng đồng là một sự phát triển bềnvững về mặt xã hội Điều này có nghĩa rằng các hoạt động du lịch được điềuhành chủ yếu bởi người dân và chắc chắn các hoạt động này cần có sự thốngnhất và ủng hộ của họ Một đặc điểm nổi bật của du lịch cộng đồng là nó bảo tồncác giá trị văn hóa, truyền thống và các di sản của địa phương Để đảm bảo cho
sự phát triển bền vững trong tương lai, loại hình du lịch dựa vào cộng đồng cầnđảm bảo đáp ứng được 3 mục tiêu căn bản sau:
Về kinh tế: Tính hiệu quả trong các hoạt động kinh doanh du lịch vàdịch vụ du lịch;
Về môi trường: bảo tồn và quản lý một cách thận trọng các nguồn tàinguyên thiên nhiên và quan trọng hơn cả là việc bảo tồn đa dạng sinh học và duytrì sự bền vững về sinh thái;
Về xã hội: duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, trong đó sự phânchia lợi ích một cách bình đẳng là vấn đề quan tâm hàng đầu
Trang 31Việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trìnhphát triển và tổ chức thực hiện hoạt động du lịch cộng đồng không những giảiquyết được nhu cầu chia sẻ các lợi ích thu được từ du lịch, cải thiện mức thunhập mà còn nâng cao vai trò của cộng đồng trong quá trình phát triển, tạo cơhội để cộng đồng hiểu rõ các giá trị và tầm quan trọng của đa dạng sinh học, từ
đó góp phần cải thiện chất lượng sống và bảo vệ tốt tài nguyên tự nhiên Ngoài
ra, phát triển du lịch dựa vào cộng đồng còn tạo nguồn thu về tài chính nhằm hỗtrợ các hoạt động bảo tồn tại địa phương
Nhận thức được lợi ích từ loại hình du lịch này, luận văn chọn vùng venbiển Nam Định nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng vùng ven biểnNam Định Mục tiêu của luận văn là làm thế nào tăng cường năng lực và vai tròcủa cộng đồng (đặc biệt là phụ nữ và ngư dân nghèo) trong bảo tồn và phát triểnbền vững nguồn lợi ven biển của Việt Nam, từ đó góp phần giải quyết mâu thuẫngiữa nghèo đói và bảo vệ môi trường và tái tạo môi trường thông qua phát triểnsinh kế bền vững
Để xây dựng thành công mô hình du lịch dựa vào cộng đồng vùng venbiển, việc khảo sát và đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của địa phương vàmức độ tham gia của người dân là hết sức cần thiết và hiểu rõ hơn về sức hẫpdẫn của tài nguyên du lịch, khả năng sử dụng cho mục đích phát triển du lịch,các lợi thế và yếu điểm trong việc xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng,
từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm triển khai hiệu quả hoạt động phát triển
du lịch cộng đồng ở khu vực
Trang 32CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG
ĐỒNG Ở VÙNG VEN BIỂN NAM ĐỊNH 2.1 Tổng quan về vùng ven biển Nam Định
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý: Vùng ven biển Nam Định bao gồm các huyện Giao
Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng tiếp giáp với biển Đông ở phía Đông Nam, diện tích khoảng 700km 2 Bờ biển kéo dài 72km từ cửa Ba Lạt đến cửa Đáy.
Bờ biển bị chia cắt mạnh mẽ bởi 4 cửa sông lớn đó là cửa Ba Lạt thuộc sông
Hồng, cửa Lan Hạ - sông Sò, cửa Ninh Cơ - sông Ninh Cơ và cửa Đáy - sôngĐáy Bờ biển Nam Định tương đối khúc khuỷu và luôn luôn biến đổi bởi hiệntượng bồi và lở Tại khu vực hai bãi bồi thuộc huyện Giao Thuỷ và Nghĩa Hưnghàng năm phù sa của các con sông đó tạo ra một lượng lớn phù sa (khoảng 50triệu tấn) bồi đắp cho khu vực làm mở rộng thêm hàng trăm mét ra biển [34]
- Đặc điểm địa chất: Nền móng cứng của khu vực nằm sâu dưới
4000 - 6000m, được phủ bởi các lớp trầm tích bên trên Phía trên cùng là trầmtích phù sa hiện đại dày 1 - 2m, màu đỏ mịn, luôn luôn bị biến đổi do được bồiđắp Tuy quá trình đó bị chậm lại do hệ thống đê, làm tăng độ cao của lòng sông,nhưng lại thúc đẩy quá trình tiến ra biển nhanh hơn Những vùng trũng ở độ sâu
1-2 m hay gặp xác thực vật Cấu trúc địa chất chia làm 3 nhóm: Nhóm trầm tích
aluvi, nhóm trầm tích vũng vịnh và cửa sông, nhóm trầm tích delta [34]
Nền địa chất, đặc biệt là trầm tích phù sa hiện đại là điều kiện thuận lợicho phát triển hệ sinh thái vùng cửa sông, ven biển
Trang 33- Đặc điểm khí hậu: Nằm trong miền khí hậu phía Bắc, vùng ven biển
Nam Định có khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Điều kiện khí hậu ởđây chịu sự chi phối của chế độ bức xạ mặt trời nội chí tuyến, chịu ảnh hưởngmạnh mẽ của hoàn lưu gió mùa Đông Bắc và vùng biển nhiệt đới nằm kề bên
Vùng ven biển này có số ngày mưa không nhiều khoảng 91,3 ngàymưa/năm Đó là mực mưa thì tháng nào cũng có khoảng từ 7 cho đến 13 ngàymưa/tháng [20]
Bảng 2: Lượng mưa tháng và năm (mm)
1 Lượng mưa tháng và năm (mm)
Nguồn: Báo cáo xây dựng qui hoạch môi trường phục vụ mục đích quản lý, bảo
vệ môi trường, phát triển kinh tế – xã hội bền vững của tỉnh Nam Định đến năm 2010.
- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Vùng ven biển Nam Định thường có
các hiện tượng như bão và áp thấp nhiệt đới Nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ của bão và áp thấp nhiệt đới Tính trung bình mỗi năm có khoảng 2 lầnbão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào đây Bão và áp thấp nhiệt đới xuất hiện vàothời kỳ từ tháng V đến tháng XI hàng năm [21]
Trang 34+ Bão là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những thay đổi vềmặt môi trường, đặc biệt là gây biến động địa hình bồi và bờ biển Bão gây ra sựthay đổi về chế độ sóng Bão thường gây mưa lớn, hầu hết các cơn bão đổ bộ vàođất liền đều gây ra mưa từ 200 – 500 mm Lượng mưa lớn thường dẫn đến nước
bị ngọt hoá, giảm pH và tăng độ đục trên diện rộng ảnh hưởng đến chất lượngnước trong các ao nuôi một cách đột ngột, gây ra hiện tượng sốc đối với cá, tômnuôi Bên cạnh đó, bão còn làm sạt lở bờ, kênh mương ảnh hưởng đến quátrình sản xuất nuôi trồng thuỷ sản và đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng tới quátrình phát triển du lịch ở đây, điều này phải được xem xét và tính tới trong địnhhướng phát triển ngành du lịch của địa phương
Ở đây còn có thể gặp các hiện tượng thời tiết đặc biệt khác như dông, lốc,sương mù, mưa phùn Tuy các hiện tượng này hoạt động với tần suất rất thấpnhưng sự thay đổi tức thời của áp suất khi dông, lốc, sự tăng cao của độ ẩm đócũng là những yếu tố bất lợi đối với phát triển du lịch tại đây
* Đặc điểm thủy văn, hải văn
Ba huyện ven biển Nam Định thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, hệthống sông ngòi ở đây vừa nhiều, vừa chằng chịt với hai hệ thống sông tự nhiên
và sông đào Các sông chảy trên địa phận nghiên cứu đều là đoạn hạ du và là cửasông của các sông thuộc hệ thống sông Hồng Vì vậy, ngoài tài nguyên nước nộitại (nước mưa rơi trên bề mặt, lượng nước trữ trong mạng lưới sông, suối, ao hồcủa khu vực) còn một lượng nước lớn từ thượng nguồn qua vùng đổ ra biển
- Chế độ sóng biển: Vào mùa hè các hướng sóng thịnh hành ngoài khơi là
Nam, Tây – Nam và đông với tần suất dao động từ 40 – 75%, trong đó sónghướng Nam chiếm tới 37% Độ cao sóng trung bình ngoài khơi là 1,2 – 1,4 m, ở
Trang 35ven bờ là 0,6 – 0,8 m; độ cao sóng cực đại tương ứng là 7,0 – 8,0 và 5,0 – 6,0 m.Các cấp sóng có độ cao lớn thường xuất hiện khi có bão Như vậy, có thể thấyrằng độ cao sóng trung bình ở đây rất thích hợp với phát triển du lịch sinh tháitheo quyết định 02/2003/QĐ - BTNMT về quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnhvực du lịch [20] (Bảng phụ lục 1)
- Chế độ thuỷ triều: Vùng ven biển cửa sông đồng bằng sông Hồng có chế
độ nhật triều khá thuần nhất, tính nhật triều thuần nhất giảm từ bắc xuống nam.Mực nước triều lớn nhất nhiều năm có thể đạt 4,0 m và thấp nhất khoảng 0,08 m
Số ngày triều cường từ 3 m trở lên có từ 152 – 176 ngày Nước biển xâm nhậpvào các cửa sông khá sâu vào đất liền (nước biển xâm nhập vào sâu 22km đốivới sông Hồng với nồng độ muối 5 - 10‰) Độ cao thuỷ triều và sự nhiễm mặn
hạ lưu cửa sông là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi một số diện tích cho phépsang nuôi trồng hải sản [20]
- Thổ nhưỡng: Bờ biển Nam Định thoải, do phù sa bồi đắp tích tụ của các
dòng sông: Điển hình sông Hồng và sông Trà Lý hàng năm đổ ra biển khoảng 55triệu tấn/năm, nhờ thế hàng năm đất được bồi tụ, tiến ra biển từ 50-100m Cáchđất liền 3 - 5 km từ cửa Ba Lạt đến cửa Trà Lý có hệ thống cồn cát tạo thành mộtvòng cung phía ngoài che chắn toàn bộ bãi bồi phía trong sát chân đê biển, tạohình khoảng 45 ngàn ha đất ngập nước ngoài đê rất thuận lợi cho việc khai thác,nuôi trồng thuỷ hải sản Đặc điểm thổ nhưỡng ở đây chia thành 3 loại đất: Nhómđất mặn, nhóm đất phù sa, nhóm đất cát biển [20]
Trang 362.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
- Dân cư và lao động: Vùng ven biển Nam Định là nơi tập trung
dân cư đông đúc, với trên 98% dân số là người Kinh đã định cư lâu dài Năm
2007 dân số của các huyện thuộc vùng ven biển có khoảng 900 nghìn người,chiếm khoảng 35,2% tổng dân số Nam Định Trong vài năm gần đây, dân số củadải ven biển vẫn liên tục tăng, năm 2005 có 897,3 nghìn người đến 2007 đạtkhoảng 901,1 nghìn người, trung bình mỗi năm tăng thêm khoảng 1,26 nghìnngười, tốc độ tăng dân số bình quân là 0,7%/năm [21]
Bảng 3: Phân bố dân số, mật độ dân số, kết cấu dân số của
vùng ven biển Nam Định
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định năm 2005, 2007
- Mật độ dân số: Vùng ven biển Nam Định có sự phân bố dân số kháđồng đều giữa các huyện ven biển của tỉnh Mật độ dân số ven biển của tỉnh
Trang 37Nam Định tương đối cao so với khu vực ven biển thuộc vùng Đông Bắc Bộ,mật độ dân số trung bình của toàn vùng là 492,2 người/km2, thấp hơn mật độcủa dân số ven biển tỉnh Nam Định là 2,1 lần và mật độ dân số ven biển tỉnhcũng cao hơn mật độ của vùng ven biển khác Trong đó, vùng ven biển TháiBình có mật độ là 955 người/km2, Nam Định là 1041 người/km2, cao hơn mật
độ trung bình của toàn vùng ven biển khoảng 2 lần Sự phân bố dân cư cũngkhông đồng đều giữa thành thị và nông thôn Ở vùng ven biển Nam Định dân
cư ở nông thôn tập trung với mật độ khá cao, đặc biệt là các thị trấn Hải Hậu cómật độ dân số là 1265 người/km2 Trong khi đó mật độ dân số của khu vựcthành thị như quận Đồ Sơn (TP Hải Phòng) là 1171 người/km2, thị xã MóngCái là 150 người/km2, thành phố Hạ Long là 765 người/km2
- Cơ cấu dân số phân theo thành thị và nông thôn: Dân số của vùng venbiển Nam Định có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn Năm 2007, dân
số vùng nông thôn là 815,6 nghìn người, cao gấp 9,5 lần dân số thành thị thuộcvùng ven biển của tỉnh Dân số ở khu vực nông thôn tăng từ 810,3 nghìn người(2005) lên đến 815,6 nghìn người (2007), trung bình mỗi năm tăng thêm khoảng1,7 nghìn người Dân số khu vực thành thị của vùng ven biển chiếm tỷ lệ tươngđối thấp Năm 2007, dân số thành thị đạt 85,4 nghìn người, chiếm 10,4% Điềunày chứng tỏ quá trình đô thị hóa của vùng diễn ra cũng không được mạnh [21]
Nhìn chung, kết cấu dân số theo thành thị và nông thôn của vùng ven biểnNam Định có sự phân hoá khá rõ nét
- Cơ cấu dân số phân theo giới tính: Cơ cấu dân số phân theo giới tính của
vùng này nghiêng về nữ giới Năm 2007 tỷ lệ nữ giới là 50,9% Tuy nhiên, tỷ lệ
Trang 38tăng tỷ lệ nam giới, song cũng chậm Năm 2005 tỷ lệ nam giới của vùng venbiển là 49% lên đến 49,1% năm 2007 và trong tương lai tỷ lệ này sẽ cũng tăngthêm
- Lao động và trình độ lao động: Nguồn lao động của khu vực vùng ven
biển Nam Định rất dồi Theo niêm giám thống kê năm 2008 số người trong độtuổi lao động (tính từ 15 tuổi trở lên) là 4.500 lao động Số lượng lao động luôntăng do kết cấu dân số trẻ, năm 2005 có khoảng 4.200 lao động đến năm 2008lên đến 4.500 lao động, trung bình mỗi năm tăng thêm khoảng 100 nghìn lao
động, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 0,89%/năm.
Trong cơ cấu lao động, tỷ lệ lao động tập trung trong ngành nông, lâm,ngư nghiệp chiếm khoảng 55,7% tổng số lao động, công nghiệp xây dựng là22,7%, ngành thương mại - dịch vụ là 21,6% Hiện nay, tỷ lệ lao động của vùngven biển Nam Định đang chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, giảm dần tỷ lệlao động ngành nông, lâm ngư nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xâydựng, thương mại dịch vụ Năm 2008, lao động trong ngành nông, lâm, ngưnghiệp đạt khoảng 2.000 nghìn lao động, chiếm 61,8% xuống còn 1.850 nghìnlao động, chiếm 55,7% lao động toàn vùng ven biển Trong khi đó cà ngànhcông nghiệp - xây dựng và thương mại dịch số lượng lao động tăng lên, trong đólao động ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 17,3% (2005) lên đến 21,6% (2008)[21]
Trình độ, học vấn của người lao động: Trình độ học vấn của người laođộng của vùng vẫn còn thấp, tuy nhiên lao động vùng ven biển Nam Định lại làvùng có trình độ học vấn cao nhất trong toàn dải ven biển nước ta Có một thực
tế là phần lớn thanh niên được đào tạo nghề ở nơi khác và rất ít người trở lại quê
Trang 39hương khi ra trường Họ thường thích ở lại các trung tâm để tìm kiếm một cơ hộitốt cho nghề nghiệp và sự nghiệp của mình Về trình độ chuyên môn, kỹ thuậtcủa lao động khá thấp có tới 83,6% số lao động không có chuyên môn, kỹ thuật
và số lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học chiếm 1,5% số lượnglao động Số lượng lao động có trỡnh độ đại học lại tập trung nhiều ở các thịtrấn, thị tứ, nơi có điều kiện làm việc tốt và có nhiều hướng phát triển [21]
- Cơ sở hạ tầng: Vùng ven biển Nam Định là vùng có hệ thống cơ sở hạ
tầng và vật chất kỹ thuật hoàn chỉnh và đồng bộ hơn các khu vực khác trongvùng, trong đó tập trung nhiều các công trình trọng điểm của vùng ven biển NamĐịnh, cũng như của tỉnh Đây là một lợi thế để khai thác tiềm năng sẵn có nhằmphục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của toàn vùng [21]
+ Mạng lưới giao thông: Mạng lưới giao thông liên lạc là một yếu tố quantrọng cho việc phát triển kinh tế núi chung và kinh tế du lịch của địa phương nóiriêng Giao thông chính là huyết mạch cho việc giao lưu văn hoá, kinh tế - xã hội
và du lịch thông qua việc giao lưu, trao đổi vận chuyển hàng hoá và phân phốisản phẩm giữa các địa phương trong khu vực và với các khu vực xung quanh
+ Giao thông đường bộ, trong dải ven biển Nam Định có các tuyến nhưđường 21, tuyến đường 55, nối liền từ Nam Định xuống vùng ven biển Tuyếnđường 10 nối liền các tỉnh ven biển vùng Bắc Bộ như Thái Bình, Nam Định,Ninh Bình…
+ Giao thông đường thuỷ: Dựa trên mạng lưới sông ngòi tương đối dày,
với hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, sông Ninh Cơ, sông Đáy trongvùng đó hình thành một hệ thống đường sông có ý nghĩa kinh tế lớn
Trang 40Các luồng vận tải đường thủy khác bao gồm: Nam Định - Hà Nội 108km; Hải Phòng – Nam Định dài 153 km, từ sông Cấm sang sông Luộc về sôngHồng đến bến Hải (Tiên Lữ - Hưng Yên) và một luồng đi Nam Định dài 153km.
+ Hệ thống cảng biển: Vùng ven biển Nam Định đang xây dựng cảngThịnh Long để đón khách du lịch và tàu vận chuyển hàng hóa trong vùng
- Thông tin liên lạc: Mạng lưới thông tin liên lạc của các huyện đó có
bước phát triển nhất định, hoà nhập vào mạng lưới quốc gia và quốc tế Hiệnnay, mạng lưới thông tin liên lạc đó phủ kín hầu hết các xã trong huyện gồm cácbưu cục huyện, xã Trong đó có 6 bưu điện trung tâm và tất cả các huyện venbiển hiện nay đều có bưu điện huyện với hệ thống trang thiết bị đồng bộ, baogồm cả thiết bị truyền dẫn có đủ khả năng liên lạc với trung tâm tỉnh và với cáctỉnh khác trong cả nước và với nước ngoài Tuy vậy, hệ thống thông tin liên lạctới vùng sâu, vùng xa còn gặp không ít khó khăn do hạn chế về đường giaothông cũng như khả năng đầu tư mở rộng mạng lưới điện thoại, bưu cục, bưutrạm [34]
- Hệ thống điện - nước
Điện là nguồn năng lượng quan trọng đối với sản xuất, phát triển kinh tếcũng như đời sống của nhân dân Đến năm 2008, hầu hết các xã trong toàn vùng
đó có đường dây điện phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân [34]
Hệ thống cấp nước sạch và hệ thống thoát nước nhìn chung còn trongtình trạng yếu, phân bố chủ yếu ở các thị trấn (trung tâm huyện lỵ)
Ở các khu vực nông thôn vùng ven biển nước sinh hoạt phần lớn chưađảm bảo vệ sinh an toàn, chưa được xử lý trước khi sử dụng Nước thải chảy