1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện yên phong

60 3,6K 26
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 547 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ1. Tính cấp thiết của đề tàiĐất đai là là cơ sở không gian của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình văn hoá, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, là yếu tố cấu thành lãnh thổ của mỗi quốc gia. Vì vậy, sử dụng đất một cách khôn ngoan là hết sức cần thiết cho sự phát triển bền vững đối với mỗi quốc gia.Tốc độ phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam ngày càng cao đã gây áp lực lớn lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai. Cùng với đó là sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng làm cho đất đang dần bị suy thoái. Vấn đề đặt ra là cần phải khai thác sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo sử dụng đất lâu dài.Quy hoạch và kế hoạch hoá sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, được ghi nhận tại điều 6 Luật Đất đai năm 2003. Để tiến hành lập quy hoạch và kế hoạch hoá sử dụng đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 302004TT BTNMT ngày 01112004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định về quy hoạch, kế hoạch hoá sử dụng đất các cấp. Trong đó đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một trong các bước quan trọng trong công tác quy hoạch sử dụng đất. Nhằm giúp công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất đạt kết quả cao và việc lập quy hoạch kế hoạch hoá sử dụng đất có tính khả thi Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành thông tư số 082007TT BTNMT hướng dẫn thực hiện thông kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, và thông tư số 092007TT BTNMT hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.Huyện Yên Phong trong những năm gần đây đang trên đà phát triển mạnh, có nhiều biến động lớn trong việc sử dụng đất. Vi vậy cần phân bổ quỹ đất hợp lý nhằm sử dụng đất tiết kiệm, đem lại hiệu quả cao đáp ứng sự phát triển của huyện trong giai đoạn tới.Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự phân công của khoa Tài Nguyên và Môi Trường, được sự nhất trí của phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Yên Phong – tỉnh Bắc Ninh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2009 phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Phong Tỉnh Bắc Ninh”

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là là cơ sở không gian của mọi quá trình sản xuất, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình văn hoá, kinh tế, xã hội,

an ninh quốc phòng, là yếu tố cấu thành lãnh thổ của mỗi quốc gia Vì vậy, sử dụng đất một cách khôn ngoan là hết sức cần thiết cho sự phát triển bền vững đối với mỗi quốc gia

Tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam ngày càng cao đã gây áp lực lớn lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai Cùng với đó là sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng làm cho đất đang dần bị suy thoái Vấn đề đặt ra

là cần phải khai thác sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả, đảm bảo sử dụng đất lâu dài

Quy hoạch và kế hoạch hoá sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, được ghi nhận tại điều 6 - Luật Đất đai năm 2003 Để tiến hành lập quy hoạch và kế hoạch hoá sử dụng đất, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 30/2004/TT BTN&MT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định về quy hoạch, kế hoạch hoá sử dụng đất các cấp Trong đó đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một trong các bước quan trọng trong công tác quy hoạch sử dụng đất Nhằm giúp công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất đạt kết quả cao và việc lập quy hoạch - kế hoạch hoá sử dụng đất có tính khả thi

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành thông tư số 08/2007/TT BTN&MT hướng dẫn thực hiện thông kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, và thông tư số 09/2007/TT BTN&MT hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản

lý hồ sơ địa chính

Trang 2

Huyện Yên Phong trong những năm gần đây đang trên đà phát triển mạnh,

có nhiều biến động lớn trong việc sử dụng đất Vi vậy cần phân bổ quỹ đất hợp lý nhằm sử dụng đất tiết kiệm, đem lại hiệu quả cao đáp ứng sự phát triển của huyện trong giai đoạn tới

Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự phân công của khoa Tài Nguyên và Môi Trường, được sự nhất trí của phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Yên

Phong – tỉnh Bắc Ninh, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2009 phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất huyện Yên Phong - Tỉnh Bắc Ninh”

2 Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

- Tìm ra xu thế biến động và nguyên nhân gây ra biến động trong sử dụng đất

của huyện giai đoạn 2000 – 2009

- Từ đó tạo cơ sở cho việc lập chiến lược sử dụng đất dài hạn của huyện phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững

Trang 3

Phần 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT

1.1.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiện trạng sử dụng đất

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông

nghiệp, là đối tượng sản xuất đồng thời cũng là nơi sản xuất ra lương thực, thực phẩm và là nhân tố quan trọng hợp thành môi trường sống

Đất đai là một nhân tố sinh thái bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (Theo FAO, 1976) Trong quá trình quy hoạch và sử dụng đất thì công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một nội dụng quan trọng, là cơ sở để đưa ra những quyết định cũng như định hướng sử dụng đất hợp lý cho địa phương Việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất không chỉ đánh giá công tác quản lý và sử dụng đất tại thời điểm nghiên cứu mà nó còn tạo cơ sở cho các định hướng sử dụng đất bền vững tương trong tương lai

Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một bộ phận quan trọng trong việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên được sử dụng trong nền kinh tế quốc dân Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là mô tả hiện trạng sử dụng từng quỹ đất như nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở và đất chưa sử dụng Để từ đó rút ra những nhận định, kết luận về tính hợp lý hay chưa hợp lý trong sử dụng đất, làm cơ sở để đề ra những hướng sử dụng đất sao cho hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời

nó cũng là cơ sở cho việc định hướng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Hiện nay, sự gia tăng dân số cũng như sự phát triển của nền kinh tế xã hội đã gây ra một áp lực lớn tới đất đai Trong khi đó tài nguyên đất lại có hạn, vì vậy cần

Trang 4

phải sử dụng hợp lý, đảm bảo được sự hiệu quả cũng như sử dụng lâu dài Để làm được như vậy chúng ta phải đánh giá được tài nguyên đất.

1.1.2 Mối quan hệ giữa đánh giá hiện trạng sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất và quản lý nhà nước về đất đai

1.1.2.1 Mối quan hệ giữa đánh giá hiện trạng sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất

Hiện nay việc sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch là rất quan trọng Nó không chỉ góp phần làm cho đất đai được sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững

mà còn giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được tốt hơn Nhưng để có một phương án quy hoạch sử dụng đất hợp lý, có tính khả thi thì người lập phương

án quy hoạch phải có sự hiểu biết sâu sắc về hiện trạng sử dụng đất cũng như điều kiện và nguồn lực của vùng lập quy hoạch Để đáp ứng được điều đó thì phải thực hiện các bước đánh giá hiện trạng sử dụng đất Thông qua đánh giá hiện trạng sử dụng đất giúp cho người lập quy hoạch lắm rõ đầy đủ và chính xác hiện trạng sử dụng đất cũng như các biến động về đất đai từ đó đưa ra những nhận định sử dụng đất hợp lý với điều kiện hiện tại và trong tương lai Vì vậy giữa đánh giá hiện trạng

sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất có mối quan hệ khăng khít với nhau

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa đánh giá hiện trạng sử dụng đất và công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Trong những năm gần đây do nhu cầu đất đai của các ngành đòi hỏi số lượng khá lớn, đã làm cho quỹ đất có nhiều thay đổi, việc chuyển mục đích sử dụng đất, hiện tượng lấn chiếm tranh chấp đất đai xẩy ra thường xuyên đã làm cho công tác quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn Vì vậy để quản lý chặt chẽ quỹ đất cần phải nắm bắt được các thông tin, dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất Công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất giúp cho các nhà quản lý đất đai cập nhật, nắm chắc các thông tin về hiện trạng sử dụng đất một cách chính xác nhất, giúp cho các nhà quản

lý chỉnh sửa bổ sung những thay đổi trong quá trình sử dụng đất Vì vậy có thể nói

Trang 5

công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất có vai trò hết sức quan trọng đối với công tác quản lý Nhà nước về đất đai

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về đất đai trên thế giới

Trong những thập kỷ gần đây sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới

và cùng với đó là sự bùng nổ về dân số đã gây áp lực rất lớn đối với tài nguyên đất

Để giảm thiểu một cách tối đa sự suy thoái tài nguyên đất do thiếu trách nhiệm, sự thiếu nhận thức của con người, đồng thời tạo cơ sở cho những định hướng sử dụng đất theo quy hoạch và bền vững trong tương lai Công tác nghiên cứu về đất và đánh giá đất đã được thực hiện khá lâu và ngày càng được chú trọng hơn, đặc biệt đối với các nước phát triển

Từ những năm 50 của thế kỷ XX việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất Công tác nghiên cứu đánh giá về đất ngày càng thu hút các nhà khoa học trên thế giới đầu

tư về thời gian lẫn chất xám, nó trở thành một trong những chuyên ngành nghiên cứu không thể thiếu đối với các nhà quy hoạch, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý trong lĩnh vực đất đai Sau đây là một số nghiên cứu về đánh giá đất trên thế giới:

- Phân loại khả năng thích nghi đất đai có tưới (Inrrigation Land Suitabiliti Classification) của Cục cải tạo đất đai - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ năm 1951 Sau một thời gian nghiên cứu người ta đã phân loại bao gồm 6 lớp, từ lớp có thể trồng được đến lớp có thể trồng được một cách có giới hạn và lớp không thể trồng được Mặc dù chưa được nghiên cứu một cách cụ thể chi tiết nhưng những kết quả của công trình nghiên cứu này đã có những ý nghĩa lớn trong việc sử dụng đất và công tác quản lý về đất đai Bên cạnh đó yếu tố khả năng của đất cũng được chú trọng trong công tác đánh giá đất ở Hoax Kỳ, do đó Kligebeil và Montgomery Vụ bảo tồn đất đai Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đề nghị năm 1964 Ở đây đơn vị bản đồ đất đai

Trang 6

được nhóm lại đưa vào khả năng sản xuất của một loại cây trồng hay một loại cây

tự nhiên nào đó, chỉ tiêu cơ bản để đánh giá là các hạn chế của lớp phủ thổ nhưỡng với mục tiêu canh tác dự định áp dụng

- Liên Xô (cũ) có lịch sử hình thành và phát triển công tác đánh giá đất từ lâu đời Năm 1917 việc đánh giá đất gắn liền với công tác địa chính mà tiên phong

là hoạt động của Hội đồng địa chính thuộc Bộ tài sản Từ năm 1960 việc phân hạng

và đánh giá đất được thực hiện theo 3 bước

+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng+ Đánh giá khả năng của đất + Đánh giá kinh tế đất

- Để đáp ứng yêu cầu thực tế về công tác đánh giá đất, các nhà khoa học trên thế giới cùng nhau hợp tác và thành lập tổ chức FAO Tổ chức này được thành lập nhằm mục đích xây dựng quy trình và tiêu chuẩn về đánh giá đất sử dụng đồng

bộ trên thế giới Sau khi được thành lập tổ chức này đã tiến hành nghiên cứu và đưa

ra dự thảo đầu tiên vào năm 1972, sau đó được Brinkiman và Smyth soạn lại và cho xuất bản năm 1973

Từ bản dự thảo này cùng với các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học hàng đầu của tổ chức FAO đã xây dựng nội dung phương pháp đánh giá đất đầu tiên (A Framewok For Land Evaluation), công bố năm 1976 Phương pháp đánh giá đất của FAO dựa trên cơ sở phân hạng thích hợp đất đai được thử nghiệm thực

tế trên nhiều nước và nhiều khu vực trên thế giới đã có hiệu quả Qua nhiều năm sửa đổi bổ sung và đúc rút từ kinh nghiệm thực tế FAO đã đưa ra nhiều tài liệu hướng dẫn cho các đối tượng cụ thể trong công tác đánh giá đất như sau:

+ Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa năm 1983+ Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới năm 1985+ Đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh năm 1989

Trang 7

+ Đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển năm 1990+ Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai năm 1992

Hiện nay con người dần ý thức được tầm quan trọng của công tác đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất một cách bền vững, đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái Do đó công tác đánh giá đất đai được thực hiện ở hầu hết các quốc gia và trở thành khâu trọng yếu trong hoạt động đánh giá tài nguyên đất hay trong quy hoạch

sử dụng đất, là công cụ cho việc quản lý sử dụng đất bền vững ở mỗi quốc gia

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển lâu đời, từ thế kỷ

XV những hiểu biết về đất đai đã được chú trọng và đã được tổng hợp thành nhiều

tài liệu quốc gia như: “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, các tài liệu của các nhà khoa

học Lê Quý Đôn, Lê Tắc, Nguyễn Khiêm…

Trong thời kỳ Pháp thuộc cũng có nhiều nghiên cứu sau :

- Công trình nghiên cứu: “Đất Đông Dương” do E.Mcastagnol thực hiện

và ấn hành năm 1842 ở Hà Nội

- Công trình nghiên cứu ở miền nam Việt Nam do Tkatchenko thực hiện nhằm phát triển các đồn điền cao su ở Việt Nam

- Công trình nghiên cứu: “Vấn đề đất và sử dụng đất ở Đông Dương” do

E.Mcastagnol thực hiện và ấn hành năm 1950 ở Sài Gòn

Từ sau năm 1950 rất nhiều các nhà khoa học Việt Nam như: Tôn Thất Chiểu,

Vũ Ngọc Tuyên, Lê Duy Thước, Cao Liêm, Trương Đình Phú, Thái Công Tụng …

và các nhà khoa học nước ngoài như: V.M Fidland, F.E MoOrman, cùng hợp tác nghiên cứu xây dựng bản đồ thổ những Miền Bắc Việt Nam (Tỷ lệ 1:1.000.000), phân vùng địa lý - Thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam, bản đồ đất tổng quát miền Nam Việt Nam Ngoài ra còn có các nghiên cứu về tính chất vật lý, hoá học đất ở

Trang 8

vùng đồng bằng sông Cứu Long, các nghiên cứu về đất sét, đất phèn ở Việt Nam, bước đầu đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc, từng bước nghiên cứu và áp dụng phương pháp đánh giá đất của FAO đưa ra.

- Trong nghiên cứu và đánh giá quy hoạch sử dụng đất khai hoang ở Việt Nam (Bùi Quang Toản và nhóm nghiên cứu năm 1985), phân loại khả năng của FAO đã được áp dụng trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, phân lớp thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất

- Năm 1993 Tổng Cục Địa chính đã xây dựng báo cáo đánh giá hiện trạng

sử dụng đất Nội dung của báo cáo này chủ yếu đề cập đến khả năng sản xuất thông qua hệ thống thuỷ lợi Bên cạnh đó Tổng Cục Địa chính đã thực hiện từng bước việc xây dựng các mô hình thử nghiệm lập quy hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính khác nhau

- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất (Viện quy hoạch và thiết kế Bộ nông nghiệp năm 1994)

- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất ở nước ta theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền là nội dung của đề tài “ KT 02 – 09” (do PSG.TS Trần An Phong làm chủ nhiệm năm 1995) Nghiên cứu này được xây dựng trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững để đánh giá hiện trạng và khả năng sử dụng đất

Trong giai đoạn 2001 – 2005 các đề tài cấp bộ, các đề tài hợp tác Quốc tế Viện thổ nhưỡng – Nông hoá đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng đem lại hiệu quả cao Viện đã nghiên cứu bổ sung hệ phân loại đất Việt Nam dựa trên phân loại đất tiên tiến trên thế giới như: FAO – UNESCO, Soil Taxolomy…

Giai đoạn từ năm 2005 đến nay các dự án, đề tài cấp bộ, các đề tài hợp tác quốc tế đã tập trung nghiên cứu, ứng dụng đem lại hiệu quả cao

- Quản lý hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai, xử lý kết quả, lập bản

đồ hiện trạng sử dụng đất là nội dung của đề tài “Ứng dụng công nghệ viễn thám và

Trang 9

GIS xác định hiện trạng sử dụng đất phục vụ kiểm kê đất đai ” (do KS Đinh Hồng Phong làm chủ nhiệm năm 2007).

- Năm 2008, tiếp tục thực hiện theo kế hoạch chương trình đào tạo trao đổi nghiệp vụ, đưa dự án xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường tại Việt Nam sử dụng vốn vay ODA của Chính phủ Pháp vào vận hành theo

kế hoạch của dự án đề ra

1.2.3 Tình hình nghiên cứu tại địa bàn huyện Yên Phong

Trong thời gian qua, tại địa bàn huyện Yên Phong đã có nhiều công trình nghiên

cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất song chủ yếu là các nghiên cứu nhỏ phục vụ cho các công tác nghiệp vụ của Sở TNMT Bắc Ninh và Phòng TNMT huyện Yên Phong Việc đánh giá hiện trạng này được thực hiện đều đặn theo các năm nhằm phục vụ công tác thống kê đất đai định kì và được thực hiện kĩ càng hơn trong các

kì kiểm kê đất đai như năm nay Từ các kết quả nghiên cứu đánh giá hiện trạng hàng năm mà Phòng TNMT huyện đã chỉnh lý bản đồ hiện trạng để cập nhật các biến động đất đai trong năm qua Sản phẩm là các bản đồ hiện trạng của huyện theo các năm

1.3 PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT

* Phương pháp chung: bao gồm các công đoạn sau:

+ Công tác chuẩn bị: đây là bước đầu tiên của công tác xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Trong giai đoạn này tiến hành thu thập, kiểm tra đánh giá tài liệu, số liệu và khảo sát địa bàn nghiên cứu

+ Xử lý số liệu, tài liệu: dựa vào các yêu cầu, mục địch của việc xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và các quy định của pháp luật, trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập được lựa chọn và tổng hợp các nội dung cần thể hiện

Trang 10

+ Tạo thành sản phẩm: sau khi các số liệu, tài liệu thu thập được đã tổng hợp phù hợp với các nội dung cần thể hiện, tiến hành thu phóng tài liệu bản đồ, can ghép và chuyển vẽ lên bản đồ nền, xây dựng bản vẽ, kiểm tra chất lượng bản đồ, chỉnh sửa, nghiệm thu và in bản đồ.

* Phương pháp đo vẽ trực tiếp:

Đây là phương pháp tốn kém và tốn nhiều thời gian, phương pháp này thường được áp dụng ở những vùng có địa hình tương đối bằng phẳng, địa hình địa vật không phức tạp mà hiện tại chưa có bản đồ hoặc tài liệu bản đồ đã đo vẽ trước đây nhưng không đảm bảo yêu cầu và chất lượng để xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Để tiến hành đo người ta có thể áp dụng các phương pháp đo vẽ thủ công, cổ truyền như dùng máy toàn đạc, bàn đạc chuyển vẽ kết quả đo trên giấy Hoặc có thể

áp dụng công nghệ hiện đại với các thiết bị đo điện tử tự động có các bộ phận ghi

và xử lý số liệu đo, rồi các số liệu được truyền trực tiếp vào máy tính và ở đây bản

đồ được vẽ thông qua các phần mềm Phương pháp này đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao

* Phương pháp sử dụng ảnh viễn thám:

Quá trình xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, sử dụng tư liệu ảnh hàng không với công nghệ truyền thống hoặc công nghệ lập bản đồ chuyên đề Khi sử dụng công nghệ thủ công truyền thống chúng ta có thể sử dụng tư liệu ảnh gốc hoặc ảnh phóng, sơ đồ ảnh, ghép các bản đồ chưa nắn và bình đồ ảnh, các tư liệu ảnh thông qua các công đoạn điều vẽ trong phòng nhằm giải đáp ảnh bằng mắt hay bằng kính lập thể Sau đó đem điều vẽ ngoài thực địa được thực hiện theo tuyến hợp lý nhằm xác định bổ xung đặc tính, chất lượng tên gọi và địa danh các yếu tố đối tượng ngoài thực địa Sau đó các nội dung được giải đoán, tiêu chuẩn hoá và chuyển vẽ lên ảnh gốc, ảnh phóng, sơ đồ hoặc bình đồ ảnh theo ký hiệu quy ước Còn khi sử dụng công nghệ hiện đại thì công tác thủ công chủ yếu ở công đoạn nắn

Trang 11

và điều vẽ, sau đó các ảnh nắn được đưa vào máy tính qua bàn số hoá hoặc máy quét Sau đó sử dụng các phần mềm để tạo bản đồ bằng phương pháp vẽ tự động.

* Phương pháp tổng hợp từ bản đồ cấp dưới: Từ bản đồ hiện trạng sử dụng

đất cấp dưới, tiến hành tổng hợp can ghép và chỉnh lý thành bản đồ hiện trạng của huyện

* Phương pháp chỉnh lý: là phương pháp thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng

đất dựa vào bản đồ hiện trạng sử dụng đất giai đoạn trước Trên cơ sở số liệu thu thập được và điều tra thực địa, tiến hành chỉnh lý biến động đất đai trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất giai đoạn trước

Tại địa bàn huyện Yên Phong sử dụng kết hợp phương pháp chỉnh lý và phương pháp tổng hợp từ bản đồ cấp dưới để xây dựng bản đồ hiện trạng huyện theo các kì kiểm kê, thống kê

Trang 12

Phần 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Điều kiện tự nhiên: xác định vị trí địa lý, địa hình vùng nghiên cứu,

xem xét các điều kiện khí hậu thời tiết, chế độ thuỷ văn cũng như các đặc điểm đất đai, thảm thực vật

- Điều kiện kinh tế - xã hội: nghiên cứu các đặc điểm về dân số, lao

động, cơ sở hạ tầng, tình hình sản xuất và sủ dụng đất đai của huyện

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển kinh

- Giai đoạn trước khi có luật đất đai năm 1993

- Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003

- Giai đoạn từ năm 2003 đến nay

2.1.3 Xu thế biến động đất đai trong giai đoạn từ năm 2000 – 2009

- Xu thế biến động các loại đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất

Trang 13

chưa sử dụng

- Nguyên nhân gây biến động đất đai trong giai đoạn 2000 – 2009

2.1.4 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện Yên Phong - Tỉnh Bắc Ninh

Điều tra đánh giá hiện trạng các loại đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp,

đất chưa sử dụng

2.1.5 Điều tra, chỉnh lý và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Yên Phong - Tỉnh Bắc Ninh

- Sự cần thiết để chỉnh lý và xây dựng bản hiện trạng sử dụng đất

- Phương pháp xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Yên Phong - Tỉnh Bắc Ninh

- Kết quả xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập

Trong quá trình nghiên cứu, tiến hành điều tra nội nghiệp và ngoại nghiệp nhằm thu thập tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết phụ vụ cho mục đích và yêu cầu nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp thống kê

Để thuận lợi cho công tác nghiên cứu thì sau khi thu thập được các số liệu cần phải thống kê lại cho phù hợp với mục đích và yêu cầu của đề tài Phương pháp này dùng để thống kê toàn bộ diện tích đất đai của huyện theo sự hướng dẫn thống nhất của Bộ Tài nguyên & Môi trường, phân nhóm các số liệu điều tra để xử lý và tìm ra xu thế biến động đất đai trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay

Trang 14

2.2.3 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu

Sau khi thu thập được các tài liệu, số liệu, thông tin tiến hành phân tích, tổng hợp theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu của đề tài Số liệu được phân tích và tổng hợp bằng phần mềm EXCEL

2.2.4 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ

Dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật quy định về việc hướng dẫn công tác xây dựng bản đồ và chỉnh lý biến động để xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Yên Phong năm 2009, tiến hành xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện bằng phần mềm Microstation để số hoá và chỉnh lý

Trang 15

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN YÊN PHONG

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Yên phong nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm của tỉnh ( thành phố Bắc Ninh ) 13 km và có địa giới :

- Phía Bắc giáp huyện Hiệp Hoà và Việt Yên - Bắc Giang

- Phía Nam giáp huyện Từ Sơn, Tiên Du

- Phía Đông giáp thành phố Bắc Ninh

- Phía Tây giáp huyện Đông Anh và Sóc Sơn – Hà Nội

Yên Phong có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế xã hội Cách thủ đô Hà Nội 25 km về phía Tây Nam, cách quốc lộ 1A con đường huyết mạch của cả nước 8 km về phía Nam và cách sân bay quốc tế Nội Bài , cửa khẩu hàng không lớn nhất nước 14 km về phía Tây Phía Bắc có con sông Cầu là con sông lớn, thượng lưu thông đến Thái Nguyên, hạ lưu thông xuống Hải Dương, Hải Phòng làm cho Yên Phong có nhiều tiềm lực phát triển thương mại dịch vụ Yên Phong có tổng diện tích đất tự nhiên là 9686,15 ha Với 14 đợn vị hành chính trong

đó bao gồm 1 thị trấn và 13 xã

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Mang đặc trưng của vùng đồng bằng sông Hồng nên địa hình toàn huyện tương đối bàng phẳng Địa hình toàn huyện được bao bọc và chia cắt bởi 3 con sông: sông Cầu bao bọc phía Bắc huyện, sông Cà Lồ bao phía Tây huyện và sông Ngũ Huyện Khê Địa hình này có độ dốc nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, một đôi chỗ địa hình lại có dạng bậc thang, cao thấp xen kẽ nhau

Trang 16

3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Địa bàn huyện nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa mùa đông lạnh, khô, độ ẩm thấp, mùa hè nắng nóng độ ẩm cao Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt

Mùa ít mưa, lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình tháng từ

6 -21◦C, lượng mưa bình quân mỗi tháng tầm 20 – 56 mm Bình quân một năm

có 2 đợt rét nhiệt độ dưới 13° kéo dài 3 ngày

Mùa mưa, nóng từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm với lương mưa trung bình tháng từ 100 – 312 mm Các tháng mùa mưa có lượng mưa chiếm 80% lượng mưa trong năm Nhiệt độ bình quân tháng từ 23.7º - 29.1ºC Độ ẩm không khí trung bình năm 83% Độ ẩm không khí cao nhất vào tháng 4 là 89%, thấp nhất vào tháng 12 là 77%

Nhìn chung Yên Phong có điều kiện khí hậu thuận lợi thích hợp với nhiều loại cây trồng, có thể phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú

3.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

a) Tài nguyên đất

Theo số liệu từ Phòng Tài Nguyên và Môi Trường thì tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Yên Phong năm 2009 là 9686,15 ha, đất đai huyện Yên Phong được hình thành chủ yếu do quá trình bồi tụ phù sa của sông Thái Bình, sông Cầu và sông Ngũ Huyện Khê, phần còn lại là đất hình thành tại chỗ trên nền phù sa cổ Đất dốc được hình thành trên đá phiến sét và trên đá cát Toàn huyện có 3 nhóm đất là chủ yếu : Đất phù sa, đất bạc màu, đất đồi núi đỏ vàng 3 nhóm đất trên lại được chia chủ yếu làm 6 loại sau:

- Đất phù sa được bồi tụ hàng năm

- Đất phù sa không được bồi

- Đất phù sa glây

Trang 17

- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng.

- Đất phù sa úng nước

- Đất bạc màu

b) Tài nguyên khoáng sản

Yên Phong là một huyện nghèo về khoáng sản, chủ yếu chỉ có đất sét làm gạch Dược phân bố tập trung ở các xã Dũng Liệt, xã Tam Đa, xã Yên Trung, xã

Sông Ngũ Huyện Khê là con sông lớn thứ hai chảy qua huyện từ xã Văn Môn tới xã Đông Phong, là ranh giới giữa huyện Từ Sơn, Tiên Du và Yên Phong Sông Ngũ Huyện Khê và sông Cầu rất thuận lợi cho việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp

Sông Cà Lồ chảy qua huyện từ xã Hoà Tiến tới xã Tam Giang dài 7 km, đồng thời là ranh giới giữa huyện Yên Phong với xã Sóc Sơn – huyện Đông Anh- tp Hà Nội

Ngoài các sông chính có lượng mưa dồi dào nêu trên, huyện còn có 410 ha ao

hồ được phân bố đều ở các làng xã Đây cũng chính là nơi chứa nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và là nơi thả cá đem lại nguồn lợi kinh tế cao

Trang 18

* Nguồn nước ngầm

Nguồn nước ngầm trên thực tế toàn huyện có độ sâu trung bình từ 4 – 6 m, chất lượng nước tốt, có thể đem vào sử dụng và tưới tiêu Nhìn chung thì lượng nước ngầm dồi dào đảm bảo đủ cung cấp nước tưới cho nông nghiêp và các hoạt động kinh tế xã hội khác

d) Tài nguyên nhân văn

Yên Phong có nguồn lao động dồi dào với kĩ năng sản xuất nông nghiệp lâu đời của nền văn minh lúa nước đồng bằng sông Hồng Bước vào thời kỳ đổi mới tiếp cận với cơ chế thị trường, việc chuyển đổi cơ cấu lao động từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ từ lao động phổ thông sang lao động công nghệ cao diễn ra nhanh chóng Ngay cả trong sản xuất nông nghiệp, đa số người dân Yên Phong đều cố gắng vươn lên làm giàu bằng sản xuất hàng hoá nông sản với nhiều cây trồng vật nuôi phong phú như: trồng dâu nuôi tằm, trồng sắn dây, cây rau mầu vụ đông, nuôi bò sữa, nuôi dê và nuôi các loại thuỷ sản…

Yên Phong là vùng đấtt ngàn năm văn hiến với rất nhiều di tích lịch sử được nhà nước xếp hạng Di tích văn hoá khảo cổ của Yên Phong có Di Chỉ Nội Gầm xã Dũng Liệt, Yên Phong có 20 di tích lịch sử được nhà nước xếp hạng, đó là các cơ

sở cách mạng thời kháng chiến Yên Phong có nhiều danh lam thắng cảnh: Chùa trăm gian ở Yên Phụ, chùa Khai Nghiêm ở Vọng Nguyệt xã Tam Giang và đặc biệt

có nhiều địa danh gắn liền với chiến thắng quân Tống vào thế kỉ thứ XI như Đền Núi – khu căn cứ chiến lược Thất Diệu Sơn, Đền Xà, Ngã Ba Xà … Kéo theo đó thì các lễ hội cổ truyền của Yên Phong rất nhiều, song do điều kiện kinh tế xã hội nên trong những năm gần đây chỉ còn lưu giữ lại 1 số lễ hội cổ truyền nhất định

e)Thực trạng môi trường

Cảnh quan môi trường của Yên Phong mang những đặc điểm chung của vùng

Trang 19

đồng bằng Bắc Bộ với các cánh đồng, hệ thống kênh mương, ao hồ dày đặc, chính điều đó tạo nên 1 cảnh quan vừa trù phú vừa thơ mộng.

Do sự phát triển kinh tế xã hội nên trong những năm vừa qua và những năm tới đây, tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá đã, đang và sẽ diễn ra nhanh chóng và là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội cao nhất tỉnh Tuy nhiên đã nảy sinh mặt trái, đó là ô nhiễm mội trường và nguy cơ ô nhiễm môi trường

Ở bất cứ địa phương nào thì áp lực của các vấn đề xã hội lên đất đai và môi trường là không thể không có Đối với Yên Phong những nguy cơ ô nhiễm môi trường rõ nét hơn và thể hiện ở một số lĩnh vực sau:

- Do hoạt động của một số làng nghề đúc nhôm và nấu quặng kim loại gây ô nhiễm lớn

- Đa phần ở các địa phương, rác được xử lý đưa và lấp xuống ao, thùng hoặc chôn lấp ngay tại vườn nhà Nhiều địa phương chưa có bãi rác hoặc bãi rác chưa đúng quy cách về khoảng cách với khu dân cư, hướng gió, khoảng cách với nguồn nước ngầm

- Tập quán dùng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp chưa đúng, chưa khoa học Hiện tượng dùng lạm phát thuốc, dùng thuốc không đúng theo hướng dẫn của cơ quan BVTV vẫn còn xẩy ra phổ biến gây dư thừa hàm lượng thuốc BVTV trong đất, trong nông sản phẩm Hiện tượng vứt bừa bãi vỏ chai, vỏ lọ, túi đựng thuốc BVTV ra ngoài đồng, xuống sông hồ vẫn còn xảy ra Những hiện tượng đó

đã gây phá vỡ cân bằng sinh thái đồng ruộng, làm mất đi hoặc giảm thiểu một số loài sinh vật tự nhiên

- Việc quản lý, sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa ở một số ít địa phương chưa được tốt Quy cách của các nghĩa trang, nghĩa địa về khoảng cách với khu dân

cư, về độ cao của khu hung tang, về phân bố các khu trong nghĩa địa đa phần là

Trang 20

chưa phù hợp Chưa có quy hoạch đồng bộ về cơ sở hạ tầng, hệ thống cây xanh của nghĩa địa Do yếu tố phong tục tập quán, tín ngưỡng nên một số địa phương còn lung túng trong việc ban hành các quy định về hung tang, cải tang…

- Việc hoạch định và bảo vệ hệ thống tiêu thoát nước trong khu dân cư ở một

số địa phương chưa tốt Vẫn còn hiện tượng tự ý lấp ao, đầm thành đất ở làm tắc nghẽn hệ thống tiêu thoát nước

- Một số mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tự phát trong khu dân cư với số lượng lớn, không có biện pháp xử lý chất thải triệt để đã gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, rất nguy hiểm đặc biệt là trong giai đoạn cả thế giới phòng chống dịch cúm gia cầm như hiện nay

Tuy nhiên, nhờ có sự chỉ đạo kiên quyết của các cấp, các ngành, các địa phương trong huyện và đặc biệt là nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường được nâng cao là một trong những nguyên nhân góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

3.1.2.1 Tình hình chung về phát triển kinh tế xã hội

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước, của tỉnh, huyện Yên Phong đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế xã hội Đảng bộ và nhân dân huyện Yên Phong đã tạo điều kiện thuận lợi cùng với tỉnh đầu

tư phát triển các cụm làng nghề và đa nghề Kinh tế huyện phát triển với nhịp độ khá cao và hiệu quả do đã có sự đầu tư đúng hướng, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư phát triển nhanh trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Huyện đã tăng dần tỉ trọng công nghiệp - xây dựng cơ bản và dịch vụ, tạo tiền đề cho sự phát triển của huyện trong thời gian tiếp theo

3.1.2.2 Tình hình dân số, lao động, việc làm và thu nhập của huyện

Trang 21

* Dân số : Theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2009 thì dân số toàn huyện là

123719 người với 27493 hộ Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,34 % năm 2003 xuống còn 1,18% năm 2009 Cư dân của huyện phân bố không dều và có mật độ dân số cao Các xã có mật độ dân số cao như Văn Môn 2210 người/km², Yên Phụ

1819 người/km², xã có mật độ dân số thấp nhất là Dũng Liệt 939 người/km²

* Lao động và việc làm : Theo thống kê đến ngày 31/12/2009 thì tổng số lao

động của huyện là 56292 người chiếm 45,50% tổng số dân trong đó chủ yếu là lao động nông nghiệp có tới 51304 chiếm 91,14% số lao động Trong những năm gần đây việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm dần tỉ trọng nông nghiệp, tăng dần tỉ trọng công nghiệp dịch vụ

* Đời sống dân cư và thu nhập : Đời sống dân cư được cải thiện và dần ổn

định về nhiều mặt Cùng với sự hỗ trợ của nhà nước, các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội và sự nỗ lực tạo việc làm của từng hộ gia đình, từng người lao động Đời sống nông thôn ngày càng được nâng cao, diện đói nghèo ngày càng được thu hẹp, số hộ giàu tăng lên, những nhu cầu cơ bản về sinh hoạt của nhân dân như ăn ở, mặc, đi lại ngày càng được cải thiện khá hơn Nhìn chung, tình hình thu nhập và mức sống hiện nay của nhân dân trong huyện đã được cải thiện đáng kể song vẫn còn thấp so với mức bình quân của toàn tỉnh Thu nhập bình quân đầu người tăng

từ 3,48 triệu đồng năm 2005 lên 4,91 triệu đồng năm 2008 tức là tăng 1,41 lần ( so sánh với giá cố định 1994 ) Với mức tăng như vậy thì đến năm 2020 đời sống của nhân dân huyện Yên Phong sẽ có những bước cải thiện đáng kể

3.1.2.3 Thực trạng phát triển các ngành nghề

a) Ngành nông nghiệp :

* Trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản :

- Ngành trồng trọt đã có những chuyển biến tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng do có sự đầu tư, đưa các loại giống có năng suất, chất lượng cao vào sản

Trang 22

xuất có giá trị kinh tế cao như tám xoan, nếp … và đầu tư ứng dụng khoa học mới vào sản xuất, năng suất tăng từ 53,3 tạ/ha năm 2007 lên 54,9 tạ/ha năm 2009 Tổng sản lượng năm 2009 đạt 60944 tấn tương đương năm 2007 góp phần đảm bảo an ninh lương thực Ngoài ra các loại cây trồng khác cũng phát triển mang lại hiệu quả kinh tế tương đối cao Tuy nhiên hiện nay ngành trồng trọt chủ yếu là sản xuất nhỏ,

tự cung tự cấp cho các chợ ở nông thôn, thị trường nhỏ hẹp, cây lúa vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cây trồng, cây công nghiệp và cây thực phẩm có giá trị cao chưa được ưu tiên phát triển, chưa hình thành vùng chuyên canh cây trồng như : vùng lúa hàng hoá, vùng cây công nghiệp, vùng rau sạch, vùng cây thực phẩm hàng hoá …

- Chăn nuôi: Những năm gần đây chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh đáp ứng được nhu cầu thực phẩm phục vụ dời sống hằng ngày Tuy nhiên chăn nuôi vẫn mang tính chất nhỏ, chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình, tận dụng phụ phẩm của nghành trồng trọt Một số sản phẩm mới như : gà công nghiệp, bò lai sin, lợn nạc,

cá … đã dần mang tính sản xuất hàng hoá, nhưng quy mô nhỏ Việc chuyển dịch cơ cấu trong nghành chăn nuôi diễn ra nhanh hơn so với nghành trồng trọt nhưng vẫn

ở tốc độ thấp Hiện nay xu hướng chăn nuôi là giảm dần trâu bò do người dân bắt đầu đưa cơ giới hoá vào đồng ruộng và tăng dần đàn bò, lợn, gia cầm Các vật nuôi

có giá trị cao chưa được sản xuất đại trà, việc tăng cao đàn gia cầm trong những năm gần đây đã đánh dấu một bước chuyển dịch cơ cấu trong chăn nuôi nhưng chưa hình thành mô hình chăn nuôi trang trại và chăn nuôi theo quy mô công

nghiệp

Trang 23

Biểu 01: Tình hình phát triển chăn nuôi trên địa bàn huyện

58677 con ( giảm 18% ), trong đó lợn có tỷ lệ nạc cao chiếm 80% tổng đàn lợn ( tăng 2% ); gia cầm 695000 con ( tăng 11,7% )

- Thuỷ sản : Phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, những năm qua một số diện tích mặt nước, ao hồ trong huyện đã được cải tạo để nuôi thả cá Dự án nuôi trồng thủy sản đã được triển khai thực hiện những năm trước cũng đã thu được nhiều kết quả và tiếp tục được nhân rộng ra Nhiều hộ còn mạnh dạn đầu tư nuôi các loại khác như ba ba, ếch … song mô hình này vẫn chỉ tồn tại dưới dạng quy mô nhỏ là kinh doanh hộ gia đình.Toàn huyện có 795,4 ha mặt nước chuyển đổi tự nhiên sang nuôi thả cá Tổng sản lượng cá đạt 3900 tấn ( tăng 3,5% so với năm 2008 )

b) Ngành công nghiệp và dịch vụ :

- Hiện nay huyện đã hình thành và phát triển một số cụm, cơ sở sản xuất công nghiệp và xây dựng bao gồm: Đơn vị quốc doanh địa phương, làng nghề với các làng nghề thủ công trưyền thống, doanh nghiệp ngoài quốc doanh với hàng ngàn hộ sản xuất tiểu thủ cồng nghiệp Trong năm qua tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 373 tỷ đồng tăng 56,1 % so với năm 2008 Nhịp

độ phát triển bình quân trong 2 năm tăng 24,9 %/ năm Sản phẩm chủ yếu của

Trang 24

nghành công nghiệp huyện là giấy , đồ thủ công mỹ nghệ, chế biến gỗ, cô đúc

nhôm…

- Dịch vụ: Với vai trò là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng đồng thời cũng là một trong nhiều ngành có đóng góp vào tổng sản phẩm của huyện và trong nhưng năm gần đây đang từng bước phát triển, có nhiều cải tiến về tổ chức và phương thức hoạt động Huyện chưa có các cụm thương mại dich vụ, nhưng có các doanh

nghiệp và các đại lí lớn, nên đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất của người dân Ngoài ra hệ thống chợ, các điểm bán hàng nhỏ ở các thôn, xóm ngày càng đa dạng, thị trường ngày càng mở rộng và cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất và đời sống của các tầng lớp dân cư Năm 2009 thì tổng giá trị sản xuất khu vực dịch vụ đạt 272,9 tỷ đồng tăng 121,7 tỷ đồng so với năm 2007 tăng bình quân 30,6%/ năm

3.1.2.4 Thực trạng phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn

Toàn huyện hình thành các thôn, khu dân cư nằm trong 14 xã, thị trấn, đạt bình quân 6 thôn, khu/ xã Nhìn chung cơ sở vật chất của các thôn, khu dân cư như: đường giao thông, điện, nước sạch, hệ thống tiêu thoát nước, các thiết chế văn hoá, giáo dục thể thao được quan tâm phát triển và phục vụ có hiệu quả nhu cầu của người dân, song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn đổi mới phát triển nông thôn

Toàn huyện hình thành nhiều khu dân cư mang hình thái đô thị, đó là các trung tâm xã Đây là các khu dân cư có điều kiện vị trí địa lý thuận lợi, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh theo hướng thủ công nghiệp và dịch vụ, có giá trị quyền

sử dụng đất lớn Tuy nhiên việc đầu tư vào các khu dân cư này để vừa tạo đà phát triển, vừa giữ được giá trị truyền thống còn hạn chế và chưa đồng bộ

Thị trấn Chờ là trung tâm kinh tế - văn hoá - chính trị của huyện với tổng diện tích tự nhiên 844,83 ha, năm 2009 với 13530 người, mật độ dân số 1602 người/km² đứng thứ 3 toàn huyện sau xã Văn Môn, Yên Phụ Trong nhưng năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, dân số, cơ sở hạ tầng,

Trang 25

công trình văn hoá, phúc lợi nhà ở, đất ở cũng tăng lên khá nhanh.

Ngoài khu vực thị trấn Chờ trên địa bàn huyện còn có các khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp vừa và nhỏ, khu công nghiệp rời Trong tương lai phát triển đô thị của huyện tập trung chính ở khu vực này

3.1.2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

- Giao thông : Mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện có nhiều thuận lợi

Hệ thống đường bộ thuận tiện cho việc vận chuyển, giao lưu kinh tế trong và ngoài tỉnh với chiều 50 km, trong đó hầu hết là đường nhựa đặc biệt là có doạn quốc lộ 18 cao tốc, giao thông thuận lợi

Mạng lưới đường tỉnh lộ và huyện lộ, đường nông thôn hiện có tuy bước đầu đã được đầu tư nâng cấp, nhưng nhìn chung chất lượng còn thấp gây khó khăn cho giao thông trong huyện và nội tỉnh

Đường sông cũng là một lợi thế đáng kể của Yên Phong, 3 con sông: sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê chảy qua Yên Phong tạo ra một mạng lưới đường thuỷ nối liền với các huyện và tỉnh bạn

- Thuỷ lợi : Các công trình thuỷ lợi đã góp phần tích cực vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng , tăng hệ số sử dụng đất, phát triển ngành nghề dịch vụ Bên cạnh việc thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương, hàng năm tỉnh có chính sách hỗ trợ các địa phương xây dựng kênh cứng nhưng hệ thống kênh tưới tiêu ở một số nơi và một số tuyến đẫ bị xuống cấp chưa có biện pháp khắc phục do không được tu bổ, nạo vét, khơi thông thường xuyên nên vẫn xảy ra hạn hán, úng cục bộ ở 1 số vùng đồng ruộng Ngoài ra một số trạm bơm đã xuống cấp nhất là khu vực bể hút, bể xả bị bồi lắng, nứt bê tông, thiết

bị máy móc phần nào bị hư hỏng, việc thay thế không đồng bộ, không được bảo dưỡng thường xuyên làm cho hiệu quả hoạt động không cao

3.1.2.6 Y tế , giáo dục , an ninh quốc phòng

Trang 26

* Y tế : Toàn huyện hiện có 13/14 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế , tăng 8 xã so với

năm 2008 , có 1035 người đang làm nghề y dược tư nhân Nhìn chung các cơ sở khám chữa bệnh được xây dựng kiên cố và trang bị tương đối đầy đủ, phục vụ khá tốt việc khám và chữa bệnh thông thường cho nhân dân Trong những năm qua y tế huyện đã thực hiện 10 chuẩn Quốc gia y tế, duy trì thường xuyên công tác chăm sóc sức khoẻ trẻ em, sức khỏe sinh sản, tiêm phòng đầy đủ 6 loại vacxin cho trẻ em dưới 1 tuổi Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được quan tâm nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm Tuy nhiên y tế huyện vẫn còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở trang thiết bị của các trạm y

tế xã đã xuống cấp cần vốn để đầu tư nâng cấp

* Giáo dục: Toàn huyện tiếp tục chủ trương đổi mới chương trình giáo dục phổ

thông, trong đó chú trọng đổi mới phương pháp dạy và học, tiếp tục thực hiện “ Chương trình xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2006 – 2010 “ ,đến nay, tỷ lệ phòng học kiên cố toàn huyện là 73,2% tăng 17,5% so với năm

2005 Tiếp tục giữ vững phổ cập tiểu học, THCS và tích cực phổ cập bậc trung học;

tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cấp THCS là 98,5%, cấp THPT bình quân toàn huyện là 79,1% Chú trọng nâng cao trình độ , năng lực đội ngũ giáo viên ; tỷ lệ đạt chuẩn của giáo viên mầm non 97,6%, bậc tiểu học 100%, bậc THCS 96% Triển khai mạnh mẽ cuộc vận động 4 không trong toàn nghành giáo dục, bước đầu đạt kết quả tốt Năm 2007 – 2008 có 14 trường đạt tiến tiến cấp tỉnh, 30 trường đạt danh hiệu tập thể “ Lao động tiên tiến” cấp huyện và 33 giáo viên đạt danh hiệu “ chiến sĩ thi đua cấp cơ sở ” Năm 2008 – 2009 tuyển sinh vào lớp 1: 2703 học sinh ; lớp 6:

2750 học sinh; lớp 10 : 1714 học sinh và trong năm nay huyện có 25 trường đạt chuẩn quốc gia Ở cấp bậc mẫu giáo có toàn huyện năm 2009 có 197 lớp với 5829 học sinh và 205 giáo viên Ở cấp giáo dục phổ thông thì tiểu học với 11169 học sinh và 100% tốt nghiệp Cấp THCS 492 giáo viên, 263 lớp với 10173 học sinh và

tỉ lệ tốt nghiệp đạt 98,5% Cấp THPT bao gồm 346 giáo viên, 156 lớp học với

7782 học sinh

Trang 27

* An ninh quốc phòng : Công tác an ninh quốc phòng của huyện trong nhưng

năm qua được chính quyền địa phương hết sức quan tâm, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về nhiệm vụ an ninh quốc phòng toàn dân, hàng năm các xã trong huyện đều hoàn thành tốt công tác tuyển quân, huấn luyện dân quân dự vệ, dự bị động viên … Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh thường xuyên được củng cố và phát huy sâu rộng, làm tốt công tác phòng chống và trấn áp tội phạm vì vậy tình hình trị an trên địa bàn huyện trong nhưng năm qua luôn được củng cố và giữ vững Hằng năm huyện đều hoàn thành 100% chỉ tiêu gọi thanh niên nhập ngũ, có năm vượt chỉ tiêu đề ra với tinh thần dân chủ công bằng, không có hiện tượng quân nhân đào ngũ bỏ ngũ

3.1.2.7 Văn hoá , thể thao

Phong trào thể dục hàng năm được duy trì và phát triển mạnh mẽ, nhiều câu lạc

bộ thể dục thể thao, câu lạc bộ dưỡng sinh được thành lập ở các khu phố, thôn xóm Tại các trường phổ thông phong trào thể dục thể thao được duy trì nề nếp Tăng cường và đẩy mạnh các hoạt động thể thao trong toàn huyện, thực hiện phong trào

“ toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ Toàn huyện có 26% số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên , gia đình thể thao đạt 15%

Hoạt động thông tin, tuyên truyền đổi mới theo hướng đưa thông tin về cơ sở Huyện uỷ đã thành lập ban chỉ đạo chung, các phòng văn hoá, đài truyền thanh huyện và các đài cơ sở được củng cố tăng cường cả về vật chất và đội ngũ cán bộ Các hoạt động văn hoá, thông tin, tuyên truyền luôn bám sát các hoạt động chính trị của đia phương Huyện đã xây dựng đài phát thanh sóng FM, các xã, thị trấn đều có cụm loa thu và phát Đài phát thanh huyện và các đài cơ sở thường xuyên tuyên truyền đường lối, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của đảng, nhà nước để vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa Năm 2009 có 40 làng, khu phố văn hoá và 50

cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu công sở văn hoá

Trang 28

Biểu 2 : Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2009

tính Số lượng

+ Nông, lâm - Thuỷ sản

+ Công nghiệp - Xây dựng

12 Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng %

-Yên Phong có vị trí địa lý thuận lợi, có mạng lưới giao thông đầy đủ giúp huyện

có nhiều tiềm năng trong việc trao đổi, buôn bán hàng hoá với các tỉnh, huyện khác

và đặc biệt có thuận lợi rất lớn trong việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp

Trang 29

-Yên Phong có lực lượng lao động dồi dào, lao động chủ yếu là các lao động trong nông nghiệp nên rất chăm chỉ cần mẫn, lại xuất phát là một vùng quê có

truyền thống hiếu học nên các lao động này rất dễ tiếp thu các kĩ thuật mới Đây là động lực thúc đẩy các ngành nghề kinh tế phát triển

* Khó khăn:

Là một huyện nghèo về tài nguyên khoáng sản nên Yên Phong chỉ có thể phát triển và đi lên theo con đường buôn bán, trao đổi hàng hoá nên có lẽ cần một thời gian dài để có thể phát triển xứng với tiềm năng của huyện

-Tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, nên các chính sách xã hội để giải quyết vấn đề này đã làm giảm việc đầu tư vào các lĩnh vực khác

- Dân số đông và chủ yếu là lao động nông nghiệp là chính, tình trạng lao động nông nhàn vẫn còn khá nhiều

Tóm lại, Yên Phong có vị trí địa lý và kinh tế - xã hội tương đối thuận lợi để phát triển trong những năm tới Song để phát huy được những lợi thế sẵn có và khắc phục những hạn chế thì Chính quyền, UBND huyện cần có những chính sách,

kế hoạch phù hợp với nguồn lực và xu hướng phát triển hiện nay

3.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

3.2.1 Giai đoạn trước năm 1993

Thời kỳ này, cũng như các địa phương khác trên khắp đất nước, công tác quản lý nhà nước về đất đai gắn liền với chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp nông thôn, như thực hiện Chỉ thị 100/CT-TƯ ngày 13/01/1981 của ban chấp hành Trung ương và Nghị quyết số 10/NQ-TƯ ngày 05/04/1988 của bộ Chính trị về chính sách giao khoán đất nông nghiệp đến người dân

- Thực hiện công tác đo đạc, phân hạng, đăng ký, thống kê đất đai và thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước

Trang 30

- Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra đất đai, giải quyết nhiều đơn thư khiếu nại tố cáo về đất đai, hoà giải trong nhân dân góp phần vào sự ổn định trật tự trị an trên địa bàn huyện.

- Tổ chức tuyên truyền luật đất đai được Quốc hội khoá VIII thông qua ngày 29/12/1987 Yên Phong đã tiến hành đo và lập bản đồ giải thửa cho toàn bộ các xã, thị trấn của huyện

Tuy nhiên công tác quản lý đất đai thời gian này còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết do việc cập nhật thông tin chưa đầy đủ và thường xuyên, số liệu biến động đất đai được thống kê hàng năm nhưng còn thiếu chính xác, nhiều sai lệch Tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai vẫn còn xẩy ra

3.2.2 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003

Từ khi có luật đất đai sửa đổi năm 1993, đặc biệt là từ khi Tổng cục Địa chính được thành lập theo Nghị quyết số 12/CP ngày 22/2/1994 Đây được coi là bước ngoặt trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Với sự ra đời của các văn bản Luật cũng như các tổ chức chuyên môn công tác quản lý Nhà nước về đất đai ngày càng chặt chẽ hơn Tuy vẫn còn nhiều tồn tại nhiều mặt hạn chế và thiếu sót, song công tác quản lý Nhà nước về đất đai của huyện vẫn đạt nhiều kết quả tốt ở một số nhiệm vụ như:

- Từng bước đưa công tác quản lý Nhà nước về đất đai theo quy hoạch, kế hoạch

- Công tác kiểm kê đất đai trong toàn huyện được thực hiện theo định kỳ, các biến động về đất đai được cập nhật và lưu trữ tốt

- Công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định 60/NĐ-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở tại đô thị được thực hiện nghiêm túc, đúng trình tự thủ tục

- Công tác thanh tra giải quyết tranh chấp khiếu nại tố cáo, xử lý các sai

Ngày đăng: 21/07/2014, 09:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01: Phân tích nguyên nhân tăng giảm đất nông nghiệp giai đoạn  2000-  2009 - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện yên phong
Bảng 01 Phân tích nguyên nhân tăng giảm đất nông nghiệp giai đoạn 2000- 2009 (Trang 53)
Bảng 02: Phân tích biến động đất phi nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2009 - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện yên phong
Bảng 02 Phân tích biến động đất phi nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2009 (Trang 55)
Bảng 03: Diện tích và cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Phong năm 2009 - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện yên phong
Bảng 03 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất huyện Yên Phong năm 2009 (Trang 57)
Bảng 05. Tình hình giao đất, thuê đất theo đối tượng sử dụng huyện Yên Phong năm 2009          Đvt:ha - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất huyện yên phong
Bảng 05. Tình hình giao đất, thuê đất theo đối tượng sử dụng huyện Yên Phong năm 2009 Đvt:ha (Trang 59)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w