A. ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư là căn bệnh gây tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau bệnh tim mạch.Đó là tên chung để chỉ một nhóm gồm khoảng 200 bệnh do các tế bào phân chia một cách bất thường. Trong đó ung thư tế bào máu đứng hàng thứ năm trong số các bệnh ung thư gặp tại Mỹ. Theo thống kê của Viện Huyết học và truyền máu Việt Nam nó đứng hàng đầu trong số các bệnh máu gặp tại Viện. Và việc điều trị ung thư máu cũng rất phức tạp. Vì vậy, em làm tiểu luận: “Ung thư máu và các liệu pháp trị liệu” để tìm hiểu rõ hơn về bệnh ung thư máu. B. NỘI DUNG I. Bệnh ung thư máu: 1. Định nghĩa ung thư máu: Ung thư máu (Leukemia) là ung thư của cơ quan tạo ra các huyết cầu như tủy xương và hệ thống bạch huyết. Trong ung thư máu các bạch cầu được sản xuất một cách nhanh chóng rối loạn tạo ra các bạch cầu bất thường không hoạt động được và các bạch cầu ung thư này dần dần xâm lấn đến các hồng cầu và tiểu cầu ngăn chặn sản xuất và phá hủy các tế bào này. 2. Phân loại: Bệnh ung thư máu được chia thành các nhóm khác nhau theo sự tiến triển của bệnh: Bệnh bạch cầu mạn tính: Là thể bệnh có tiến triển chậm, có thể kéo dài nhiều năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách. Trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu.Lúc đầu bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì.Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi các triệu chứng của bệnh xuất hiện.Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện như: nổi hạch hay nhiễm khuẩn. Lúc đầu các triệu chứng còn ở thể nhẹ sau đó trở nên nặng nề hơn. Bệnh bạch cầu cấp: Là thể bệnh ác tính hơn, tiến triển nhanh. Ngay khi bệnh bắt đầu, tế bào bệnh bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường.Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh. Còn có cách phân loại bệnh bạch cầu dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: các tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho và tiến triển của mỗi dòng đó: Bệnh bạch cầu lymphô mạn tính (CLL): Các tế bào lymphô bị ảnh hưởng và thường tiến triển chậm. Tuổi thường mắc bệnh là trên 55 tuổi.Hầu như không gặp ở trẻ em. Bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và giai đoạn đầu thường tiến triển chậm. Phần lớn gặp ở người lớn. Bệnh bạch cầu lymphô cấp tính (ALL): Là thể phát triển ác tính của các tế bào dòng lymphô và tiến triển rất nhanh. Đây là thể bệnh bạch cầu thường gặp nhất ở trẻ em, người lớn đôi khi cũng có thể bị mắc. Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và tiến triển nhanh. Có thể xảy ra ở cả người lớn và trẻ em. Bệnh bạch cầu tế bào tóc: là một thể hiếm gặp của bệnh bạch cầu mạn tính. 3. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh Hiện nay, người ta còn chưa xác định được chính xác các nguyên nhân gây bệnh ung thư nói chung, cũng như nguyên nhân gây ung thư máu nói riêng. Các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố nguy cơ được coi là nguyên nhân gây bệnh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh, bao gồm:
Trang 1A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là căn bệnh gây tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau bệnh tim mạch. Đó là tên chung để chỉ một nhóm gồm khoảng 200 bệnh do các tế bào phân chia một cách bất thường Trong đó ung thư tế bào máu đứng hàng thứ năm trong số các bệnh ung thư gặp tại Mỹ Theo thống kê của Viện Huyết học và truyền máu Việt Nam nó đứng hàng đầu trong số các bệnh máu gặp tại Viện Và việc điều trị ung
thư máu cũng rất phức tạp Vì vậy, em làm tiểu luận: “Ung thư máu và các liệu pháp trị liệu” để tìm hiểu rõ hơn về bệnh ung thư máu.
Trang 2B.NỘI DUNG
I Bệnh ung thư máu:
1 Định nghĩa ung thư máu:
Ung thư máu (Leukemia) là ung thư của cơ quan tạo ra các huyết cầu như
tủy xương và hệ thống bạch huyết Trong ung thư máu các bạch cầu được sản xuất một cách nhanh chóng rối loạn tạo ra các bạch cầu bất thường không hoạt động được và các bạch cầu ung thư này dần dần xâm lấn đến các hồng cầu và tiểu cầu ngăn chặn sản xuất và phá hủy các tế bào này
2 Phân loại:
Bệnh ung thư máu được chia thành các nhóm khác nhau theo sự tiến triển của bệnh:
-Bệnh bạch cầu mạn tính: Là thể bệnh có tiến triển chậm, có thể kéo dài
nhiều năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách Trong giai đoạn sớm của bệnh, tế bào bạch cầu ác tính còn có khả năng thực hiện một số chức năng bình thường của bạch cầu Lúc đầu bệnh nhân có thể không có triệu chứng gì Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi các triệu chứng của bệnh xuất hiện Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi tệ hơn Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất hiện như: nổi hạch hay nhiễm khuẩn Lúc đầu các triệu chứng còn ở thể nhẹ sau đó trở nên nặng nề hơn
-Bệnh bạch cầu cấp: Là thể bệnh ác tính hơn, tiến triển nhanh Ngay khi
bệnh bắt đầu, tế bào bệnh bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình thường Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh
Còn có cách phân loại bệnh bạch cầu dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng: các
tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho và tiến triển của mỗi dòng đó:
-Bệnh bạch cầu lymphô mạn tính (CLL): Các tế bào lymphô bị ảnh hưởng
và thường tiến triển chậm Tuổi thường mắc bệnh là trên 55 tuổi Hầu như không gặp ở trẻ em
-Bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh
hưởng và giai đoạn đầu thường tiến triển chậm Phần lớn gặp ở người lớn
-Bệnh bạch cầu lymphô cấp tính (ALL): Là thể phát triển ác tính của các tế
bào dòng lymphô và tiến triển rất nhanh Đây là thể bệnh bạch cầu thường gặp nhất
ở trẻ em, người lớn đôi khi cũng có thể bị mắc
Trang 3-Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh
hưởng và tiến triển nhanh Có thể xảy ra ở cả người lớn và trẻ em
-Bệnh bạch cầu tế bào tóc: là một thể hiếm gặp của bệnh bạch cầu mạn
tính
3 Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
Hiện nay, người ta còn chưa xác định được chính xác các nguyên nhân gây bệnh ung thư nói chung, cũng như nguyên nhân gây ung thư máu nói riêng Các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố nguy cơ được coi là nguyên nhân gây bệnh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh, bao gồm:
-Tia xạ: Những người tiếp xúc với tia phóng xạ liều cao sẽ có nguy cơ cao
hơn bị bệnh bạch cầu tủy cấp tính, bạch cầu tủy mạn tính, bạch cầu lympho cấp tính Vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2
đã tạo nên hàm lượng phóng xạ rất cao Nhiều người sống sót sau vụ nổ bom hạt nhân bị bệnh bạch cầu Người có tiền sử được điều trị bằng tia xạ trị khi điều trị ung thư hoặc các bệnh khác từ trước cũng có nguy cơ cao hơn bị bệnh bạch
cầu Tuy nhiên, khi chụp tia X trong chẩn đoán răng hàm mặt hoặc các biện pháp
chụp X quang chẩn đoán khác (như CT Scan) người ta tiếp xúc tia X với hàm lượng ít hơn nhiều Hiện tại vẫn chưa xác định mối liên quan giữa sự tiếp xúc với nồng độ tia thấp với bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em và người lớn Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu mối liên quan nguy cơ mắc bệnh bạch cầu và tiền sử chụp Xquang nhiều lần hoặc chụp cắt lớp khi còn nhỏ
-Hút thuốc lá: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hút thuốc là làm tăng nguy cơ
mắc bệnh bạch cầu tủy cấp tính
-Benzen: Chất này được sử dụng nhiều trong công nghiệp hóa chất, có nhiều
trong khói thuốc lá và khí đốt Việc tiếp xúc nhiều với Benzen có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh bạch cầu tủy mạn tính, bệnh bạch cầu lympho cấp tính
-Tiền sử điều trị hóa chất: Một số bệnh nhân ung thư được điều trị hóa chất
(như các chất alkyl hóa, các chất ức chế topoisomerase) về sau có thể bị mắc bệnh bạch cầu tủy cấp tính hoặc bệnh bạch cầu lympho cấp tính
-Hội chứng Down và một số bệnh di truyền khác có thể làm tăng nguy cơ
mắc bệnh ung thư máu cấp tính
-Hội chứng rối loạn sinh tủy và một số bệnh bất thường về máu khác cũng
làm tăng nguy cơ bị bạch cầu cấp tính
Trang 4-Tiền sử gia đình: Rất hiếm khi có trên một người trong gia đình bị ung thư
máu Nếu có thì chủ yếu là thể bệnh bạch cầu lympho mạn tính
4 Triệu chứng của ung thư máu
Giống như các tế bào máu khác, tế bào bạch cầu ác tính di chuyển trong máu gây nên các triệu chứng Các triệu chứng này phụ thuộc số lượng tế bào bạch cầu
ác tính, vị trí các tế bào này gây ảnh hưởng
Ở thể bạch cầu mạn tính, bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ và làm xét nghiệm máu vì bệnh nhân không có triệu chứng
Ngược lại, các bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp tính thường đến bệnh viện khám với các triệu chứng rầm rộ hơn Nếu não bị tổn thương, thường có các triệu chứng như đau đầu, nôn, lú lẫn, mất trương lực cơ, động kinh Bệnh bạch cầu cũng có thể ảnh hưởng các vị trí khác trong cơ thể như: hệ tiêu hóa, thận, phổi, tim, tinh hoàn Khi tế bào dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy sẽ gây đau nhức xương Đồng thời chúng chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác Lúc đó bệnh nhân có thể có những chứng sau:
-Sốt, đau đầu, đau khớp do sự chèn ép trong tủy
-Mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhợt do thiếu hồng cầu
-Hay bị nhiễm trùng do bạch cầu không thực hiện được chức năng chống nhiễm khuẩn
-Chảy máu chân/nướu răng, dễ bầm tím do giảm khả năng làm đông máu -Biếng ăn, sút cân
-Ra mồ hôi về ban đêm ở bệnh nhân là nữ
-Sưng nề bụng hoặc cảm giác khó chịu ở bụng
Phần lớn các triệu chứng này không phải là đặc trưng cho ung thư nên dễ bị người bệnh bỏ qua, vì vậy, khi có một trong bất kỳ dấu hiệu nào nêu trên, người bệnh cần đến bác sỹ ngay để được khám, chẩn đoán, tư vấn và điều trị
5 Các phương pháp chẩn đoán bệnh bạch cầu
Các bác sỹ sẽ thực hiện thăm khám cho bệnh nhân kỹ càng Khi nghi ngờ bệnh bạch cầu, các bác sỹ sẽ yêu cầu làm một số xét nghiệm
-Khám lâm sàng: các bác sỹ sẽ phát hiện được hạch sưng to, gan-lách to ra -Xét nghiệm máu: cần thiết kiểm tra số lượng các tế bào máu và thành phần
các loại bạch cầu (công thức máu) Khi mắc bệnh bạch cầu, số lượng bạch cầu tăng cao, giảm số lượng tiểu cầu, lượng Hemoglobin giảm thấp do thiếu máu
Trang 5+ Sinh thiết chẩn đoán: Phương pháp lấy một mảnh mô trong tủy xương để
soi dưới kính hiển vi tìm tế bào máu ác tính Sinh thiết là biện pháp duy nhất giúp chẩn đoán xác định tế bào ác tính trong tủy xương Có hai cách lấy tủy xương:
+Chọc hút tủy: Sử dụng kim nhỏ và có lỗ để chọc vào xương, hút lấy một ít
tủy xương
+Sinh thiết tủy: Sử dụng kim lớn hơn để lấy một mảnh tủy xương.
-Các xét nghiệm khác: Tùy thuộc triệu chứng và thể bệnh mà bác sỹ cho
làm một số xét nghiệm như:
+ Xét nghiệm gen: Xác định nhiễm sắc thể bất thường Philadelphia trong
bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính
+ Xét nghiệm sinh hóa: xác định nhóm máu, thời gian đông máu, công thức
máu, nước tiểu
+Xét nghiệm dịch tủy: Xác định sự xuất hiện tế bào bạch cầu bất thường
trong máu
+Chụp X quang: Phát hiện hạch to trong ổ bụng hoặc các vị trí khác.
II Điều trị bệnh ung thư máu:
Những phương pháp điều trị cơ bản bao gồm hóa trị liệu, xạ trị, ghép tủy, liệu pháp miễn dịch và chăm sóc hỗ trợ
1 Điều trị bệnh BCTC (bạch cầu tủy cấp)
a Điều trị các trường hợp mới mắc
Chiến lược điều trị là dùng các thước hóa chất phối hợp để đạt lui bệnh hoàn toàn:
Bước chuẩn bị cho điều trị hó0a chất:
Trong nhiều trường hợp bệnh, việc điều trị hóa chất được thực hiện ngay sau khi có chẩn đoán xác định chưa phải là cần thiết Thay vào đó các triệu chứng
và dấu hiệu cấp tính, điều chỉnh trong một vài ngày đầu nên được đặt lên hàng đầu
(1) Truyền máu hoặc các sản phẩm từ máu: hầu hết các bệnh nhân BCTC đều
có giảm hồng cầu và tiểu cầu , việc bổ xung các thành phần này là cần thiết
(2) Bổ sung nước và các chất điện giải: bổ sung nước đầy đủ nhằm chống suy
thận do các sản phẩm giáng hóa của các tế bào non bị phá hủy hàng loạt Các bệnh nhân có suy tim kèm theo vẫn cần bù nước đồng thời sử dụng thuốc lợi tiểu Trong các biến đổi về điện giải, hạ kali máu là vấn đề đáng
Trang 6lưu tâm nhất ở bệnh nhân BCTC Vì vậy cần bù kali đầy đủ theo đường tĩnh mạch
(3) Điều trị nhiễm trùng: Tất cả các bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp có sốt đều
phải coi là có nhiễm trùng cho đến khi chứng minh được là do ngyên nhân khác Sử dụng các kháng sinh phổ rộng, điều trị tích cực nhiễm trùng trước khi điều trị hóa chất
(4) Phòng ngừa bệnh thận do acid uric: Acid uric trong máu tăng gặp cả trong
lúc chẩn đoán cũng như trong khi điều trị hóa chất
Nếu bạch cầu tăng cao trên 100.000/mm3 cần gạn bạch cầu trước để tránh làm tăng acid uric khi điều trị hóa chất
(5) Đặt các dụng cụ tiêm truyền trong mạch máu: Do phải tiêm truyền trong ít
nhất một tháng nên cần đặt các dụng cụ giúp cho việc tiêm truyền hàng ngày thuận tiện
(6) Dùng các thuốc ức chế kinh nguyệt cho phụ nữ đang tuổi sinh đẻ.
(7) Điều trị các bênh kèm theo: như suy tim, đái tháo đường, bệnh phổi mạn
tính cần điều trị tích cực trước khi điều trị hóa chất
(8) Với các bệnh nhân bị hội chứng đông máu, nội mạch rải rác: cần điều trị
bằng heparin
(9) Điều trị hỗ trợ tâm lý: Nếu cần thiết có thể phối hợp với các bác sĩ tâm lý
cùng điều trị
Điều trị hóa chất toàn thân
So với bệnh bạch cầu lym phô cấp, bệnh bạch cầu tủy cấp nhạy cảm với các hóa chất kém hơn do đó tỉ lệ khỏi bệnh hoàn toàn kém hơn
(1) Điều trị tấn công: Có khá nhiều phác đồ hóa chất để điều trị tấn công BCTC,
việc lựa chọn phác đồ dựa vào một số yếu tố như tình trạng toàn thân, tuổi, bênh kèm theo
Nếu ngày bắt đầu điều trị coi là ngày một, khoảng ngày thứ 12 đến thứ 14 nên chọc hút tủy lại hoặc sinh thiết tủy
+ Nếu số tế bào non còn lại ít hơn 5% tạm ngừng điều trị hóa chất, chỉ điều trị
hỗ trợ cho đến khi tủy hồi phục (thường 1 đến 3 tuần)
Trang 7+ Nếu bệnh bạch cầu vẫn còn tồn tại trong tủy, điều trị tiếp đợt 2 nhưng liều giảm tùy theo mức độ giảm tế bào của đợt trước 14 ngày sau chọc hút tủy hoặc sinh thiết tủy lại với những bệnh nhân vẫn còn cần điều trị tiếp đợt 3 Quá trình đánh giá và điều trị tiếp tục như vậy
- Khỏi bênh hoàn toàn được xác định như sau:
+Tế báo non chỉ còn dưới 5% trong tủy bình thường về mặt tế bào
+ Máu ngoại vi bình thường trở lại (không còn tế bào non với số lượng bạch cầu hạt trên 1500/mm3 và tiều cầu trên 100000/mm3
(2) Điều trị củng cố: Thường dùng các phác đồ có các thuốc như điều trị tấn
công nhưng có thể biến đổi liều lượng, ngày dùng điều trị từ 1-2 đợt
(3) Điều trị duy trì: Có nhiều cách điều trị duy trì có thể xen kẻ các loại thuốc
khác nhau hoặc điều trị một loại thuốc lặp lại cách điều trị thường được áp dụng là ARAC hoặc 6-Thioguanine đơn thuần
(4) Điều trị tái tấn công: Trong thời gian điều trị duy trì thỉnh thoảng lại điều trị
một đợt như điều trị tấn công Tuy nhiên việc điều trị này vẫn còn gây tranh cãi bởi lợi ích chưa rõ ràng mà độc tính bệnh nhân phải chịu ngày một tăng
Điều trị miễn dịch
Điều trị miễn dịch vẫn còn cho kết quả cao nên chưa được đề xuất thành phương pháp điều trị thường quy, có thể sử dụng 2 phương pháp sau:
- Miễn dịch không đặc hiệu: BCG, Corynebacterium parvum, levamisole,
- Miễn dịch đặc hiệu: Các tế bào bệnh bạch cầu được xử lý tia xạ, các chất chiết xuất từ màng tế bào,
Cả hai phương pháp này nếu áp dụng chỉ nên dùng trong gia đoạn điều trị duy trì
Điều trị dự phòng hệ thần kinh trung ương
BCTC hiếm khi tái phát ở hệ thần kinh trung ương do đó việc điều trị dự phòng tái phát ở vị trí này chỉ sử dụng cho bệnh bạch cầu loại nguyên bào đơn nhân ở các bệnh nhân trẻ Điều trị bao gồm tia xạ hộp xọ 18-24 Gy, đồng thời tiêm nội tủy sống Cytosine arabinoside (50-70 mg/m2 x 5 lần) trong 3 tuần
b Điều trị tái phát
Trang 8BCTC thường tái phát tại tủy rất ít khi tái phát ngoài tủy do đó phương pháp điều trị trở lại vẫn là hóa chất
- Nếu tái phát sau 6 tháng thì có thể sử dụng chính phác đồ trước đó đã dùng
- Nếu tái phát dưới 6 tháng hoặc điều trị không tạo được lui bệnh hoàn toàn thì phải điều trị bằng các phác đồ khác có tác dụng mạnh hơn, liều cao hơn
c Ghép tủy
Ghép tủy là phương pháp có hiệu quả trong điều trị BCTC Phương pháp này cho kết quả cao hơn so với điều trị hóa chất đơn thuần
Đối với BCTC, người ta thường dùng ghép tủy đồng loài bằng sử dụng tủy của người có HLA phù hợp với bệnh nhân Ghép tủy tự thân cũng đã được thử nghiệm nhưng tỉ lệ thất bại cao do không loại được hoàn toàn các tế bào ác tính trong tủy
Ghép tủy đồng loài còn gây hiện tượng mảnh ghép chống bệnh bạch cầu (GVL)
có tác dụng làm giảm tỉ lệ tái phát
Tuy nhiên khi áp dụng thực tế, ghép tủy đồng loài gặp phải một số khó khăn nhất định:
- Giá thành cao
- Kĩ thuật khó khăn
- Thiếu người cho tủy đồng gien HLA phù hợp Vì vậy chỉ một số bệnh nhân đượ ghép tủy
Phương pháp thu lượm truyền các tế bào gốc trong máu ngoại vi đang được nghiên cứu, chưa được thực hiện rộng rãi
d Một số phác đồ hay được sử dụng là:
- Phác đồ 7+3 (ARAC/DN) dùng điều trị tấn công
ARAC (Cytarabine) 100mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 24h/7 ngày
DNR 45mg/m2 truyền tĩnh mạch trong ngày 1, ngày 2 và ngày 3
Nếu sau khi đánh giá lại tủy xương (ngày thứ 14) lượng tế bào non giảm nhiều nhưng chưa thoái giảm hoàn toàn sẽ điều trị tiếp đợt 2 với ARAC truyền tĩnh mạch trong 5 ngày và DNR truyền trong 2 ngày, liều mỗi ngày không đổi chỉ giảm khi bệnh nhân bị suy gan do thuốc Nếu tế bào non giảm
ít hoạc không giảm cần đổi phác đồ mạnh hơn ví dụ HDAC
Trang 9- Phác đồ ARAC/DNR/IDA dùng tấn công và củng cố
+ Tấn công
ARAC 100mg/m2, TM trong 24h x 7 ngày
Idarubicin 12mg/m2, TM ngày 1 – 3
Sau 14 ngày nếu còn tế bào ác tính tại tủy xương nhắc lại phác đồ điều trị + Củng cố
ARAC 100mg/m2 tĩnh mạch trong 12 giờ, ngày 1-5
Idarubicin 15mg/m2, TM ngày 1
Thioguanine 100 mg/m2 uống 12h / lần ngày 1-5, nhắc lại mỗi đợt sau 21-28 ngày
+ Duy trì
ARAC 100mg/m2 , TM ngày 1-5
Idarubicine 12mg/m2, TM ngày 1-2, nhắc lại mỗi đợt sau 13 tuần Điều trị 4 đợt
- Phác đồ HDAC dùng điều trị củng cố
Cytarabine 3000mg/m2, TM 12h / lần, ngày 1, 3, 5
Được điều trị hóa chất ban đầu bằng phác đồ 7+3 nhắc lại mỗi đợt sau 28 ngày
x 4 đợt
- Phác đồ ARAC/DOX dùng điều trị tấn công
Cytarabine 100mg/m2, TM 24h x 7 ngày
Doxorubicin 30mg/m2, TM, ngày 1, 2, 3
- Phác đồ DAT
+ Tấn công
Daunorubicin 60mg/m2, TM, ngày 5, 6, 7
Cytarabine 100mg/m2, TM 30 phút x 7 ngày
6-Thioguanine 100mg/m2, uống, 12h/lần x 7 ngày
+ Điều trị củng cố
Hai chu kì Cytarabine và Thioguanine 12h/lần x 5 ngày tiếp theo dùng Daunorubicin tiêm đơn thuần Khoảng cách giữa các chu kì củng cố 21 ngày
+ Điều trị dự phòng hệ thống thần kinh TW
Trang 10Tia xạ hộp xọ 2.400 rad, Cytarabine 100mg/m2 chia thành 5 liều tiêm nội tủy
Người mắc bệnh tim thì phác đồ thường dùng là HDAC
Với người trên 60 tuổi dùng các phác đồ trên nhưng giảm liều
2 Bệnh bạch cầu tủy mạn (BCTM)
a Giai đoạn mạn tính
Điều trị hóa chất
Điều trị hóa chất thường quy, chủ yếu sử dụng hai thuốc: Hydroxyurea và Busulfan theo đường uống Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh Hydroxyurea có nhiều ưu điểm hơn Buslfan: thời gian sống của bệnh nhân kéo dài hơn, thuốc ít độc tính với tủy hơn, tỷ lệ biến chứng và tử vong sau khi dùng Hydroxyurea thấp hơn sau dùng Busulfan
- Hydroxyurea: có tác dụng làm giảm nhanh số lượng bạch cầu do đó phải theo dõi sát và kiểm tra số lượng bạch cầu thường xuyên
Liều ban đầu có thể từ 1-5g/ngày cho tới khi số lượng bạch cầu giảm xuống khoảng 10.000/mm3 Tiếp sau đó có thể dùng ở liều 0,5 đến 2g/ngày hoặc ngừng thuốc sao cho số lượng bạch cầu đạt từ 5000 đến 10.000/mm3
- Busulfan: có tác dụng ức chế tăng sinh các tế bào gốc Thời gian đáp ứng của bệnh với thuốc kéo dài hơn so với Hydroxyurea
Liều: 2-10mg/ngày, uống liên tục từ 7-10 ngày Khi bạch cầu hạ xuống còn 50% cần giảm liều còn ½ liều Cần lưu ý bạch cầu tiếp tục hạ trong 1-2 tuần sau khi dùng thuốc
Tia xạ vào lách
Một số bệnh nhân đã điều trị hóa chất lâu ngày mà lách không thu nhỏ được nhiều hoặc chưa điều trị hóa chất nhưng lách quá to gây đau hoặc chèn ép vào các cơ quan khác thì sẽ phải chiếu xạ vào lách
Ngoài tác dụng làm co nhỏ lách, phương pháp này còn làm giảm số lượng bạch cầu và tăng hồng cầu, do đó cải thiện được tình trạng bệnh trong một thời gian nhất định
Tia xạ vào các ổ bệnh ngoài tủy
Cắt lách