1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang

97 1,5K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trẻ em là nguồn nhân lực tƣơng lai của đất nƣớc, đóng vai trò quan trọng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của thời đại là nhiệm vụ của ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung theo tiêu chí giáo dục toàn diện cho học sinh cả về thể chất và tri thức ở mọi lứa tuổi. Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nhấn mạnh việc cải thiện các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe cho con ngƣời, từng bƣớc nâng cao thể trạng và tầm vóc, trƣớc hết là nâng cao thể lực của bà mẹ và trẻ em. Đây là nhiệm vụ song song của ngành giáo dục và ngành y tế. Các chỉ số thể lực và trí tuệ không phải là hằng định mà có thể thay đổi phụ thuộc vào môi trƣờng tự nhiên, xã hội, đáng kể nhất là chế độ dinh dƣỡng và lƣợng thông tin 11, 12, 17, 42, 48, 70, 71, 104. Chính vì vậy, các chỉ số này cũng phần nào phản ánh sự phát triển của đất nƣớc, khu vực. Do đó việc nghiên cứu phải đƣợc diễn ra thƣờng xuyên. Thực tế cho thấy, muốn đề xuất đƣợc các biện pháp đúng đắn và hữu hiệu đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo một cách toàn diện phải hiểu đặc điểm phát triển thể lực và trí tuệ của học sinh. Điều đó góp phần hoạch định chiến lƣợc, lựa chọn phƣơng pháp giáo dục hiệu quả cao. Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về thể lực và trí tuệ ở cả trong và ngoài nƣớc. Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này. Các kết quả nghiên cứu hơn 15 năm đã đƣợc trình bày trong quyển “Hằng số sinh học ngƣời Việt Nam” 94; công trình của các tác giả trong nhóm đề tài “nghiên cứu đặc điểm sinh thể con ngƣời Việt Nam, tình trạng dinh dƣỡng và các biện pháp nâng cao chất lƣợng sức khỏe”: mã số KX 07 07 do GS. TS Lê Nam Trà làm chủ nhiệm đề tài 97, 92, 68 và nhóm đề tài “Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của học sinh” do GS. TSKH Tạ Thúy Lan làm chủ nhiệm đề tài 48, 49, 50, 53, 2 54, 58. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về vấn đề này trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói chung và ở huyện Hàm Yên nói riêng còn rất ít. Tuyên Quang là một tỉnh miền núi với nền kinh tế nông lâm nghiệp chiếm ƣu thế, mô hình kinh tế trang trại kết hợp nông lâm. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Tuyên Quang xếp ở vị trí thứ 56 trong số 63 tỉnh thành của cả nƣớc. Trƣờng Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang nằm ở phía Bắc của huyện Hàm Yên. Nhà trƣờng có nhiệm vụ đào tạo con em các dân tộc thuộc 8 xã. Do đóng trên địa bàn xã vùng cao nên điều kiện của nhà trƣờng có những khó khăn nhất định. Điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất của các gia đình học sinh còn thiếu thốn, ảnh hƣởng đến sự phát triển toàn diện của học sinh. Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trên và với mong muốn đóng góp một phần công sức của mình vào sự phát triển của quê hƣơng, đất nƣớc chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”. 2. Mục đích nghiên cứu Xác định đƣợc thực trạng sự phát triển một số chỉ số hình thái thể lực (chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, chỉ số BMI) của học sinh trƣờng THCS và THPT Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Xác định đƣợc các chỉ số chức năng một số hệ thống cơ quan của học sinh 12 18 tuổi (tần số tim, huyết áp động mạch). Xác định đƣợc các chỉ số trí tuệ của học sinh trƣờng THCS và THPT Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (số IQ, kiểu hình thần kinh, trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý, trạng thái cảm xúc). 3 Góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng phát triển thể chất đối với học sinh trƣờng THCS THCS và THPT Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. 3. Nhiệm vụ của đề tài Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực của học sinh 12 18 tuổi (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, BMI). Nghiên cứu chức năng một số hệ thống cơ quan của học sinh 12 18 tuổi (tần số tim, huyết áp động mạch). Nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh 12 18 tuổi (chỉ số IQ, trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý, trạng thái cảm xúc và kiểu hình thần kinh). Nghiên cứu mối liên quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ số nghiên cứu. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là học sinh từ 12 18 tuổi của trƣờng THCS và THPT Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực, chức năng một số hệ thống cơ quan, năng lực trí tuệ và mối liên quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ số nghiên cứu của học sinh trƣờng THCS và THPT Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Các chỉ số hình thái thể lực, chức năng một số hệ thống cơ quan đƣợc xác định theo các phƣơng pháp hiện hành. Năng lực trí tuệ đƣợc xác định bằng test Ravent. Trí nhớ ngắn hạn đƣợc xác định bằng phƣơng pháp Nechaiev. Khả năng chú ý đƣợc xác định bằng phƣơng pháp Ochan Bourdon. Trạng thái cảm xúc đƣợc xác định bằng phƣơng pháp CAH. Kết quả nghiên cứu đƣợc phân tích và xử lý trên máy tính bằng chƣơng trình Microsoft Excel. 4 6. Những đóng góp của đề tài Đánh giá đƣợc đặc điểm phát triển một số chỉ số hình thái thể lực, chức năng một số hệ thống cơ quan, năng lực trí tuệ của học sinh trƣờng THCS và trƣờng THPT Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Bƣớc đầu nghiên cứu mối liên quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ số nghiên cứu. Kết quả trong luận văn có thể bổ sung số liệu cho hƣớng nghiên cứu về thể lực, trí tuệ của học sinh từ 12 18 tuổi, góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của trƣờng và của tỉnh.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em là nguồn nhân lực tương lai của đất nước, đóng vai trò quan trọng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của thời đại là nhiệm vụ của ngành giáo dục nói riêng và toàn xã hội nói chung theo tiêu chí giáo dục toàn diện cho học sinh cả về thể chất và tri thức ở mọi lứa tuổi Trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nhấn mạnh việc cải thiện các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe cho con người, từng bước nâng cao thể trạng và tầm vóc, trước hết là nâng cao thể lực của bà mẹ và trẻ em Đây là nhiệm vụ song song

của ngành giáo dục và ngành y tế

Các chỉ số thể lực và trí tuệ không phải là hằng định mà có thể thay đổi phụ thuộc vào môi trường tự nhiên, xã hội, đáng kể nhất là chế độ dinh dưỡng và lượng thông tin [11], [12], [17], [42], [48], [70], [71], [104] Chính vì vậy, các chỉ số này cũng phần nào phản ánh sự phát triển của đất nước, khu vực Do đó việc nghiên cứu phải được diễn ra thường xuyên

Thực tế cho thấy, muốn đề xuất được các biện pháp đúng đắn và hữu hiệu đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo một cách toàn diện phải hiểu đặc điểm phát triển thể lực và trí tuệ của học sinh Điều đó góp phần hoạch định chiến lược, lựa chọn phương pháp giáo dục hiệu quả cao

Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về thể lực và trí tuệ ở

cả trong và ngoài nước Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Các kết quả nghiên cứu hơn 15 năm đã được trình bày trong quyển “Hằng số sinh học người Việt Nam” [94]; công trình của các tác giả trong nhóm đề tài “nghiên cứu đặc điểm sinh thể con người Việt Nam, tình trạng dinh dưỡng và các biện pháp nâng cao chất lượng sức khỏe”: mã số

KX - 07 - 07 do GS TS Lê Nam Trà làm chủ nhiệm đề tài [97], [92], [68]

Trang 2

[54], [58] Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về vấn đề này trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói chung và ở huyện Hàm Yên nói riêng còn rất ít Tuyên Quang là một tỉnh miền núi với nền kinh tế nông - lâm nghiệp chiếm ưu thế, mô hình kinh tế trang trại kết hợp nông lâm Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Tuyên Quang xếp ở vị trí thứ 56 trong số 63 tỉnh thành của cả nước.Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang nằm ở phía Bắc của huyện Hàm Yên Nhà trường

có nhiệm vụ đào tạo con em các dân tộc thuộc 8 xã Do đóng trên địa bàn

xã vùng cao nên điều kiện của nhà trường có những khó khăn nhất định Điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất của các gia đình học sinh còn thiếu thốn, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của học sinh

Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trên và với mong muốn đóng góp một phần công sức của mình vào sự phát triển của quê hương, đất

nước chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”

2 Mục đích nghiên cứu

- Xác định được thực trạng sự phát triển một số chỉ số hình thái thể lực (chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, chỉ số BMI) của học sinh trường THCS và THPT Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

- Xác định được các chỉ số chức năng một số hệ thống cơ quan của

học sinh 12 - 18 tuổi (tần số tim, huyết áp động mạch)

- Xác định được các chỉ số trí tuệ của học sinh trường THCS và THPT Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (số IQ, kiểu hình thần kinh, trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý, trạng thái cảm xúc)

Trang 3

- Góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường phát triển thể chất đối với học sinh trường THCS THCS và THPT Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

3 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực của học sinh 12 - 18

tuổi (chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số pignet, BMI)

- Nghiên cứu chức năng một số hệ thống cơ quan của học sinh 12 -

18 tuổi (tần số tim, huyết áp động mạch)

- Nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh 12 - 18 tuổi (chỉ số IQ, trí nhớ ngắn hạn, khả năng chú ý, trạng thái cảm xúc và kiểu hình thần kinh)

- Nghiên cứu mối liên quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ số nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là học sinh từ 12 - 18 tuổi của trường THCS

và THPT Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực, chức năng một số hệ thống cơ quan, năng lực trí tuệ và mối liên quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ số nghiên cứu của học sinh trường THCS và

THPT Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

5 Phương pháp nghiên cứu

- Các chỉ số hình thái thể lực, chức năng một số hệ thống cơ quan được xác định theo các phương pháp hiện hành

- Năng lực trí tuệ được xác định bằng test Ravent

- Trí nhớ ngắn hạn được xác định bằng phương pháp Nechaiev

- Khả năng chú ý được xác định bằng phương pháp Ochan Bourdon

- Trạng thái cảm xúc được xác định bằng phương pháp CAH

Kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý trên máy tính bằng

Trang 4

6 Những đóng góp của đề tài

- Đánh giá được đặc điểm phát triển một số chỉ số hình thái thể lực, chức năng một số hệ thống cơ quan, năng lực trí tuệ của học sinh trường THCS và trường THPT Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

- Bước đầu nghiên cứu mối liên quan giữa năng lực trí tuệ với các chỉ số nghiên cứu

- Kết quả trong luận văn có thể bổ sung số liệu cho hướng nghiên cứu về thể lực, trí tuệ của học sinh từ 12 - 18 tuổi, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của trường

và của tỉnh

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu hình thái thể lực của học sinh

Thể lực là những khái niệm phản ánh cấu trúc tổng hợp của cơ thể,

nó liên quan chặt chẽ tới thể trạng, hình thái, sức khỏe, sức lao động, thẩm

mỹ và là khả năng, năng lực vận động của mỗi cá nhân con người Vì vậy,

từ lâu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm

Cùng với sự phát triển của y học và sinh học người, các công trình nghiên cứu hình thái, thể lực được bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử và đến nay vẫn là vấn đề thời sự khoa học về con người, nên việc nghiên cứu hình thái thể lực ngày càng phát triển mạnh mẽ Một trong những biểu hiện cơ bản của thể lực là số đo về kích thước cơ thể Trong đó, chiều cao, cân nặng, vòng ngực là những chỉ số đặc trưng cơ bản để phản ánh thể lực của con người Từ ba chỉ số này có thể tính thêm các chỉ số khác biểu hiện mối liên quan giữa ba chỉ tiêu đó như chỉ số Pignet, chỉ số khối cơ thể (BMI)… các chỉ số này có ý nghĩa cao trong việc đánh giá sự phát triển của học sinh [53]

Chiều cao cơ thể là dấu hiệu được lựa chọn sớm nhất trong hầu hết các lĩnh vực ứng dụng nhân trắc học Với những số liệu về chiều cao, người ta đã bỏ ra nhiều công sức để tìm mối liên hệ giữa phát triển cơ thể người và các yếu tố môi trường tự nhiên (địa lý, khí hậu…) và xã hội (văn hóa, tâm lý…) đặc biệt là loại hình chủng tộc trên thế giới Ludman Nold

và Volanski [92] đã có nhiều minh chứng cho ảnh hưởng của hoàn cảnh địa lý đến sự tăng trưởng chiều cao Ý nghĩa phổ biến hơn cả của chiều cao

là chỗ được coi như biểu hiện của thể lực và nó là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá thể lực trong công tác tuyển chọn vào quân đội, tuyển học sinh, tuyển thợ…[92] Sự phát triển chiều cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố

Trang 6

kiện kinh tế, văn hóa xã hội Các yếu tố này tác động nên sự phát triển chiều cao một cách dần dần, liên tục và không đồng nhất (theo [66])

Những người đầu tiên lưu ý tới số đo vòng ngực của những năm 20 của thế kỷ trước là các bác sỹ lâm sàng khi họ nhận thấy mối liên quan giữa mức độ phát triển lồng ngực và các bệnh cơ quan hô hấp Dần dần đến cuối thế kỷ XIX, vòng ngực trở thành một chỉ tiêu đánh giá thể lực quan trọng sau chiều cao trong các cuộc tuyển chọn binh lính, nhân công lao động… Khi người ta khẳng định tầm quan trọng của việc gia tăng lượng oxy đưa vào phổi thì độ giãn nở của lồng ngực cũng được lưu ý thêm qua số đo vòng ngực hít vào và thở ra Vòng ngực chỉ tăng nhanh vào giai đoạn dậy thì và phát triển đến một giai đoạn nhất định thì dừng lại Ở

nữ, tuổi dậy thì đến sớm hơn nam và thường từ 11 - 13 tuổi, ở nam 13 - 15 tuổi [53]

Trọng lượng cơ thể tính bằng kg đã được nhắc tới trong công trình của Tenon từ thế kỷ 18 (theo [92]) Bước vào thế kỷ XIX, trọng lượng được coi là tiêu chuẩn thứ ba không thể thiếu được trong công tác tuyển

mộ binh lính [92] So với chiều cao, cân nặng ít phụ thuộc vào yếu tố di truyền hơn, mà có liên quan chủ yếu tới chế độ dinh dưỡng [3], [76] Cân nặng tăng không đồng đều trong quá trình phát triển của con người Ở các châu lục khác nhau, cân nặng cơ thể con người cũng khác nhau và trong cùng một nước ở mỗi vùng miền cũng có sự khác nhau [33]

Trong khi tiếp tục khảo sát những đặc điểm hình thái có liên quan đến việc đánh giá mức độ tăng trưởng và phát triển thể lực, người ta dần dần nhận ra rằng ở mức độ khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau, với các loại hình cơ thể khác nhau, các chỉ tiêu hình thái có tương quan với nhau theo nhiều mức độ Thể lực không thể hiện đồng nhất ở từng loại chỉ tiêu riêng rẽ, ngược lại là tổng hòa của một số yếu tố cấu thành Người ta bắt đầu suy nghĩ đến việc tính các chỉ số dựa trên những chỉ tiêu quan trọng nhất và phương pháp đánh giá thể lực bằng các chỉ số ra đời [92]

Trang 7

Pignet là chỉ số đánh giá mối tương quan giữa chiều cao với cân nặng và vòng ngực Chỉ số pignet đã được quốc tế thừa nhận từ lâu và được dùng để đánh giá thể lực của con người Đây là một chỉ số dễ vận dụng phổ cập để phân loại sức khỏe cho nhiều đối tượng nên đã được nhiều tác giả nghiên cứu [8], [11], [16], [25], [28], [38], [66] …

Hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) đã công nhận chỉ số khối cơ thể (Body mass index = BMI) là chỉ số được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người, còn chỉ

số pignet để đánh giá mức độ khỏe hay yếu

Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng chiều cao và cân nặng của trẻ em là của Mondiere (1875) và sau này là của Huard P và Bogot (1938), Đỗ Xuân Hợp (cộng tác với Huard) (1943) với cuốn "Hình thái học và giải phẫu học mỹ thuật" (theo [68]) Tuy nhiên

những công trình này còn lẻ tẻ, phương pháp còn đơn giản

Từ 1954 đến nay, đã có nhiều công trình của các tác giả nghiên cứu về các đặc điểm sinh học của người Việt Nam Đến năm 1975, cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” [94] do GS Nguyễn Tấn Gi Trọng, nguyên chủ nhiệm bộ môn sinh lý trường Đại học Y Hà Nội làm chủ biên được xuất bản đầu tiên ở nước ta Đó là một công trình nghiên cứu tương đối công phu, khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học, sinh lý, sinh hóa của người Việt Nam Các chỉ số sinh học của trẻ em Việt Nam từ sơ sinh đến 15 tuổi được nghiên cứu tương đối toàn diện và được coi là mốc đánh dấu trong lịch sử nghiên cứu Sinh học người Việt Nam Sách được dùng làm tài liệu tham khảo cho nhiều công trình khoa học trong nước và nước ngoài

Sau đó, các chỉ số sinh học của người Việt Nam lại tiếp tục được thể hiện qua tập “Atlat nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động" của tập thể tác giả do Võ Hưng chủ biên [39] Atlat đã cung cấp số liệu về

Trang 8

xét về các qui luật phát triển hình thái, thể lực người lao động Việt Nam ở

cả ba vùng lãnh thổ theo chiều dài đất nước [39]

Đề tài KX - 07 - 07 với “Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam” thì các chỉ số về hình thái thể lực của người Việt Nam cuối thế kỉ XX đã được nghiên cứu khá toàn diện [92] Các tác giả nhận thấy, các kích thước hình thái người Việt Nam nhỏ hơn so với người châu Âu và châu Mỹ Đa số kích thước thể lực của nam lớn hơn của

nữ và tăng dần đến một lứa tuổi nhất định tùy mỗi cá thể [91], [97]

Năm 1980, 1982, 1987, Đoàn Yên và cs [103] đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của người Việt Nam từ 3 - 110 tuổi như chiều cao, cân nặng Phân tích kết quả nghiên cứu ở người Việt Nam, các tác giả nhận thấy chiều cao và cân nặng trung bình của người Việt Nam nhỏ hơn người

Âu, Mỹ ở mọi lứa tuổi, nhịp độ tăng trưởng chậm, thời gian tăng trưởng kéo dài hơn và bước vào thời kỳ tăng trưởng dậy thì nhảy vọt cũng muộn hơn Tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao của nữ xuất hiện ở thời điểm 12 -

13 tuổi, của nam ở thời điểm 13 - 16 tuổi, và đến 23 tuổi đạt giá trị tối đa Tăng trưởng nhảy vọt về cân nặng ở nữ lúc 13 tuổi, ở nam lúc 15 tuổi và kết thúc tăng trưởng cân nặng lúc 19 tuổi ở nữ và 20 tuổi ở nam Như vậy,

nữ bước vào thời kỳ tăng trưởng và ổn định về chiều cao và cân nặng sớm hơn nam

Từ năm 1980 - 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp [16] đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi, với 31 chỉ số sinh học Tác giả đã rút ra kết luận là chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11 - 12 tuổi ở nữ, 13 -

15 tuổi ở nam, còn cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam Tác giả nhận thấy có sự gia tăng về chiều cao và cân nặng của học sinh Quy luật phát triển các đoạn chi phù hợp với quy luật phát triển chiều cao, còn quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống với quy luật phát triển cân nặng

Trang 9

Năm 1991, Đào Huy Khuê [42] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước

về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh từ 6 - 17 tuổi ở Thị xã

Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình Tác giả nhận thấy, hầu hết các chỉ số sinh học đều tăng dần theo tuổi, nhưng nhịp độ tăng trưởng không đều Tốc độ tăng trưởng các thông số lớn nhất của nam thường ở lứa tuổi 14 - 16 và của nữ

ở lứa tuổi 11 - 15

Năm 1991 - 1995, nghiên cứu trên 13747 học sinh từ 8 - 14 tuổi ở các địa phương Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình với các chỉ tiêu chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình của nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs [11] nhận thấy so với dẫn liệu trong cuốn “HSSH” [94] thì sự phát triển chiều cao của trẻ em từ 6 - 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt là trẻ em thành phố và thị xã, nhưng sự tăng về cân nặng chỉ thấy rõ ở trẻ em Hà Nội, còn ba khu vực nông thôn chưa thấy có sự thay đổi đáng kể So sánh kết quả nghiên cứu năm 1871 và năm 1993 các tác giả nhận thấy rằng sau hơn một thập kỷ, đối với học sinh Hà Nội có sự khác biệt rõ rệt về chiều cao và cân nặng, còn đối với học sinh Vĩnh Phú thì về chiều cao có sự khác biệt rõ, còn về cân nặng thì chưa có sự khác biệt rõ So với học sinh nông thôn ở cùng một độ tuổi thì học sinh ở thành phố, thị xã có xu hướng phát triển thể lực tốt hơn

Từ năm 1998 - 2002, Trần Thị Loan [66] đã tiến hành nghiên cứu trên

3023 học sinh ở Hà Nội từ 6 - 17 tuổi Tác giả nhận thấy chiều cao của học sinh nam tăng nhanh ở giai đoạn 11 - 15 tuổi, của học sinh nữ ở giai đoạn

10 - 13 tuổi Cân nặng ở học sinh nam tăng nhanh lúc 14 - 16 tuổi và ở học sinh nữ lúc 11 - 14 tuổi Vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng vọt lúc 13 - 16 tuổi, ở học sinh nữ tăng vọt lúc 12 - 14 tuổi Khi so sánh với kết quả nghiên cứu của một số tác giả từ thập kỷ 80 trở về trước và với học sinh Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu thì kết quả các chỉ số

Trang 10

sinh

Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [8] nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh THCS các dân tộc tỉnh Hoà Bình, cho thấy, tốc độ tăng các chỉ số sinh học của học sinh diễn ra không đều Chiều cao của học sinh nam tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 13 - 15 tuổi và của học sinh nữ từ 11 -

13 tuổi Tốc độ tăng cân nặng của học sinh nam diễn ra nhanh ở giai đoạn

13 - 15 tuổi, học sinh nữ từ 11 - 13 tuổi Vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 13 - 15 tuổi, ở học sinh nữ từ 11 -

13 tuổi

Năm 2010, Hoàng Quý Tỉnh [89] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm hình thái cơ thể trẻ em người dân tộc Thái, Hmông, Dao ở tỉnh Yên Bái và các yếu tố liên quan Kết quả nghiên cứu cho thấy, các chỉ số sinh học của trẻ em các dân tộc nghiên cứu thể hiện tính quy luật phát triển cơ thể của người Việt Nam Tuy nhiên, chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng đến chiều cao, cân nặng của trẻ em, điều này thể hiện ở chỗ tỉ lệ suy dinh dưỡng thể còm, còi và nhẹ cân còn cao ở trẻ em các dân tộc nghiên cứu Gần đây, theo nghiên cứu của Trần Thị Minh Hạnh [25] trên học sinh phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2004 - 2009 cho thấy, chiều cao của học sinh nam đã tăng 1,2 - 2,4 cm nhưng chiều cao của học sinh

nữ lại không có sự thay đổi đáng kể So với học sinh ngoại thành, học sinh nội thành cao hơn 3 - 4 cm và nặng hơn 8,5 - 10 kg, tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp hơn nhưng tỉ lệ thừa cân lại cao hơn gấp 2 - 5 lần

Các chỉ số sinh học của học sinh cũng được nhiều tác giả khác nghiên cứu [5], [12], [13], [21], [28], [33], [37], [51], [52], [61], [62], [74], [80], [96], [101], [102]

Như vậy, các công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh học của trẻ em Việt Nam khá phong phú Kết quả nghiên cứu có sự khác nhau giữa nam

và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, giữa trẻ em thuộc các địa bàn nghiên cứu khác nhau, giữa các nhóm dân tộc khác nhau và giữa các thời

Trang 11

điểm nghiên cứu khác nhau Hầu hết các chỉ số hình thái thể lực đều tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng không đều, có thời kỳ tăng nhảy vọt Mốc đánh dấu sự nhảy vọt tăng trưởng của của các công trình tương đối thống nhất, chiều cao tăng nhanh nhất khoảng 12 - 15 tuổi ở nam và 11 - 13 tuổi

ở nữ, cân nặng cũng tăng nhanh nhất từ 13 - 15 tuổi ở nam và 11 - 13 tuổi

ở nữ, vòng ngực trung bình tăng nhanh nhất từ 14 - 16 tuổi ở nam và 12 -

14 tuổi ở nữ

1.2 Nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch của học sinh

Hệ tuần hoàn giữ chức năng chủ đạo là cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho toàn bộ cơ thể Trong đó, hoạt động của hệ tuần hoàn được biểu hiện rõ thông qua những chỉ số cơ bản là tần số tim và huyết áp động mạch Tần số tim là số chu kì tim trong một phút, phản ánh gián tiếp hoạt động của tim Huyết áp là áp lực máu lên thành mạch máu Huyết áp được tạo ra do lực co bóp của tim và sức cản của thành mạch Sự biến đổi của huyết áp có quan hệ mật thiết với lưu lượng tâm thu, tần số tim, trở ngại ngoại vi, tính đàn hồi của các mạch máu, độ nhớt của máu Huyết áp tối đa (hay còn gọi là huyết áp tâm thu) là số đo ghi được khi tim co và huyết áp tối thiểu (hay còn gọi là huyết áp tâm trương) là số đo ghi được khi tim giãn

Việc nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch của trẻ em đã được nhiều tác giả thực hiện [8], [14], [19], [64], [65], [66], [74], [84],

[93], [94] Theo các tác giả, tần số tim của trẻ em giảm dần theo tuổi, sự

giảm dần đó có liên quan đến hoạt động của nút xoang và sự giảm ảnh hưởng của các dây thần kinh ngoài tim

Nghiên cứu trên trẻ em trước tuổi đến trường và trẻ em tuổi học đường, nhiều tác giả nhận thấy huyết áp động mạch của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tăng không đều [103], thời điểm huyết áp tăng nhảy vọt ở

Trang 12

Khi nghiên cứu trên đối tượng trẻ em, nhiều tác giả đã nhận thấy, tần

số tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kì Trong đó tần số tim giảm dần theo tuổi, còn huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi nhưng mức tăng, giảm không đồng đều ở các độ tuổi, có thời điểm tăng - giảm nhảy vọt Tần số tim có thể thay đổi theo trạng thái cơ thể, khí hậu, bệnh lí cũng như khi khóc, xúc động, sợ hãi, làm việc gắng sức [64], [66], [74], [78], [103]

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về tần số tim và huyết áp của trẻ em

Theo số liệu trong “HSSH” [94], thì huyết áp động mạch của trẻ em

từ 3 - 15 tuổi tăng dần Huyết áp của nam cao hơn của nữ cùng tuổi Huyết

áp thay đổi theo tư thế của trẻ khi đo, khi đứng cao hơn khi nằm và ngồi

Năm 1982, Trịnh Bỉnh Dy [14] đưa dẫn cứ huyết áp người Việt Nam thấp hơn người Âu - Mỹ (số thường gặp 110/70, so với 120/80 mmHg ở người Âu - Mỹ), tăng theo tuổi chậm hơn người Âu - Mỹ và cho rằng đặc điểm này liên quan với cơ thể ít mỡ cholesterol huyết thấp ở người Việt Nam, đồng thời minh họa đặc điểm sinh hóa đó bằng thực tế lâm sàng Việt Nam, với tiêu chuẩn tăng huyết áp của ngành tim học Việt Nam (lấy mốc 140/90), thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế (lấy mốc 160/95)

Nghiêm Xuân Thăng [84] đã nghiên cứu mối tương quan giữa hoạt

động của hệ tim mạch và huyết áp với khí hậu ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh ở hai nhóm tuổi 12 - 15 và 18 - 25 Tác giả nhận thấy, tần số tim và huyết áp động mạch ở bất kì lứa tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu Ngoài

ra, tần số tim còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố xã hội như lao động, trạng thái tâm lí

Đoàn yên và cs [103] nghiên cứu tần số tim và huyết áp của người Việt Nam, nhận thấy từ sau khi sinh, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó

ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng dần, còn tần số tim lại giảm dần cho đến 25

Trang 13

tuổi, sau đó ổn định đến 69 tuổi Huyết áp động mạch trên người Việt Nam

ở mọi lứa tuổi thấp hơn so với người Âu, Mỹ

Trần Đỗ Trinh và cs [93] đã tiến hành nghiên cứu trị số huyết áp người Việt Nam và công bố trong chương trình nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam thập kỷ 90 Công trình được tiến hành tại 20 tỉnh thuộc 7 vùng địa lý trong cả nước từ lứa tuổi 15 trở lên Kết quả cho thấy trị số huyết áp tăng dần theo tuổi ở cả nam và nữ, mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi 15 - 19 Huyết áp ở nam giới cao hơn so với nữ giới, dù mức chênh lệch không nhiều, chỉ khoảng 1 - 3 mmHg, nhưng khác biệt có ý nghĩa thống kê

Trần Thị Loan [66] nghiên cứu tần số tim và huyết áp động mạch của học sinh từ 6 - 17 tuổi ở Hà Nội đã cho thấy, tần số tim của học sinh giảm dần theo tuổi nhưng tốc độ giảm không đều, có thời gian giảm nhanh,

có thời gian giảm chậm, giảm nhanh ở lứa tuổi dậy thì Huyết áp tâm thu

và tâm trương tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng không đều, có thời gian tăng nhanh, có thời gian tăng chậm Thời điểm tần số tim giảm nhanh nhất và huyết áp tăng nhanh nhất đối với nam là lúc 13 - 14 tuổi và đối với

nữ, còn từ 10 - 15 tuổi không có sự khác biệt Huyết áp tâm trương của các

em nam từ 7 - 13 tuổi lớn hơn so với các em nữ

Tần số tim và huyết áp động mạch còn được đề cập trong nhiều

Trang 14

tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kì Tần số tim giảm dần, huyết áp tâm thu và tâm trương tăng dần, nhưng tốc độ tăng không đều Tần số tim, huyết áp động mạch ở bất kỳ lứa tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu Ngoài ra, tần số tim còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố

xã hội như lao động, trạng thái tâm lí

1.3 Nghiên cứu năng lực trí tuệ của học sinh

Nói đến khả năng thông minh của con người, người ta đã dùng nhiều cách gọi khác nhau như trí tuệ, trí thông minh, trí khôn, trí óc… [98] Theo tiếng la tinh, trí tuệ có nghĩa là hiểu biết, là sự thông thái Còn trong tiếng Việt, khái niệm trí tuệ thường được dùng để chỉ khả năng hoạt động trí óc của con người trong việc nhận thức thế giới và xử lý tình huống Cho đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về trí tuệ và tựu trung lại có thể thấy rõ ba khuynh hướng chính

Khuynh hướng thứ nhất coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân Theo Huarte J thì trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo Hệ thống những thuộc tính trí tuệ là những năng lực chung đảm bảo sự lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng

và có hiệu quả (theo [86]) Hệ thống những thuộc tính trí tuệ là những năng lực chung đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức một cách rõ ràng và có hiệu quả [98])

Khuynh hướng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng Chức năng của trí tuệ là sử dụng có hiệu quả của khái niệm Hạt nhân của trí tuệ là thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa [98] Đặc trưng của trí tuệ là tích lũy vốn tri thức và các thao tác trí tuệ [100]

Khuynh hướng thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích nghi của con người đối với thế giới khách quan [86] Trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con người đối với điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống

Trang 15

[24] Piagie cho rằng sự phát triển trí tuệ của trẻ em là một bộ phận của toàn bộ sự phát triển cá thể nhằm thích ứng với môi trường sống [79] Sự phát triển trí tuệ của trẻ em là quá trình tạo lập ra các cấu trúc trí tuệ mới

và phủ nhận những cấu trúc đã có của bản thân Quá trình này phụ thuộc vào sự hoàn thiện các cấu trúc sinh học của cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh [9], [27], [32]

Ngoài khái niệm “trí tuệ” còn có thêm thêm một số khái niệm có liên quan tới trí tuệ như “trí khôn” và “trí thông minh” Theo Nguyễn Khắc Viện, khả năng hành động thích nghi với biến động của hoàn cảnh thiên nhiên được gọi là trí khôn Nếu khả năng này thiên về tư duy trừu tượng thì gọi là trí tuệ (theo [6]) Theo Claparade và Stern, trí khôn là sự thích nghi của tinh thần đối với hoàn cảnh mới D.Wechsler lại coi trí khôn là tổng thể của nhiều chức năng trí tuệ gắn chặt chẽ với các điều kiện văn hóa, xã hội nơi con người sinh ra và lớn lên Thông minh là khả năng tổng hợp của mỗi con người, để hành động có mục đích, để suy nghĩ nhiều mặt và để tác động có hiệu quả vào môi trường (theo [6]) Hay có thể định nghĩa “Thông minh là khả năng phản ứng có hiệu quả trong những tình huống mới, là khả năng tư duy và giải quyết những vấn đề nảy sinh [6]” Như vậy, trí tuệ, trí khôn và trí thông minh là những khái niệm có điểm trùng nhau Trong đó, trí khôn, trí thông minh là phạm trù hẹp hơn nằm trong nội hàm trí tuệ

Sự tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về trí tuệ và mỗi khái niệm chỉ nêu được một số mặt của trí tuệ, chứng tỏ trí tuệ là một loại hoạt động phức tạp của con người Vì vậy, việc nghiên cứu trí tuệ được coi là một lĩnh vực liên ngành, phức hợp Nó đòi hỏi phải có sự nỗ lực của các nhà sinh lý học, tâm lý học, tâm thần học, điều khiển học, sinh học và toán học

và các ngành khoa học khác [18], [26], [38]

Trang 16

tuệ để phân biệt các trẻ em học kém bình thường và các trẻ em học kém do trí tuệ chậm phát triển (theo [86]) Sau đó, test này được cải tiến nhiều lần

để dùng cho trẻ em và người lớn [86] Để đánh giá trình độ phát triển trí tuệ của trẻ em ở từng lứa tuổi, năm 1912, Stern V đã đưa ra cách tính chỉ

số thông minh (IQ) bằng thương số giữa trí tuệ (MA) và tuổi thực (CA) (theo [85] Meili R sử dụng test trí tuệ vào việc tư vấn nghề nghiệp và tư vấn học đường (theo [86]) Với mục đích chuẩn đoán trình độ phát triển trí tuệ của trẻ em, người ta xây dựng nhiều loại test đo lường trí tuệ khác như test “Trí tuệ đa dạng”, test “Khuôn hình tiếp diễn” của Raven, test

“WISC”, test “Hình thức hợp REY”

Người đầu tiên nghiên cứu về trí tuệ là F.J.Gall (theo [73]) Vào đầu thế kỷ XVII, ông đã đưa ra thuật ngữ “não tướng học” và cho rằng chức năng trí tuệ tập trung ở các vùng chuyên biệt nên có thể đánh giá trí tuệ con người qua đường nét và đo sọ não Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ của F.Galton (1893), Alled Binnet và Simon (1905), Petersalovey và John Mager (theo [44], [86])

Kết quả nghiên cứu của các công trình [1], [2], [29], [30], [31], [36],

[44], [47], [48], [66], [83], [85] cho thấy, có thể sử dụng test Raven để chuẩn đoán khả năng hoạt động trí tuệ của trẻ em Việt Nam

Ở Việt Nam, trước năm 1975, việc nghiên cứu trí tuệ còn rất mới

mẻ Chỉ có ít công trình do cán bộ trong ngành y sử dụng để chuẩn đoán trí tuệ của bệnh nhân tâm thần ở bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện nhi Thụy Điển [86] Từ cuối những năm 1980 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ ở Việt Nam Việc nghiên cứu trí tuệ được tiến hành theo ba hướng chính là nghiên cứu mối liên quan giữa các chỉ số sinh học với sự phát triển trí tuệ; nghiên cứu mối liên quan giữa yếu tố di truyền với trí tuệ; nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường tới sự phát triển trí tuệ Về mối liên quan giữa các chỉ số sinh học với sự phát triển trí tuệ đã có nhiều tác giả nghiên cứu [7], [18], [27], [29], [36], [47], [48], [49], [50], [55], [56], [58],

Trang 17

[59], [60], [63], [66], [83], [85], [88], [90], …

Một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam là Trần Trọng Thủy [85] Công trình nghiên cứu của ông được thực hiện trên học sinh ở quận Hoàn Kiếm - Hà Nội bằng test

Raven (1989) Ông đã xác định chiều hướng, cường độ, trình độ và chất

lượng phát triển trí tuệ của học sinh đồng thời ông còn đề cập tới mối liên quan giữa trí tuệ và thể lực của học sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân bố học sinh theo chỉ số IQ gần với phân phối chuẩn, có sự khác biệt

về chỉ số IQ giữa học sinh ở thành thị và ở nông thôn, trình độ phát triển trí tuệ của học sinh Việt Nam không thua kém học sinh nước ngoài

Năm 1991, Ngô Công Hoàn [29] nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của học sinh thành phố Huế và Hà Nội, nhận thấy có sự chênh lệch về mức độ phát triển trí tuệ giữa học sinh thường và học sinh chuyên toán

Nguyễn Thạc, Lê Văn Hồng [83] đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ

của học sinh Hà Nội từ 10 - 14 tuổi Kết quả cho thấy, sự phát triển trí tuệ tăng theo lứa tuổi và có sự phân hoá từ 11 tuổi trở đi, trí tuệ của nam có xu hướng cao hơn của nữ

Dưới sự chủ trì của giáo sư tiến sĩ Tạ Thúy Lan, từ năm 1990 đến nay, nhiều cán bộ của các trường đại học đã tiến hành nghiên cứu hoạt động trí tuệ của học sinh, sinh viên Tạ Thuý Lan - Võ Văn Toàn nghiên cứu khả năng trí tuệ của học sinh Quy Nhơn và học sinh Hà Nội (1993 - 1995) Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực trí tuệ của học sinh phát triển theo lứa tuổi và có mối tương quan thuận với kết quả học tập Khả năng trí tuệ của học sinh Quy Nhơn thấp hơn so với học sinh Hà Nội cùng

tuổi [55], [57]

Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan (1996) đã nghiên cứu đánh giá sự phát triển trí tuệ của học sinh thành phố và học sinh nông thôn Kết quả nghiên

Trang 18

Năm 1998 Tạ Thúy Lan và Mai Văn Hưng [47] nghiên cứu trí tuệ của học sinh Thanh Hóa và nhận thấy, năng lực trí tuệ của học sinh tăng

dần theo tuổi và năng lực trí tuệ có mối tương quan thuận với học lực

Trần Thị Loan (2002) nghiên cứu trí tuệ của học sinh ở độ tuổi 6 đến

17 tuổi, mối liên quan giữa năng lực trí tuệ và học lực của học sinh phổ

thông [66] Kết quả cho thấy, điểm trí tuệ của học sinh tăng dần theo tuổi

nhưng tốc độ tăng không đồng đều, năng lực trí tuệ của học sinh nam và học sinh nữ không có sự khác biệt Quá trình phát triển trí tuệ của học sinh diễn ra liên tục, tương đối đồng đều và không phụ thuộc vào giới tính Đồng thời giữa năng lực trí tuệ và học lực của học sinh có mối tương quan thuận nhưng không chặt chẽ [59], [66]

Mai Văn Hưng (2003) đã nghiên cứu một số chỉ số thể lực và năng lực trí tuệ của sinh viên ở một số trường đại học phía Bắc Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, có mối tương quan thuận không chặt chẽ giữa trí tuệ và các chỉ số thể lực Năng lực trí tuệ có mối tương quan thuận với khả năng tập trung chú ý [38]…

1.4 Nghiên cứu trí nhớ của học sinh

Trí nhớ là hoạt động liên quan đến toàn bộ đời sống tâm lý của con người và là một thành phần quan trọng của trí tuệ [22], [46], [52] L.M Xêtrênôp cho rằng trí nhớ là “điều kiện cơ bản của cuộc sống tâm lý” Ông nói rằng “nếu không có trí nhớ thì các cảm giác và tri giác của chúng ta sẽ biến mất không để lại dấu vết gì và do đó đẩy người ta vĩnh viễn ở vào trạng thái của trẻ sơ sinh” (theo [66] Trí nhớ là sự tiếp nhận và sự tái hiện những sự vật, những hiện tượng mà con người đã cảm giác, đã suy nghĩ, đã hành động Trí nhớ của con người là một quá trình hoạt động phức tạp, có bản chất là việc hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời, lưu giữ

và tái hiện chúng Khi các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tác động vào cơ thể thì chúng gây ra cảm giác Trên cơ sở cảm giác đơn lẻ, bộ

Trang 19

não phân tích và tổng hợp để cho tri giác trọn vẹn các sự vật, hiện tượng và

để lại dấu vết của chúng trên vỏ não [53]

Về cơ chế nhớ có nhiều quan điểm, tựu trung lại có ba thuyết chính: thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov I.P (theo [67]), thuyết điều kiện hóa mà đại diện là Skiner B.F và thuyết phân tử của Conell M.C và Thomson (theo [67]) Các tác giả cho rằng việc hình thành các phản xạ có điều kiện đã tạo nên các “vết hằn” trí nhớ Như vậy, phản xạ có điều kiện

là cơ sở sinh lý của trí nhớ

Theo Hyden thì cơ sở của trí nhớ là sự thay đổi trong cấu trúc phân

tử của axit ribonucleic (ARN) (theo [67]) Còn theo Conell M.C và Jacobso (theo [67]), thì trí nhớ có liên quan đến lượng acid desoxyribonucleic (ADN) trong các neuron Một số tác giả như Penphild

W (theo [67] lại cho rằng trong não có trung khu nhớ và mọi kích thích tác động lên cơ thể được giữ lại dưới dạng lưu trữ

Trên thế giới, có nhiều tác giả nghiên cứu trí nhớ L.X.Vưgotxki (1930), A.N.Leonchiev (1931) nghiên cứu về ghi nhớ gián tiếp; A.A.Smirnov (1943) nghiên cứu về vai trò của hoạt động đối với trí nhớ;

P.M.Xêtrênov (1952) nghiên cứu về cơ chế sinh lý của trí nhớ (theo [24])

Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về trí nhớ trên học sinh và sinh viên [46], [49], [66], [85] Người đầu tiên nghiên cứu về trí nhớ ở Việt Nam là Phạm Minh Hạc Bằng thực nghiệm ông đã chứng minh rằng cả hai thuỳ của não (thuỳ trán và thuỳ đỉnh) đều tham gia vào sự lưu trữ thông tin, nhưng thuỳ đỉnh có vai trò quan trọng hơn [24]

Nghiêm Xuân Thăng đã nghiên cứu về khả năng ghi nhớ của học sinh và sinh viên Nghệ Tĩnh từ 10 - 20 tuổi trong những điều kiện khí hậu khác nhau cho thấy khả năng ghi nhớ của học sinh biến đổi theo sự biến động của nhiệt độ, độ ẩm, cường độ bức xạ và đối lưu không khí [84]

Trịnh Văn Bảo và cs [3] nghiên cứu trí nhớ của học sinh lớp 6 của

Trang 20

Nội) có nhận xét rằng, trí nhớ của nhóm học sinh năng khiếu tốt hơn so với của học sinh bình thường

Kết quả nghiên cứu trí nhớ của Trần Thị Loan [66] trên đối tượng học sinh từ 6 - 17 tuổi ở quận Cầu Giấy, Hà Nội đã cho thấy, trí nhớ của học sinh tăng dần theo tuổi nhưng tốc độ tăng không đều và không có sự khác biệt về khả năng nhớ giữa học sinh nam và học sinh nữ

Các nghiên cứu của các tác giả đều cho thấy, trí nhớ của học sinh tăng theo tuổi, ít hoặc không có sự khác biệt về trí nhớ theo giới tính

1.5 Nghiên cứu khả năng chú ý của học sinh

Chú ý là một trạng thái tâm sinh lí tham gia vào mọi quá trình hoạt động của cơ thể Chú ý được ví như một chiếc đèn pha chiếu rọi vào một vật nào đấy, với độ sáng khác nhau, sẽ mang lại kết quả soi sáng nhiều hay ít [35] Nhà giáo dục Nga - Usinxki đã viết: “Chú ý là cánh cửa, qua đó tất cả những cái gì của thế giới bên ngoài đi vào tâm hồn con người”

Trong một thời điểm nhất định người ta chỉ có thể nhận thức được một số đối tượng hay hiện tượng nhất định Khi ta tập trung tư tưởng để nhận thức những đối tượng hiện tượng này thì đồng thời phải bỏ qua những đối tượng, hiện tượng khác Sự tập trung tư tưởng để nhận thức một

số đối tượng hay hiện tượng nào đó gọi là sự chú ý Như vậy, chú ý không phải là một quá trình tâm lý như những quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, mà chú ý là sự định hướng tích cực của con người vào một số đối tượng hay hiện tượng nhất định [24]

Chú ý là trạng thái tâm lý tham gia vào mọi quá trình tâm lý tạo điều kiện cho một đối tượng hay một số đối tượng được phản ánh một cách tốt nhất Chú ý luôn đi kèm với quá trình tâm lý khác Nó không tồn tại độc lập Nó cần cho các loại hoạt động của con người, từ lao động chân tay đến lao động trí óc Ở đâu và lúc nào không có nó tham gia hoặc tham gia

không đầy đủ thì kết quả của hoạt động giảm sút [34]

Trang 21

Cơ sở sinh lý của chú ý là phản xạ định hướng có lựa chọn Hoạt động thần kinh tuân theo năm nguyên tắc cơ bản, một trong số những nguyên tắc đó là nguyên tắc ưu thế [45], [73] Sự chú ý tồn tại trên cơ sở hoạt động của nguyên tắc này Khi chú ý ở cường độ cao (sự tập trung cao độ) sẽ xuất hiện ổ hưng phấn cực đại (gọi là điểm ưu thế), nó sẽ chiếm ưu thế và lấn át các hưng phấn yếu hơn Điểm ưu thế được hình thành dưới tác động của các hoocmon, các chất hoá học và nhiều yếu tố khác Khi đã tồn tại một điểm ưu thế nào đó thì hiệu quả tác động của các kích thích tương ứng tăng lên rất nhiều, tạo ra được các phản ứng đặc trưng Nhờ hoạt động của não chỉ tập trung vào một ổ hưng phấn, nên con người mới có thể tập trung vào một mục đích xác định Đây chính là cơ sở của sự chú ý, khi có

sự chú ý cao độ thì hiệu quả công việc sẽ cao

Căn cứ vào mức độ tự giác của chú ý, người ta chia chú ý làm hai loại là chú ý có chủ định và chú ý không chủ định Nguồn gốc phát sinh của hai loại chú ý này hoàn toàn khác nhau [32], [49], [77]

Chú ý không chủ định là hiện tượng tự nhiên, không theo ý muốn, không có mục đích tự giác Loại chú ý này vẫn luôn tồn tại do hệ thần kinh hoạt động theo nguyên tắc ưu thế, do đối tượng có những đặc điểm khác biệt, nổi bật, có sức hấp dẫn, lôi cuốn Chú ý không chủ định không nhằm mục đích đề ra trước, không cần những biện pháp và sự cố gắng, không tốn nhiều thời gian, sức lực và không căng thẳng thần kinh vì nó không đòi hỏi

sự nỗ lực nào của bản thân Chú ý không chủ định phụ thuộc vào đặc điểm

và tính chất của đối tượng, chịu ảnh hưởng của nhu cầu, hứng thú, lợi ích, tâm trạng, tình cảm, sức khoẻ của cá nhân Do vậy, chú ý không chủ định thường kém bền vững và ít phù hợp với hoạt động ý chí của con người và thường biểu hiện nhiều hơn ở trẻ em

Chú ý có chủ định được thực hiện theo ý muốn một cách chủ động, hướng hành động theo ý muốn của con người, là hoạt động có mục đích

Trang 22

nó mang tính tích cực và chủ động Nó là hình thức cao của chú ý, xuất hiện và phát triển trong hoạt động của con người Muốn có chú ý chủ định tốt phải luyện tập thường xuyên Với công việc đòi hỏi độ chính xác cao thì độ tập trung chú ý càng lớn, cường độ chú ý càng cao, sự tiêu hao năng lượng lớn, chóng mệt mỏi, chất lượng và kết quả chú ý sẽ giảm sút Tuy nhiên, khi duy trì chú ý có chủ định trong một thời gian dài sẽ gây trạng thái mệt mỏi và căng thẳng Trong thực tiễn cuộc sống, nếu chỉ có chú ý không chủ định thì không đạt được mục đích đề ra Ngược lại, nếu chỉ có chú ý chủ định thì nhanh chóng gây căng thẳng, mất hứng thú Vì vậy, chú

ý của con người luôn cần sự chuyển từ chủ định sang không chủ định và ngược lại

Để xác định khả năng chú ý của con người, người ta thường dựa vào những đặc điểm cơ bản sau đây: tập trung chú ý, khối lượng chú ý, sự bền vững chú ý, sự phân phối chú ý và sự di chuyển chú ý Sự tập trung chú ý

là khả năng chỉ chú ý đến một phạm vi đối tượng tương đối hẹp cần thiết cho hoạt động [35], [100], phạm vi các hoạt động chú ý càng hẹp thì sức chú ý càng tập trung Sự tập trung chú ý phụ thuộc vào độ tuổi, tuổi càng nhỏ thì sự tập trung chú ý càng kém Ngoài ra, sự tập trung chú ý còn phụ thuộc vào nhu cầu của mỗi cá nhân, sức hấp dẫn của đối tượng, loại hình

thần kinh [41] Sự phân phối chú ý là khả năng cùng một lúc chú ý đến

nhiều đối tượng hay nhiều hoạt động khác nhau một cách có chủ định Sự

di chuyển chú ý là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác theo yêu cầu của hoạt động [24] Sự di chuyển chú ý thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo của hoạt động thần kinh, nó mang tính chất tích cực, chủ động, giúp con người thích ứng với sự thay đổi của môi trường Người

có khả năng di chuyển chú ý nhanh, nhạy bén thì thích ứng nhanh, có thể bước vào hoạt động mới một cách chủ động, kịp thời

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu khả năng chú ý đã được nhiều tác giả thực hiện trên nhiều đối tượng khác nhau [32], [34], [43]

Nghiêm Xuân Thăng [84] nghiên cứu khả năng tập trung chú ý trong

Trang 23

các điều kiện thời tiết khác nhau và chỉ ra rằng, khả năng chuyển tiếp chú ý

của học sinh năng khiếu nhanh hơn học sinh bình thường

Lê Văn Hồng (theo [32]) khi nghiên cứu về khả năng chú ý của học

sinh THCS và THPT đã cho rằng, sự phát triển chú ý của học sinh diễn ra rất phức tạp, chú ý có chủ định dần dần được hình thành, khối lượng chú ý tăng rõ rệt

Trần Thị Loan đã nghiên cứu trên học sinh phổ thông từ 6 - 17 tuổi quận Cầu Giấy, Hà Nội cho thấy, độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý tăng dần theo tuổi và không có sự khác biệt theo giới tính [66]

Mai Văn Hưng [38] khi nghiên cứu khả năng chú ý của sinh viên

một số trường đại học phía Bắc Việt Nam từ 18 - 25 tuổi đã cho thấy, độ tập trung chú ý tăng dần từ 18 - 19 tuổi sau đó giảm dần theo tuổi Khả năng tập trung chú ý của sinh viên nam cao hơn sinh viên nữ cùng độ tuổi Tuy nhiên, mức độ giảm khả năng chú ý theo các lớp tuổi không có ý nghĩa thống kê

Chú ý là một chỉ tiêu liên quan tới sự phát triển trí tuệ Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu còn ít

1.6 Nghiên cứu trạng thái cảm xúc của học sinh

Cảm xúc là trạng thái không thể thiếu được trong hoạt động hành vi của con người và động vật Đối với mọi hoạt động của não bộ, cảm xúc luôn giữ vai trò mang tính quyết định Vì nó tham gia vào quá trình tổ chức, xác lập và củng cố hành vi Nó có thể làm cho hành vi thể hiện một cách dễ dàng, chính xác hơn và cũng có thể phá hủy hành vi để tạo ra sự rối loạn về mặt chức năng của hoạt động thần kinh cấp cao [46] Vậy cảm xúc là gì? Cơ sở sinh lý thần kinh của nó thể hiện ra sao?

Để giải quyết vấn đề bản chất của cảm xúc, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và tìm câu trả lời Theo Pavlôv, có hai yếu tố cơ bản liên quan

Trang 24

Bằng thực nghiệm, Pavlôv đã chứng minh ảnh hưởng của hoạt động định hình (trong đó có cả hoạt động cảm xúc) lên hoạt động của não bộ Sự tạo

ra hay phá vỡ các định hình động lực sẽ cho ta cảm xúc dương tính hay cảm xúc âm tính (theo [5], [46]) Hodge (1935) lại cho rằng, cảm xúc chỉ xuất hiện vào thời điểm khi các trung tâm của não bộ không đưa ra được câu trả lời thích hợp hoặc còn do dự đối với một kích thích nào đó Cường

độ biểu hiện của cảm xúc tỉ lệ nghịch với khả năng đưa ra câu trả lời đúng của não bộ Trên cơ sở đó, ông kết luận: “Cảm xúc là sự tổng hợp không thành công của vỏ não” (theo [49])

Theo Hebb (1946) (theo [46]), cảm xúc sợ hãi xuất hiện trên cơ sở tồn tại nỗi lo lắng không đồng nhất dưới tác động của những xung động hướng tâm với sự tham gia của hệ limbic Anôkhin (1964) coi cảm xúc liên quan trực tiếp với hệ thống chức năng trong hoạt động hành vi P.V.Ximônôv (1987) thì cho rằng, cảm xúc là thông tin về nhu cầu và khả năng thỏa mãn nhu cầu cấp thiết của người và động vật qua não bộ (theo [46], [49]) Học thuyết của P.V.Ximônov cho thấy mối quan hệ giữa cảm xúc với nhu cầu, đồng thời cũng cho thấy được vai trò của thông tin và điều kiện thỏa mãn nhu cầu đối với sự xuất hiện cảm xúc Đây là một lý thuyết hiện đại và được nhiều nhà nghiên cứu tán thành

Cơ sở sinh lý của cảm xúc là hoạt động của não bộ Trong não bộ có một hệ thống cấu trúc tham gia vào việc tổ chức hành vi về mặt cảm xúc

Đó là các cấu trúc thuộc hệ limpic Vùng dưới đồi được xem là cấu trúc trung tâm của hệ limpic Ngoài ra, còn có các cấu trúc khác như hồi hải

mã, nhân hạnh nhân, nhân trước và nhân giữa của đồi thị, vách ngăn trong suốt cũng tham gia vào hoạt động cảm xúc của con người Các cấu trúc này đều liên quan tới vùng dưới đồi để tạo thành hệ thống, phối hợp mọi hoạt động Trong hệ thần kinh còn tồn tại hệ thống các chất môi giới thần kinh cũng có ảnh hưởng quyết định đối với trạng thái cảm xúc [45] Như vậy, cảm xúc biểu hiện hoạt động của cơ chế thần kinh - thể dịch Trong

Trang 25

trường hợp xuất hiện cảm xúc, các chất hóa học và các nơron sẽ đồng thời hoạt hóa các tế bào liên hợp của não cổ và bộ máy điều tiết vận động trong vùng dưới đồi Chính vì vậy, cảm xúc thường xuất hiện bất chợt hay dưới tác động của các yếu tố môi trường nhất định (theo [5], [41], [82])

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu

về cảm xúc Daniel Goleman [9] ngiên cứu năng lực trí tuệ và cảm xúc đã cho thấy, năng lực cảm xúc có thể được cải thiện và giúp con người khai thác những lợi thế của mình kể cả về mặt năng lực trí tuệ Ông đặc biệt đề cao vai trò của cảm xúc trong hoạt động tư duy của con người Carrol Izard

[5] đã nghiên cứu sâu về bản chất và cách biểu hiện trạng thái cảm xúc của

con người Ở Việt Nam, cảm xúc cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Phạm Minh Hạc [24] nghiên cứu về bản chất và cách biểu hiện của cảm xúc Tạ Thúy Lan [46], nghiên cứu cơ sở thần kinh của cảm xúc…

Ngoài ra, còn nhiều tác giả khác cũng quan tâm đến vấn đề này [9], [82],…

Đặng Phương Kiệt [43] cho rằng, có những nghiên cứu về cảm xúc hướng về sự kết hợp trí tuệ với cảm xúc Như vậy, việc nghiên cứu cảm xúc giúp ích nhiều cho việc xây dựng chiến lược giáo dục phát triển các năng lực này ngay từ tuổi học đường

Nghiên cứu trạng thái cảm xúc trên đối tượng học sinh ở Việt Nam còn rất mới mẻ và là một hướng nghiên cứu thiết thực Từ những nghiên cứu này, có thể đề ra những phương pháp thích hợp trong việc giáo dục học sinh, ứng dụng thực tiễn trong dạy và học

Trang 26

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là học sinh từ 12 - 18 tuổi của trường THCS

và THPT Phù Lưu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tất cả có 7 nhóm đối tượng với 7 độ tuổi khác nhau, từ 12 - 18 tuổi Đối tượng nghiên cứu ở trạng thái khỏe mạnh và không có các dị tật về hình thể và các bệnh mạn tính Sự phân bố đối tượng nghiên cứu được trình bày trong bảng 2.1

Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực

- Chiều cao đứng được xác định ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng,

hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo Tư thế đứng thẳng được xác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân

- Cân nặng được xác định bằng cân đồng hồ của Nhật Bản Khi cân,

học sinh chỉ mặc quần áo mỏng, không đi giày dép và đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, đo xa bữa ăn

Trang 27

- Vòng ngực trung bình được xác định bằng thước dây không co

giãn của Trung Quốc Vòng ngực đo ở tư thế đứng thẳng, vòng thước quấn

quanh ngực, phía sau vuông góc với cột sống sát dưới xương bả vai, phía

trước qua mũi ức, sao cho mặt phẳng do thước dây tạo ra song song với

mặt đất Tiến hành đo ở hai thì khi hít vào hết sức và thở ra tận lực

- Chỉ số pignet được tính theo công thức:

Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)]

Phân loại thể lực theo chỉ số pignet (theo [8]) được trình bày trong bảng

2.2

Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số pignet

2.1 và 2.2)

Trang 29

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu chức năng một số hệ thống cơ quan

- Tần số tim được xác định sau khi đối tượng đã nghỉ ngơi ít nhất 15

phút và dùng ống nghe tim phổi để đo Người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong vòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếu thấy kết quả ba lần đo khác nhau nhiều thì cho đối tượng nghỉ ngơi 15 - 20 phút rồi đo lại

- Huyết áp động mạch được xác định bằng phương pháp Korotkov

Dùng huyết áp kế đồng hồ, đo huyết áp động mạch cánh tay trái, đối tượng nằm ở tư thế thoải mái Người đo quấn bao cao su quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa phải và đặt trống nghe ở động mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để nghe mạch đập và đặt đồng hồ trước mặt Vặn chặt ốc ở bóp cao su và từ từ bơm cho tới khi không nghe thấy tiếng mạch đập và kim đồng hồ của huyết áp kế chỉ vào số 140 - 150 mmHg Sau đó mở nhẹ

ốc cho hơi ra từ từ và lắng nghe Trị số trên đồng hồ khi nghe thấy tiếng mạch đập đầu tiên chỉ huyết áp tâm thu và lúc bắt đầu không nghe thấy tiếng mạch đập nữa chỉ huyết áp tâm trương Đối với các trường hợp kim đồng hồ hạ dần tới 0 mmHg mà vẫn nghe thấy tiếng đập thay đổi âm sắc

Đo 2 lần rồi lấy giá trị trung bình của 2 lần đo

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trí tuệ

Trí tuệ được xác định bằng phương pháp trắc nghiệm, sử dụng test

khuôn hình tiếp diễn của Raven, bộ A, B, C, D, E (loại dùng cho người bình thường từ 6 tuổi trở lên)

Toàn bộ test Raven gồm 60 khuôn hình vô nghĩa được chia thành 5

bộ A, B, C, D, E cấu trúc theo nguyên tắc tăng dần mức độ khó Mỗi bộ gồm 12 khuôn hình, được bắt đầu từ khuôn hình đơn giản (khuôn hình 1)

và kết thúc bằng khuôn hình phức tạp (khuôn hình 12) Từ bộ A đến bộ E cũng được cấu trúc theo mức độ khó tăng dần Do đó, bài tập dễ nhất trong

Trang 30

bộ test Raven là bài tập 1 của bộ A, tức khuôn hình A1 và khó nhất là bài tập 12 của bộ E, tức khuôn hình E12

Sau khi hướng dẫn cách thực hiện, mỗi đối tượng được phát một quyển test Raven và một phiếu trả lời để làm bài hoàn toàn độc lập Đối tượng thực hiện test theo trình độ vốn có của mình, không hạn chế thời gian Cứ mỗi bài tập trả lời đúng được 1 điểm Chỉ có bài tâp nào có độ biến thiên cho phép thì mới được tính, nếu không đáp ứng yêu cầu sẽ bị loại và phải làm lại Căn cứ vào điểm test Raven, chỉ số IQ được tính theo công thức sau :

IQ = X X 15 100

SD

  

Trong đó: IQ - chỉ số thông minh; X - điểm trắc nghiệm cá nhân;

X - điểm trắc nghiệm trung bình của nhóm người cùng độ tuổi; SD - độ lệch chuẩn

Sau đó đối chiếu chỉ số IQ với tiêu chuẩn phân loại hệ số thông minh của D.Wechsler (theo [86]) để tính tỉ lệ phân bố học sinh theo các mức trí tuệ (bảng 2.3)

Bảng 2.3 Phân loại mức trí tuệ theo IQ

Mức trí tuệ Chỉ số thông minh (IQ) Loại trí tuệ

Trang 31

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu trí nhớ

Trí nhớ được xác định bằng phương pháp Nechaiev Chúng tôi tiến

hành nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn thị giác và trí nhớ ngắn hạn thính giác

Để nghiên cứu trí nhớ ngắn hạn thị giác, nghiệm viên sử dụng một bảng trên đó có viết 12 số, mỗi số có hai chữ số Thứ tự các số được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, không theo một qui luật nhất định Không được dùng các chữ số chẵn chục và các số có hai chữ số giống nhau Mỗi học sinh được phát một phiếu và bút để ghi kết quả trắc nghiệm của mình Nghiệm viên phổ biến cách làm cho học sinh, sau đó cho học sinh quan sát bảng số trong 30 giây để cố gắng ghi nhớ và không được ghi chép lại trong khi quan sát Hết 30 giây quan sát, nghiệm viên cất bảng số, học sinh có thời gian 30 giây để ghi lại các số đã nhớ được không cần theo thứ tự Quá trình làm bài hoàn toàn độc lập

Trí nhớ ngắn hạn thính giác cũng được xác định bằng phương pháp Nechaiev, nhưng thay việc cho học sinh nhìn bảng bằng cách cho nghe đọc chậm, đủ to, rõ ràng 12 số khác 3 lần Sau đó yêu cầu học sinh ghi lại những số đã nhớ được không cần theo thứ tự

Xác định số chữ số ghi đúng trong thời gian 30 giây của học sinh, mỗi chữ số đúng tính 1 điểm

2.2.5 Phương pháp nghiên cứu khả năng chú ý

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 2 chỉ số về khả năng chú ý là độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý Thời điểm tiến hành là đầu buổi học

Khả năng chú ý được xác định bằng phương pháp Ochan Bourdon Nghiệm viên phát phiếu điều tra và phổ biến cách làm cho học sinh Học sinh rà soát và gạch chéo một loại chữ cái nhất định theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới trong 5 phút Cứ sau mỗi phút, nghiệm viên ra hiệu lệnh để học sinh đánh dấu vào phiếu trắc nghiệm Sau khi học sinh làm

Trang 32

Độ tập trung chú ý được tính bằng số chữ gạch đúng trong một phút

Độ chính xác chú ý được tính theo công thức:

S T

T A

Chú ý được xác định bằng phương pháp Ochan Bourdon

2.2.6 Phương pháp nghiên cứu trạng thái cảm xúc

Trạng thái cảm xúc được nghiên cứu bằng phương pháp tự đánh giá CAH Phiếu trắc nghiệm gồm 30 câu hỏi đánh giá trạng thái cảm xúc về sức khoẻ, tính tích cực và tâm trạng, mối liên hệ giữa chúng

Nghiệm viên phát phiếu trắc nghiệm cho đối tượng Yêu cầu đối tượng đọc kỹ từng trạng thái cảm xúc trong bảng và tự đánh giá mức độ cảm xúc của mình theo thang điểm từ 1 đến 9 bằng cách dùng bút khoanh tròn vào điểm số tương ứng Điểm số được tính theo tổng số điểm của các nhóm câu hỏi theo biểu hiện của các trạng thái cảm xúc:

- Nhóm C (thể hiện trạng thái cảm xúc về sức khoẻ) gồm các câu 1,

Trang 33

được yêu cầu nghiêm ngặt của test cần được loại bỏ và yêu cầu đối tượng làm lại Đối chiếu với tiêu chuẩn đánh giá của các loại test được sử dụng

để chấm điểm các phiếu trả lời của từng đối tượng

+ Lập bảng thống kê số liệu theo các chỉ số nghiên cứu

- Bước 2:

Tính toán các thông số theo thuật toán thống kê xác suất dùng cho y sinh học để phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu Việc xử lý số liệu được thực hiện trên máy vi tính, theo chương trình Microsof Excel

Các dữ liệu được xử lý theo phương pháp thống kê dùng trong y - sinh học [48] được tính theo trị số giá trị trung bình (X ), độ lệch chuẩn (SD), hệ số tương quan pearson (r) Các mẫu nghiên cứu đều có n > 30, nên:

- Tính giá trị trung bình theo công thức:

n

X X

n

i i

Xi - Giá trị thứ i của đại lượng X;

n - Số cá thể ở mẫu nghiên cứu;

SD - Độ lệch chuẩn

Trang 34

i i i

n i

n

i i i

n i

n i

n

i i i

i i

Y Y

n X

X n

Y X

Y X

n r

1

2 1

2 1

2 1 2

.

.

.

Trong đó: Xi - Từng giá trị của đại lượng X;

Yi - Từng giá trị của đại lượng Y;

n - Số mẫu có trong công thức;

r - Hệ số tương quan giữa hai đại lượng X và Y;

Sự sai khác của hai giá trị trung bình của hai mẫu nghiên cứu được

kiểm định bằng hàm “T - test” theo phương pháp Student - Fisher

Trang 35

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 Các chỉ số sinh học của học sinh

3.1.1 Chiều cao đứng của học sinh

Kết quả nghiên cứu chiều cao đứng của học sinh được trình bày trong bảng 3.1 và hình 3.1, 3.2

Bảng 3.1 Chiều cao đứng của học sinh

Tăng trung bình/năm 4.47 2.72

Các số liệu trong bảng 3.1 cho thấy, ở giai đoạn này, chiều cao đứng của học sinh tăng liên tục Cụ thể là, từ 12 - 18 tuổi, chiều cao đứng của học sinh nam tăng thêm 26,81 cm, mỗi năm tăng trung bình 4,47 cm; Chiều cao đứng của học sinh nữ tăng thêm 16,34 cm, mỗi năm tăng trung bình 2,72 cm Như vậy, ở giai đoạn 12 - 18 tuổi, chiều cao của học sinh nam tăng nhanh và tăng nhiều hơn của học sinh nữ Kết quả nghiên cứu

Trang 36

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh

Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh

Tuy nhiên, tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh diễn ra không đồng đều và có thời điểm tăng nhảy vọt Chiều cao đứng của học sinh nam tăng nhanh trong giai đoạn từ 13 - 15 tuổi, của học sinh nữ từ 12 - 14 tuổi Trong đó, thời điểm tăng trưởng nhảy vọt chiều cao đứng của học sinh nam là 13 - 14 tuổi (tăng 7,39 cm), của học sinh nữ là 12 - 13 tuổi (tăng 4,29 cm) Như vậy, thời điểm tăng trưởng nhảy vọt chiều cao đứng của học

Trang 37

sinh nữ đến sớm hơn so với của học sinh nam một năm Sau thời kì tăng trưởng nhảy vọt, tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh nam và nữ đều chậm lại Sở dĩ có thời kỳ tăng nhảy vọt về chiều cao là do có liên quan đến tuổi dậy thì Ở tuổi dậy thì, hoocmon tăng trưởng và hoocmon sinh dục tiết ra mạnh nhất làm cho hệ xương của các em phát triển mạnh, đặc biệt là xương ống dài ra rất nhanh nên chiều cao của các em cũng tăng nhanh

Thời điểm tăng trưởng nhảy vọt chiều cao đứng của học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi tương đương với số liệu của Trần Đình Long và

cs [69], Trần Văn Dần và cs [10], Lê Ngọc Trọng và cs [95], Đỗ Hồng Cường (năm 2009) [8], nhưng sớm hơn so với số liệu trong cuốn “HSSH” [94] và các tác giả khác như Đoàn Yên và cs [103], Đào Huy Khuyê [42],

Tạ Thúy Lan và cs [54], Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [17] và của Trần Thị

Loan [66]

Ở cùng một độ tuổi, chiều cao đứng của học sinh nam và học sinh

nữ cũng không giống nhau Từ 12 - 13 tuổi, chiều cao đứng của học sinh

nữ có trị số lớn hơn của học sinh nam (p > 0,05) Còn từ 13 - 18 tuổi, chiều cao đứng của học sinh nam lại lớn hơn của học sinh nữ (p < 0,05) Điều này chứng tỏ, ở 11 - 14 tuổi, học sinh nữ đang ở giai đoạn dậy thì nên chiều cao phát triển mạnh Đến 13 - 15 tuổi, học sinh nam mới bắt đầu bước sang tuổi dậy thì nên chiều cao đứng phát triển mạnh và bắt đầu cao hơn so với học sinh nữ Chính vì vậy mà các đường biểu diễn sự tăng trưởng chiều cao của học sinh từ 12 - 18 tuổi có một điểm giao chéo tại thời điểm 13 - 14 tuổi Kết quả nghiên cứu này phù hợp với số liệu của Trần Văn Dần và cs [10], Trần Đình Long và cs [69], Đỗ Hồng Cường [8], nhưng lại sớm hơn so với số liệu trong cuốn “HSSH” [94], Đoàn Yên và cs [103], Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [17], Nguyễn Văn Mùi [75], Tạ Thúy Lan và cs [54] và của Trần Thị Loan [66]

So với số liệu về chiều cao đứng của trẻ em trong công trình nghiên

Trang 38

cao của học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi có trị số tương đương Còn với các tác giả khác như: “HSSH” [94], Đoàn Yên và cs [103], Thẩm Thị Hoàng Điệp [17], Trần Văn Dần và cs [10], Đào Huy Khuyê [42], Nguyễn Văn Mùi [75], Tạ Thúy Lan và cs [54], và của Trần Thị Loan [66], chiều cao đứng của học sinh trong nghiên cứu của chúng tôi có trị số lớn hơn (bảng 4.1 - phụ lục) Sự khác nhau trong nghiên cứu của chúng tôi với các công trình nghiên cứu trước đó do nhiều nguyên nhân như đối tượng nghiên cứu thuộc các địa bàn khác nhau, có điều kiện sống khác nhau, thời điểm nghiên cứu khác nhau Tốc độ sinh trưởng và phát triển của trẻ em không phải là hằng định mà biến đổi theo thời gian Các nhà khoa học đã gọi những biến đổi này là hiện tượng tăng tốc hay biến đổi tăng trưởng có tính thế tục, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XIX Do đó, cần tiến hành nghiên cứu định kỳ các chỉ số thể lực của trẻ em trong phạm vi toàn quốc hoặc từng khu vực lãnh thổ Tác động của sự tăng tốc sẽ làm thay đổi việc thiết

kế các công cụ sản xuất, hàng tiêu dùng, thiết bị và cả chương trình, nội dung giảng dạy trong nhà trường cho phù hợp với tầm vóc và thể chất của học sinh nói riêng và con người Việt Nam nói chung

3.1.2 Cân nặng của học sinh

Kết quả nghiên cứu cân nặng của học sinh được trình bày trong bảng 3.2 và hình 3.3, hình 3.4

Các số liệu trong bảng 3.2 cho thấy, cân nặng của học sinh tăng liên tục từ 12 - 18 tuổi Cân nặng của học sinh nam tăng thêm 21,16 kg, mỗi năm tăng trung bình 3,53 kg/năm Cân nặng của học sinh nữ tăng thêm 15,33 kg, mỗi năm tăng trung bình 2,56 kg/năm Như vậy, ở giai đoạn 12 -

18 tuổi, tốc độ tăng cân nặng của học sinh nữ chậm hơn so với học sinh nam Nhận xét này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như: “HSSH” [94], Đoàn Yên và cs [103], Trần Văn Dần và cs [10], Đào Huy Khuyê [42], Nguyễn Văn Mùi [75], Tạ Thúy Lan và cs [54] và của Trần Thị Loan [66], Lê Ngọc Trọng và cs [95], Đỗ Hồng Cường [8]

Trang 39

Bảng 3.2 Cân nặng của học sinh

Trang 40

Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của học sinh

Tốc độ tăng cân nặng của học sinh không đều Cân nặng tăng nhanh nhất ở nam lúc 14 - 16 tuổi, ở nữ lúc 13 - 15 tuổi Trong đó, thời điểm tăng nhảy vọt cân nặng của nam là 14 - 15 tuổi (tăng 5,84 kg) và của học sinh

nữ là 14 - 15 tuổi (tăng 4,79 kg) Như vậy, thời điểm tăng nhảy vọt cân nặng của học sinh nam và học sinh nữ diễn ra muộn hơn so với thời điểm tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao Điều này phù hợp với quy luật phát triển của trẻ em Trong quá trình phát triển của trẻ em, ở giai đoạn tiền dậy thì chiều cao tăng nhanh còn cân nặng lại tăng nhanh ở giai đoạn dậy thì hoàn toàn Sau thời điểm tăng nhảy vọt, cân nặng của học sinh vẫn tiếp tục tăng, nhưng tăng rất ít Cân nặng của học sinh tăng nhanh gắn liền với tuổi dậy thì, lứa tuổi mà chuyển hóa cơ thể tăng mạnh, do tăng cường độ đồng hóa các chất, đặc biệt là protein, canxi làm tăng khối cơ xương

Thời điểm tăng cân nặng nhảy vọt ở nữ là 14 - 15 tuổi, phù hợp với

số liệu của Đoàn Yên và cs [103], Nguyễn Văn Mùi [75], Tạ Thúy Lan và

cs [54] và của Trần Thị Loan [66] sớm hơn so với số liệu trong cuốn

“HSSH” [94] và muộn hơn so với kết quả nghiên cứu của Đào Huy Khuê Trần Văn Dần và cs [10], Trần Đình Long và cs [69], Lê Ngọc Trọng và cộng sự [95], Đỗ Hồng Cường [8]

Ngày đăng: 21/07/2014, 03:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn chiều cao đứng của học sinh (Trang 36)
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.2. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chiều cao đứng của học sinh (Trang 36)
Bảng 3.2. Cân nặng của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.2. Cân nặng của học sinh (Trang 39)
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.4. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng cân nặng của học sinh (Trang 40)
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn vòng ngực trung bình của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn vòng ngực trung bình của học sinh (Trang 42)
Hình 3.6. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng vòng ngực trung bình của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.6. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng vòng ngực trung bình của học sinh (Trang 43)
Hình 3.8. Đồ thị biểu diễn mức giảm pignet của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.8. Đồ thị biểu diễn mức giảm pignet của học sinh (Trang 46)
Bảng 3.5. Chỉ số BMI của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.5. Chỉ số BMI của học sinh (Trang 48)
Hình 3.10. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chỉ số BMI của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.10. Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng chỉ số BMI của học sinh (Trang 49)
Hình 3.11. Biểu đồ thể hiện mức phân bố thể trạng cơ thể của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.11. Biểu đồ thể hiện mức phân bố thể trạng cơ thể của học sinh (Trang 50)
Bảng 3.6. Phân bố học sinh theo thể trạng - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.6. Phân bố học sinh theo thể trạng (Trang 50)
Hình 3.12. Biểu đồ thể hiện tần số tim của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.12. Biểu đồ thể hiện tần số tim của học sinh (Trang 53)
Bảng 3.8. Huyết áp tâm thu của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.8. Huyết áp tâm thu của học sinh (Trang 54)
Hình 3.14. Đồ thị biểu diễn huyết áp tâm trương của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Hình 3.14. Đồ thị biểu diễn huyết áp tâm trương của học sinh (Trang 57)
Bảng 3.10. Chỉ số IQ của học sinh - Nghiên cứu một số chỉ số hình thái thể lực và trí tuệ của học sinh trường trung học cơ sở và trung học phổ thông phù lưu, huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.10. Chỉ số IQ của học sinh (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w