Đối với các tiết học trên lớp bình thường đã là khórồi, việc dạy các tiết thực hành tham quan thiên nhiên TQTN ở chương trình sinhhọc theo yêu cầu mới là một yêu cầu khó khăn hơn do số
Trang 1” Như vậy người giáo viên không còn là người chỉ truyền đạt tri thức cho học sinh màcòn là người tổ chức, hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh tri thức
Xuất phát từ yêu cầu trên - chúng tôi là những giáo viên sinh học nhiều năm luôntrăn trở, tìm tòi, suy nghĩ: làm thế nào dạy tốt bộ môn của mình một bộ môn khoa học
tự nhiên, khoa học thực nghiệm ?
Với điều kiện dạy học thực tế của nhà trường phổ thông hiện nay các trang thiết bịtuy đã được trang bị tương đối đầy đủ, người giáo viên phải làm thế nào phát huynhững điều kiện đó cho có hiệu quả Yêu cầu ở đây là giáo viên phải chú ý đến việcđổi mới phương pháp phải biết cách thức tổ chức học sinh để học sinh chủ động tíchcực hoạt động nắm lấy kiến thức Đối với các tiết học trên lớp bình thường đã là khórồi, việc dạy các tiết thực hành tham quan thiên nhiên (TQTN ) ở chương trình sinhhọc theo yêu cầu mới là một yêu cầu khó khăn hơn do số lượng học sinh quá đông cỡ
42 em /lớp, học sinh ở vào lứa 12-15 tuổi Lứa tuổi trẻ hiếu động thích chạy nhảy, tìmtòi khám phá do vậy người giáo viên phải tâm huyết, nhiệt tình trong công việc chuẩn
bị , có phương pháp tổ chức cao thì mới tổ chức tốt tiết học Qua 5 năm thực hiệnviệc thay sách và đổi mới phương pháp dạy học chúng tôi đã nghiên cứu bàn bạctrong tổ chuyên môn, xin ý kién chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường, đã tổ chức tiến hànhcác tiết thực hành TQTN ở trong chương trình sinh học một cách có hiệu quả , sau đâychúng tôi báo cáo tổng kết kinh nghiệm trong tổ chức tiết học thực hành tham quan
thiên nhiên ở chương trình sinh học lớp 7, tên đề tài là BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
TỐT CÁC TIẾT THAM GIA THIÊN NHIÊN TIẾT 68, 69,70 Ở CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 7 để các bạn cùng tham khảo.
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ :
“Định hướng phương pháp dạy học sinh học 7 được tiến hành dựa vào hai cơ sở :tính đặc thù của bộ môn Động vật học và sự đổi mới phương pháp dạy học Chủtrương đổi mới gồm :Tăng cường sử dụng các phương pháp tìm tòi nghiên cứu, nhằmphát huy tính chủ động của học sinh kết hợp với sự chỉ đạo của giáo viên (học thầy)
Trang 2và vai trò của tập thể học sinh trong thảo luận ở nhóm và lớp (học bạn) mà mỗi họcsinh có thể chiếm lĩnh kiến thức” –Trích dẫn từ sách giáo viên sinh học 7.
Xuất phát từ yêu cầu tăng cường sự hoạt động của học sinh trong việc chiếm lĩnhtri thức, giáo viên phải nghiên cứu tổ chức tốt các tiết dạy làm thế nào đó phát huytính tích cực của học sinh một cách tối đa Ở các tiết thực hành cần phải tận dụng khảnăng về điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, điều kiện có ở địa phương để dạy tốt Chương trình thực hành sinh học có nhiều hình thức thực hiện
-Các nội dung thực hành thực hiện trong giờ lên lớp cùng với lý thuyết
-Các nội dung thực hành thực hiện trong các tiết thực hành riêng biệt theo phân
phối chương trình tiến hành tại phòng thí nghiệm nhà trường
- Các nội dung thực hành thực hiện trong nhiều tiết ghép liền nhau tiến hành ởngoài nhà trường : gồm các tiết thực hành tham quan thiên nhiên, ngoại khoá, hoặccác bài tập thực hành giáo viên ra cho học sinh , các nhóm học sinh yêu sinh học làm ,nghiên cứu ở nhà
Ở các tiết thực hành tiết tham quan thiên nhiên tiết 68, 69, 70 là tiết thực hành cuốichương trình sinh 7 được xem như là tiết tổng kết ôn tập cuối năm, nếu không tổ chứcđược sẽ không có điều kiện tổ chức lại Trong thực hiện chúng tôi đã có chuẩn bị cụthể cho học sinh, bàn bạc góp ý của giáo viên trong tổ bộ môn, chỉ đạo, góp ý và chophép của ban giám hiệu nhà trường THCS Hoàng Hoa Thám
Trong quá trình chuẩn bị tổng kết đề tài này chúng tôi có nghiên cứu các tài liệusau đây
1.Sách giáo viên sinh học lớp 7
2.Sách giáo khoa sinh học 7
3.Phương pháp dạy học sinh học ở trường THCS
4.Đổi mới phương pháp dạy học của Bộ giáo dục
5.Tài liệu bồi dưỡng thay sách giáo khoa lớp 7
Phạm vi nghiên cứu :sinh học lớp7
Thời gian nghiên cứu: 2003-2004
Trang 3Bên cạnh việc thiếu quan tâm đến các tiết TQTN (Tham quan thiên nhiên ) còn
có
lý do khách quan là các tiết TQTN là các tiết ghép, song tiết học phân công ở thời khoá biểu nhà trường là các tiết rời nhau nên các giáo viên ngại khó khi tổ chứccho học sinh đi TQTN ( nghĩa là phải có thêm 3 tiết ngoài chương trình, nếu giáoviên muốn tổ chức 3 tiết liền nhau trong một buổi nào đó) còn giáo viên tổ chứccác tiết TQTN theo phân công ở thời khoá biểu thì chỉ đi TQTN ở các địa điểm gầntrường và các tiết học rời nhau rất khó khăn cho việc tổng kết nội dung tiết học Một yếu tố mà giáo viên thường ngại khi tổ chức tiết học TQTN ( ngoài các yếu
tố như đã nói ở trên ) là giáo viên thường sợ ở tuổi học sinh hay đùa nghịch, khôngcẩn thận, khi đi ra thiên nhiên giáo viên không quản lý nổi xảy ra tai nạn, lúc nàythì về trách nhiệm giáo viên phải chịu Qua một khảo sát nhỏ là hỏi thăm nhữngbạn đồng nghiệp do chúng tôi thực hiện trong thời gian từ năm 2003 đến nay vềthực trạng việc dạy các tiết học TQTN ở chương trình sinh 7 ( có 20 người đượchỏi : là giáo viên sinh học ở các trường từ Đà Nẵng đến Tam Kỳ )
+ 20% số người được hỏi cho rằng không thể tiến hành các tiết TQTN vì điều kiệnthực tế ở địa phương không thể tổ chức được và xem các tiết TQTN như là cáctiết thư giãn nghỉ ngơi ở cuối chương trình sinh 7
+40% số người được hỏi cho rằng các tiết học này họ sử dụng dạy bù các tiết họccòn thiếu
+20% số người được hỏi cho rằng họ sử dụng các tiết học này để ôn tập lại kiếnthức cho học sinh
+ 20% số người còn lại cho tổ chức tiết học TQTN theo các tiết rải rác như phâncông ở thời khoá biểu nhà trường, địa điểm tham quan gần trường và họ cho rằng
tổ chức tiết học ở nơi có điều kiện thiên nhiên lý tưởng dù gần trường cũng vừa tốnthời gian, vừa sợ trách nhiệm đối với giáo viên khi học sinh xảy ra tai nạn
Qua một thời gian tìm tòi dược sự giúp đỡ của tổ chuyên môn, lãnh đạo trườngchúng tôi đã xây dựng những bước chuẩn bị cho tiết TQTN và đã dần dần tiếnhành các tiết TQTN-tiết 68, 69, 70 một cách có hiệu quả từ năm học 2003 đến nay Chúng tôi có thể so sánh với cách làm cũ mà bản thân chúng tôi hoặc một số giáoviên khác, thường hay làm trước đây để các bạn thấy rõ hơn:
Trang 4
Phương pháp dạy tiết TQTN theo
cách làm cũ
Phương pháp dạy tiết TQTN theocách làm mới
- Học sinh ít làm việc, chưa phát
huy được tính sáng tạo tìm tòi
vì môi trường tham quan không
đáp ứng theo yêu cầu của bài
học
- Học sinh tiếp thu không hứng
thú vì môi trường tham quan
nghèo nàn về thảm thực vật,
động vật
- Kiến thức học sinh tiếp thu
được chắp nhặt qua nhiều tiết
do thực hiện tiết rời như phân
công trên thời khoá biểu của
nhà trường, do vậy khó tổng
kết đánh giá kết quả bài học
- Giáo viên chưa thực hiện tốt
được nhiệm vụ của bài học là
giáo dục lòng yêu thích thiên
nhiên thông qua thực tế đa
dạng sinh học mà các em
chứng kiến được
- Giáo viên quản lý học sinh khó
khăn vì ra môi trường thiên
nhiên rộng hơn so với ở trong
lớp học
- Học sinh làm việc nhiều, đãphát huy được tính tích cực tìmtòi vì môi trường tham quankhá phong phú đa dạng đã đápứng được mục đích yêu cầu bàihọc đề ra
- Học sinh tiếp thu một cách hào hứng vì bản thân tự khám pháđược thiên nhiên khám pháđược sự đa dạng sinh họccủamôi trường tham quan một cáchthực tế
- Kiến thức học sinh tiếp thu cótính liên tục trong 3 tiết côngviệc tổng kết đánh giá tiết học
dể dàng có tính hệ thống Họcsinh thực hiện các yêu cầu củabài học một cách nhẹ nhàng,hiểu biết bài học một cách sâusắc
- Giáo viên thực hiện tốt đượcnhiệm vụ bài học là giáo dụclòng yêu thiên nhiên
- Giáo viên quản lý học sinh dễdàng hơn mặc dù tổ chức tiếthọc giữa thiên nhiên rộng lớn
so với môi trường lớp học
II.
BIỆN PHÁP THỰC HIỆN TỐT CÁC TIẾT THAM QUAN THIÊN TIẾT
68, 69, 70 CHƯƠNG TRÌNH SINH 7
Trang 51 CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN: Để đảm bảo tiết dạy tiến hành với 3 tiết kề
nhau tiến hành trong buổi, tiện cho việc tổng kết bài học giáo viên theo chúng tôicần chuẩn bị các công việc sau đây :
- Báo cáo cho lãnh đạo nhà trường biết về nội dung yêu cầu của bài học, báocáo việc xin tiến hành các tiết thực hành vào một buổi cụ thể, cũng như vềđịa điểm TQTN ( mẫu báo cáo ở trang 23 phần phụ lục )
- Báo cáo lãnh đạo trường về việc cần đảm bảo an toàn cho học sinh, đề nghịnhà trường cử giáo viên trong tổ bộ môn tham gia hổ trợ quản lý học sinh( hoặc có thể cử giáo viên chủ nhiệm lớp đó đi cùng ) giáo viên đi cùng đoàntrực tiếp chịu sự điều hành của giáo viên dạy tiết học
- Giáo viên phải đi khảo sát trước địa hình dự định tổ chức học sinh TQTN
- Tuỳ vào môi trường TQTN mà giáo viên chuẩn bị cho học sinh các dụng cụ
thực hành, tránh dụng cụ mang nhiều song không dùng vào việc gì cả, làmcản trở việc di chuyển của học sinh dụng cụ mang theo phải gọn nhẹ và tiệních
- Giáo viên phải mang theo còi để làm hiệu lệnh trong các trường hợp tậptrung học sinh kiểm tra số lượng học sinh, nhất là tập trung học sinh khi cầnkhi cần
- Giáo viên hướng dẫn trước cho học sinh tự làm những dụng cụ thực hànhkhông có, hoặc có nhưng số lượng ít trong phòng thiết bị nhà trường
- Giáo viên phải liệu định hết mọi tình huống tai nạn xảy ra khi TQTN để từ
đó phân công giáo viên đi hỗ trợ gánh vác, kể cả việc phân công cho các emtrong ban cán sự lớp theo dõi báo cáo kịp thời cho giáo viên phụ trách tiếthọc
- Giáo viên cần nhắc nhở những điều quy định về tính kỷ luật khi đi TQTNnhững yêu cầu về trang phục như áo quần dài để tránh muỗi vắt, gai cào
… lưu ý trang phục tiện cho việc di chuyển khi leo núi hoặc lội nước
- Giáo viên cần nhắc nhở cách di chuyển tham quan:
+ cách di chuyển khi đi vào lòng suối khu vực có nhiều đá có rêu, trơntrợt: học sinh phải đi chậm, tránh leo lên các mỏm đá dễ bị trợt té
+ cách di chuyển khi vào vùng có bùn lún phải cầm dép lên tay
+ học sinh phải đi thành nhóm 4 đến 5 em để giúp đỡ lẫn nhau
+ học sinh phải đi gần giáo viên để giáo viên tiện quản lý, chia lớp rathành các nhóm mỗi nhóm do 1 giáo viên phụ trách
- Giáo viên cho học sinh chuẩn bị dụng cụ quan sát từ xa như ống nhòm,chuẩn một máy ảnh để ghi nhận lại về hình ảnh hoạt động TQTN để lưu ởphòng học tập bộ môn , điều này có ý nghĩa với việc học tập các tiết TQTNsau này (công việc chụp ảnh này chúng tôi nhờ một giáo viên làm dịch vụchụp ảnh ở nhà trường đi theo đoàn TQTN )
Trang 6- Giáo viên cho học sinh mang theo nước uống, đội mũ nón phù hợp để đủ chemát và không bị cản trở,vướng gai khi di chuyển
- Dành 15 phút trong tiết 66 để dặn dò học sinh :
* Học sinh về nhà làm :
Mỗi tổ làm 8 vợt bắt sâu bọ, 8 vợt bắt động vật ở nước.( theo hướng dẫn
ở dưới – mục 2 ) tương ứng với việc chia nhóm : 4 nhóm / tổ , mỗi nhóm 2vợt mỗi loại
* Lưu ý về nội quy khi đi TQTN :
điều 1 : Học sinh tuyệt đối chịu sự quản lý của ban cán sự lớp , của giáo viênhướng dẫn đi theo đoàn (giáo viên bộ môn, 1giáo viên cùng tổ bộ môn, 1 giáo viênchủ nhiệm lớp.)
điều 2 :Học sinh tập trung theo hiệu lệnh còi qui định là :
+tập trung diểm danh : 3 tiếng
+nhắc học sinh đi chậm lại và tiến hành quan sát : 1 tiếng dài
+tập trung học sinh trong trường hợp cần thiết (tập trung nhanh):nhiều tiếngngắn , nhanh nối liền nhau
điều 3: Học sinh đi theo tốp 3-4 em để tương trợ nhau khi cần thiết
điều 4 : Học sinh tuyệt đối không mang vào rừng những dụng cụ cháy nổ :bật lửa, diêm quẹt ……
điều 5 : Học sinh tuyệt đối không được leo trèo cây, tắm suối , chạy nhảy,đùa giỡn khi đi TQTN
điều 6 : Học sinh khi nghe hiệu lệnh còi tập trung tuyệt đối tuân thủ tậptrung nhanh, gọn và lắng nghe ý kiến của giáo viên hướng dẫn
điều 7: Học sinh thực hiện ghi chép những quan sát được khi TQTN vàthực hiện sưu tầm bảo quản mẫu vật theo sự hướng dẫn của giáo viên
* Giáo viên : Giả định các tình huống xảy ra khi TQTN
Ví dụ : 1 tai nạn xảy ra : Một học sinh bị trượt chân bị sây xát cần băng
bó Các em trong nhóm, tổ phải sát trùng và băng hó vết thương Trườnghợp nặng phải báo cáo giáo viên tìm cách xử trí…
+ Học sinh phải áo quần tay, ống dài : tránh bị gai cào , bị côn trùng cắnđốt Áo quần rộng rãi để dễ di chuyển
+ Học sinh không nên vào các khu vực nguy hiểm như hố nước sâu, khuvực rừng quá rậm rạp, đi lẻ một mình, hoặc dùng tay mò mẫm dưới lákhô để tìm kiếm mẫu vật dễ bị rắn cắn , các loại bọ cạp , rết cắn đốt….+ Học sinh khi tiếp xúc với thiên nhiên phải thận trọng tránh tàn pháthiên nhiên sau khi bắt quan sát mẫu vật xong có thể chọn một số mẫuđẹp giữ lại làm mẫu khô mẫu ép, còn thì thả trở lại thiên nhiên
+ Giáo viên nói qua về môi trường TQTN sẽ đến ở địa phương ví dụ :như ở địa điểm chúng tôi thường hay tổ chức TQTN là khu vực rừng,suối đầu nguồn Hồ chứa nước La Nga Cao Ngạn-thuộc xã Bình Lãnh
Trang 7huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam về đặc điểm địa hình : đồi núi tươngđối dốc, có suối chảy trên đá, có rừng thưa, có cây lớn, có cây bụi, cótrảng cỏ ngoài ra còn có các dây leo Đặc điểm môi trường sinh thái ở
đó : đa dạng sinh học phong phú, ở đó có nhiều ốc đá, ốc hót, tôm đồng,cua đá, nhện nước, nhện chân dài, cá rô , cá quả, cá diếc… đặt biệt córất nhiều loài sâu bọ điển hình cho rừng nhiệt đới ( có rất nhiều loạibướm, chuồn chuồn,bọ cánh cứng với màu sắc sặc sỡ)
* Giáo viên nêu các tình huống rủi ro và các cách xử trí cho học sinh biết :
BẢNG HƯỚNG DẪN XỬ LÝ CÁC TÌNH HUỐNG RỦI RO :
Không sử dụngnón vì vào rừng,cây rậm rạp rấtkhó di chuyển
loại nhỏgọn
Nếu trời mưalớn không tổchức TQTNđược
3 Đường trơn Dùng dép có đế rãnh sâu Dép nhựa
đế có rãnhsâu
Không dùnggiày hoặc ủng vìđịa hình có đồidốc có cả bùnlún đi lại dể trợt
Ghi chú
Trang 8Thuốc trịchống vắt ,thuốcchống diứng do côntrùng cắnđốt D.E.P,Fluxin …
Không đemhương trừ muỗi
vì phải sử dụnglửa dể gây cháyrừng, đem thuốcxịt cũng rất bấttiện và gây độckhi sử dụng
nhiều đỉa
Dùng thuốc chống đĩa bôivào vết đỉa bám cho convật rời sau đó dùng băngbăng chặt vết thương lại
Thuốcchống đỉa (giới thiệusau )
Cách sử dụngnhư đã trình bày
ở phần trên
6 Để rơi dụng
cụ
Đem túi đựng dụng cụ cóquai đeo
Túi, xách
có quaiđeo
Học sinh mangvào vai để tránhrơi dụng cụ
thương
Đem bông băng, túi thuốc Băng y tế
hoặc có thểdùng vảimềm
sạch.Thuốcsát trùng,bông kéo,phanh…
Dùng dụng cụ y
tế mang theobăng bó vếtthương
8 Mất sổ ghi
chép
Ghi chép vào sổ tay,không ghi vào những tờgiấy rời
Sổ tay, viết Ghi chép vào sổ
tay, sau đó cấtvào túi áo hoặcvào túi đựngdụng cụ
* Giáo viên hướng dẫn các bước sử dụng dụng cụ thực hành
Bước 1:
Gv lưu ý học sinh nên nhận xét về môi trường mà sử dụng dụng cụ thích hợp,
có các cách thu mẫu sau :
Trang 9+Dùng vợt để thu mẫu, phải xoay cán vợt một góc 1800 theo quán tính vợt sẽ tựkhép
+Để bắt sâu bọ dùng tấm khăn trải dưới đất, rung cây hay dùng cán vợt đập vàocành cây, các sâu bọ bám vào cành lá sẽ rơi xuống tấm khăn
+Hút sâu bọ bằng ống hút hình ở dưới không sợ chúng rơi vào miệng
Trang 10Bước 2: Chọn cách xử lí thích hợp: Học sinh quan sát ghi chép những gì quan sát được Chọn một số mẫu tốt cho vào lọ làm chết sâu bọ, hoặc cho vào túi bướm
PHƯƠNG TIỆN CHỨA MẪU THÍCH HỢP
STT Phương tiện chứa
mẫu Đối tượng thích hợp Mẫu cụ thể
1 Hộp chứa mẫu sống Động vật có xương
sống
-Ếch nhái , Ốc sên,
Chạch, Lươn, Cá cờ,
Bọ ngựa, Dế mèn, Bọque, Ve sầu…
2 Lọ làm chết sâu bọ Côn trùng nói chung,
động vật không xươngsống nhỏ
-Ong, cuốn chiếu, rết,
2 CHUẨN BỊ CỦA HỌC SINH :
Hiện nay ở phòng thiết bị nhà trường đã có nhiều thiết bị dạy học sử dụng chotiết học này ví dụ như : Kính lúp, vợt bắt sâu bọ, vợt bắt động vật ở nước, hộpđựng động vật ở cạn , hộp đựng động vật ở nước……
Tuy nhiên do yêu cầu của bài học và do số lượng học sinh khá đông (cỡ 42em/lớp) giáo viên cần cho học sinh làm thêm một số dụng cụ thực hành cần thiết Ngoài ra đi ra ngoài thiên nhiên tuỳ các vùng miền khác nhau có nhiều côntrùng động vật khác nhau, để tránh bị côn trùng cắn đốt chúng ta còn phải chuẩn
bị cho học sinh các loại thuốc phòng ngừa và để thực hiện tốt việc thu thập
Trang 11mẫu khô, mẫu ngâm nhằm tổng kết bài học và dùng để giảng dạy nhiều nămsau này do đó chúng tôi cho học sinh các chuẩn bị như sau :
- Làm thêm một số vợt bắt sâu bọ
- Làm thêm một số vợt bắt động vật ở nước
- Làm thêm kẹp ép sâu bọ
- Chuẩn bị thuốc chống đỉa, vắt
- Chuẩn bị cho ngâm các mẫu động vật : cá, tôm, trai, ếch……
2.1 ) Làm thêm vợt bắt sâu bọ : Hiện nay ở nông thổn trẻ em hay làm vợt để bắt ve
ve ( một loài sâu bọ có cánh, hoạt động chủ yếu vào mùa hè ) loại vợt này giáoviên chỉ cần hướng dẫn học sinh làm vì rất dễ làm,ít tốn kém, lại có ưu điểm rất dểbắt được các loài sâu bọ khi chúng đang đậu trên mặt đất , trên cây
Cách làm như sau :
a) Dùng một đoạn thép đủ cứng uốn một thành một vòng tròn dùng phần thépcòn thừa quấn tạo thành cán như ( hình 1)
b) Dùng 1 bao ni lông loại có độ cứng vừa phải, độ rộng vừa so với vòng thépvừa quấn xong (hình 1) Lấy mép (miệng ) bao ni lông quấn vào vòng trònbằng thép sau đó dùng dây thép nhỏ hoặc chỉ khâu may lại , đáy bao ni lông
có thể dùng kéo cắt các lỗ nhỏ để thông khí (hình 2)
c) Cán vợt có thể dùng một đoạn ống nước (bằng nhựa) ống nước có
đường kính phù hợp, dài cỡ 20-25 cm để gắn vào cán bằng thép (mục a),học sinh dùng cán dài bằng tre để cắm vào lỗ của ống nhựa làm vợt dàithêm tuỳ ý
2.2) Làm thêm vợt bắt động vật ở nước : Cách làm tương tự như làm vợt bắt sâu
bọ, nhưng thay vì sử dụng bao ni lông ta cho học sinh sử dụng vải may màn tuyn,hoặc lưới nhựa loại mềm may quấn vào vòng thép như giới thiệu ở mục 1.b (xemhình 3, hình 4)
Trang 12CÁCH LÀM VỢT BẮT SÂU BỌ
Trang 13CÁCH LÀM VỢT BẮT ĐỘNG VẬT Ở NƯỚC
2.3) Cách làm cặp ép mẫu vật : để ép và bảo quản các mẫu động vật (nhất là lớpsâu bọ ) sau khi thu thập xong mẫu động vật sống cho học sinh quan sát một số
Trang 14động vật có thể thả trở lại thiên nhiên, một số động vật giáo viên cho học sinh giữlại ép khô làm mẫu dùng trưng bày ở phòng bộ môn, và làm đồ dùng dạy học chocác tiết học lên lớp sau này để có thể ép mẫu ta có thể cho học sinh chuẩn bị cặp épcây và ép mẫu vật như sau :
- Cặp ép cây làm bằng các thanh tre, gỗ ghép lại thành 2 khung mắt cáo( 30cm x 45cm ) Ghép 2 khung lại bằng dây thép nhỏ ( tạo bảng lề cho khung )(hình 5)
- Cách ép mẫu vật : ví dụ như bướm, châu chấu sau khi đã làm chết và ép bớtcác chất dịch ở phần bụng nó ra tiêm thêm vào cơ thể chúng một ít dung dịchphooóc môn để bảo quản mẫu ( làm mẫu lâu bị hỏng) sau đó dùng tập sách cũ
ép vào trong để tạo cho mẫu thẳng đẹp dùng các tập vở cũ đè lên trên được 1ngày sau cho vào mẫu vật vào trên nửa tò báo gấp đôi, gấp tờ báo lại và chovào trong cặp ép động vật
- Dùng dây vải buộc chặt cặp ép Nén cặp dưới vật nặng rồi đem phơi nắnghoặc sấy cho đến khi khô
- Hằng ngày thay giấy báo sau 1 đến 2 ngày không nén cặp bằng vật nặng nữa
- Sau khi mẫu vật khô, lấy mẫu dùng kim chỉ hoặc keo dính đính chặt mẫu vào
tờ bìa, dán nhãn (hình 6 )