Một trong các mục tiêu cơ bản của phân môn Chính tả lớp 5 là dạy thế nào để học sinh viết đúng chuẩn mực tiếng Việt văn hóa để góp phần giữ gìn sự trongsáng của Tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ.
Trang 1Nhân đây,tôi cũng xin được trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu và một số giáoviên khối lớp 5 của trường Tiểu học Hoàn Long (Yên Mỹ) đã tạo điều kiện vàcung cấp số liệu, thông tin cần thiết cho đề tài.
Hoàn Long, ngày 15 tháng 01 năm 2010
Chủ nhiệm đề tài
Đỗ Văn Don
Trang 2Phần thứ nhất Đặt vấn đề
i Lý do chọn đề tài
Phân môn chính tả trong bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng giúphọc sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả theo quy tắc hiệnhành, nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng chính tả văn hóa Tiếng Việtchuẩn mực Vì vậy, phân môn Chính tả có vị trí quan trọng như các môn khác trong
cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt
Giống như môn Chính tả từ lớp 2 đến lớp 4, tính chất nổi bật nhất của phânmôn Chính tả lớp 5 là thực hành Bởi lẽ chỉ có thể hình thành các kĩ năng, kĩ xảochính tả cho học sinh thông qua việc thực hành, luyện tập Do đó trong phân mônnày, các quy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lý thuyết không được
bố trí trong tiết dạy riêng mà dạy lồng ghép trong hệ thống bài tập chính tả Điềunày thoạt nghe thì có vẻ rất phù hợp với học sinh, nếu nhìn từ góc độ tâm sinh lýlứa tuổi và khả năng tiếp thu của học sinh Nhưng cũng chính đó, học sinh rất dễquên vì khả năng tổng hợp thành hệ thống còn hạn chế Do đó, giúp học sinh khắcphục tình trạng này là một yêu cầu cần thiết
Một trong các mục tiêu cơ bản của phân môn Chính tả lớp 5 là dạy thế nào
để học sinh viết đúng chuẩn mực tiếng Việt văn hóa để góp phần giữ gìn sự trongsáng của Tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ Về mặt hình thức chữ viết, học sinh lớp 5 hiệnđang có xu hướng tiến bộ, chữ viết xấu đang được dần khắc phục bằng phong trào
và hội thi Nhưng bên cạnh đó, không ít học sinh (kể cả học sinh viết chữ đẹp cấp huyện) cũng rất lúng túng khi viết chính tả phân biệt và thường xuyên viết sai chính
tả trong hành văn
Trong hoàn cảnh hiện nay, học sinh phải học quá nhiều: nhiều môn, nhiềuthời gian Nói theo cách của Giáo sư Phan Ngọc: Tuổi đời còn nhỏ mà điều phảihọc thì quá nhiều Do đó, cần có những quyển sách Mẹo để giúp học sinh lớp 5 họchiệu quả Chính tả mà không mất quá nhiều thời gian và công sức
Trang 3Với những lý do trên đây, bằng kiến thức đại cương và với những kinhnghiệm trong hơn 10 năm dạy học, tôi đã đúc kết thành bản sáng kiến kinh nghiệm
“Dạy học sinh lớp 5 một số mẹo chính tả”
ii Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài “Dạy học sinh lớp 5 một số mẹo chính tả” nhằm
cung cấp cho học sinh lớp 5 và giúp các em cách ghi nhớ quy tắc chính tả theo kiểumẹo Từ đó các em dễ dàng phân biệt được, viết được đúng chính tả theo quy tắc
Đề tài cung cấp cho đồng nghiệp một số mẹo chính tả thường gặp trong việc
hướng dẫn học sinh lớp 5 viết chính tả Đề tài còn là một cẩm nang, một “sổ tay chính tả” của bản thân tôi trong quá trình dạy học, nhất là chính tả.
iii Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cả hai phương diện: học sinh lớp 5 và một số lỗi chính tả
học sinh lớp 5 thường mắc lỗi, đó là các từ, ngữ chứa phụ âm l / n ; ch / tr ; s/ x ; d /
gi / r ; vần iêu / iu / ưu và iêu / ươu / ưu
iv Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về mẹo chữa lỗi chính tả
2 Tìm hiểu một số lỗi chính tả phổ biến mà học sinh hay mắc lỗi (thựctrạng, nguyên nhân, giải pháp)
3 Tìm hiểu và đưa ra một số cách chữa lỗi chính tả và tổng hợp thànhmẹo chữa lỗi chính tả
1, Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phương pháp này giúp tôi có cơ sở khoahọc về ngữ âm, chính tả từ đó giúp tôi có góc nhìn tổng quát và quan niệm đúngđắn về quy tắc chính tả hiện hành
2, Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Qua điều tra bằng văn bản (phiếu) và
các cuộc phỏng vấn chính thống hoặc trao đổi ngẫu nhiên trong giao tiếp, phương
pháp này giúp chúng tôi có cơ sở thực tiễn về thực trạng học sinh viết (nói) sai
chính tả
Trang 43, Phương pháp tích lũy và thống kê: trong hơn 10 năm dạy học phươngpháp này đã cung cấp cho tôi khá nhiều vốn kinh nghiệm liên quan đến đề tài Đó
là thuận lợi đáng kể
4, Phương pháp phân loại: phương pháp này giúp tôi phân loại được nhómlỗi chính tả hoặc một số lỗi chính tả có nét tương đồng về mặt ngữ âm hoặc cánhchữa lỗi
5, Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này hỗ trợ đắc lực trongviệc cắt nghĩa cơ sở lí luận
6, Phương pháp miêu tả: Phương pháp có tác dụng trong việc giải thích,thuyết trình cách khắc phục lỗi chính tả
7, Phương pháp khảo sát: Trong quá trình thực hiện đề tài, vận dụng phươngpháp này để tìm hiểu và rà soát toàn bộ các bài chính tả phân biệt ở lớp 5
8, Phương pháp so sánh đối chiếu: Vận dụng phương pháp này để tránh được
sự lặp lỗi hoặc trùng hợp không cần thiết khi xây dựng mẹo chính tả
Ngoài những phương pháp trên đây được sử dụng trong quá trình thực hiện
đề tài, tôi còn vận dụng một số phương pháp khác: phương pháp trắc nghiệm,phương pháp thực hành, phương pháp trò chơi
vi Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề mẹo chính tả ở bậc Tiểu học là rất rộng Vì vậy để tránh lan man, dàntrải, tôi chỉ tập trung nghiên cứu về mẹo chính tả ở một số trường hợp mà học sinh
lớp 5 ở địa phương thường mắc phải như t / n ; ch / tr ; s/ x ; d / gi / r ; iêu / iu / ưu,
iêu / ươu / ưu
vii Dự kiến kế hoạch nghiên cứu
1, Phương hướng chung: Kết hợp tìm hiểu trên tất cả hai phương diện cơ sở
lí luận và cơ sở thực tiễn mà đề tài quan tâm
2, Phương hướng cụ thể:
2.1 Thời gian nghiên cứu: 02 năm học (năm học 2008 - 2009 và năm học
2009 - 2010 )
Trang 52.2 Phân bố thời gian thực hiện kế hoạch
2.2.1 Năm học 2008 – 2009
Bước 1: Xây dựng và hoàn thiện ý tưởng đề tài
Bước 2: Xây dựng đề cương đề tài
Bước 3: Gửi đề cương cho GS.TS Lê Phương Nga (Khoa giáo dụcTiểu học - Đại học Sư phạm Hà Nội I) phê duyệt
Bước 4: Chỉnh sửa và hoàn thiện đề cương
Bước 5: Áp dụng thử nghiệm tại lớp 5A, trường Tiểu học Hoàn Long.2.2.2 Năm học 2009 - 2010
Bước 1: Áp dụng tại lớp 5A và 5B trường tiểu học Hoàn Long
Bước 2: Tổng kết kinh nghiệm
Bước 3: Hoàn thiện đề tài
Bước 4: Nộp bản thảo về cho Hội đồng khoa học các cấp
Phần thứ hai
Trang 6thanh ngã), ? (ghi thanh hỏi), / (ghi thanh sắc), (ghi thanh nặng) và không dùng
dấu để ghi thanh ngang ( thanh không)
2 Nguyên tắc xây dựng chữ Việt
So với chữ viếtc của nhiều ngôn ngữ trên thế giới, chữ Việt có phần thuận lợihơn Do đó, chính tả của nó cũng giản tiện hơn nhiều Nguyên nhân sâu xa nhất của
điều này là ở chỗ chữ Việt được xây dựng theo nguyên tắc âm vị học ( còn gọi là nguyên tắc ngữ âm học) Nguyên tắc âm vị học trong chữ viết yêu cầu giữa âm và chữ phải có quan hệ tương ứng “một - một” Để đảm bảo nguyên tắc này, chữ Việt
phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện; mỗi âm chỉ do một ký hiệu biểu thị và mỗi kíhiệu luôn luôn chỉ só một giá trị - tức biểu thị chỉ một âm duy nhất ở mọi vị trítrong từ
Về căn bản, chữ Việt được tạo ra có tính đến khá đầy đủ các điều kiện trênđó
3. Những bất hợp lý trong tiếng Việt
Trang 7Do nhiều nguyên nhân lịch sử, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ khác nhau những người tạo ra tiếng Việt * đã không tuân thủ được một cách nghiêm ngặtnhững yêu cầu của nguyên tắc âm vị học trong chữ viết Do đó, đã để lại trong lòng
-cơ cấu chữ Việt nhiều hiện tượng chính tả trái ngược với nguyên tắc ngữ âm họccủa chữ viết và đã làm nhức nhối bao thế hệ học giả trong và ngoài nước một thế
kỷ nay Những bất hợp lý của chữ Việt, có thể quy vào hai trường hợp chính dướiđây
3.1 Vi phạm nguyên tắc tương ứng “ một - một” giữa kí hiệu và âm thanh.Điều này thể hiện ở chỗ, dùng nhiều kí hiệu để biểu thị một âm Thí dụ:
- Âm /k/ được biểu thị bằng ba kí hiệu c, k, q
- Âm /i/ được biểu thị bằng hai kí hiệu i, y
- Âm // được biểu thị bằng hai kí hiệu g, gh
- Âm / / được biểu thị bằng hai kí hiệu ng, ngh
- Âm /ie/ được biểu thị bằng bốn kí hiệu: iê, yê, ia, ya
- Âm /u / được biểu thị bằng hai kí hiệu: ươ, ưa
- Âm /uo/ được biểu thị bằng hai kí hiệu uô, ua
3.2 Vi phạm tính đơn trị của kí hiệu Điều này thể hiện cụ thể ở một kíhiệu biểu thị nhiều âm khác nhau tùy thuộc vào vị trí của nó trong quan hệ vớinhững âm trước và sau nó Thí dụ như sau:
Thí dụ 1: chữ g khi đứng trước các chữ không phải là i, e, ê thì biểu thị là
âm //, nhưng khi đứng trước i mà sau i là các chữ không phải là i, e, ê thì biểu thị
là âm /z/ (gia, giữ, giục, ) ; Khi g đi cùng với h thì biểu thị là âm // (ghi, ghét,ghế, ) ; khi đứng trước i hoặc iê thì một mình g lại biểu thị âm /z/ (gì, gìn, giết )
Thí dụ 2: Chữ O chủ yếu dùng để biểu thị nguyên âm / /; nhưng khi đứngngay sau a hoặc e, với tư cách là một âm cuối, thì biểu thị bán nguyên âm /u/ (gạo,kẹo, ) ; còn khi đứng trước a hoặc e, thì lại biểu thị một giới hạn âm ( âm đệm),
đó là /u/ (hoa, hoe, )
Trang 8* Tiếng Việt - chữ Quốc ngữ - do các giáo sĩ người Âu sáng tạo ra hồi thế kỷ XVI - XVIII
theo chữ La - tinh để tiện cho việc truyền giáo ở nước ta
Trên đây la hai trường hợp chính tả thể hiện các bất hợp lý trong chữ Quốcngữ Nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ còn phân vân về tình trạng dùng nhiều dấuphụ, như các trường hợp: ă, â, ô, ơ, ư; hoặc ghép nhiều con chữ để biểu thị một âm,như các trường hợp: ch, gh, kh, nh, ng, ngh, ph, tr, th
Điều đó quả không thuận tiên lắm song cũng là giải pháp riêng Đó không lànhững bất hợp lý việc vi phạm nguyên tắc cơ bản của chính tả ngữ âm học, vàkhông gây cản trở hay sự lộn xộn nào do chính tả Quốc ngữ, thậm chí ngay cả khidùng chữ Việt trên máy vi tính
2 Chính tả chữ Việt.
1. Đặc điểm tiếng Việt
Tiếng việt là ngôn ngữ phân tiết tính tức là các âm tiết được tách bạch rõràng trong dòng lời nói Đây chính là điểm khác biệt với các ngôn ngữ khác nhưTiếng Anh, tiếng Nga, ,Pháp * Vì thế khi viết, các chữ biểu thị âm tiết được viếtrời,tách biệt
Mỗi âm tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định Khi viết chữ, phảiđánh dấu nhanh - ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âmchính là nguyên âm đôi) của âm tiết
Khi xác định được kí hiệu ghi âm chính trong chữ, thì ghi dấu thanh điệu lên
trên (hoặc dưới) kí hiệu đó, chẳng hạn: bạn, toán, hòa, thuế, Trong trường hợp có
hai ký hiệu biểu thị âm chính là nguyên âm đôi thì ghi dấu thanh lên kí hiệu có dấuphụ, chẳng hạn: tiến, chiến, quyển, yến, suối, chứa, ; ghi dấu thanh lên kí hiệuthứ hai (Từ trái sang phải) khi cả hai kí hiệu đều có dấu phụ, chẳng hạn: nước,bưởi, ; ghi dấu thanh lên kí hiệu đầu tiên (trái sang phải) khi cả hai kí hiệu không
có dấu phụ, chẳng hạn: phía, của, múa,
Trong chính tả tiếng Việt, mỗi dòng chữ gồm những chữ, mỗi chữ tách riêng
ra là một âm tiết Khi muốn nói đến mặt chính tả của tiếng “sách” chẳng hạn thì ta
Trang 9dùng “chữ”; khi muốn nói đến mặt ngữ âm của nó thì ta dùng “âm tiết” (tiếng) Haicách gọi tuy khác nhau, nhưng đều chỉ một vật Thí dụ miêu tả âm tiết “Toán”.
* Thí dụ tiếng Anh: baby (hai âm tiết) ;banana (ba âm tiết) ;television (4 âm tiết) ;
Trong chữ “toán”, ta phân biệt hai ,phần: phần thứ nhất (t) gọi là âm đầu hay phụ
âm đầu và phần thứ hai (oán) gọi là vần: trong phần vần (oán), ta có “án” là vầnđơn và “o” đệm vào “án” làm nên âm đệm; trong vần đơn “án”, ta có hai bộ phận là
“a” gọi là nguyên âm chính và “n” gọi là âm cuối Người ta gọi âm đầu hay âmcuối là vì lí do trước âm đâu hoặc âm sau âm cuối không thể có một âm gì nữa.Trong vần “oán” còn một bộ phận nữa mà ta không thể bỏ quên, đó là dấu thanh
Tóm lại, một âm tiết - chữ - tiếng Việt bao gồm có năm phần: âm đầu, âmđệm, âm chính, âm cuối và dấu thanh (nếu ở dạng đầy đủ) Trong năm phần này,
có thể có những phần vắng mặt Chẳng hạn, âm đầu có thể vắng như “oán” ; âmcuối có thể vắng như “ào” ; âm đệm có thể vắng như “á” Tuy nhiên, tuyệt đối cóhai phần bao giờ cũng có mặt là nguyên âm chính và dấu thanh* Khi trong chính tảkhông ghi dấu gì thì có nghĩa đó là “dấu không” chứ không phải là không có dấu.Một âm tiết mất nguyên âm, hoặc dấu của nó thì tan rã, không được coi là một âmtiết Việt
2. Một số quy định về chữ viết tiếng Việt.
2.1 Viết theo nguyên tắc ghi âm
Về nguyên tắc, chữ viết ghi âm phải căn cứ trên một cách phát âm Mà tiếngViệt thì tồn tại nhiều phương ngữ Các cách phát âm địa phương có tính bảo thủcao và thực tế là chúng đều được tôn trọng Người Hà Nội vẫn có niềm tự hào vớiphát âm “con châu” thay vì “con trâu” Cũng như vậy, người Sài gòn chẳng bao giờmặc cảm khi hỏi “tai đâu?” mà người nghe không biết chỉ vào tai hay đưa tay rathay cho câu trả lời Đặc biệt Đài tiếng nói Việt Nam - cơ quan ngôn luận của Quốcgia cũng mặc nhiên phát đi bằng cả ba thứ giọng: Hà Nội, Huế và Sài gòn đại diệncho ba phương ngữ lớn trên phạm vi cả nước Thế nhưng về mặt chữ viết, chỉ chophép một cách duy nhất dùng để ghi mọi phương ngữ Vậy đâu là cơ sở cho chữ
Trang 10viết? Cách viết ấy tôn trọng chuẩn chính tả đã được xác định và được phản ánh vềcơn bản trong Từ điển phổ thông.
* Tiếng Việt có sáu dấu thanh: dấu không (ngang), dấu huyền, dấu ngã, dấu hỏi, dấu sắc
Một là, cách viết đó đơn thuần chỉ mang tính cá nhân: Thư từ, nhật ký, Hai là,cách viết đó mang tính cộng đồng nhưng được nhìn nhận như một địadanh trong các văn bản giao dịch quốc tế Thí dụ Hanoi, Pari, London, Còn cácvăn bản khác, nhất là dùng trong nhà trường, kiểu viết ấy được coi là mắc ba lỗi:không viết rời con chữ, không viết hao âm tiết thứ hai của tên riêng; không viết dấuphụ và dấu thanh
2.3 Có dấu thanh cho mỗi chữ
Bất kỳ âm tiết nào của Tiếng Việt cũng phải mang thanh điệu Nguyên tắcnày triệt để đến mức ngay cả từ vay mượn của tiếng nước ngoài khi đã “gia nhập”cũng phải tùy tục, mỗi âm tiết cũng phải mang một trong sáu thanh điệu của tiếngViệt Thí dụ “cafe” vốn là một từ của tiếng Pháp không có dấu thanh nhưng khi đãtrở thành vốn từ vựng của tiếng Việt là “ cà phê” thì hiển nhiên, tiếng “cà” đã mangthanh huyền và tiếng “phê” đã mang thanh ngang rồi
Nguyên tắc trên cũng được thể hiện trên chữ viết Mỗi chữ đều mang mộttrong sáu dấu thanh và được thể hiện trên chữ viết Dấu thanh thanh có tác dụngkhu biệt như một âm vị Vì thế, trên chữ viết, việc không viết dấu thanh sẽ khiến
Trang 11người đọc, người nghe lĩnh hội sai (có khi là cố ý, có khi là vô tình) điều mà ngườiviết định truyền đạt.
Thí dụ 1: Khi đến thăm nhà máy cơ khí Gia Lâm, nhìn hàng chữ ghi: “ NHAMAY CO KH GIA LAM”, Bác thản nhiên đọc: “Nhà máy cơ khí già lắm” Vào hộitrường, thấy một dòng khẩu hiệu: “HO CHU TICH MUON NAM”, Người làm bộmệt mỏi và nói lớn: “ Hồ Chủ Tịch muốn nằm” làm cho đoàn tháp tùng vừa cườivui vẻ, vừa “ sợ xanh mắt” về bài học chữ nghĩa mà bác vừa dạy
Thí dụ 2: Lệnh cấp trên đưa xuống: “ BAT BAN NGAY” với ý “bắt bắnngày” nhưng đã được cấp dưới thừa hành thực thi: “bắt bắn ngay”
Thí dụ 3: Trên nóc cao ốc một khách sạn ở thị xã Cửa lò (Nghệ An) có đắpdòng chữ “MUONG THANH HOTEL” ; ngồi trên xe ô tô, du khách phải suy luận
bở hơi tai mới đoán ra được dó là khách sạn Mường Thanh
3 Nguyên tắc kết hợp chính tả tiếng Việt.
3.1 Các chữ cái biểu thị các phần của âm tiết.
3.1.1 Tất cả các chữ cái ghi phụ âm đầu đều có thể làm kí hiệu ghi âm đầucủa âm tiết
3.1.2 Tất cả các chữ cái gi nguyên âm đều có thể làm kí hiệu ghi âm chínhcủa âm tiết
3.1.3 Hai chữ cái ghi âm đệm là o và u, giữa chúng có sự phân bố vị trí rõrệt
3.1.4 Các kí hiệu: p, t, m, n, c, ng (nh), i (y), u (o) biểu thị các âm cuối
3.2 Sự phân bố vị trí giữa các kí hiệu cùng biểu thị một âm Một bộ quy tắc
kết hợp hoàn chỉnh, cần thiết, đủ mạnh để loại bỏ khả năng tùy tiện, nước đôi khiviết Các quy tắc bổ sung này đã được xã hội hóa và trở thành thói quen chính tảcủa người việt Nhờ chúng mà chính tả việt khắc phục được tính phức tạp, rắc rối.Sau đây là các quy tắc bổ sung:
3.2.1 Đối với k/ c /q:
Trang 12- K viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm ( bộ phận nguyên âm đôi) :i, e, ê, iê,ia.
- C viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a, ă, â, o,
ô, ơ, u, ư, ua, uô, ưa, ươ
- Q viết trước âm đệm u Riêng trường hợp “ka ki” , “kách mệnh”, “ BắcKạn” là do theo thói quen chứ “k” vẫn viết trước “a”
3.2.2 Đối với g/gh và ng/ngh
- G và NG viết trước các kí hiệu ghi nguyên âm (bộ phận nguyên âm đôi): a,
ă, â, o, ô, u, ư
- GH và NGH viết trước các kí hiệu nghi nguyên âm (bộ phận nguyên âmđôi): i, e, ê
3.2.3 Đối với IÊ/ IA/ YÊ/ YA
- IÊ viết sau âm đầu, trước âm cuối: chiến , tiên tiến,
- IA viết sau sau âm đầu, không có âm cuối: chia, phía,
- YÊ viết sau âm đệm, trước âm cuối: tuyên, yến,
- YA viết sau âm đệm, không có âm cuối: khuya,
3.2.4 Đối với UA/ UÔ
- UA viết khi không có âm cuối: múa, cua, sủa,
- UÔ viết trước âm cuối: chuối/ chuột, cuốn,
3.2.5 Đối với ƯA / ƯƠ
- ƯA viết khi không có âm cuối: mưa, xưa, cửa,
- ƯƠ viết trước âm cuối: nước, thương, mượt,
3.2.6 O và U làm âm đệm
- Sau chữ cái ghi âm Q, chỉ viết U: quang, quân, quýt,
- Sau các phụ âm khác hoặc mở đầu âm tiết:
+ Viết O trước các nguyên âm: a, ă, e (hoa, khoăn, toét, )
Trang 13+ Viết i trước các nguyên âm: â, ê, y, yê, ya (huân, huệ, khuya, nguyên,huy, )
3.2.7 I và Y làm âm chính
- I viết sau âm đầu: bi, kỉ, phi,
- Y viết sau âm đẹm: quy, quỳnh, quýt,
* Cần lưu ý, khi đứng một mình viết I đối với các từ thuần việt (ỉ eo, ầm ĩ, í
a, ) cần viết Y đối với các từ gốc Hán ( y tá, ý kiến, ý nghĩa, )
4 Quy tắc viết hoa hiện hành
4.1 Chức năng của chữ viết hoa (3 chức năng)
Một là, đánh dấu sự bắt đầu một câu
Hai là, ghi tên riêng của người, địa danh, cơ quan, tổ chức,
4.2 Quy định về cách viết hoa tên riêng:
4.2.1 Đối với tên riêng tiếng Việt: tên người và tên địa lý, viết hoa tất cảnhững âm vị đứng đầu các âm tiết và không dùng dấu gạch nôi: Võ Thị Sáu, HưngYên, Tên tổ chức, cơ quan thì chỉ viết hoa âm vị đứng đầu của các âm tiết thứnhất trong tổ hợp dùng làm tên: Trường tiểu học Hoàn Long, Phòng giáo dục Yên
Mỹ,
4.2.2 Đối với tên riêng không phải tiếng Việt
Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng chữ cái La - tinh thì giữ đúng nguyênhình trên chữ viết trong nguyên ngữ (kể cả các chữ cái f, j, w, z và dấu phụ ở một
số chữ cái có thể lược bỏ: Paris, London, )
Trang 14Nếu chữ viết của nguyên ngữ dùng hệ thống chữ cái khác chữ cái La - tinhthì dùng lối chuyển trị chính thức sang chữ cái La-tinh : “人” chuyển thành “” nhân”, “ ” 上” chuyển thành “thượng”, “ ” 古” chuyển thành “cổ”.
Nếu chữ viết của nguyên ngữ không phải là chữ viết ghi âm bằng chữ cái thìdùng lối phiên âm chính bằng chữ cái La - tinh
Những chữ viết riêng có hình thức phiên âm Hán - Việt quen dùng trongtiếng việt thì nói chung không thay đổi, trừ một số trường hợp như Anh, Pháp, BắcKinh, Lỗ Tấn,
4.2.3 Viết hoa để đánh dấu đầu câu, đầu dòng thơ
4.2.4 Viết hoa để biểu thị sắc thái tu từ tức là viết hoa chỉ khái niệm thiêngliêng hay được người quý trọng (đôi khi theo chủ ý của người viết)
Thí dụ: “Tự Do và Ái Tình
Vì các ngươi ta sống
Vì Tình Yêu lồng lộngXin hiến cả đời tôi ”
(Pê - tô - nhi)4.2.5 Viết hoa chữ thứ nhất của mỗi từ đối với tên người, tên địa danh nướcngoài không phiên âm qua tiếng Hán - Việt : Lê - nin, Mat - xcơ - va, Oa - sinh -tơn, Viết hoa tên người, tên địa danh của một số dân tộc ít người của Việt Nam:Chư - pa, Kơ - pa - kơ - lơng,
5 Nguyên tắc thích hợp với đối tượng
5.1 Nguyên tắc phù hợp với đối tượng
Ở mỗi địa phương có những phương ngữ khác nhau tùy theo địa phương củamình Do đó, mẹo chính tả muốn dùng thuận phải phù hợp với từng đối tượng Vìvậy, những sự phân biệt đưa ra phải khách quan
5.2 Nguyên tắc tôn trọng chính tả hiện hành.
Trang 15Mẹo chính tả được xây dựng trên cơ sở quy tắc chính tả mà Bộ giáo dục vàĐào tạo quy định, đồng thời lấy Từ điển chính tả phổ thông của Viện ngôn ngữ họcxuất bản năm 2005, Hà Nội làm chuẩn.
5.3 Nguyên tắc xét một âm trong một hệ thống những sự đối lập về mọi mặt.
Đây là mẹo của tất cả các mẹo và chỉ cần nắm một mẹo duy nhất này thôi làtìm được mẹo, giảng được mẹo, dạy chính tả so sánh thành công Lí do của nó làkhông một âm nào lại “hoạt động” giống một âm khác Chữ “ hoạt động” ở đây chỉnhiều mặt kết hợp với những âm khác, thứ hai là mặt lịch sử, thứ ba là láy âm, thứ
tư là nghĩa
5.4 Nguyên tắc chuẩn các quan hệ lịch sử thành các quan hệ hiện đại.
Trong khi đối lập, thế nào cũng đi đến những sự đối lập về lịch sử Cầnchuyển những hiểu biết lịch sử thành những hiểu biết liên quan đến tình trạng hiệnđại
5.5 Nguyên tắc thống kê.
Các mẹo chính tả thường có ngoại lệ Do đó, thế nào cũng còn lại một số chữcần phải nhớ Muốn cho việc nhớ được dễ dàng, cần phải lựa chọn những chữthường dùng phải nhớ
5.6 Nguyên tắc tìm nghĩa của những nhóm âm tiết, của những hình thức láy.
Chẳng hạn một cách rất tiện để phân biệt “ưt” với “ức” là tất cả những chữviết với vần “ưt” đều chỉ một cái gì đó đứt ra (rứt, đứt, bứt, giựt, ) Những ngoại
lệ chỉ thu hẹp vào danh từ là những từ đã vay mượn từ tiếng nước ngoài chứ có rất
ít ngoại lệ là động từ hoặc tính từ là những từ khó vay mượn
6 Một số cách phân biệt chính tả phổ biến ở bậc Tiểu học.
6.1 Cách phân biệt từ Hán - Việt.
Từ Hán - Việt chiếm quá nửa tổng số từ vựng trong kho tàng tiếng Việt.Chúng lại có những đặc điểm riêng về chính tả rất khác những từ thuần Việt Thí
Trang 16dụ: “gi” (Hán - Việt), chỉ đi với dấu hỏi và dấu sắc; “d” (Hán - Việt) chỉ đi với dấungã và dấu nặng; không có từ Hán - Việt nào viết với vần “ui”, “ơn”, “it”, Chonên một điều căn bản nhất đối với học sinh để viết đúng chính tả là sự phân biệt từHán - Việt với từ không phải Hán - Việt.
6.2 Cách nhận mặt từ láy âm.
Một cơ sở chữa lỗi chính tả là xét hiện tượng láy âm Vậy ta phải nhân mặtđược láy là gì Chữ “nhận mặt” ở đây chỉ có nghĩa nhìn về mặt hình thức cấu tạobiết ngay được một số từ có phải là láy âm hay không Một từ láy âm là một từtrong đó hai chữ có sự lặp lại nhau nào đó Ngoài yêu cầu về hình thức, hai chữnày phải có ít nhất một chữ không hoạt động một mình thành từ Nếu cả hai chữ dù
có vẻ láy âm đi nữa, những đều hoạt động thành từ được thì đó không phải là từ láy
âm (lành mạnh, thung lũng, bình minh, tươi tốt, ) Trong từ láy âm, ta cần phânbiệt giữa điệp và láy Điệp là láy lại hoàn toàn một bộ phận nào đó Vì âm tiết tiếngViệt có năm bộ phận nên có năm cách điệp và có năm cách láy
Trong việc chữa lỗi chính tả, các quy tắc điệp không có tác dụng bằng cácquy tắc láy, bởi vì nhờ quy tắc láy mà ta phục hồi được cái âm cần phải có Chẳnghạn, căn cứ vào quy tắc láy (dấu ngang đi với dấu hỏi, dấu ngã đi với dấu nặng) ta
có thể kết luận “nghĩ” trong “nghĩ ngợi” viết các dấu ngã; trái lại, “nghỉ” trong
“nghỉ ngơi” viết với dấu hỏi Còn gặp hiện tượng điệp, cái âm mình vẫn viết sai thì
ta không thể tự nhiên phân biệt được nó và ta phải dùng con đường khác, đó là conđường từ vựng và con đường ngữ nghĩa
7 Tiểu kết:
Chúng ta có những cơ sở khách quan để tìm mẹo chính tả cho tiếng việt nóichung và cho học sinh lớp 5 nói riêng Cơ sở ấy là bất cứ âm nào trong tiếng việtcũng có hoạt động riêng của nó khác tất cả các âm khác Muốn phân biệt âm s với
x chẳng hạn, ta chỉ cần so sánh hoạt động của hai âm đó xem chúng khác nhau như
thế nào Hoạt động ấy khác nhau về mọi mặt: mặt kết hợp ngữ âm, mặt lấy âm, mặt
Trang 17liên quan tới từ Hán - Việt, mặt ngữ nghĩa của vần Khi tổng kết những sự khácnhau khách quan này, ta có những mẹo cần thiết Gặp trường hợp ngoại lệ, ta xétnhững chữ thường dùng nhất (trong số 2000 chữ thông dụng) và lập danh sách.
Thực ra cái gọi là lỗi chính tả chẳng qua chỉ là sự đụng chạm tới cái vỏ âmthanh ở một vài điểm cá biệt mà thôi Còn toàn bộ các quan hệ về mọi mặt, quan hệngữ âm, quan hệ láy âm, quan hệ lịch sử, quan hệ ngữ nghĩa có thể nói ra nguyênvẹn Chính vì vậy, con đường chữa lỗi chính tả bằng mẹo là đóng góp thiết thựcvào việc chuẩn hóa tiếng việt và cải tiến giảng dạy theo phương châm khoa học,dân tộc và đại chúng Và việc quan trọng hơn cả là học sinh lớp 5 nói riêng có mẹochữa lỗi chính tả đơn giản và nhớ lâu Rõ ràng, cái vẻ dễ dàng của những mẹochính tả là do khoa học ngôn ngữ đưa đến, chứ không phải do chủ quan, mánh khóe
cá nhân của người viết
Chương II LịCH Sử Vấn Đề
Sau hơn hai mươi năm, kể từ khi một số văn bản quy định về chữ viết của Bộgiáo dục và đài tạo được ban hành, chữ Việt ngày càng được chuẩn hóa và dần dầnkhắc phục được những hạn chế Tuy nhiên, trong suốt mấy mươi năm ấy, vấn đề vềquy tắc chính tả, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt mà ngay cả vấn đề dạy - họctiếng Việt mà cụ thể là dạy - học chính tả trong trường phổ thông mà trực tiếp làbậc Tiểu học vẫn luôn là vấn đề “nóng” thường xuyên được diễn đàn trên các báo,tạp chí Đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về mẹo chính tả, được công bố
Trang 18và xuất bản Song đó chỉ là những quyển sách có tính chất tham khảo là chính đốivới lứa tuổi trưởng thành có nhu cầu về vấn đề chính tả do ảnh hưởng của chuyênmôn, công việc Cũng có một số bài viết được giới thiệu trên tạp chí như tạp chíTiểu học, Nghiên cứu giáo dục Đó là những bài viết trao đổi kinh nghiệm ở mộtvài khía cạnh nhỏ lẻ hay một thủ pháp trong dạy học chính tả ở bậc Tiểu học Cònvấn đề về mẹo chính tả dành cho học sinh lớp 5 thì dường như chưa nhiều, nếukhông muốn nói là chưa có một công trình nào được công bố hay một bài viết nàochọn vẹn được đăng tải trên diễn đàn giáo dục Tuy nhiên, một số công trình nghiêncứu về chính tả hay những bài viết trên diễn đàn dạy học cũng có ảnh hưởng ítnhiều tới đề tài của tôi đây Có thể phân loại như sau:
1 Một số công trình nghiên cứu về chính tả
1.1 Cuốn “ Từ điển chính tả tiếng Việt” của hai soạn giử Nguyễn Như í và
Đỗ Việt Hùng do nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1997 thể hiện tầm vóc nhưchính “cha đẻ” của nó Cuốn sách thể hiện quan điểm hành dụng, phục vụ trực tiếpcho dạy học, rèn luyện, tra cứu chính tả trong nhà trường phổ thông Hình thứctrình bày của cuốn sách theo phép đối chiếu, so sánh thể hiện sự phân biệt cách viếtkhác nhau của những từ dễ nhầm lẫn chính tả với nhau
Với cuốn sách đồ sộ đó, các tác giả đã thực hiện được việc thu thập tất cả các
trường hợp có phụ âm đầu thường bị phát âm lẫn lộn như ch/tr ; d/gi/r/v ; l/n; s/ x ;
các từ có vần thường bị phát âm chệch đi so với tiếng toàn dân như ach/ăt, an/ang,anh/ăn, ăt/ăc, ; hoặc thường bị phát âm và viết lẫn lộn như ây/ay và các từ thường
bị phát âm lẫn lộn các thanh hỏi, ngã,
Trang 191.2 Giáo trình “Tiếng việt thực hành” của nhóm tác giả Bùi Minh Toán,
Lê A, Đỗ Việt Hùng do Nhà xuất bản giáo dục ấn hành năm 1998 cũng dành mộtchương về chữ viết - chính tả Nội dung chính được đề cập đến chủ yếu là quy tắcviết hoa tiếng Việt, một số lỗi chính tả thường mắc phải và một số dạng bài tậpthực hành Tiếc rằng, sách chủ yếu dành cho sinh viên chuyên ngành ngữ văn nênchỉ có tác dụng trong việc nghiên cứu cơ sở lý luận
1.3 Cuốn sách “ Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả” của giáo
sư Phan Ngọc do Nhà xuất bản Thanh niên phát hành năm 2000 đã nghiên cứu sâusắc và cụ thể hóa về chính tả Cuốn sách giúp người đọc “quy nó ra thành côngthức” từ “các mối quan hệ ngữ nghĩa” của một nửa số từ Hán Việt đang lưu hành.Đặc biệt, cuốn sách còn giúp giáo viên, học sinh phổ thông biết phân biệt dễ dàngmột số trường hợp chính tả hay mắc lỗi
2 Một số bài viết nghiên cứu vè chính tả.
Các bài viết trên diễn đàn dạy học cảu tạp Tạp chí tiểu học, Nhà trường,nghiên cứu giáo dục, v.v đều só ích cho giáo viên trong việc dạy học chính tả ởbậc Tiểu học Các bài viết thường tập trung đưa ra các quan điểm dạy học, phươngpháp dạy học, kinh nghiệm dạy học về chính tả ở các lớp thuộc bậc Tiểu học Cónhững bài viết hể hiện sự phát hiện mới mẻ trong tổ chức dạy học, có những bàiviết đề cập đến một số vấn đề còn bỏ ngỏ trong quy tắc chính tả, phân biệt chính tả
Đó là những bài viết đáng trân trọng và học tập Song,các bài viết đó vẫn khôngtránh khỏi chủ quan, thiên về lý luận và tính áp dụng vào thực tế chưa phù hợp vàhiệu quả chưa cao
Trang 20Chương III THỰC TRẠNG HỌC SINH LỚP 5 MẮC LỖI CHÍNH TẢ
I, Một số lỗi thường gặp:
Trong quỏ trỡnh dạy học chớnh tả ở lớp 5, qua việc kiểm tra cỏc mụn họckhỏc ở lớp 5, tụi đó thống kờ và phõn loại một số lỗi phổ biến mà học sinh mắcphải dưới đõy:
Bảng 1 Lỗi ghi phụ õm
lổ tung nổ tung liềm vui lỗi buồn niềm vui nỗi buồnMang lú theo Mang nú theo Dong đuổi Rong đuổi
Lúi với nú Núi với nú Dơi xuống Rơi xuống
Trang 21Bảng 2 Lỗi ghi nguyờn õm
Trỡu tượng trừu tượng Liu luyến Lưu luyến
Bảng 3 Lỗi ghi õm cuối
II, Nguyờn õm:
Thực tế cho thấy học sinh lớp 5 mắc lỗi chớnh tả do nhiều nguyờn nhõn dẫnđến, trong đú khụng ngoại trừ sự bất hợp lý của chữ viết Tiếng Việt, sự vụ ý, sự cẩuthả, trớ nhớ chưa tốt của học sinh và cả ngọng núi nữa Nguyờn nhõn cơ bản là doảnh hưởng của cỏh phỏt õm địa phương Ngoài ra, nguyờn tắc chớnh tả hiện hànhcũng chi phối sự mắc lỗi chớnh tả trờn
1 Do viết sai viết phỏt õm chuẩn.
Tiếng Việt là ngụn ngữ thống nhất nhất Về căn bản, chớnh tả tiếng Việt là mộtchớnh tả thống nhõt Tuy nhiờn, do Tiếng Việt cú nhiều phương ngữ, thổ ngữ nờnbờn cnạh tớnh thống nhất cao là chủ đạo, nú cũng cú những nột dị biệt khỏ rừ rangtrong cỏch phỏt õm, cỏch dựng từ giữa cỏc vựng và tạo ra ấn tượng mạnh mẽ về sựtồn tại trong thực tế ba giọng khỏc nhau tương ứng với ba phương ngữ, Ở Yờn Mỹ,vựng dõn cư thuộc địa bàn Hoàn Long lại cú những đặc điểm phỏt õm khỏc nhau.Chẳng hạn, đặc điểm nổi bật chung của Hoàn Long cũng là sự phỏt õm lẫn lộn
“l/n”, gi/d/r, ch/tr, s/x Cỏ biệt vựng Yờn Phỳ(lõn cận với Hoàn Long và cũng cú
Trang 22học sinh thuộc địa bàn Yờn Phỳ học ở Hoàn Long), phỏt õm lẫn lộn: vần “ oc”thành vần “ooc”( đi học→ đi hoọc).
Chớnh đặc điểm phỏt õm đặc trưng đú cú khỏc với phỏt õm chuẩn dẫn đếnnhững cỏch viết sai chớnh tả Cú thể quy những lỗi này về hai dạng chủ yếu: lỗiviết sai phụ õm đầu và lỗi viết sai phần vần(viết sai õm cuối)
2 Do sai nguyờn tắc chớnh tả hiện hành.
Là lỗi do học sinh lớp 5 khụng nắm được cỏc đặc điểm và nguyờn tắc kết hợpcỏc chữ cỏi, quy tắc viết hoa Lỗi do khụng nắm được quy tắc phõn bố và kớ hiệucựng biểu thị một õm: nghành, ngi ngờ, qoăn qoeo
3 Do chưa cú thúi quen viết đỳng chớnh tả.
Xuyờn suốt quỏ trỡnh học ở bậc tiểu học, học sinh luụn được rốn luyện viếtđỳng chớnh tả theo hỡnh đồng tõm Tuy nhiờn, khụng phải học sinh nào cũng cúđược thúi quen viết đỳng chớnh tả Nhiều học sinh viết sai ngay trong tiết chớnh tả.Bởi lẽ, học sinh vẫn chưa cú thúi quen học một cỏch tự giỏc, nờn nhanh quờn Hơnnữa, học sinh cũng cú khi khụng được giỏo viờn phỏt hiện và uốn nắn, sửa lập thúiquen ở mọi tiết, mọi lỳc ở trường