1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ vào dạy học truyện ngắn “vợ nhặt” của kim lân ở trường thpt

138 2,9K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn thạc sĩ vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ vào dạy học truyện ngắn “Vợ Nhặt” của Kim Lân ở trường THPT
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục và Đào tạo
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 690,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại, để góp phần làm rõ hơn việc DH một tác phẩm văn chương đi đúng bản chất công việc DH cũng như khám phá vẻ đẹp tác phẩm trong việc hình thành nhân cách người công dân mới trong t

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

1.Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 được thông qua

tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (tháng 1-2011) đã khẳng định: “Phát triển

giáo dục là quốc sách hàng đầu … Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới …” [7, 131- 132]

Có thể nhận thấy bên cạnh việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK) không thể không chú trọng đổi mới phương pháp dạy học (DH) Chỉ

có đổi mới cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết TW 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết TW 2 khóa VIII (12-1996):

“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục- đào tạo, khắc phục lối truyền thụ

một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất

là sinh viên đại học Phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”, được thể chế

hóa trong Luật giáo dục (2005): “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính

tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”, được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo, đặc

biệt chỉ thị số 14 (4-1999)

Trang 2

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu:

“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù

hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh” [31, 7]

Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động của học sinh (HS) Từ những cơ

sở pháp chế như trên đòi hỏi mỗi người giáo viên (GV) cần xác định rõ nhiệm

vụ hàng đầu là phải đổi mới phương pháp giảng dạy để đáp ứng những yêu cầu của ngành giáo dục cũng như góp phần quan trọng vào sự phát triển mọi mặt của nước nhà

2 Trong nhà trường phổ thông hiện nay vấn đề dạy học Văn mà đặc biệt là DH truyện ngắn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập Như DH thường nghiêng về văn bản và thế bản, DH phiến diện, đi theo những công thức lối mòn, chưa đi theo loại thể của tác phẩm, một bộ phận GV còn ỷ lại nhiều vào sách giáo viên (SGV) và các sách hướng dẫn giảng dạy dẫn đến sự trơ lì trong

DH hiện đại Đặc biệt là việc tiếp cận tác phẩm văn chương đôi khi còn manh động, tùy tiện, manh mún, chưa đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh liên hoàn của các phương pháp, biện pháp

Bên cạnh đó sự bùng nổ thông tin, sự phát triển như vũ bão về khoa học kỹ thuật cũng phần nào gây nhiễu cho việc dạy và học văn

Hơn nữa tâm lý HS hiện nay có nhiều thay đổi trong việc tiếp nhận tác phẩm văn chương Vì vậy, cũng đòi hỏi phải có sự hiện đại hóa trong DH tức

là phải có quan điểm tiếp cận đồng bộ để HS cảm thụ và hiểu tác phẩm văn chương một cách trọn vẹn nhất, giúp các em dần phát triển và hoàn thiện nhân cách sau này

Trang 3

3 Nhà văn Kim Lân và các tác phẩm của ông có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học và trong nhà trường Bằng chứng là trải qua nhiều lần thay SGK, đổi mới chương trình những tác phẩm của ông vẫn được giữ lại Cùng với đó là việc sử dụng tác phẩm văn học của Kim Lân làm đề thi vào các trường Đại học, Cao đẳng hàng năm đã để lại những bài văn hay đạt điểm tối đa 10/10

Xoay quanh việc giảng dạy những tác phẩm của Kim Lân cho phù hợp nhất với yêu cầu hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Đơn cử như với tác phẩm “Vợ nhặt” mới chỉ dừng lại ở việc DH theo một vài thiết kế quen thuộc: hoàn cảnh ra đời, tình huống, bức tranh nạn đói … hay khi ra đề thi cũng chỉ thấy: phân tích nhân vật Tràng, phân tích tâm trạng bà cụ Tứ, phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm …

4 Hiện nay, dạy những tác phẩm nói về nỗi đau của quá khứ đang là vấn đề thời sự bởi bằng bất cứ con đường nào cũng không thể đạt hiệu quả nếu ta cực đoan hóa một cách tiếp cận Vì vậy, kết hợp các hướng tiếp cận trong DH truyện ngắn “Vợ nhặt” là một vấn đề bức xúc trong DH văn hiện nay ở nhà trường phổ thông Giải quyết được vấn đề này tức là chúng ta đã thổi vào nhà trường một không khí DH văn mới

5 Tóm lại, để góp phần làm rõ hơn việc DH một tác phẩm văn chương

đi đúng bản chất công việc DH cũng như khám phá vẻ đẹp tác phẩm trong việc hình thành nhân cách người công dân mới trong thời kì đổi mới, chúng tôi quyết định chọn đề tài: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN ĐỒNG BỘ VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “VỢ NHẶT” CỦA KIM LÂN Ở TRƯỜNG THPT.

II Lịch sử vấn đề

Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Kim Lân từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá khác nhau Mặc dù là cây bút truyện ngắn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực ở chặng cuối nói riêng và của văn học Việt Nam hiện đại nói chung nhưng Kim Lân không phải đã được quan tâm ngay từ đầu

Trang 4

1 Trước năm 1945 đến năm 1986

1.1 Trước năm 1945

Đây là thời gian Kim Lân chưa được giới nghiên cứu và phê bình văn học nhắc đến nhiều Có thể kể ra đây một vài lời nhận xét chân tình của đồng nghiệp nhưng có ảnh hưởng khá rõ đến sự nghiệp sáng tác của ông:

Người đầu tiên khuyên ông là Vũ Bằng: “Ông viết truyện nghèo khổ

cũng được, nhưng không bằng những ông Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, các ông ấy đã “thành” rồi Ông viết những truyện như: Đôi chim thành,

Đánh vật, Chó săn thì không ai tranh được chiếu của ông” [47] Nhờ lời khuyên ấy mà sau này Kim Lân được Lữ Quốc Văn ca ngợi là “nhà tiểu

thuyết phong tục hạng nhất của Việt Nam ta” [2]

Còn Nguyên Hồng- người vẫn coi ông là “Một nhà văn quyết tâm đi về

với “đất”, với “người”, với “thuần hậu nguyên thủy” [14, 223] sau này từng

kể lại trong “Những nhân vật ấy đã sống với tôi”: “Từ những năm

1943-1944 ấy, tôi được đọc mấy truyện của anh Kim Lân…Thoạt tiên tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân chương chướng thế nào ấy, hình như định chọi, định đá chữ nhau với một số tên như Mộng Ngọc, Mộng Dương hay Hoài Trạch, Hoài Tâm…lúc bấy giờ Nhưng rồi chỉ bập vào mấy truyện của anh tôi thấy không phải loại ướt át một cách bừa bãi mà trái lại có một cái gì chân chất của đời sống và con người nghèo hèn, khổ đau, giọng văn nhiều rung cảm, thắm thiết đặc biệt là lại gần gũi với mình thì tôi liền tự trách và giữ lấy số báo đó”

1.2 Sau năm 1945 đến năm 1986

Suốt một thời gian khá dài ta không thấy có bài viết nào về Kim Lân, trừ bài viết của Vũ Đức Phúc trong “Sơ thảo và lịch sử văn học Việt

Nam”- Nxb Văn học, 1964 cho rằng: “Một số truyện ngắn của Kim Lân

phản ánh một cách sinh động nhiều cảnh sinh hoạt ở thôn quê như nuôi

Trang 5

chim, gà chọi, chó săn, săn chuột, nhưng ý thức phê phán không rõ rệt”

[46] Do đó, phải từ khi xã hội có sự thay đổi đáng kể, ta mới gặp được những bài nghiên cứu, giới thiệu hoặc nhận xét về Kim Lân trong các sách, song những bài viết đó cũng mới chỉ dừng ở mức độ mang tính chất tổng hợp nhằm hệ thống các tác giả văn học Việt Nam

Đó là lời nhận xét của GS Nguyễn Đăng Mạnh trong “Tổng tập văn

học Việt Nam”, tập 30A- NXBKHXH, 1981: “Văn Kim Lân tỏ ra độc đáo và

hấp dẫn hơn khi ông viết về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng ruộng” Đó là những phong tục ăn chơi hay đúng hơn, những sinh hoạt văn hóa dân quê như trồng cây cảnh, đánh vật, chơi chim bồ câu, nuôi chó săn, gà chọi Đuổi tà, Đôi chim thành, Con mã mái… , sở dĩ có sức hấp dẫn không phải vì ở đấy, những tập quán ngộ nghĩnh, kỳ lạ, những thú chơi phiền phức, cầu kỳ, được trình bày cặn kẽ, mà chính là nhờ nhà văn đã làm hiển hiện lên được những con người của làng quê Việt Nam độc đáo kia, tuy nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời…” [34]

Hay Trần Hữu Tá trong “Từ điển văn học”- tập 1(A-M), Nxb KHXH,

1983 viết: “Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào đề tài độc đáo: ghi

nhận sinh hoạt văn hóa phong phú của thôn quê (đánh vật, chọi gà, thả chim…) Các truyện “Đôi chim thành, Con mã mái, Chó săn…” tuy nghiêng nhiều về phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh kể trên, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước cách mạng, những người sống cực nhọc, khổ nghèo nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa…Cả hai giai đoạn sáng tác, tuy viết không nhiều nhưng Kim Lân đều có những đóng góp tích cực trong thể tài truyện ngắn viết

về đề tài nông thôn Ông viết về mảng hiện thực này bằng tình cảm, tâm hồn của một con người vốn là con đẻ của đồng ruộng” [41, 366]

Trang 6

2 Từ năm 1986 đến nay

Năm 1986 là cái mốc quan trọng khi Kim Lân được một nhà nghiên cứu quan tâm một cách tự nguyện Đó là Lại Nguyên Ân với bài viết: “Văn xuôi

Kim Lân”, đăng trên Tạp chí văn học, số 6- 1986: “Đọc văn xuôi Kim Lân ta

bắt gặp cái thế giới của những người thường dân nghèo khổ vốn là hạng “hạ lưu” ở xã hội cũ” [3, 56] Và: “Mạch kể chuyện của Kim Lân dường như bắt rất nhạy vào những cảnh thương tâm: cảnh bỏ nhà xiêu dạt vì công nợ, thuế khóa, cảnh ăn xin, cảnh chết đường chết chợ, cảnh bị áp bức, đọa đầy…Có lẽ không

có cách diễn giải nào thay thế được chính lời lẽ của nhà văn” [3, 56] Đặc biệt:

“Truyện ngắn là thể loại chính của Kim Lân và mặc dù số lượng trang viết

không nhiều ông cũng đã góp vào nền văn xuôi của nước ta những truyện ngắn xuất sắc đáng được coi là mẫu mực” [3, 56]

Kể từ đó trở đi, Kim Lân ngày càng được đông đảo bạn đọc, giới văn nghệ sỹ, phóng viên, nhà nghiên cứu và phê bình văn học quan tâm nhiều hơn, nhất là từ năm 1996 khi “Tuyển tập Kim Lân” do Lữ Huy Nguyên tuyển chọn ra đời Càng ngày các bài viết về Kim Lân càng đa dạng về hình thức và nội dung

Đó là những bài ghi chép, phỏng vấn, trò chuyện với nhà văn Kim Lân trên các báo hoặc tạp chí Nội dung thường đề cập là: quan niệm viết văn của Kim Lân, lí do đến với văn chương và lí do “gác bút”, những kỉ niệm hồi viết văn trong kháng chiến, tình bạn với các nhà văn và cuộc sống Kim Lân Tiêu biểu là các bài:

+ Nguyễn Thế Vinh: Chân dung văn nghệ sĩ: Nhà văn Kim Lân- Báo Người Hà Nội, số 29, 1993

+ Hương Giang: Phỏng vấn “Vợ nhặt”- Báo Văn nghệ số 19/1993 + Kim Hoa: Ngòi bút Kim Lân và sự cày xới trên cánh đồng quê- Báo Nhân dân chủ nhật, số 34/1994

Trang 7

+ Đức Ngọc: Nhà văn Kim Lân, nhìn văn nghệ sỹ ở tác phẩm của họ- Báo Thể thao & văn hóa, số 75/1997

+ Thiên Sơn: Kim Lân và hình tượng người nông dân- Báo Điện ảnh ngày nay, số 24/1997

+ Bế Kiến Quốc: Nhà văn Kim Lân: Viết ít không phải là hay- Báo Đại đoàn kết, số 108/1998

+ Phan Hoàng: Kim Lân: Văn chương như một thứ tôn giáo- Phỏng vấn Người Hà Nội- Nxb Trẻ, 2000

+ Trần Quốc Khải: Đứa con người vợ lẽ- Báo Bắc Ninh, Tết Canh Thìn, 2000

+ Dy Ly: Nhà văn Kim Lân: Văn thế nào, người thế ấy- Báo Người

+ Lữ Huy Nguyên: Kim Lân với những thú chơi ngày xuân Kinh Bắc- Báo văn nghệ Tết Đinh Sửu- 1997

+ Hoài Việt: Đôi điều về Kim Lân- Những gương mặt văn nghệ sỹ- Nxb Hà Nội, 2003

+ Nguyên An: Nhà văn của làng quê nước Việt- Tạp chí nhà văn số 5/2000

+ Xuân Ba: Bây giờ cụ Kim Lân còn mỗi một mình- Báo Tiền phong,

số 106/2001

Trang 8

+ Hoài Anh: Kim Lân, nhà tiểu thuyết phong tục, sở trường về miêu

tả “trạng thái nhân thế”- Tạp chí văn (Hội Văn nghệ TP.HCM), số 13/2003

+ Nguyễn Khải: Nghề văn cũng lắm công phu- Nxb Trẻ, 2003

+ Nguyên Hồng: Hồi kí bước đường viết văn- Nxb Văn nghệ TP.HCM, 2000

Một lượng bài rất quan trọng, không thể thiếu đó là những bài viết phân tích, bình giá, phát hiện những nét đặc sắc trong các tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân, chủ yếu in ở các sách giảng văn dùng cho HS phổ thông hoặc các tài liệu tham khảo môn Văn Ở đây chúng tôi xin điểm lại các bài viết về “Vợ nhặt”

+ Tác giả Đỗ Kim Hồi: “Vợ nhặt”- Giảng văn Văn học Việt Nam-

Nxb Giáo dục, 2000 đã viết: “Kể cũng còn có thể nói nhiều điều nữa về Vợ nhặt Như nói về cái vốn liếng ngôn ngữ giàu có và đặc sắc của Kim Lân, cái

lối viết văn tưởng như dễ dàng mà không dễ phỏng theo, giản dị vô cùng mà sao cứ thấy ánh lên chất hào hoa Kinh Bắc Như về cách làm cho những tâm trạng kín đáo nhất phải hiện lên qua những cử chỉ mà chỉ cần thiếu đi một chút tinh tế, người ta sẽ bỏ qua: một tiếng gắt vô duyên vô cớ, một tiếng khẽ

ho, những bước chân bước vội ra sân, thái độ điềm nhiên và miếng cám vào trong miệng…Nhưng cái đọng lại cuối cùng trong tôi vẫn là cách nhìn đời, nhìn người đầy xót xa và thương yêu của nhà văn, là niềm tin mà dường như ông muốn trao gửi đến tất cả chúng ta qua thiên truyện ngắn” [43, 536]

+ PGS.TS Nguyễn Trọng Khánh trong cuốn “Chốt kiến thức Ngữ Văn trong chương trình THPT”- Nxb Giáo dục, 2008 đã đi sâu vào nghiên cứu tình huống độc đáo trong câu chuyện để từ đó nảy sinh những tầng bậc ý

nghĩa sâu xa của tác phẩm Tác giả viết: “Với một tình huống truyện độc đáo

và đặc biệt là sự chuyển biến tâm lí của các nhân vật theo chiều hướng tích cực hướng mạnh về phía sự sống và hạnh phúc, niềm tin, tác phẩm đã khơi

Trang 9

dậy những cảm hứng thẩm mỹ tích cực Đằng sau những tình tiết éo le, những hình ảnh ảm đạm về nạn đói khủng khiếp, tác phẩm thấm đượm một tinh thần nhân văn, nhân đạo cao cả, tạo được sức hấp dẫn lớn trong lòng người đọc”

[24, 193]

+ Trong cuốn “Phân tích – bình giảng tác phẩm văn học 12”- Nxb

Giáo dục, 2000, tác giả Nguyễn Quang Trung đã tìm thấy: “Thông điệp của

Kim Lân là một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn…Vợ nhặt là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ đã “biết sống” như con người ngay giữa thời túng đói quay quắt” [33, 77]

+ Còn PGS TS Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường”- Nxb Giáo dục, 2009 đã quan tâm

nhiều hơn tới định hướng phân tích tác phẩm Tác giả khẳng định: “Dạy học

loại truyện này không thể không phân tích sự vận hành của tình huống truyện, quá trình hình thành, diễn biến tâm trạng nhân vật Những điểm nút của tình huống truyện luôn có phẩm chất thẩm mỹ nghệ thuật cao nhất Câu hỏi hình dung tưởng tượng sẽ phát huy tác dụng xen kẽ với câu hỏi phân tích lí giải Đan xen con đường theo bước tác giả và theo nhân vật

Nếu quan niệm Vợ nhặt là truyện ngắn tự sự ta chỉ bám sát ba nhân vật: bà cụ Tứ, Tràng, người đàn bà theo hướng phân tích nhân vật Nhưng nếu quan niệm đây là truyện ngắn trữ tình hiện thực thì lại tập trung vào tình huống trữ tình hiện thực để từ đó mở rộng ra tâm trạng các nhân vật”

[6, 178]

Ngoài ra còn nhiều bài viết nữa như:

+ Nguyễn Thanh Vân: Phẩm giá con người trong truyện ngắn “Vợ nhặt”- Tiếng nói tri âm, Nxb Trẻ, 1994

+ Trần Ngọc Hiến: Một chi tiết hay trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân- Báo Giáo dục thời đại, số 22/1999

Trang 10

+ Tạ Đức Hiền: Vợ nhặt- 99 bài văn- Nxb Giáo dục, 1997

+ Lê Văn Vỵ: Tiếng cười trong tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân- Tạp chí ngôn ngữ và đời sống, số 8 (130), 2006

+ Phạm Ngọc Thưởng: Nghệ thuật xây dựng đối thoại trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân- Tuyển tập 10 năm Tạp chí Văn học & tuổi trẻ- Nxb Giáo dục, 2004

Hệ thống bài viết cuối cùng là những công trình nghiên cứu khoa học, chủ yếu là những luận văn ở cấp thạc sỹ Ở những luận văn này các tác giả đã hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp nói về tác phẩm “Vợ nhặt”

+ Nguyễn Văn Bao: Những giá trị tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn Kim Lân- ĐHSPHN, 1997

+ Trần Văn Hồng: Khuynh hướng phong tục trong sáng tác trước

1945 của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân- ĐHSPHN, 1999

+ Nguyễn Tiến Đức: Những đặc sắc của truyện ngắn Kim Lân- ĐHSPHN, 2002

+ Mã Thu Hà: Nông thôn và hình ảnh của người nông dân trong sáng tác của Kim Lân- ĐHSPHN, 2003

+ Nguyễn Thị Thu: Phong cách nghệ thuật Kim Lân- ĐHSPHN, 2004 + Đặng Thị Minh Ngọc: Truyện ngắn Kim Lân, nhìn từ phong cách thể loại- ĐHSPHN, 2005

+ Phạm Thanh Nga: Văn hóa Kinh Bắc và phong cách nghệ thuật Kim Lân- ĐHSPHN, 2005

+ Trần Thị Quỳnh Hoa: Xây dựng hệ thống tình huống có vấn đề phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân- ĐHSPHN, 2006

+ Nguyễn Thu Thảo: Dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân cho học sinh THPT từ cái nhìn văn hóa- ĐHSPHN, 2008

+ Nguyễn Thị Khiêm: Hướng dẫn học sinh phân tích chất thơ đời sống trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân- ĐHSPHN, 2009

Trang 11

3 Nhận xét chung

3.1 Các công trình nghiên cứu này phần lớn đều khai thác về một vài phương diện: quan điểm nghệ thuật, nội dung sáng tác, cốt truyện Đây là những công trình khoa học có ý nghĩa hết sức quý báu để người viết kế thừa

và phát triển

3.2 Các công trình về phương pháp giảng dạy đều đã tập trung khám phá nội dung, ngôn ngữ, nghệ thuật giúp cho GV có những hướng khai thác sâu hơn, mới mẻ hơn, giúp HS hiểu đúng đắn hơn về giá trị của tác phẩm, đề

ra những thiết kế giáo án hợp lí hơn Việc kết hợp ba hướng tiếp cận trong

DH tác phẩm văn học nói chung- hay vận dụng quan điểm đồng bộ đã được

GS Phan Trọng Luận đề cập đến nhưng cụ thể đối với tác phẩm “Vợ nhặt” thì chưa thực sự có Đây là đề tài đầu tiên đưa ra việc kết hợp nhiều hướng tiếp cận: văn hóa, thi pháp, phong cách, thể loại khi giảng dạy tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân trong trường phổ thông Ở đây, chúng tôi sử dụng khái niệm đồng bộ không đơn thuần chỉ gói gọn trong ba hướng tiếp cận của giáo trình mà ở phạm vi rộng hơn

III Mục đích nghiên cứu

Tìm cho được một cách DH thích hợp nhất đối với truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân qua tiếp cận đồng bộ

IV Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

1 Những công trình nghiên cứu về Kim Lân và những tài liệu liên quan đến tác phẩm “Vợ nhặt”

2 Tìm hiểu thực trạng của việc DH tác phẩm “Vợ nhặt” ở trường phổ thông qua phiếu điều tra GV, HS; qua giáo án của GV; qua các bài kiểm tra của HS

3 Từ đó phân tích và vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ để đi đến một phương án tối ưu cho việc DH tác phẩm “Vợ nhặt”

V Giả thuyết khoa học

Trang 12

Nếu DH tác phẩm “Vợ nhặt” theo quan điểm tiếp cận đồng bộ sẽ tránh

được tình trạng DH giáo điều, dạy “chay”, khô cứng, công thức, lối mòn, tận

dụng được lợi thế của từng hướng tiếp cận, đưa giờ học thực sự đúng bản chất của tác phẩm văn chương, góp phần vào việc đổi mới phương pháp DH truyện ngắn nói chung và truyện ngắn của Kim Lân nói riêng

VI Phương pháp nghiên cứu

1 Khái quát hóa lí luận từ đó đưa ra các định hướng phục vụ cho yêu cầu của đề tài

2 Khảo sát điều tra: sử dụng phiếu điều tra hoặc phỏng vấn trực tiếp

HS, GV về thực trạng dạy học tác phẩm “Vợ nhặt” ở trường phổ thông

3 Phân tích tổng hợp: khảo sát, phân tích văn bản từ đó tổng hợp thành một số vấn đề có ý nghĩa trong việc giảng dạy tác phẩm

4 So sánh: so sánh tác phẩm “Vợ nhặt” với một số tác phẩm khác cùng đề tài của Kim Lân và của các nhà văn khác

5 Thực nghiệm sư phạm

VII Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Điều tra thực trạng DH tác phẩm “Vợ nhặt” trong nhà trường phổ thông hiện nay

2 Tìm ra các biện pháp DH tối ưu cho tác phẩm: Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ

VIII Đóng góp của luận văn

1 Tìm ra những hạn chế trong DH tác phẩm “Vợ nhặt” hiện nay

2 Đặt “Vợ nhặt” trong nhiều hướng tiếp cận

3 Đề ra phương án tối ưu trong DH tác phẩm “Vợ nhặt”

4 Góp phần khắc phục tình trạng DH truyện ngắn đơn điệu như hiện nay

IX Cấu trúc luận văn

Ngoài phần phụ lục, luận văn gồm 129 trang và 3 phần sau:

Trang 13

Phần mở đầu (13 trang): Nêu lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, mục đích nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, giả thuyết khoa học, phương pháp nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, đóng góp của luận văn, cấu trúc luận văn

Phần nội dung gồm 3 chương:

1 Chương I (24 trang): Vị trí truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân trong lịch sử văn học, trong nhà trường và hướng tiếp cận

2 Chương II (41 trang): Thực trạng dạy học và nghiên cứu “Vợ nhặt” của Kim Lân trong nhà trường THPT

3 Chương III (49 trang): Các biện pháp dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân theo hướng tiếp cận đồng bộ

Phần kết luận (2 trang)

Trang 14

1.1 Vị trí truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân trong lịch sử văn học

Nhà văn Kim Lân (1920- 2007), tên thật là Nguyễn Văn Tài, người làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh) Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó ông chỉ được học hết bậc Tiểu học rồi vừa đi làm thợ kiếm sống (sơn guốc, khắc tranh bình phong) vừa viết văn Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941 Tác phẩm của ông được đăng

trên các báo Tiểu thuyết thứ bảy và Trung Bắc chủ nhật Năm 1944, Kim Lân

tham gia Hội Văn hóa cứu quốc và từ đó cho đến khi qua đời, ông liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim)

Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn Kim Lân viết không

nhiều nhưng được coi là “thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của

văn học Việt Nam hiện đại” Thế giới nghệ thuật của ông là khung cảnh làng

quê và hình tượng người nông dân Đó là mảng hiện thực mà ông gắn bó và hiểu biết sâu sắc Ông rất sành về cảnh quê, người quê và thế giới của hương đồng gió nội này cộng với một tấm lòng thiết tha hiếm có đã tạo nên những trang viết sâu sắc, cảm động nhất của ông Ông viết về phong tục và đời sống làng quê: những thú chơi và sinh hoạt văn hóa cổ truyền của người nông dân

vùng đồng bằng Bắc Bộ được gọi là những “thú đồng quê” hay “phong lưu

đồng ruộng” như chơi non bộ, thả chim, đánh vật, chọi gà, nuôi chó săn…

Ông viết chân thật và xúc động về đời sống người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ- những con người gắn bó tha thiết, thủy chung

Trang 15

với quê hương cách mạng Sáng lên trong các tác phẩm của ông là vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam, những người sống cực nhọc, lam lũ, nghèo khổ nhưng vẫn yêu đời, chất phác, hóm hỉnh và tài hoa

Con người có một đời văn khá dài ấy (trên 50 năm) không hiểu kĩ tính thế nào mới trình làng vẻn vẹn có hai tập truyện ngắn: Nên vợ nên chồng (1955) và Con chó xấu xí (1962) Nhưng nghệ thuật không quen đo đếm ở số lượng Chỉ một truyện như “Vợ nhặt” (rút từ tập Con chó xấu xí)- vốn được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân- cũng có thể là niềm mơ ước của nhiều người cầm bút “Vợ nhặt” đã từng được nhà văn Nguyễn Khải xếp

vào một trong số rất ít các tác phẩm văn học đương đại Việt Nam “mới đọc

dường như chẳng có gì cả nhưng lại có khả năng làm kinh động lòng người”

Nói như Đỗ Kim Hồi trong cuốn “Giảng văn văn học Việt Nam”-

Nxb Giáo dục, 2000: “Kim Lân thuộc vào số ít nhà văn có thể minh chứng

cho chân lí “quý hồ tinh bất quý hồ đa” trong nghệ thuật…Ấy vậy nhưng khi

kể ra những gương mặt làm nên bản sắc của văn xuôi Việt Nam trong mấy chục năm trở lại đây thì lại khó có thể bỏ sót tên tuổi của Kim Lân Nếu được phép bắt chước cách nói của Hoài Thanh về Nguyễn Nhược Pháp thì có thể nói: Kim Lân đứng ở hàng đầu trong số các cây bút văn xuôi viết ít mà càng ngày càng được khâm phục rất nhiều Một nhà văn viết cho thiếu nhi đã lấy truyện Ông cản ngũ của ông làm mẫu mực Một nhà văn khác gần đây có kể

ra bốn tác phẩm văn xuôi xếp vào loại gần như “thần bút” thì hai trong số đó- các truyện ngắn Làng và Vợ nhặt- là của Kim Lân Mà giữa hai truyện

ấy thì theo dư luận của nhiều bạn văn do chính Kim Lân phản ánh, Vợ nhặt

có phần xuất sắc hơn Làng” [43, 527]

Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài Nó vốn được rút ra

từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước cách mạng) Hòa bình lập lại, do đơn đặt hàng của báo Văn nghệ, Kim

Trang 16

Lân mới viết lại Riêng điều đó thôi đã thấy “Vợ nhặt” mang dấu ấn của

cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ

lưỡng về nghệ thuật

1.2 Vị trí truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân trong nhà trường

Trong chương trình Ngữ văn phổ thông “Vợ nhặt” là một trong những

tác phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng bởi nó kết tinh nhiều giá trị: giá trị tố

cáo, giá trị nhân văn, giá trị nhân bản và trên hết là giá trị nhân đạo sâu sắc

Truyện ngắn “Vợ nhặt” được xây dựng trên cái nền của nạn đói khủng khiếp

năm Ất Dậu (1945), trong có mấy tháng trời đã cướp đi của Việt Nam một

phần mười dân số Có làng chết gần hết; có nhà chết chẳng còn ai; nhiều

người chết lả trên đường đi, chết gục bên gốc cây, chết lăn nơi ngòi rãnh, hè

nhà, quán chợ,…Nhiều gia đình, nhiều người phải ăn cháo cám, rau má, củ

chuối,…cầm hơi mà vẫn không thoát chết Sự kiện bi thảm này đã từng được

miêu tả trong các bài thơ nổi tiếng Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (Văn

Cao), Xuân đến và Đói! Đói! (Tố Hữu), trong các tác phẩm Địa ngục

(Nguyên Hồng), Mười năm (Tô Hoài), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi),…Trong

số những tác phẩm viết về nạn đói năm Ất Dậu, truyện ngắn “Vợ nhặt” có

một giá trị đặc biệt Hiện thực về nạn đói thê thảm ấy hắt bóng đen lên từng

trang viết, ám ảnh tâm trí người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm Đồng thời từng

trang viết của tác phẩm cứ lấp lánh sáng lên niềm khao khát mãnh liệt của

người dân lao động nước ta về hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt của họ

đối với sự sống và tương lai, là tình thương yêu cưu mang đùm bọc lẫn nhau

của những con người nghèo khổ ngay cả khi mấp mé bên bờ vực của cái chết

Tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc, có giá trị nhân đạo cao cả, xứng đáng

được xem là một trong những kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam

Đưa “Vợ nhặt” vào chương trình Ngữ văn 12 giúp cho HS:

Trang 17

+ Hiểu được tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra

+ Hiểu được niềm khát khao hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt vào cuộc sống và tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa những con người lao động nghèo khổ ngay trên bờ vực thẳm của cái chết

+ Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật: sáng tạo tình huống, gợi không khí, miêu tả tâm lí, dựng đối thoại

2 Các hướng tiếp cận tác phẩm “Vợ nhặt”

Hiện nay, việc tiếp cận tác phẩm văn học trong nhà trường khá đa dạng

và phong phú Tiếp cận thế nào sẽ dạy như thế ấy Bởi vậy, đứng trước mỗi bài học đòi hỏi người GV phải có sự nghiên cứu, tìm tòi kỹ lưỡng các mặt cả

về tác giả và tác phẩm Có như vậy bài giảng mới đi đúng hướng và đạt hiệu qua dạy học cao nhất Riêng đối với truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân chúng tôi sẽ dựa trên một số hướng tiếp cận sau:

2.1 Hướng 1: Từ thi pháp truyện ngắn Kim Lân

2.1.1 Từ quan niệm nghệ thuật về con người đến thế giới nhân vật

2.1.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người

Văn học phản ánh hiện thực, tất yếu nó cũng phản ánh nhận thức của nhà văn về con người Nhà văn quan niệm về con người đúng thì cũng lái tác phẩm của mình đi đúng đường Nhân vật của Kim Lân là những mẫu người

“đầu thừa đuôi thẹo”, đều có một nét tính cách nào đó đậm đà, đáng nhớ

Những sinh thể nghệ thuật ấy được tạo nên từ quan niệm về con người của nhà văn Còn quan niệm nào giản dị mà sâu sắc, cao đẹp hơn quan niệm này

của Kim Lân: “Nếu mà gọi là chọn con đường nào cho văn học từ xưa tới nay

nó cũng chỉ có một con đường: con đường vì con người, vì đời sống, vì tình thương yêu, vì cái phấn đấu trước mắt” Có phải vì thế mà ngay từ sáng tác

đầu tay (viết khi ông còn là một anh thợ sơn guốc), Kim Lân đã tìm được một hướng đi đúng đắn cho ngòi bút của mình: viết cho người nghèo, viết để giúp

Trang 18

cho những người nghèo chống lại áp bức bất công Kim Lân rất coi trọng con người, yêu quý con người Theo ông, cốt lõi của con người là tốt, là bản tính thiện Nếu một lúc nào đó, con người có xấu thì đó là do hoàn cảnh, môi trường tạo nên Ông viết văn để giúp người đọc nhận thấy không phải là con

người ta giỏi thế nào mà là người ta tốt được đến đâu, bởi “chỉ có cách cư xử

tốt đẹp, có văn hóa giữa người với người mới bền vững, vĩnh cửu” Kim Lân

còn khẳng định rõ: “Khi viết, tôi không thích viết về những người anh hùng

mà thích viết về những người lao động nghèo khổ Bởi cơ sở của người cầm bút là tình yêu thương nghèo” Và “khi sáng tác, cái thôi thúc tôi nhiều nhất

là đòi cho những người thiệt thòi không phải thiệt thòi nữa, đòi cho con người cái quyền thiêng liêng của con người và bênh vực cho con người” Thêm nữa,

khi cầm bút sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sỹ phải tin tưởng vào con người

và đem lại cho con người những điều tốt đẹp Kim Lân còn ví: nhà văn khi

viết như phải đứng trước “pháp trường trắng” (chữ dùng của Nguyễn Tuân),

viết tác phẩm không phải vì lợi nhuận cũng không phải vì danh tiếng mà trước hết là vì một mục đích cao đẹp: đóng góp một tiếng nói bênh vực những người nghèo khổ giữa cái xã hội bất công Ấy cũng là sứ mệnh thiêng liêng, cao cả của mọi ngòi bút chân chính Chính quan niệm nghệ thuật đầy ý nghĩa nhân văn này đã chi phối mọi yếu tố của sáng tác văn chương Kim Lân mà trước hết là cách lựa chọn đề tài, xây dựng kiểu nhân vật riêng biệt, in rõ cá tính sáng tạo của văn xuôi Kim Lân

2.1.1.2 Thế giới nhân vật

Mỗi nhà văn có một “vùng đối tượng thẩm mỹ riêng”, tự nó đã ghi dấu

ấn của chủ thể sáng tác Đối với Kim Lân, vùng đề tài mà ông ưa thích nhất

và cũng chỉ có thể viết hay về những đề tài ấy là mảng đề tài về nông thôn, về cuộc sống của những người lao động nghèo khổ, mảng sống mà từ lâu ông hiểu biết khá kỹ lưỡng và gắn bó với nó bằng tất cả tình cảm, tâm hồn của một người vốn là con đẻ của đồng ruộng Tương ứng với vùng đề tài ấy là kiểu nhân vật của riêng Kim Lân

Trang 19

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân khá phong phú, gồm

đủ các giới (nam có, nữ có…); đủ các lứa tuổi (người lớn có, trẻ em có…); đủ các tầng lớp giai cấp (tầng lớp trên, tầng lớp dưới, địa chủ, nông dân…) Trong số đó kiểu nhân vật sở trường của truyện ngắn Kim Lân có thể khái quát lên đó là những người nghèo, nhưng nghèo mà tài giỏi, nghèo mà tốt Cụ thể:

* Kiểu nhân vật thượng võ:

Đó là những nhân vật nghèo khó mà tài giỏi, giàu tinh thần thượng võ của miền quê Kinh Bắc Thế giới của những anh tài bình dân này cũng muôn màu muôn vẻ, hội tụ các gương mặt thuộc nhiều thế hệ, nhiều lứa tuổi: nào là những tay đô lão luyện, dày dặn như cụ Cả Lẫm, ông Cản Ngũ (Ông Cản Ngũ); nào là những đô vật trẻ trai, sung sức như đô Vựa (Cầu đánh vật)…Mỗi người một vẻ, mỗi người xuất sắc theo một lối, mỗi người giỏi giang theo một kiểu

Có thể nhận thấy các nhân vật thượng võ của Kim Lân đều là những người nghèo Những nhân vật ấy vừa có tài, vừa có tâm, tài thứ thiệt và tâm mộc mạc kiểu người lao động, người quê nhưng lại bền vững muôn đời Họ là những anh tài của đất Việt

Ca ngợi vẻ đẹp của những đô vật lừng danh, Kim Lân đã khẳng định phẩm chất cao quý, tinh thần thượng võ của con người Việt Nam Đồng thời nhà văn cũng đề cao những giá trị văn hóa cổ truyền, tinh hoa văn hóa của dân tộc, những giá trị được tạo dựng nên từ những con người “nghèo mà không hèn”

* Kiểu nhân vật tài tử đồng quê- những con người nghèo khó mà cao sang, lam lũ mà phong lưu, với những thú vui, trò chơi nơi thôn dã Họ chính

là những người đã gìn giữ và phát huy tinh hoa văn hóa của làng quê, văn hóa Việt Nam mà đặc biệt là văn hóa vùng Kinh Bắc Người này say sưa với thú

Trang 20

thả chim (Ông Trưởng Thuận), chơi gà chọi (Ông Cả Chuẩn), người khác lại

mê mải với chơi chó săn (Ông Cả Nội)…Tất cả đều sành sỏi, đam mê với thú chơi Ở họ nhiều khi còn ánh lên chất kiêu bạc đồng quê rất đáng yêu và đáng quý Có thể nói, qua những trang viết về những thú phong lưu đồng ruộng,

Kim Lân giúp người đọc nhận biết: “Sau lũy tre xanh từ bao đời nay, người

nông dân sống lam lũ, cần cù nhưng tháng ba ngày tám và những buổi sang xuân vẫn tổ chức những trò vui, qua đó thể hiện sự thông minh, tài hoa, tâm hồn tươi sáng, lành mạnh, yêu đời và những phong tục “đất lề quê thói” của con người Phù Lưu- chợ Giàu coi trọng lễ hội và nhân tình” [37, 26-27] Ở

những nhân vật nghệ sỹ đồng quê của Kim Lân ánh lên chất hào hoa Kinh

Bắc đáng yêu và đáng quý Có phải nhờ thế mà Kim lân được coi là “đại diện

văn học sáng giá của những lớp người tài hoa, bặt thiệp phong lưu” [37,

26-27] Truyện ngắn Kim Lân đã khẳng định sức sống lâu bền của những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc, khẳng định tình yêu làng, yêu nước của con người Việt Nam

* Kiểu nhân vật “thấp cổ bé họng”, “đầu thừa đuôi thẹo”- những người nghèo khổ mà tốt đẹp, khốn khổ mà cao quý Đây vẫn là những người lao động nghèo, thậm chí rất nghèo Mỗi người một cảnh ngộ, một số phận Người thì trôi dạt khốn cùng bởi chiến tranh, giặc giã, bởi đói khát cùng đường: ông Tư Mủng (Bố con ông gác máy bay trên núi Cối Kê), ông Mộc

Gù, dì Bản (Người chú dượng)…Người thì bị chà đạp, áp bức, bóc lột, khinh rẻ: anh Thế, chị Hòa (Nên vợ nên chồng), anh em Viên (Tìm em), chị Nhâm… Nghèo khổ thật, khốn cùng thật, nhưng kỳ lạ thay ở những con người này vẫn lấp lánh một vẻ đẹp tâm hồn: lòng vị tha, đức hy sinh, niềm khát khao sống, thiết tha hạnh phúc…Xây dựng kiểu nhân vật này, Kim Lân không quan tâm nhiều đến việc họ giỏi thế nào mà tập trung làm nổi bật những phẩm chất đạo đức cao đẹp của họ

Trang 21

Xuất phát từ quan điểm sáng tác: viết cho người nghèo, cho nên như một lẽ tự nhiên, Kim Lân đã trở thành nhà văn của những người nghèo khổ Cũng bởi thế, chiếm số lượng nhiều nhất trong truyện ngắn Kim Lân là kiểu

nhân vật “thấp cổ bé họng” Mạnh dạn bước chân vào một con đường đã quá

quen thuộc, một mảnh đất đã được cày xới kỹ lưỡng, sáng tác của Kim Lân vẫn có cách nhìn, cách miêu tả, cách thể hiện riêng, độc đáo Ngòi bút Kim

Lân tập trung miêu tả số phận của những con người như là đầu thừa đuôi thẹo

ở khắp xó xỉnh của cuộc sống Những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo này đã

tràn vào thành dòng, có diện mạo, hồn cốt riêng biệt, ấn tượng như đóng dấu, như xăm chàm trong nhiều tác phẩm của nhà văn Chính vì vậy, Vương Trí

Nhàn đã có lý khi khái quát rằng “Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi

thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách tự nguyện” [37, 28] Trong đó, Kim Lân quan tâm nhiều nhất đến

những người ngụ cư Đây là nét độc đáo chỉ có trong văn Kim Lân

Trước hết, những nhân vật “đầu thừa đuôi thẹo” này là hiện thân của cái nghèo, cái đói, cái khổ Mỗi người một số phận, một cuộc đời: một “đứa

con người cô đầu” bị mẹ nhẫn tâm bỏ rơi, sống chơ vơ, tủi cực trong cuộc

sống mưu sinh; một “người kép già” hết thời chỉ biết vùi dập cuộc đời còn lại

của mình trong làn khói thuốc phiện…và nhiều nhất là những người nông dân nghèo không sống nổi ở làng mình phải bỏ làng đi phiêu bạt khắp nơi Tất cả đều giống nhau ở cái đói nghèo, khốn khổ Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp

cái thế giới của những người thường dân nghèo khổ vốn là hạng “hạ lưu” ở xã

hội cũ: những người nông dân miền xuôi mất nhà, mất đất xiêu dạt lên miền ngược, túp vào một xóm chợ bên sông, một góc phố núi hay ven một đồn điền; một xóm trại, tiếp tục vật lộn với miếng sống sơ đẳng hàng ngày Người nông dân trong sáng tác của Ngô Tất Tố, Nam Cao cũng nghèo, cũng khổ nhưng vẫn là dân gốc ở nơi mình sống Lão Hạc còn có vườn, chị Dậu

Trang 22

còn có ruộng, đến như Chí Phèo cũng còn có một túp lều che mưa che nắng Còn người nông dân của Kim Lân không có lấy một tấc đất cắm dùi, phải lang thang khắp chốn cùng đường, bị ném vào cuộc mưu sinh hết sức nghiệt ngã Không có ruộng đất, không có việc làm, tất yếu dẫn đến cái đói Nếu cái nghèo ở Ngô Tất Tố, cái đói ở văn Nam Cao khiến người ta thương cảm, muốn rơi nước mắt thì cái đói, cái chết trong văn Kim Lân khiến người ta khiếp sợ, rụng rời

Đọc những trang viết của ông lấp lánh lên một sức sống, ấm áp một niềm tin mãnh liệt vào nghị lực, vào phẩm giá, vào khát vọng cao đẹp của con

người Dù sống trong cảnh ngộ khốn cùng, những con người “đầu thừa đuôi

thẹo” vẫn không bị tiêu diệt, không gục ngã, họ vẫn trụ được, hơn nữa lại

vượt lên chiến thắng với một sức sống mãnh liệt, phi thường Càng trong hoàn cảnh sống mờ tối, lay lắt, niềm khát khao được sống hạnh phúc và tình thương yêu giữa những con người nghèo khổ càng tỏa sáng, bất diệt Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc còn làm cho con người ta trở nên lương thiện, đầy ước mong và những ý nghĩ tốt lành Điều đáng quý và cũng đáng trọng là bởi niềm khát khao ấy cứ âm thầm vươn lên từ đói khát, tối tăm rồi tất yếu những người nông dân nghèo sẽ tìm đến với cách mạng, gắn bó với cách mạng, tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình trong cuộc sống mới của đất nước, của dân tộc sau cách mạng tháng Tám

2.1.2 Từ cốt truyện và thủ pháp tạo dựng truyện

2.1.2.1 Cốt truyện

“Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư

tưởng và nghệ thuật nhất định tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [42]

Trang 23

Mỗi nhà văn hiện thực thường có khuynh hướng lựa chọn cho mình một kiểu cốt truyện riêng Ở Kim Lân, theo Lại Nguyên Ân có thể kể ra ba kiểu truyện chính:

Kiểu thứ nhất, phổ biến hơn cả có thể gọi là những truyện ngắn tính

cách Nhiệm vụ nghệ thuật mà nhà văn đề ra đó là vẽ ra một con người Đây

là phương hướng sở trường của truyện ngắn Kim Lân Do đó, không phải ngẫu nhiên các truyện của ông đều được đặt theo tên nhân vật chính như: Ông Cả Luốn gốc me, Người chú dượng, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, Chị Nhâm…

Kiểu thứ hai, hơi khác chút ít với kiểu truyện ngắn tính cách này Đây

được gọi là kiểu truyện ngắn tình huống Diễn biến của truyện không nhằm

khám phá thêm một nét tính cách nào của một số các nhân vật cái được chú ý miêu tả ở đây là một tình huống Ví dụ như “Vợ nhặt” là truyện ngắn không chú tâm hẳn vào nhân vật nào

Kiểu thứ ba, là kiểu truyện mà Kim Lân viết rất ít Đó là loại truyện

có hơi hướng ngụ ý (giống “Đôi mắt” của Nam Cao), cũng thuộc thể loại

truyện về những người cùng giới cầm bút, về sự phân hóa, về sự đảo ngũ, phản bội của một số kẻ trong giới Ở đây có đôi chút tự truyện Nhưng cái

chính nói tới thời “nhận đường” của văn nghệ sỹ, nói tới lập trường mà nhà

văn đã lựa chọn cho mình: đi với dân tộc, đi với kháng chiến Lập trường này toát ra cái ác cảm đối với kẻ cầm bút đồng nghiệp rốt cuộc đã đảo ngũ,

đã “dinh tê”

Một đặc điểm nữa của cốt truyện Kim Lân là tính hiện thực rất cao Ông thường kể: “Những truyện tôi thích và cũng được nhiều người thích là

những truyện tôi viết về tôi, về những người xung quanh: Đứa con người vợ

lẽ, Vợ nhặt, Làng, Bố con ông lão gác máy bay trên núi Cối Kê, Trả lại

đòn, Người chú dượng…” Và đặc biệt là: “ông không thể viết những gì mà

Trang 24

không có mình trong đó hoặc có viết cũng khó thành công như: Nên vợ nên

chồng (tập truyện), Cô gái công trường (truyện phim), mặc dù đó là những

tác phẩm rất kịp thời và có ích” (Lữ Huy Nguyên) Đó cũng là lí do phần lớn

nội dung cốt truyện của Kim lân thường được lấy từ hiện thực Đây là tâm sự

của Kim Lân: “Truyện ngắn đầu tiên của tôi có cái tên là “Đứa con người vợ lẽ”, in ở tờ Trung Bắc chủ nhật, khoảng năm 1940-1941 đúng là chuyện của

mình, với tất cả nỗi hờn tủi của mẹ con tôi Truyện in rồi, ông anh cả tôi (con

bà cả) cứ lục vấn, hạch sách tôi mãi”

2.1.2.2 Thủ pháp tạo dựng truyện

Để tạo ra một cốt truyện phản ánh cái nhìn của nhà văn đồng thời bộc

lộ tư tưởng tác phẩm, Kim Lân thường hay sử dụng các thủ pháp nghệ thuật như: thủ pháp đối lập, thủ pháp tạo tình huống, thủ pháp tạo sự bất ngờ Đây cũng là những thủ pháp nghệ thuật thường gặp trong các truyện dân gian

* Thủ pháp đối lập

Là thủ pháp tạo ra sự xung đột, mâu thuẫn trong tác phẩm giữa các nhân vật với nhau về địa vị xã hội, kinh tế, tạo ra những suy nghĩ, những tính cách trái ngược nhau, qua đó toát lên ý nghĩa xã hội

Trong các truyện ngắn của mình, đặc biệt là ở những truyện viết về

số phận lam lũ, cơ cực, đói khát của những người dân quê, Kim Lân thường tạo ra sự đối lập ấy bằng cách đặt nhân vật trong sự tương phản về địa vị xã hội (Đứa con người vợ lẽ), về tư tưởng (Con chó xấu xí, Ông cả Luốn gốc me), hoàn cảnh môi trường và nhân vật (Vợ nhặt), kẻ áp bức- người bị áp bức (Nên vợ nên chồng, Tìm em, Chị Nhâm), kẻ giàu- người nghèo, người tốt- kẻ xấu

Như trong Đứa con người vợ lẽ, Kim Lân đã tạo ra mâu thuẫn bằng sự đối lập hai nhân vật ông Cả và Tư Ông Cả thì to béo, Tư thì gầy còm; ông Cả thì ăn bát phở một hào chê rẳng, còn Tư thì chỉ húp nước đã thấy ngon và

Trang 25

nghĩ đến cơm nguội chan còn ngon nữa…sự đối lập đã cho thấy nỗi khổ của đứa con người vợ lẽ Ngoài ra, còn một sự đối lập nữa là đối lập giữa tình anh

em và bạn bè Ông Cả thì dù ăn phở thấy rẳng nhưng cũng chẳng hề mảy may nghĩ đến em đang đói cồn cào, xem ở nhà đã ăn gì chưa; ông thản nhiên ngồi

ăn xong xách cặp đi Còn Thân- bạn Tư, có ít hạt mít cũng mang sang cho bạn Và Tư dù rất đói, vừa bóc hạt mít đã nghĩ ngay đến chuyện phần mẹ Sự đối lập của các nhân vật ấy đã tự nó nói lên sự phi lí trong quan hệ tình cảm,

sự xuống cấp về đạo đức trong gia đình với những thiệt thòi, ghẻ lạnh mà

“đứa con người vợ lẽ” phải gánh chịu

Ở Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê, Kim Lân cũng tạo ra được một tình thế ẩn để nhân vật lựa chọn Đó là sự đắn đo ở lại gác máy bay cho dân phố hay là chuyển nhà cùng vợ con Vì gác máy bay như thế có lợi lộc gì đâu Chẳng qua người ta tín nhiệm, người ta bầu thì ông cứ nhận Thế nhưng mỗi lần hoàn thành công việc ông lại thấy người mình nhẹ nhõm, thảnh thơi như vừa trút được gánh nặng Mặc dù cứ mỗi bận có máy bay bắn phá, vợ chồng ông lại cãi nhau nhưng cuối cùng ông vẫn không chuyển đi vì ông quý mảnh đất nơi đây, vì ông muốn mọi người xung quanh ông được yên tâm làm ăn…Đó là sự lựa chọn của một người yêu làng, yêu nước, sống đầy

Trang 26

tinh thần trách nhiệm với mọi người Chính sự lựa chọn ấy đã bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của Tư Mủng- ông lão gác máy bay không công nhưng làm việc đầy tinh thần trách nhiệm

* Thủ pháp tạo sự bất ngờ

Là thủ pháp sử dụng yếu tố ngẫu nhiên trong cuộc sống để xây dựng cốt truyện Đây là thủ pháp thường gặp trong các truyện dân gian, nhất là cổ tích, nhằm tạo ra một kết thúc có hậu với sự xuất hiện của các nhân vật như thần, bụt, mưa gió, sấm chớp…

Kế thừa thủ pháp này, Kim Lân đã tạo ra trong các truyện của mình những tình huống éo le, đẩy nhân vật vào đường cùng, câu chuyện đang hồi gay cấn thì lại được cởi nút bằng một yếu tố bất ngờ nhưng không phải là sự có mặt của các yếu tố siêu nhiên như trong các truyện dân gian thường gặp mà là sự có mặt của chính con người của những chi tiết có thực, đây cũng là nét mới của truyện ngắn Kim Lân Với cách làm đó, Kim Lân đã tạo được sự bất ngờ, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc Đồng thời, đó cũng là cách để nhà văn nhằm tạo một kết thúc có hậu (như trong cổ tích), một kết thúc tốt đẹp như lòng người mong muốn, khiến họ lạc quan hơn, tin tưởng vào tương lai tươi sáng hơn

Như trong Đôi chim thành, Trưởng Thuận chiều lòng mọi người mà

thả đàn chim cho họ xem “Đàn chim chìm vào mây xanh”, mọi chuyện coi như tốt đẹp thì “Đột nhiên trời tối sầm lại Mây đen từng lớp vần vụ từ phía

đông tiến lên Gió ở đâu ùa tới quét sạch cái không khí nặng nề khó thở đi Bụi bốc mù đường, xoắn lại thành từng cơn lốc Cây cối quằn quại rú thét lên” rồi “Trời mưa ào ào, như trút nước xuống Cống rãnh kêu ồ ồ”, khiến

đàn chim của ông Trưởng “trôi tiệt cả” Đã năm hôm nhà “vắng vẻ”, không

có tiếng chim gụ nhau, bay lên bay xuống Thì bỗng đến ngày thứ sáu, chúng

ở đâu bay về “sà xuống nóc nhà”, “vun vút”, “phanh phách” Trưởng Thuận đang lên “cơn sốt rét”, “rên hừ hừ” bỗng trở nên nhanh nhẹn “vùng trở dậy”,

“chạy ra sân” dù còn “run lẩy bẩy”

Trang 27

2.1.3 Từ ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật

2.1.3.1 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học Vì vậy, văn học

được coi là loại hình nghệ thuật ngôn từ Hơn nữa “ngôn ngữ văn học là một

trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn” (Goor-ki)

Kim Lân là nhà văn mà Nguyễn Khải từng thần phục: “Về văn xuôi, là

cái nghề của tôi, trước sau tôi thần phục có ba người là các ông Nguyễn Tuân, Nam Cao, Kim Lân Sau này viết được cái gì thường cũng lấy văn của

ba ông làm chuẩn” [22, 21] Nguyễn Khải không tin được rằng Kim Lân lại

có thể viết được Làng, Vợ nhặt, cũng như Nam Cao lại viết được Chí Phèo

Ông cho rằng đó là “thần viết, thần mượn tay để viết nên những trang sách

bất hủ” [22, 22] Kim Lân còn được Nguyên An đánh giá là “nhà văn kỹ lưỡng, tinh tế trong việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu tài hoa trong việc lựa chọn ngôn từ, hình ảnh” [1]

Đặc điểm ngôn ngữ dễ nhận ra trong truyện ngắn Kim Lân đó là sự

giản dị, tự nhiên Đó là việc sử dụng một loạt các từ đệm, từ biến âm, từ

luyến láy, khẩu ngữ, thành ngữ, từ địa phương được Kim Lân đưa vào tác phẩm Tiêu biểu là các truyện: Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy trên núi Côi Kê…

Ví dụ như cách dùng từ đệm: “Cụ bảo rằng thì là dân ta chỉ muốn Độc

lập và thống nhất thôi” [38, 171]; cách dùng từ biến âm: “Thì vưỡn! Lúa dưới

ta vẫn tốt nhiều chứ” [38, 185]; cách dùng từ luyến láy: “Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sáng sủa một tý chứ” [38, 203]…

Bên cạnh đó ngôn ngữ truyện ngắn Kim Lân còn thể hiện sự “thôi

xao” kỹ lưỡng Qua các trang miêu tả của Kim Lân, ta còn thấy một sức

hấp dẫn “ma mị” người đọc của nhà văn nữa là cách dùng các từ láy gợi

Trang 28

hình, gợi thanh và gợi cảm Qua đó, thể hiện giọng điệu, thái độ, tình cảm

cũng như ý đồ nghệ thuật của tác giả Ví dụ: “Mấy mái nhà tranh xám nhô

ra khỏi bụi cây chuối, lá óng như lụa đang thong thả bốc khói Những làn khói bốc lên dật dờ bay theo gió, in lên nền trời xanh ngắt một nét nhẹ nhàng, thanh thoát…” [38, 29]

Tóm lại, tuy có ảnh hưởng của quan điểm truyền thống trong miêu tả nhưng Kim Lân đã khéo léo tạo ra những đoạn văn hết sức sinh động, giàu màu sắc biểu cảm Không những thế, ở Kim Lân còn thể hiện một sự sáng tạo rất độc đáo qua cách chọn từ ngữ, bố trí, sắp xếp…những cảnh vật đan xen vào nhau, tạo ra sự sinh động, hài hòa của bức tranh cuộc sống

2.1.3.2 Giọng điệu trần thuật

Trong văn học, giọng điệu “là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng,

đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả, thể hiện trong lời văn qui định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm” [42, 111]

Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường đa dạng, có nhiều sắc thái

trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo chứ không đơn điệu “Trong một

tác phẩm văn học thường có giọng chủ yếu và những giọng điệu khác Giọng điệu chủ yếu tạo thành âm hưởng chung, bao trùm lên toàn bộ tác phẩm Nó quyết định nhiều khâu, nhiều yếu tố trong việc xây dựng tác phẩm, kể cả phương thức, cách thức xây dựng nhân vật Tìm được giọng điệu phù hợp sẽ giúp cho nhà văn kể chuyện hay hơn, thể hiện được sâu sắc hơn lý tưởng thẩm mĩ của mình Giọng điệu chủ yếu thường được thể hiện ngay từ những dòng đầu tiên của tác phẩm” [49, 224]

Với Kim Lân, ông quan niệm: “Viết phải bằng cái giọng của mình thì

mới viết được” “Chất giọng thường xuyên trong các truyện của Kim Lân là chất giọng thực sự văn xuôi Nó không thích hướng vào chất trữ tình, không

Trang 29

thích nống lên thống thiết Nó thích phô bày cái nôm na thực thà, đáng yêu, nhưng cũng đáng tức cười của những sự vật xung quanh chứ không thích phủ lên các sự thật ấy một sự cảm động đến rưng rưng” [3, 62]

Thông qua các tác phẩm của mình, Kim Lân đã tạo được một giọng điệu riêng Khi thì trầm buồn gần với cổ tích, khi thì thân mật, suồng sã, khi thì xót xa thương cảm, khi thì mỉa mai phẫn uất Tuy nhiên, ở từng truyện, thuộc từng đề tài, chủ đề khác nhau, Kim Lân đều có sự lựa chọn giọng điệu cho mình sao cho phù hợp với truyện, với nhân vật

Trước hết là giọng điệu chủ đạo bao trùm các truyện ngắn viết về

phong tục của Kim Lân Đó là giọng điệu trầm buồn thủ thỉ, gần với giọng

cổ tích hay truyền thuyết Điều này thể hiện ở một loạt các truyện như:

Thượng tướng Trần Quang Khải- Trạng Vật, Trả lại đòn, Người chú dượng, Bà mẹ Cẩn, Anh chàng hiệp sĩ gỗ, Ông Cản Ngũ Giọng điệu chủ đạo ấy thường được thể hiện ngay từ những dòng đầu tiên nên hầu hết những truyện ngắn này đều được bắt đầu bằng lời kể về một không gian có kèm theo thời gian và sự xuất hiện của nhân vật, ở đó có một vẻ gì rất hoang vu, tĩnh mịch, đượm buồn bởi một không gian khác lạ, có vẻ ly kỳ

và dường như bị thời gian phủ bụi

Song “Có một cái gì đó chân chất của đời sống con người nghèo khổ,

khổ đau, giọng văn rung cảm thắm thiết” [48, 82] Ở Kim Lân, nhất là những

trang viết về số phận éo le của người nông dân, ta thấy nhà văn thường sử

dụng giọng điệu cảm thương, xót xa Điều này được thể hiện qua các truyện

ngắn như Đứa con người vợ lẽ, tập Nên vợ nên chồng…Cụ thể ở tập “Nên

vợ nên chồng” Kim Lân đã viết với những trang tố khổ đầy nước mắt Đó là

nỗi lòng của người cha phải gạt con trừ nợ trong Chị Nhâm: “Ông thương

Nhâm quá Ông biết rằng con ông sa vào nhà thằng tổng Đáng, thì không khác gì sa vào miệng hùm” [40, 26] Nỗi đau ấy được tác giả kể lại một cách

Trang 30

chua xót: “Đêm ấy vợ chồng ông Hai Chinh bàn bạc với nhau rất khuya Cả

hai vợ chồng cùng khóc Sáng hôm sau, ông Hai dậy sớm, dắt Nhâm đi Ông

nói dối con là đi ăn cỗ” [40, 26]

Bên cạnh giọng điệu xót xa, thương cảm ấy là giọng điệu thân mật,

suồng sã Chính giọng điệu này đã làm nên những trang văn miêu tả đời sống,

số phận người nông dân giản dị mà chất phác, đáng yêu Trong Làng, giọng

điệu thân mật được buông ra ngay từ đầu truyện đồng thời còn được tác giả

dùng để kể về cái thói khoe làng của lão Hai: “Ông khoe làng ông có cái

phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì

cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy Ông khoe làng

có nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh…[38, 172-173]

Tạo nên sức hấp dẫn qua các tác phẩm của Kim lân ấy còn là giọng

điệu dí dỏm, hóm hỉnh Chất giọng dí dỏm, hóm hỉnh đóng vai trò quan trọng

để tạo nên sự lạc quan Khá nhiều truyện của Kim Lân viết về cảnh buồn

nhưng không bi lụy, viết về những khó khăn, éo le trong cuộc sống nhưng

không hề bi quan Đó là do cách lựa chọn giọng điệu của Kim Lân Đọc

truyện của ông, ta thấy trong bóng tối đã hiện dần lên ánh sáng của ngày mai,

của tương lai, của hi vọng, của niềm lạc quan và tin tưởng Đó là thứ ánh sáng

được tao ra từ những điệu cười, giọng cười, đan xen ý nhị, đúng lúc, đúng chỗ

cùng với những chi tiết hóm hỉnh, đáng yêu, giàu chất khôi hài

Còn một giọng điệu nữa ta vẫn thường gặp trong một số truyện của

Kim Lân như: Đứa con người vợ lẽ, Ông lão hàng xóm, Con chó xấu

xí…Đó là giọng điệu mỉa mai, phẫn uất Trong Đứa con người vợ lẽ, Kim

Lân dùng giọng điệu này để tả người anh cả: “Mặt ông tròn và ngắn, lúc nào

cũng vui một cách vô tư lự Nước da hồng hào trắng nhễ trắng nhại, bóng

loáng như bôi dầu.” [38, 27] Nhiều khi về nhà, ông cố làm ra vẻ nghiêm nghị

để quát tháo, nhưng “Ấy là ông quát lấy oai đấy thôi Thưc ra ông cũng chẳng

quan tâm gì đến nhà cửa…” [38, 28]

Trang 31

Tóm lại, bằng việc lựa chọn giọng điệu chủ đạo để kể ở mỗi tác phẩm hay mỗi loại nhân vật cho phù hợp và sự kết hợp đa dạng, phong phú các loại giọng điệu đều có giá trị nhất định trong việc góp phần thể hiện tư tưởng chủ

đề tác phẩm của nhà văn

2.2 Hướng 2: Từ đặc trưng loại thể

Tác phẩm “Vợ nhặt” thuộc thể loại truyện ngắn Theo Bách khoa toàn

thư Việt Nam cho rằng: “Truyện ngắn viết tập trung vào một mảng của cuộc

sống, một hay vài biến cố, sự kiện xảy ra và được xử lí rất nhanh […] Nhân vật của truyện ngắn thường thể hiện một trạng thái tâm hồn, một khía cạnh gay cấn, căng thẳng nào đó của một vấn đề xã hội Đặc điểm của truyện ngắn

là hành động ngắn gọn, cô đúc, thời gian diễn biến có thể ngắn hoặc dài nhưng khi chuyển sang kết thúc thường có sự đột biến có kịch tính Những truyện ngắn thành công vẫn có thể biểu hiện được những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn.”

Với Kim Lân, ông thường viết ít và ngắn Truyện của ông thường không có cốt truyện như Làng, Con chó xấu xí…Truyện Kim Lân thường ít hành động và vai trò của cốt truyện là vai trò thứ yếu Kim Lân là một nhà

văn thành công trong việc dùng “chi tiết lấn át cốt truyện, chi tiết thể hiện một

cách tinh tế nhất và rõ ràng nhất tính cách nhân vật cũng như hoàn cảnh sống của nhân vật”, ông đi sâu diễn tả tâm tư, ý nghĩ, cảm xúc của nhân vật

khá tinh tế

Trong các truyện của mình, Kim Lân đã lựa chọn những từ ngữ mang hơi thở của cuộc sống hàng ngày để diễn đạt chúng với cuộc sống miền quê, với những con người giản dị mà đáng yêu

Đi sâu vào các truyện ngắn của ông, người đọc sẽ nhận ra nét giọng chủ đạo đó là yêu thương ca ngợi song ở mỗi truyện, ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi nhân vật trong từng điều kiện Kim Lân sử dụng các giọng khác nhau để miêu tả:

Trang 32

giọng phẫn uất lẫn mỉa mai trong “Con chó xấu xí”, giọng cảm thông lẫn kính phục trong “Thượng tướng Trần Quang Khải- Trạng vật”…

Có thể nhận thấy truyện ngắn của Kim Lân cũng giống như con người ông vậy Nó mộc mạc, chân chất, phảng phất cái hương vị của dân gian, văn hóa làng quê giàu lòng nhân ái, nồng nàn tình yêu con người, làng quê

Truyện ngắn của Kim Lân đã thể hiện đầy đủ tài năng, trí tuệ, tâm hồn của ông Các tác phẩm của ông là kết quả của sự thôi sao kỹ lưỡng ngôn từ

“…kỹ lưỡng tinh tế trong việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu tài hoa trong việc lựa

chọn ngôn từ hình ảnh, là sự gạn chắt những chất liệu từ cuộc sống để làm nghệ thuật”

2.3 Hướng 3: Từ góc độ văn hóa

Hiện nay việc dạy tác phẩm văn chương ở trường phổ thông nhằm đạt tới sự tiếp nhận cao nhất trong đối tượng HS là chiếm lĩnh được cả mặt văn học và mặt văn hóa của tác phẩm Điều này có ý nghĩa DH tác phẩm trong nhà trường phổ thông không chỉ giúp HS lĩnh hội được tri thức văn học như nghệ thuật ngôn từ, thi pháp thể loại, phong cách và cá tính sáng tạo của nhà văn…mà còn cần thiết giúp HS hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp văn hóa trong hình tượng nhân vật, giá trị và sức sống của vẻ đẹp văn hóa đó trong hành trang cuộc sống của các em Tiếp cận văn hóa nhấn mạnh đến sự tác động của văn hóa trong sự xây dựng hình tượng nghệ thuật và nhấn mạnh tới ý nghĩa văn hóa của tác phẩm đối với bạn đọc [57]

Tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ giá trị văn hóa này sẽ góp phần làm rõ thêm đóng góp của tác phẩm văn học vào tổng thể giá trị tinh thần của dân tộc Bản thân các tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần của một thời kì lịch sử cụ thể, phản ánh bộ mặt tinh thần của một thời đại nhất định Nó thể hiện trước hết là cách cảm thụ thế giới để từ đó dẫn tới các chuẩn mực sống của cộng đồng, của một dân tộc [57]

Trang 33

Tiếp cận văn hóa là một hướng đi mới và hiệu quả trong việc khai thác tiếp cận các tác phẩm văn chương dưới góc độ văn hóa Do đó, việc bổ sung thêm hướng tiếp cận trong dạy học tác phẩm văn chương sẽ làm cho người

DH không những đạt hiệu quả cao trong tiếp nhận mà còn thực sự hay, hấp dẫn, lôi cuốn các em HS Tiếp cận văn hóa trong dạy học tác phẩm văn chương nhằm tìm những vẻ đẹp, những giá trị văn hóa của tác phẩm chứ không phải biến giờ học thành giờ học về văn hóa Có thể hiểu tiếp cận văn hóa như một con đường hiệu lực để khám phá tác phẩm văn chương thêm một phương diện nữa- phương diện văn hóa- bên cạnh phương diện văn học mà lâu nay trong DH tác phẩm văn chương ở trường phổ thông luôn đề cập tới Tiếp cận văn hóa không đi chệch mục tiêu tiếp nhận văn chương dưới góc độ văn học mà là sự hỗ trợ bổ sung cần thiết để tiếp nhận tác phẩm được trọn vẹn đầy đủ hơn [57]

Là người sinh ra và lớn lên trong vùng “Văn minh sông Hồng” [23], nơi

Kinh Bắc đậm đà truyền thống văn hóa, nơi có những hội võ, hội vật, hội thả chim, hội chọi gà…Nơi có những làn điệu dân ca nhẹ nhàng duyên dáng, nơi nổi tiếng về những bức vẽ dân gian…Kim Lân đã sớm cảm nhận được những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc

Viết về các phong tục văn hóa dân gian, ngoài việc muốn ngợi ca tâm hồn phong phú trong sáng, lành mạnh, ngợi ca nét tài hoa khéo léo của người dân thôn quê, Kim Lân còn muốn thể hiện niềm tự hào dân tộc của mình

Có thể thấy khi viết về các phong tục văn hóa dân gian Kim Lân cũng

đã chứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc của mình về nông thôn Việt Nam, về người nông dân, đồng thời cũng thể hiện sự đồng cảm, tình yêu, sự kính trọng đối với những người dân bình thường, giản dị mà trong sáng, tài ba Khẳng định những phẩm chất quý báu của người dân, Kim Lân cũng khẳng định những giá trị văn hóa của dân tộc, những giá trị văn hóa được tạo dựng nên từ những

Trang 34

con người chịu nhiều vất vả nhưng rất chăm chỉ, sáng tạo Ý thức dân tộc đã tạo nên niềm tự hào dân tộc, tạo nên những trang văn thuyết phục người đọc Kim Lân đã bằng văn học khơi dậy ở người đọc tình cảm, ý thức với đất nước, với dân tộc

Với truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân đã có sự kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Điều này được thể hiện ở cốt truyện, ở văn hóa ứng xử của dân tộc trong các nhân vật, ở ngôn từ của tác phẩm

Về cốt truyện, chúng ta thấy ở đó Kim Lân đã vận dụng những yếu tố văn hóa dân tộc Những yếu tố văn hóa đó được thể hiện thông qua nghệ thuật miêu tả của tác phẩm, qua những tình tiết, chi tiết trong truyện, những phương tiện bộc lộ tính cách nhân vật và việc tái hiện các xung đột xã hội

Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, những nhân vật của Kim Lân cũng đã thể hiện sâu sắc văn hóa ứng xử Việt Nam nói riêng, con người nói chung Những nét văn hóa ứng xử đó đã bộc lộ tính cách của từng nhân vật trong từng hoàn cảnh khác nhau Qua đó Kim Lân đã làm nổi bật nét đẹp văn hóa trong cách ứng xử của từng nhân vật, nó đã trở thành nét văn hóa truyền thống và không thể thiếu được của con người Việt Nam

Trong việc sử dụng ngôn từ của truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân đã đưa vào hàng loạt ngôn từ bình dân, giản dị, những ngôn từ mang đậm chất văn hóa của vùng Kinh Bắc nói riêng và con người Việt Nam nói chung Đó

là những ngôn từ hàng ngày hay những câu nói cửa miệng, những thành ngữ

mà người nông dân thường dùng Tác giả lấy chính những từ ngữ đó để nói

về người nông dân một phần cũng là để bộc lộ cái chất văn hóa trong ngôn

từ của họ

Tóm lại, Kim Lân là một trong những nhà văn điển hình đã vận dụng những chất liệu văn hóa vốn có của dân tộc để đưa vào tác phẩm văn học của mình Kim Lân là người luôn gần gũi và hiểu rất rõ về người nông dân, về

Trang 35

những phong tục tập quán mang đậm dấu ấn văn hóa của họ cho nên những tác phẩm của ông đã thể hiện được rất rõ những giá trị văn hóa của dân tộc 2.4 Hướng 4: Từ phong cách nhà văn

“Phong cách là một phạm trù thẩm mĩ, một chỉnh thể nghệ thuật, mang

đậm cá tính sáng tạo của nhà văn Nó bao gồm những đặc điểm cả về nội dung và hình thức, thể hiện sự độc đáo, đặc trưng mang tính thống nhất, ổn định, xuyên suốt các sáng tác của mỗi nhà văn” [56, 27]

Đối với nhà văn Kim Lân, một người chuyên viết truyện ngắn đã tạo dựng cho mình một phong cách nghệ thuật riêng Qua các tác phẩm của ông, chúng ta có thể nhận ra những nét bền vững tạo nên diện mạo Kim Lân, không trộn lẫn với bất cứ ai

Trước hết, Kim Lân có một cái nhìn nghệ thuật độc đáo Ông quan niệm: “Người cầm bút phải có một cái nhìn từ một tầm cao nhất định mới có

thể không thi vị hóa cái hàng ngày nhưng đủ khiến những cái tưởng như rất tẻ nhạt, vô vị thành những cái đẹp hồn hậu dễ thương” [12] Với Kim Lân, nhà

văn luôn soi vào hiện thực một cái nhìn riêng Ông hướng cái nhìn của mình vào phần tốt lành, hướng thiện của mỗi con người Đó là vẻ đẹp tiềm ẩn, là

đốm sáng, là nét tài hoa, là đạo đức, tình cảm của những “nghệ sĩ đồng quê”

Đi sâu vào các truyện ngắn của Kim Lân chúng ta thấy những mảnh đời thật bình dị, không giống với Nguyên Hồng (đi sâu vào nội tâm nhân vật) Nhân vật của ông đầy kịch tính tâm trạng, thường được bộc lộ qua hành vi của nhân vật

Hơn nữa, kịch tính của nhân vật Kim Lân nó thường quay quắt để giữ lấy cái tử tế Trong “Đứa con người vợ lẽ”, đúng lúc Tư đang đói “Ruột anh

xót như cào Bụng hóp lại Mặt phờ phạc” [38, 25] thì ông anh Cả về sai Tư

đi mua một hào phở, mùi phở bốc lên ngào ngạt khiến Tư không sao nhịn nổi

“nước bọt cứ ứa mãi ra” [38, 30] Ông Cả ăn xong rồi bỏ đi, anh ngóc đầu

Trang 36

dậy dọn, “định đem bát ra chậu ngâm nhưng lại thôi là vì anh thấy còn đến

lưng bát nước dùng ăn thừa” [38, 30] Dù người rất đói khiến anh “ao ước được một bát cơm nguội trộn ăn thì phải biết” [38, 30] nhưng cái tâm lí của

đứa con người vợ lẽ làm cho “nỗi căm hờn nổi dậy trong lòng” [38, 31] và lòng tự trọng đã khiến anh “nghiến răng ném mạnh bát phở ra sân” [38, 31], rồi “Tiếng bát vỡ làm cho lòng anh dịu” [38, 31]

Tìm đến đề tài nông thôn và người nông dân không phải là những vấn

đề mới song Kim Lân cũng đã góp phần cùng các nhà văn: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,Vũ Trọng Phụng, Nam Cao tham gia dựng chân dung nông thôn Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến- một nông thôn nghèo đói, tiêu điều, xác xơ…Đặc biệt ở đây hình ảnh nông thôn trong sáng tác của Kim Lân không giống với bất cứ nhà văn nào khác; khác ở đặc điểm ông không đi sâu miêu tả đời sống đen tối cực khổ của những người nông thôn, không đặt mục đích thể hiện mâu thuẫn giai cấp căng thẳng như các nhà văn hiện thực cùng thời đã làm Người nông dân của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao cũng nghèo, cũng khổ nhưng vẫn là người dân có đất có nhà, ở nơi mình sinh ra Lão Hạc còn có vườn để thu lợi tức từ hoa màu, anh Pha còn

có ruộng để làm, đến như Chí Phèo một kẻ cùng đinh không có một thước đất cắm dùi nhưng vẫn còn được là người làm thuê nơi chính mình sinh ra Còn trong các truyện ngắn của Kim Lân ta sẽ bắt gặp cái thế giới của những thường dân nghèo khổ Họ là mẹ con Tràng (Vợ nhặt), ông Tư Mủng (Bố con ông gác máy bay trên núi Côi Kê), ông Mộc (Người chú dượng)…Ngòi bút miêu tả của Kim Lân cũng không sắc nhọn như ngòi bút của Nam Cao song lại rất nhẹ nhàng len vào những nỗi cơ cực trong thế giới những người lao động nghèo khổ, qua đó bộc lộ sự thương xót, đồng cảm với họ

Có thể nhận thấy bên cạnh những nhà văn chuyên viết về đề tài nông thôn, thường chú ý miêu tả tái hiện lại cuộc sống nghèo khổ, quẫn bách đến

Trang 37

tận cùng của những người nông dân trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám

và kể cả sau này Họ là chị Dậu, Chí Phèo, Tám Bính…là những mảnh đời xiêu dạt không có tương lai Nhưng Kim Lân ngay ở những trang truyện mang đậm những chất hiện thực nhất, trong những hoàn cảnh tưởng như bế tắc không lối thoát, nhân vật của ông vẫn lạc quan hướng về tương lai với khát vọng sống tiềm tàng và mãnh liệt Trong họ vẫn phập phồng trái tim yêu đời và những mong muốn tuy mơ hồ mà da diết đồng thời con người đối xử với nhau bao dung hơn, nhân hậu hơn

Tiểu kết chương I

Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân là một tác phẩm có vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc và trong nhà trường Để đi tới một cách dạy và học phù hợp nhất với yêu cầu hiện nay cần có sự đa dạng hóa các hướng tiếp cận: Từ thi pháp truyện ngắn Kim Lân- với quan niệm nghệ thuật về con người đến thế giới nhân vật, cốt truyện và thủ pháp tạo dựng truyện, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật; từ đặc trưng loại thể; từ góc độ văn hóa; từ phong cách nhà văn Đây sẽ là những tiền đề quan trọng cho việc dạy học “Vợ nhặt” nói riêng và truyện ngắn nói chung trong nhà trường trung học phổ thông (THPT)

Trang 38

Chương II: Thực trạng dạy học và nghiên cứu “Vợ nhặt”

của Kim Lân trong nhà trường THPT

1 Mục đích khảo sát

Khi khảo sát tình hình dạy và học truyện ngắn “Vợ nhặt” ở nhà trường phổ thông hiện nay sẽ giúp chúng ta đánh giá được những việc đã làm được, những tồn tại trong quá trình DH, tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp thực hiện tối ưu nhất

2 Nội dung khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát việc dạy và học cụ thể trong tiết dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt” của GV và HS lớp 12 trường THPT

3 Đối tượng khảo sát

Để tìm hiểu tình hình DH truyện ngắn “Vợ nhặt” trong nhà trường phổ thông hiện nay, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ba đối tượng cơ bản tham gia vào quá trình dạy và học trong nhà trường Đó là GV, HS, người soạn SGK Bên cạnh đó còn có tài liệu tham khảo, trang thiết bị phục vụ DH “Vợ nhặt”

Đối với GV là chủ thể dạy- chủ thể tác động và định hướng quá trình tiếp nhận những tác động thẩm mỹ của một văn bản văn chương trong học sinh Vì thế, bằng việc tìm hiểu, đánh giá, điều tra hướng khai thác tác phẩm, phân tích các bài soạn giảng truyện ngắn “Vợ nhặt” cũng như dự giảng những tiết giảng của GV, chúng tôi có thể rút ra những mặt tích cực cũng như hạn chế về thực tế việc dạy học “Vợ nhặt” ở nhà trường THPT hiện nay

Đối với HS: Trong cơ chế DH văn mới, vai trò người học đã từng bước được đề cao, HS chính là chủ thể của quá trình học tập, khác với trước đây các em chỉ là những “khách thể” bị động Hoạt động học của HS không chỉ giữ vai trò quan trọng trên bình diện phương pháp luận mà còn có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn DH Cho nên, chất lượng của quá trình DH chỉ thực sự đạt kết quả khi có sự tìm hiểu, phân tích thấu đáo thực trạng học tập

Trang 39

của HS Vì thế, việc khảo sát đối tượng này sẽ giúp chúng tôi đánh giá được hứng thú học tập, mức độ tiếp nhận tác phẩm cũng như khả năng vận dụng, thực hành các kỹ năng hành văn của HS

Đối với người soạn SGK: hiện nay trong nhà trường THPT đang sử dụng hai bộ SGK- chương trình chuẩn và chương trình nâng cao Khi khảo sát hai bộ sách này, chúng tôi có thể tiếp cận được với những định hướng khai thác khác nhau về truyện ngắn “Vợ nhặt” cho HS Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ

có sự kế thừa và đóng góp thêm những hướng tiếp cận mới đối với tác phẩm

Tài liệu tham khảo và các trang thiết bị dạy học cũng là những nhân tố quan trọng không thể bỏ qua khi khảo sát thực trạng dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt” Chúng tôi đã xem và nghiên cứu một số sách của các tác giả khác nhau khi nghiên cứu về “Vợ nhặt” Đồng thời cũng tìm hiểu, sử dụng trang thiết bị dạy học vào DH truyện ngắn này ở nhà trường THPT để từ đó rút ra những đánh giá chung nhất về thực trạng dạy học truyện ngắn “Vợ nhặt” hiện nay

4 Tư liệu khảo sát

Chúng tôi đã tiến hành dùng phiếu điều tra đối với GV và HS, giáo án của GV, vở ghi và bài làm văn của HS

- Tổ Văn Trường THPT Hồng Quang- Lục Yên- Yên Bái (15 GV)

- Học sinh lớp 12A1 và 12A5- Trường THPT Hồng Quang- Lục Yên- Yên Bái (90 HS)

5.3 Hình thức khảo sát

Trang 40

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn, phát phiếu điều tra đối với GV và HS; xem vở ghi HS và giáo án của GV; dự các buổi thảo luận giữa GV-HS, GV-GV, HS-HS cũng như chấm bài kiểm tra của HS để từ đó rút ra được kết quả khách quan nhất về việc dạy và học “Vợ nhặt” ở trường THPT

Cụ thể:

* Đối với GV

Tác giả của luận văn đã có những cuộc phỏng vấn trực tiếp đối với một

số GV đã và đang dạy truyện ngắn “Vợ nhặt” ở nhà trường THPT Hầu hết

các cuộc trao đổi đó đều xoay quanh việc “GV hiện nay tiếp nhận, cảm thụ và

dạy truyện ngắn Vợ nhặt như thế nào?” Câu trả lời mà chúng tôi nhận được

cũng rất đa dạng, phong phú, phần nào phản ánh đúng với thực tế dạy và học

“Vợ nhặt” nói riêng và truyện ngắn nói chung

Chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra bằng cách ghi sẵn câu hỏi để

có được kết luận tương đối xác thực về phương pháp dạy học truyện ngắn

“Vợ nhặt”

Các câu hỏi được đưa ra như sau:

Câu 1: Khi dạy truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân, thầy (cô) dựa

vào những yếu tố nào sau đây: Văn bản tác phẩm và câu hỏi trong SGK; hướng dẫn trong sách giáo viên (SGV); Kết hợp các tài liệu khác có liên quan với văn bản tác phẩm; Các ý kiến khác (GV lựa chọn và đánh dấu vào ô

vuông bên cạnh)

Câu 2: Khi dạy học sinh truyện ngắn “Vợ nhặt”, thầy (cô) yêu cầu HS

làm những việc gì: Đọc văn bản tác phẩm và trả lời câu hỏi trong SGK; Soạn thêm những câu hỏi về lịch sử xã hội, về tác giả; Tìm hiểu trước về tác phẩm

và nêu cảm nhận, suy nghĩ riêng của bản thân về nhân vật, về các chi tiết; Ý kiến khác (GV lựa chọn và đánh dấu vào ô vuông bên cạnh)

Ngày đăng: 20/07/2014, 22:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An (2000), “Nhà văn của làng quê nước Việt”, Tạp chí nhà văn, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn của làng quê nước Việt”, "Tạp chí nhà văn
Tác giả: Nguyên An
Năm: 2000
2. Hoài Anh (10/2003), “Kim Lân, nhà tiểu thuyết phong tục sở trường về miêu tả trạng thái nhân thế”, Tạp chí Văn (Hội văn nghệ TP Hồ Chí Minh), (13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim Lân, nhà tiểu thuyết phong tục sở trường về miêu tả trạng thái nhân thế”, "Tạp chí Văn (Hội văn nghệ TP Hồ Chí Minh)
3. Lại Nguyên Ân (1986), “Văn xuôi Kim Lân”, Tạp chí văn học, (6), tr. 56- 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Kim Lân”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1986
4. Lê Thị Ba (2008), Chuyên đề dạy- học Ngữ văn 12: Vợ nhặt (Kim Lân), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề dạy- học Ngữ văn 12: Vợ nhặt (Kim Lân)
Tác giả: Lê Thị Ba
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
5. Nguyễn Văn Bao (1997), Những giá trị tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn Kim Lân, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật của truyện ngắn Kim Lân
Tác giả: Nguyễn Văn Bao
Năm: 1997
6. Nguyễn Viết Chữ (2009), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
7. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản chính trị quốc gia- sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia- sự thật
Năm: 2011
8. Hà Minh Đức (1994), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1994
9. Nguyễn Tiến Đức (2002), Những đặc sắc của truyện ngắn Kim Lân, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc sắc của truyện ngắn Kim Lân
Tác giả: Nguyễn Tiến Đức
Năm: 2002
10. Hương Giang (5/1993), “Nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt”, Báo Văn nghệ, (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt”, "Báo Văn nghệ
11. Mã Thu Hà (2003), Nông thôn và hình tượng người nông dân trong sáng tác của Kim Lân, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn và hình tượng người nông dân trong sáng tác của Kim Lân
Tác giả: Mã Thu Hà
Năm: 2003
12. Kim Hoa (8/1994), “Ngòi bút Kim Lân và sự cày xới trên cánh đồng quê”, Báo nhân dân chủ nhật, (34) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngòi bút Kim Lân và sự cày xới trên cánh đồng quê”, "Báo nhân dân chủ nhật
13. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Tiếp cận văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
14. Nguyên Hồng, Hồi kí bước đường viết văn, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi kí bước đường viết văn
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
15. Trần Văn Hồng (1999), Khuynh hướng phong tục trong sáng tác trước 1945 của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng phong tục trong sáng tác trước 1945 của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân
Tác giả: Trần Văn Hồng
Năm: 1999
16. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
17. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
18. Nguyễn Thanh Hùng (9/2010), “Câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương và những cách nhìn hiện đại”, Giáo dục từ xa và tại chức, ĐHSP Hà Nội, (26), tr. 16- 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi trong dạy học tác phẩm văn chương và những cách nhìn hiện đại”, "Giáo dục từ xa và tại chức
19. Nguyễn Thị Thanh Hương (1998), Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học, Nxb Giáo dục Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường phổ thông trung học
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
20. Nguyễn Thị Thanh Hương (2007), Để dạy và học tốt tác phẩm văn chương (phần trung đại) ở trường phổ thông, Nxb ĐHSP Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để dạy và học tốt tác phẩm văn chương (phần trung đại) ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w