1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung

167 505 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung
Người hướng dẫn PGS. ThS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong vài năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, như: “Một số vấn đề pháp lý về đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà

Trang 1

Lời Mở đầu

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thị trường chứng khoán tại Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn 7 năm Mặc dù là một lĩnh vực kinh tế còn rất mới mẻ và phức tạp, song đến nay Nhà nước ta đã ban hành được một hệ thống các văn bản pháp luật khá đầy đủ để

điều chỉnh mọi mặt hoạt động của thị trường Đặc biệt, sự ra đời của Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 đã tạo dựng cơ sở pháp lý ngày càng vững chắc cho sự phát triển của thị trường

Tuy nhiên, sự phát triển hết sức sôi động của thị trường trong một vài năm gần đây cũng đồng nghĩa với việc các hoạt động giao dịch trên thị trường diễn ra ngày càng phức tạp và đa dạng hơn, đặt ra nhiều yêu cầu cho các cơ quan ban hành văn bản pháp luật phải liên tục có sự điều chỉnh và bổ sung để thích ứng với

sự linh hoạt của thực tiễn thị trường Đặc biệt, khi thị trường bước vào giai đoạn

có những chuyển biến đột phá về chất và lượng (riêng trong năm 2006, giá trị vốn hoá toàn thị trường đã đạt gần 30% GDP, vượt xa mức dự báo về giá trị vốn hoá toàn thị trường tới năm 2010 là 15% GDP nêu tại Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2010), những đòi hỏi này lại càng cấp thiết Điều này đặt ra yêu cầu phải có những nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt

động giao dịch trên thị trường chứng khoán nói chung, trong đó trọng tâm là thị trường giao dịch tập trung, để tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh lĩnh vực kinh tế này một cách hiệu quả

Trong dài hạn, xây dựng thị trường chứng khoán phù hợp với định hướng

đổi mới và phát triển nền kinh tế đất nước là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm tạo lập kênh huy động vốn dài hạn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Định hướng này đã được khẳng định nhất quán trong văn

kiện Đại hội X của Đảng: "Khẩn trương nâng cấp và thực hiện các biện pháp

đồng bộ để phát triển nhanh thị trường chứng khoán thành một kênh huy động vốn dài hạn quan trọng trong nền kinh tế Hình thành đồng bộ thể chế về thị trường chứng khoán; tăng cường hỗ trợ của Nhà nước về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, phổ cập kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho công chúng tham gia thị trường này" [13] Để thực hiện được mục tiêu đó, một

trong những giải pháp quan trọng là xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý đồng

bộ và hiệu quả cho sự vận hành của thị trường [69, tr.59] ở Việt Nam, thị trường

Trang 2

chứng khoán vẫn còn là một định chế tài chính mới mẻ Các vấn đề pháp lý điều chỉnh hoạt động của thị trường mặc dù đã được đề cập tại Luật Chứng khoán

2006 nhưng vẫn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, đặc biệt là các vấn

đề pháp lý liên quan tới hoạt động giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán tập trung Kinh nghiệm của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán có ý nghĩa to lớn

đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng, nền tài chính và kinh

tế quốc gia nói chung Do đó, tôi mạnh dạn chọn vấn đề: "Hoàn thiện pháp luật

về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung” làm đề tài luận án

tiến sĩ luật học của mình Việc này rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán trong thời gian gần đây đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong đó có giới nghiên cứu khoa học pháp lý Trong vài năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình

nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, như: “Một số vấn đề pháp lý về đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung” của Th.S Hoàng Thị Quỳnh Chi, "Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán ở Việt Nam" của TS Lê Thị Thu Thuỷ và TS Nguyễn Anh Sơn, "Hướng tới một thị trường chứng khoán hiệu quả ở Việt Nam", Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị ánh Vân, “Xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ của Phạm Thị Giang Thu�

Vấn đề này cũng thu hút được sự quan tâm chú ý của các nhà kinh tế thuộc Viện

Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (Đề tài khoa học cấp Bộ: “Các hạn chế đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam và các giải pháp chính sách”), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước�

Trong những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã tập trung luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán Việt Nam Các công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam dưới góc độ bao quát, tổng thể, từ đó đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung

Đây là những nền tảng cơ bản cho việc tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật

về thị trường chứng khoán ở những khía cạnh hẹp hơn như: pháp luật về công ty chứng khoán; pháp luật về hệ thống đăng ký, lưu ký, thanh toán bù trừ chứng khoán; pháp luật về giao dịch chứng khoán

Trang 3

Với mục tiêu tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán nói chung và pháp luật về giao dịch chứng khoán nói riêng, tác giả luận án sẽ tiếp cận vấn đề ở một góc độ đào sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện, mang tính hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật

điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung nhằm đưa ra cơ sở khoa học, phương hướng, giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung ở Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích của luận án là nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung Trên cơ sở đó, luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán, góp phần vào việc đáp ứng tốt hơn yêu cầu hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ

cụ thể sau đây:

- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung, trong đó tập trung làm rõ bản chất pháp lý của các giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung và nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động giao dịch trên thị trường.

- Phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện hành về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung Đánh giá những ưu

điểm và nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành về giao dịch chứng khoán, từ đó rút ra những vấn đề cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện.

- Đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung ở Việt Nam.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là: pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung; thực tiễn xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu của luận án: việc giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án này là các giao dịch trên thị trường giao dịch tập trung vì giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung là những giao dịch điển hình và phổ biến nhất của mọi thị trường chứng khoán Các giao dịch chứng khoán trên thị

Trang 4

trường giao dịch phi tập trung (OTC) xét về bản chất pháp lý không khác biệt lớn

so với các giao dịch trên thị trường tập trung (giao dịch trên thị trường tập trung

được đặc trưng bởi việc so khớp lệnh tập trung tại một địa điểm là Sở giao dịch chứng khoán và với nguyên tắc trung gian là một trong các nguyên tắc cơ bản của thị trường, trong khi đó giao dịch chứng khoán trên thị trường OTC được đặc trưng bởi tính chất thoả thuận, linh hoạt và phân tán) Do đó, xét về khía cạnh pháp lý, nghiên cứu giao dịch trên thị trường tập trung có thể đảm bảo tính toàn diện và điển hình cho các giao dịch trên thị trường chứng khoán nói chung Trong luận án có đề cập tới một số phân tích về thị trường giao dịch phi tập trung là để so sánh, làm rõ các vấn đề cần hoàn thiện đối với thị trường giao dịch tập trung.

Trong khuôn khổ của một luận án tiến sĩ luật học, không có điều kiện và không thể giải quyết hết mọi vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung Vì vậy, khi phân tích thực trạng pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung ở Việt Nam, tác giả giới hạn phạm vi đánh giá thực trạng pháp luật thông qua một số văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động giao dịch của thị trường giao dịch tập trung còn có những điểm hạn chế, bất cập, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến

sự phát triển lành mạnh của thị trường giao dịch tập trung Các vấn đề pháp luật khác liên quan tới các lĩnh vực hoạt động khác của thị trường hoặc liên quan tới các hoạt động giao dịch ngoài thị trường tập trung như thị trường OTC hoặc thị trường tự do là những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu sâu ở các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh luật học, phương pháp logic và lịch sử, nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn

6 Những điểm mới của luận án

Luận án có những đóng góp mới sau:

- Luận án nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung

để tìm ra những nét đặc thù về mặt pháp lý của giao dịch chứng khoán so với các giao dịch dân sự, thương mại khác, trên cơ sở đó tìm ra nét đặc trưng chi phối

Trang 5

việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với các giao dịch này.

- Luận án đánh giá một cách khách quan thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung ở Việt Nam Bên cạnh việc phân tích những ưu điểm, luận án đi sâu phân tích những điểm còn bất cập, hạn chế và nguyên nhân của sự hạn chế đó Việc đánh giá và phân tích được tiến hành toàn diện trên các khía cạnh pháp lý của giao dịch chứng khoán, bao gồm: pháp luật về tổ chức thị trường giao dịch tập trung, pháp luật về quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể trong giao dịch, pháp luật về hàng hoá là đối tượng của giao dịch, pháp luật về cơ chế giao dịch và pháp luật về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp liên quan tới giao dịch chứng khoán Trên cơ sở đó, luận án khẳng

định sự cần thiết phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm đáp ứng tốt hơn việc điều chỉnh hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán đang trong giai

đoạn phát triển nhanh và mạnh về quy mô và chất lượng ở Việt Nam hiện nay.

- Trên cơ sở nghiên cứu xu hướng phát triển và thực tiễn áp dụng pháp luật

về giao dịch chứng khoán ở một số nước và ở Việt Nam, luận án đề xuất những phương hướng và giải pháp chính nhằm hoàn thiện pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung ở Việt Nam

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về pháp luật điều chỉnh các giao dịch chứng khoán trên

thị trường giao dịch tập trung

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường

giao dịch tập trung tại Việt Nam.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao dịch

chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung tại Việt Nam.

Trang 6

Chương 1

lý luận về pháp luật điều chỉnh các giao dịch chứng

khoán trên thị trường giao dịch tập trung

1.1 tổng quan về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung

1.1.1 Khái niệm thị trường giao dịch tập trung

1.1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị trường chứng khoán được hiểu một cách chung nhất là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán giữa các chủ thể tham gia Việc trao đổi mua bán này được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước [65, tr.15].

Trong các văn bản pháp luật về thị trường chứng khoán của các nước, hầu như không đưa ra định nghĩa như thế nào là thị trường chứng khoán Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng khoán, song chủ yếu các quan

điểm này nghiên cứu thị trường chứng khoán dưới góc độ kinh tế và gắn nó trong mối quan hệ với thị trường tài chính Theo Giáo trình Thị trường Chứng khoán của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổng kết một số quan điểm về thị trường

chứng khoán như sau: (i) quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán và

thị trường vốn là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: thị

trường tư bản (capital market) Nếu xét về mặt nội dung thì thị trường vốn biểu

hiện các quan hệ bản chất bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán Thị trường chứng khoán là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể Do

đó, các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng

phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư bản (ii) Quan

điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng thị trường chứng khoán được đặc

trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là một Như vậy, theo quan

điểm này, thị trường chứng khoán và thị trường vốn là khác nhau, trong đó thị trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt

động của thị trường chứng khoán (iii) Quan điểm thứ ba dựa trên các quan sát

thực tế hoạt động của đa số các Sở giao dịch chứng khoán và cho rằng thị trường chứng khoán là thị trường mua bán cổ phiếu do các công ty cổ phần phát hành ra

để huy động vốn Theo quan điểm này, thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi

Trang 7

thị trường mua bán các công cụ tài chính mang lại quyền tham gia sở hữu, còn những công cụ nợ khác thì không thuộc phạm vi của thị trường này [65, tr.19]

Các quan điểm về thị trường chứng khoán dưới góc độ kinh tế mặc dù ở khía cạnh này hay khía cạnh khác đều phản ánh được tính chất và biểu hiện của thị trường chứng khoán song đã đi từ chỗ quá rộng (đồng nhất với thị trường vốn)

đến chỗ quá hẹp (chỉ là thị trường cổ phiếu) Các quan điểm này cũng không nêu bật được đặc thù của thị trường chứng khoán thể hiện qua những đặc tính cơ bản của hàng hoá giao dịch trên thị trường Quan điểm thứ hai đã bước đầu tiếp cận dưới góc độ đặc tính cơ bản của hàng hoá là chứng khoán, song cũng chỉ mới dừng lại ở tính kỳ hạn của chứng khoán (thị trường chứng khoán chỉ giao dịch, mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của thị trường chứng khoán) Tuy nhiên, đây chưa phải là những đặc tính quan trọng nhất của chứng khoán

Một số cuốn Từ điển về thuật ngữ tài chính trên thế giới tiếp cận khái niệm thị trường chứng khoán dựa trên loại hàng hoá mà nó giao dịch nhưng cũng không đề cập cụ thể tới tính chất của hàng hoá đó Ví dụ Từ điển kỹ thuật về thị trường chứng khoán và thị trường tài chính định nghĩa: “ Thị trường chứng khoán

là thị trường chính thức và công khai, nơi niêm yết và giao dịch các loại chứng khoán đã đăng ký niêm yết” [104, tr.72], hoặc Từ điển Pháp luật (Barron’s) định

nghĩa: “ Thị trường chứng khoán là thị trường có tổ chức, nơi các cổ phiếu và trái phiếu được giao dịch một cách sôi động thông qua Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC” [100, tr.488] Định nghĩa nêu trên khiến người đọc không

có một hình dung rõ ràng về sự khác biệt giữa thị trường chứng khoán và các thị trường hàng hoá khác.

Dưới góc độ pháp lý, tác giả luận án cho rằng cần tiếp cận khái niệm thị trường chứng khoán dựa trên những đặc trưng pháp lý cơ bản của hàng hoá giao

dịch trên thị trường, đó là: thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán Chứng khoán được hiểu là các loại giấy

tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng Khái niệm này, theo tác giả, phản ánh được đặc trưng của thị trường

chứng khoán so với các thị trường hàng hoá khác thể hiện ở tính chất đặc thù của loại hàng hoá được giao dịch trên thị trường đó (xem chi tiết phần 1.1.2.2, trang

Trang 8

15 luận án).

1.1.1.2 Thị trường giao dịch tập trung � khái niệm và nguyên tắc hoạt động

Căn cứ vào sự luân chuyển vốn, thị trường chứng khoán được chia thành (i) thị trường sơ cấp và (ii) thị trường thứ cấp.

(i) Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua chứng khoán mới phát hành và vì vậy thị trường sơ cấp là nơi huy động vốn cho doanh nghiệp [32, tr.19]

(ii) Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành

trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp có hai chức năng: thứ nhất là tạo tính

thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành, tức là tạo điều kiện cho việc

mua bán chứng khoán được tiến hành nhanh chóng và thuận tiện; thứ hai, xác lập

giá chứng khoán căn cứ theo cung cầu thị trường [32, tr.19]

Thị trường thứ cấp được tổ chức theo ba phương thức: thị trường giao dịch tập trung, thị trường phi tập trung và thị trường thứ ba.

Thị trường giao dịch tập trung là thị trường mà các giao dịch được tổ chức

tập trung theo một địa điểm vật chất dưới dạng các Sở giao dịch chứng khoán [58, tr.17], tại đó người mua và người bán (hay đại diện và những nhà môi giới

của họ) gặp nhau để tiến hành giao dịch Vì vậy "người ta còn gọi Sở giao dịch chứng khoán là thị trường tập trung, nơi giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả" [65, tr.23-24] Giá cả của

chứng khoán tại thị trường giao dịch tập trung được xác lập chủ yếu qua cơ chế

Trang 9

thị trường chứng khoán, sự phân biệt giữa thị trường giao dịch tập trung và thị trường giao dịch phi tập trung ngày càng mờ nhạt và chỉ mang tính tương đối

Đây cũng chính là quan điểm của nhiều nhà quản lý đối với thị trường OTC hiện

đại [26, tr.6] Tác giả Lê Thị Mai Linh cho rằng, cần phải phân biệt giữa thị trường OTC truyền thống và thị trường OTC hiện đại Thị trường OTC truyền thống là thị trường có hình thức tổ chức giao dịch mua bán phi tập trung với nghĩa là không có địa điểm, vị trí giao dịch tập trung giữa bên mua và bên bán như đối với thị trường giao dịch tập trung Còn thị trường OTC hiện đại là thị trường có thể kết hợp các hình thức giao dịch tập trung và phi tập trung, trong đó hình thức giao dịch tập trung được tổ chức giống Sở giao dịch (ví dụ, NASDAQ

là thị trường OTC nổi tiếng nhất của Mỹ ngày 13/1/2006 vừa qua đã được Uỷ ban Giao dịch và Chứng khoán Mỹ phê chuẩn để trở thành một Sở giao dịch chứng khoán), còn hình thức giao dịch phi tập trung cũng được tổ chức “tập trung” hơn

Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC truyền thống nhờ có mạng máy tính

điện tử diện rộng [71, tr.7]

Ngoài hai loại thị trường nêu trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba là

thị trường trong đó hoạt động giao dịch chứng khoán được thực hiện tự do, phân tán, không qua thị trường giao dịch tập trung và cũng không qua thị trường OTC.

Cho dù hiện nay thị trường phi tập trung đã có những biến thái đa dạng, thậm chí phát triển gần giống thị trường tập trung, song thị trường giao dịch tập trung vẫn được coi là thị trường truyền thống, điển hình và là thị trường cơ bản,

là bộ mặt của mọi thị trường chứng khoán Khi nhắc đến thị trường chứng khoán của một quốc gia, trước tiên người ta nhắc đến thị trường giao dịch tập trung - Sở giao dịch chứng khoán của quốc gia đó, ví dụ: Sở giao dịch chứng khoán New York, Sở giao dịch chứng khoán Tokyo�Thị trường chứng khoán ngày càng có nhiều biến đổi, đặc biệt là do ảnh hưởng của cách mạng công nghệ thông tin, song những nguyên tắc vận hành cơ bản của một thị trường chứng khoán vẫn không thay đổi và được thể hiện tập trung nhất qua các nguyên tắc hoạt động của các Sở giao dịch chứng khoán Hoạt động giao dịch thông qua các Sở giao dịch chứng khoán là cơ sở cho hoạt động giao dịch của các thị trường chứng khoán khác như thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh hoặc thị trường OTC Giá cả và các động thái thị trường diễn ra trên Sở giao dịch chứng khoán có tác động trực tiếp đến toàn bộ thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Thị trường giao dịch tập trung vận hành trên cơ sở những quy luật của mọi thị trường hàng hoá khác như quy luật cung cầu và quy luật giá trị Tuy nhiên, do chứng

Trang 10

khoán là hàng hoá giao dịch trên thị trường là loại tài sản đặc biệt nên thị trường giao dịch tập trung còn vận hành trên cơ sở các nguyên tắc đặc thù khác, đó là nguyên tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai [32, tr.56-60].

Nguyên tắc trung gian: người mua và người bán chứng khoán trên thị

trường chứng khoán không tiến hành mua bán trực tiếp mà phải thông qua các trung gian môi giới Trung gian môi giới chứng khoán gồm 2 loại: người môi giới

chứng khoán (brokers) và người buôn bán chứng khoán (dealers).

Người môi giới hưởng hoa hồng trên cơ sở tiến hành môi giới giao dịch cho khách hàng (nhà đầu tư) Tuỳ theo yêu cầu của khách hàng, nhà môi giới có thể cung cấp dịch vụ môi giới trọn gói, từ đại diện thương lượng mua bán chứng khoán cho đến thay mặt khách hàng giải quyết mọi vấn đề liên quan quyền sở hữu chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán hoặc chỉ cung cấp một dịch vụ môi giới đơn thuần, nghĩa là làm trung gian giao dịch chứng khoán

Khác với người môi giới, người buôn bán chứng khoán tiến hành giao dịch cho chính mình để tìm kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, trên thị trường chứng khoán sự

có mặt của những người buôn bán chứng khoán có vai trò như những nhà tạo lập

thị trường (market maker): mua vào chứng khoán khi giá hạ và bán ra khi giá

cao, góp phần điều tiết cung cầu thị trường và đảm bảo cho thị trường vận hành liên tục, không bị gián đoạn.

Nguyên tắc công khai: quyết định của nhà đầu tư phụ thuộc phần lớn vào

những thông tin mà họ có được về chứng khoán, do vậy, thông tin là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt đối với thị trường chứng khoán Công bằng, công khai và minh bạch được coi là nguyên tắc đặc thù của thị trường chứng khoán Mọi thông tin về chứng khoán giao dịch trên thị trường, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty có chứng khoán niêm yết, số lượng, giá cả chứng khoán, những thông tin khác có thể ảnh hưởng đến giá chứng khoán đều phải được công

bố một cách công khai, chính xác và kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng Hành vi sử dụng thông tin nội bộ hoặc thông tin chưa được phép công bố chính thức để tiến hành giao dịch chứng khoán thu lợi nhuận bị coi như hành vi giao dịch nội gián và bị cấm.

Nguyên tắc cạnh tranh tự do thông qua đấu giá chứng khoán: trên cơ sở

quan hệ cung cầu, giá chứng khoán được xác định thông qua đấu giá cạnh tranh bình đẳng trên thị trường Trên thị trường sơ cấp thông qua đấu giá để xác định giá phát hành chứng khoán Trên thị trường thứ cấp tuỳ theo mô hình thị trường việc định giá chứng khoán được thực hiện theo phương pháp đấu giá hoặc đấu

Trang 11

lệnh Theo phương pháp đấu giá, các nhà môi giới đóng vai trò như những nhà tạo lập thị trường, đưa ra mức giá chào bán và chào mua tốt nhất cho mỗi loại chứng khoán Trên cơ sở đó, nhà đầu tư lựa chọn mức giá tốt nhất với họ và tiến hành giao dịch với nhà tạo lập thị trường Giá cả được xác định thông qua cạnh tranh giữa các nhà tạo lập thị trường Theo phương pháp đấu lệnh, các lệnh mua/bán chứng khoán sẽ được tập trung và so khớp trực tiếp về mức giá và khối lượng để tìm ra mức giá thoả mãn cả bên mua và bán mà không cần vai trò của nhà tạo lập thị trường.

1.1.2 Giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung

1.1.2.1 Khái niệm giao dịch chứng khoán

Tiếp cận khái niệm giao dịch chứng khoán trước hết cần phải trên cơ sở khái niệm pháp lý về giao dịch và giao dịch dân sự nói chung

Theo nghĩa rộng, giao dịch chứng khoán có thể hiểu là hợp đồng hoặc

hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa

vụ đối với chứng khoán Điều 121 Bộ luật Dân sự Việt Nam (2005) quy định:

“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Theo nghĩa này, giao dịch

chứng khoán bao gồm 2 dạng: hợp đồng song vụ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ về chứng khoán (cụ thể là hợp đồng mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán nói chung) và hành vi pháp lý đơn phương về chứng khoán, ví dụ: lập di chúc, hưởng thừa kế chứng khoán.

Các luật gia nhìn chung đều thừa nhận quan điểm này Tác giả Belykh C.A cho rằng, theo nghĩa rộng, giao dịch chứng khoán là bất kỳ giao dịch dân sự nào

mà khi thực hiện chúng làm phát sinh việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác [2, tr.143] và phạm vi của các giao dịch có thể diễn ra ở mọi thị trường giao dịch chứng khoán (bao gồm thị trường giao dịch tập trung, thị trường giao dịch phi tập trung và thị trường thứ ba) Đồng ý với quan

điểm này, tác giả Nguyễn Kiều Giang cũng cho rằng pháp luật điều chỉnh các giao dịch này cũng cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả pháp luật dân sự

và pháp luật chứng khoán (với tư cách là pháp luật chuyên ngành) [16].

Theo nghĩa hẹp, giao dịch chứng khoán là hợp đồng mua bán chứng khoán

trên thị trường giao dịch tập trung Theo nghĩa này, giao dịch chứng khoán được

giới hạn ở hợp đồng song vụ về mua bán chứng khoán, và phạm vi hợp đồng chỉ diễn ra trên thị trường giao dịch tập trung (không phải là toàn bộ thị trường chứng khoán nói chung) Cũng đồng quan điểm như vậy nhưng xem xét vấn đề

Trang 12

dưới một góc độ khác, T.S Nguyễn Kiều Giang cho rằng, ”theo nghĩa hẹp, giao dịch chứng khoán chỉ là các giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện giữa các chủ thể mà trong đó ít nhất một bên phải là chủ thể được phép kinh doanh chứng khoán Các giao dịch loại này chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành là pháp luật chứng khoán Các nhà làm luật Việt Nam quan niệm giao dịch chứng khoán theo nghĩa hẹp, tức là chỉ giới hạn trong việc mua, bán chứng khoán đã phát hành phù hợp với quy định của pháp luật chứng khoán” [16] Mặc

dù được diễn đạt theo một cách khác, song trong quan điểm này cũng chứa đựng hai nội dung: thứ nhất, giao dịch chứng khoán chỉ được giới hạn trong những giao dịch trên thị trường tập trung (là các giao dịch bắt buộc thực hiện thông qua trung gian - nguyên tắc cơ bản của thị trường giao dịch tập trung); thứ hai, pháp luật điều chỉnh các giao dịch này là pháp luật theo nghĩa hẹp, nghĩa là chỉ bao gồm pháp luật chuyên ngành là pháp luật chứng khoán.

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, luận án giới hạn nghiên cứu giao dịch chứng khoán theo nghĩa hẹp, nghĩa là các giao dịch mua bán chứng

khoán trên thị trường giao dịch tập trung và do pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán điều chỉnh, vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung là

những giao dịch điển hình và phổ biến nhất của mọi thị trường chứng khoán Các giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch phi tập trung xét về bản chất pháp lý không khác biệt lớn so với các giao dịch trên thị trường tập trung (giao dịch trên thị trường tập trung được đặc trưng bởi việc so khớp lệnh tập trung tại một địa điểm là Sở giao dịch chứng khoán và với nguyên tắc trung gian là một trong các nguyên tắc cơ bản của thị trường, trong khi đó giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch phi tập trung được đặc trưng bởi tính chất thoả thuận, linh hoạt và phân tán) Do đó, xét về khía cạnh pháp lý, nghiên cứu giao dịch trên thị trường tập trung có thể đảm bảo tính toàn diện và điển hình cho các giao dịch trên thị trường chứng khoán nói chung.

Thứ hai, các giao dịch chứng khoán là hành vi pháp lý đơn phương mặc

dù cũng làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với chứng khoán song chỉ là những giao dịch đơn lẻ, và không thực hiện qua hệ thống giao dịch của thị trường chứng khoán (chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật dân sự), do vậy không mang tính phổ biến, điển hình và không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án

1.1.2.2 Đặc điểm pháp lý của giao dịch chứng khoán

Trang 13

Giao dịch chứng khoán, với ý nghĩa là một giao dịch dân sự theo nghĩa hẹp, trước hết chứa đựng những đặc điểm pháp lý của một hợp đồng dân sự nói

chung “ Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi

và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 388 Bộ luật Dân sự) Tuy

nhiên, do giao dịch chứng khoán có nhiều đặc thù xuất phát từ: (i) tính chất đặc biệt của chứng khoán là hàng hoá - đối tượng giao dịch trong hợp đồng mua bán chứng khoán; (ii) mục đích mua bán chứng khoán là tìm kiếm lợi nhuận; (iii) luôn có sự tham gia của các thương nhân là người môi giới chứng khoán nên các giao dịch chứng khoán được pháp luật của nhiều nước trên thế giới coi là hành vi thương mại điển hình [66, tr.16]

Điều 632 Bộ luật thương mại Pháp (1807) (sửa đổi bởi Luật ngày 13/7/1967 và Luật ngày 9/1/1970) coi các hành vi thương mại do bản chất bao

gồm “các hoạt động ngân hàng hay hối đoái” hoặc hành vi thương mại phụ thuộc bao gồm các hành vi như trái vụ giữa các nhà kinh doanh, các thương nhân�Bộ

luật Thương mại Nhật Bản cũng liệt kê các giao dịch thương mại tại Điều 501,

502, 503, trong đó “những giao dịch về chứng khoán”, “những giao dịch có liên quan đến hối phiếu và các chứng từ thương mại khác” được coi là những giao

dịch thương mại thuần tuý Hoặc Bộ luật Thương mại và Dân sự Thái Lan quy

định các hành vi thương mại bao gồm: mua bán hàng hoá, thuê tài sản, thuê mua

tài sản, thuê thầu khoán, vận tải, đại lý, đại diện, môi giới, bảo hiểm, hoạt động

của các hội kinh doanh và công ty.

Bộ luật Thương mại Đức theo đuổi hệ thống chủ thể, coi thương nhân là

điểm mấu chốt cho các quy định Một hành vi có được coi là hành vi thương mại hay không, phụ thuộc vào chủ thể thực hiện hành vi đó có phải là thương gia hay không Theo Luật này, những người được coi là thương gia đương nhiên là những người thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại (người hành nghề thương

mại) bao gồm các việc: mua bán hàng hoá giấy tờ có giá; �(khoản 2, Điều 1).

Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật thương mại Quốc tế (UNCITRAL) tiếp cận khái niệm hành vi thương mại ở góc

độ rộng hơn: “ thuật ngữ “ thương mại ” cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào

về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá và dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại …”

Trang 14

ở Việt Nam, thời kỳ đầu, Luật Thương mại (1997) coi hành vi thương mại

là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại, theo quy định tại Điều

45 chỉ bao gồm 14 hành vi là: mua bán hàng hoá, đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác, đại lý mua bán hàng hoá, gia công trong thương mại,

đấu giá, đấu thầu, dịch vụ giao thầu, giám định hàng hoá, khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bầy, giới thiệu hàng hoá, hội chợ, triển lãm thương mại Ngoài việc bị giới hạn bởi nội hàm của khái niệm thương mại, phạm vi áp dụng của Luật Thương mại (1997) còn bị giới hạn bởi nội hàm của khái niệm hàng hoá, theo đó chứng khoán (bao gồm cổ phiếu và các giấy tờ có giá khác) không được coi là hàng hoá (Điều 5 khoản 3) Những hạn chế này đã dẫn đến những bất cập của pháp luật thương mại Việt Nam so với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế [22, tr.32-39]; [33, tr.112], đặc biệt khi thị trường chứng khoán

đang trong quá trình phát triển.

Nhằm khắc phục những bất cập trên, Luật Thương mại (2005) xác định phạm vi khái niệm thương mại theo nghĩa rộng hơn Khoản 1 Điều 3 quy định: hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Trong hoạt động thương mại, hình thức pháp lý của hành

vi thương mại chính là hợp đồng thương mại [34, tr.24] Như vậy, có thể thấy,

hợp đồng thương mại có các đặc điểm đặc trưng cơ bản sau: một là, chủ thể hợp

đồng là thương nhân (hoặc ít nhất một bên là thương nhân); hai là, mục đích của

hợp đồng là phục vụ hoạt động thương mại của thương nhân, nhằm mục đích xa hơn

là tìm kiếm lợi nhuận Với những đặc trưng này, có thể coi giao dịch chứng khoán là một dạng của hợp đồng thương mại theo quy định tại Luật Thương mại (2005).

Với tính chất là một loại giao dịch đặc thù của nền kinh tế, giao dịch chứng khoán còn có những đặc điểm đặc thù, chi phối nội dung và phương thức các quy phạm pháp luật điều chỉnh loại giao dịch này, đó là: (1) Hàng hoá (đối tượng của giao dịch) là tài sản đặc biệt; (2) Giao dịch chứng khoán có tính hệ thống và tính tập trung cao; (3) Chủ thể giao dịch không xác định; (4) Xung đột lợi ích đan xen phức tạp trong giao dịch; (5) Tính đặc thù trong thể hiện các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng;

(1) Hàng hoá (đối tượng của giao dịch) là tài sản đặc biệt

Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “ Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy

tờ có giá và các quyền tài sản ” Chứng khoán, theo quy định tại khoản 1 Điều 6

Trang 15

Luật Chứng khoán 2006 “ là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành ” được coi là tài sản Pháp luật dân sự các nước cũng thừa nhận chứng khoán là tài sản, ví dụ Khoản 1 Điều 142 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga ngày 21/10/1994 quy định:

"Chứng khoán là chứng chỉ xác nhận quyền tài sản, được lập tuân thủ cách trình bày đã được quy định với những nội dung bắt buộc mà khi xuất trình chính chứng chỉ thì mới thực hiện hoặc chuyển giao được các quyền ghi trong chứng chỉ";

Điều 529 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “ Được coi là động sản theo luật định, các trái phiếu và cổ phiếu trị giá bằng tiền hay bằng đồ vật, các cổ phần hay lãi suất trong các công ty tài chính, thương mại hay công nghiệp, các bất động sản dùng vào kinh doanh là tài sản của công ty”.

Dưới góc độ pháp lý, chứng khoán được coi là tài sản đặc biệt, thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất , chứng khoán là tài sản có thể tồn tại ở cả hai dạng: vật chất và phi vật chất (hữu hình và vô hình).

Chứng khoán có thể tồn tại dưới hai dạng: chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, hay nói cách khác, dưới dạng vật chất hoặc phi vật chất Khái niệm phi vật chất ở

đây không có nghĩa là không tồn tại dưới bất kỳ một dạng vật chất vật lý nào, mà cần được hiểu phi vật chất theo nghĩa pháp lý, nghĩa là chỉ có nhận biết sự tồn tại của tài sản, mà không có khả năng cầm nắm, chuyển dịch, cất giữ như các loại tài sản hữu hình khác Phi vật chất hoá chứng khoán là điều kiện tiên quyết để lưu giữ tập trung chứng khoán theo hình thức ghi sổ, phục vụ cho việc bù trừ và thanh toán các giao dịch chứng khoán thông qua hệ thống của Trung tâm đăng

ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Khi đó, việc thanh toán giao dịch

sẽ không phải tiến hành bằng chuyển giao vật chất mà chỉ đơn giản chuyển từ tài khoản của bên bán sang bên mua, đáp ứng được nhu cầu xử lý một khối lượng lớn giao dịch trong thời gian ngắn và đảm bảo chính xác cao Hiện nay, ở hầu hết các thị trường phát triển, phi vật chất hoá chứng khoán được tiến hành ngay từ thời điểm phát hành, nghĩa là chứng khoán được phát hành dưới dạng bút toán ghi sổ ngay từ đầu, hoàn toàn không tồn tại chứng chỉ vật chất, ví dụ Pháp, Đan Mạch, Nauy Kể từ Luật số 81-1160 ngày 30/12/1981 về Phi vật chất hoá chứng khoán của Pháp, chứng khoán được coi là tài sản vô hình Ngay cả những quyền gắn liền với chứng khoán (quyền nhận cổ tức, các quyền ưu đãi ) cũng được coi như chứng khoán và cũng được thể hiện dưới dạng bút toán ghi sổ

Trang 16

Vấn đề xác định chứng khoán là tài sản vô hình hay tài sản hữu hình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt pháp lý, nhất là khi Việt Nam đang nỗ lực tiến dần đến môi trường phi vật chất hoá hoàn toàn chứng khoán, bởi vì các quy tắc thông thường của Dân luật liên quan tới sở hữu và chuyển nhượng cùng với những quyền gắn với tài sản vật chất có rất nhiều điểm khác biệt so với tài sản phi vật chất (ví dụ: đối với tài sản vật chất, quyền chiếm hữu có vị trí đặc biệt quan trọng so với các quyền năng khác của quyền sở hữu Tuy nhiên, đối với tài sản phi vật chất, quyền chiếm hữu không có ý nghĩa như vậy) Mặt khác, phi vật chất hoá chứng khoán sẽ kéo theo hai hệ quả bắt buộc liên quan đến quyền năng chiếm giữ và định đoạt của chủ sở hữu chứng khoán: (1) nghĩa vụ phải gửi toàn

bộ chứng khoán vào một người trung gian nắm giữ; (2) cơ chế không thể chuyển

đổi ngược lại (l ’ irréversibilité), nghĩa là không cho phép chuyển ngược từ chứng

khoán dưới dạng bút toán ghi sổ thành chứng khoán dưới dạng vật chất Hệ quả thứ hai này khá phổ biến ở các nước Châu Âu Đây là những vấn đề pháp lý có ý nghĩa quan trọng đặt ra khi tương lai về một thị trường phi vật chất hoá hoàn toàn chứng khoán tại Việt Nam đang đến gần Đây cũng là vấn đề đã và đang đặt ra

đối với pháp luật về chứng khoán của rất nhiều nước Để xử lý vấn đề này, pháp luật chứng khoán thế giới có hai cách tiếp cận khác nhau:

Một là, pháp luật các nước quy định trong Bộ Luật Dân sự hoặc Luật

Thương mại theo hướng điều chỉnh tính đến đặc thù của tài sản phi vật chất Ví dụ: năm 1995, Bộ luật Thương mại Hàn Quốc được sửa đổi để thừa nhận và hướng dẫn sử dụng hệ thống xử lý dữ liệu điện tử trong việc ghi nhận giao dịch hoặc đăng ký thương mại.

Hai là, ban hành Luật chuyên ngành điều chỉnh riêng vấn đề phi vật chất

hoá chứng khoán và chuyển nhượng chứng khoán phi vật chất Đây là cách tiếp cận phổ biến hơn cả Ví dụ: Nhật Bản ban hành Luật chuyển nhượng bằng ghi sổ trái phiếu công ty và các loại trái phiếu khác (Luật số 75 năm 2001), trong đó đề cập tới thủ tục chuyển nhượng, hiệu lực của việc chuyển nhượng bằng ghi sổ,

điều kiện và cách thức sử dụng trái phiếu ghi sổ làm tài sản thế chấp trong giao dịch�Tiếp theo, năm 2004, Nhật Bản tiếp tục ban hành Luật chuyển nhượng chứng khoán, tạo điều kiện cho việc phi vật chất hoá mọi loại chứng khoán, phù hợp với các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế và các hệ thống tài chính khác Tương tự như vậy, Pháp ban hành Luật số 81-1160 ngày 30/12/1981 về phi vật chất hoá chứng khoán, trong đó nêu rõ một số quy định của Bộ Luật Dân sự Pháp

Trang 17

không có giá trị áp dụng đối với chứng khoán ghi sổ, ví dụ: kể từ ngày Luật này

có hiệu lực, Điều 2279 Bộ luật Dân sự Pháp “Về động sản, người chiếm giữ được coi là chủ sở hữu” sẽ không còn áp dụng đối với chứng khoán niêm yết mà chỉ có

giá trị trong trường hợp chuyển giao trao tay chứng khoán vật chất Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, từ lâu các nhà làm luật của Pháp đã thừa nhận tính vô hình của các công cụ tài chính tiền tệ, thể hiện ở nhiều bản án với kết luận rằng việc thay đổi các bút toán ghi sổ từ người mua sang người bán thực hiện thông qua tổ chức trung gian (ở đây là ngân hàng) có giá trị tương đương như một chuyển nhượng tài sản vật chất Một số bản án cụ thể như: Toà Phá án trong quyết định ngày 6/3/1996 của mình đã quyết định việc tặng cho tài sản tài chính

có hiệu lực ở thời điểm chuyển tài sản từ bút toán của người cho sang người nhận, và lần thứ hai trong quyết định ngày 10/5/1998 cũng khẳng định điều này

đối với trường hợp tặng cho cổ phiếu ghi danh phi vật chất hoá [103, tr.47].

Thứ hai , chứng khoán giao dịch trên thị trường tập trung phải là vật cùng loại.

Chứng khoán được niêm yết và giao dịch qua thị trường giao dịch tập trung phải là vật cùng loại, có nghĩa là chúng có cùng một chất lượng và có thể thay thế cho nhau trong quá trình chuyển nhượng Chứng khoán mang tính đặc

định (việc chuyển nhượng không được thực hiện tự do mà phải tính đến nhân thân của chủ sở hữu chứng khoán) không phải là đối tượng của các giao dịch thông qua thị trường này Mặt khác, chứng khoán được mua bán trên thị trường tập trung phải là cùng loại mới có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn về lưu ký và giao dịch Cổ phiếu và trái phiếu đưa vào giao dịch phải được chuẩn hoá về mệnh giá và kỳ hạn (đối với trái phiếu) (Khoản 2 Điều 10 Luật Chứng khoán) Đây là

điều kiện quan trọng để Trung tâm lưu ký thực hiện nghiệp vụ lưu ký tổng hợp (trong trường hợp người sở hữu yêu cầu rút chứng khoán vật chất, Trung tâm lưu

ký không có nghĩa vụ trả lại chính chứng khoán đã được gửi giữ, mà chỉ phải trả lại chứng khoán có các quyền tương đương với chứng khoán đã được lưu ký) Như vậy, tài sản gửi giữ ở đây là các chứng khoán có thể hoán đổi, và khách hàng – chủ sở hữu đích thực của chứng khoán – trở thành người đồng sở hữu chứng khoán tổng hợp.

Lý thuyết theo đó nghiệp vụ gửi giữ chứng khoán trên cơ sở có thể hoán

đổi tài sản gửi giữ tương đương là một thực tiễn pháp lý được thừa nhận ở nhiều nước trên thế giới, từ các nước Châu Âu đến Nhật Bản và Mỹ

Thứ ba , chứng khoán là tài sản có khả năng chuyển nhượng đặc biệt

Tính có thể chuyển nhượng ở mức độ cao (tính lỏng � liquidity) của

Trang 18

chứng khoán được coi như một trong những đặc tính quan trọng nhất của chứng khoán so với những loại tài sản khác Khái niệm chứng khoán ra đời gắn liền với

sự ra đời của công ty cổ phần - loại hình công ty đối vốn điển hình mà việc thành lập công ty không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp Do không quan tâm tới mối quan hệ nhân thân giữa những người cùng góp vốn nên chủ sở hữu các cổ phần đó có thể dễ dàng thay đổi bằng cách chuyển nhượng cổ phần từ người này sang người khác, chủ sở hữu cuối cùng của

cổ phần sẽ là cổ đông của công ty Mặt khác, chính khả năng dễ dàng chuyển nhượng của cổ phần là yếu tố quan trọng thu hút số đông dân chúng, phần lớn là những người không có khả năng quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, cũng có thể dễ dàng trở thành thành viên của công ty, và khi không muốn, cũng có thể dễ dàng ra khỏi công ty, nhượng tư cách chủ sở hữu đó cho người khác

Khả năng dễ dàng chuyển nhượng của chứng khoán tạo nên một đặc tính

mà thuật ngữ kinh tế gọi là “tính thanh khoản” (tính dễ chuyển thành tiền mặt) của chứng khoán Tính thanh khoản này của các loại chứng khoán là khác nhau tuỳ theo mức độ quan tâm của chứng khoán đó đối với công chúng đầu tư Cũng chính khả năng chuyển nhượng đặc biệt của chứng khoán là cơ sở để thiết lập một cơ chế chuyển nhượng đặc biệt khác với cơ chế chuyển nhượng hàng hoá thông thường do dân luật điều chỉnh - đó là chuyển nhượng thông qua thị trường chứng khoán, với những phương thức và quy tắc đặc thù Cơ chế chuyển nhượng này đã phát huy ở mức độ cao nhất tác dụng và vai trò của chứng khoán - một loại hàng hoá đặc biệt - đối với nền kinh tế

Các luật gia Pháp còn đi một bước xa hơn khi thừa nhận đặc tính “không

có ngoại lệ” (inopposabilité des exceptions) của chứng khoán nhằm làm tăng

thêm khả năng chuyển nhượng của chứng khoán trên thị trường tập trung Theo tác giả Hubert de Vauplane và Jean-Pierre Bornet, chứng khoán khi đã được đem giao dịch tại thị trường tập trung thì đương nhiên được coi là đã được chuẩn hoá, “miễn trừ mọi ngoại lệ”, hay nói cách khác, người mua và người bán không cần phải bận tâm và lo lắng tới việc xác minh các yếu tố liên quan tới hiệu lực của chứng khoán (ví dụ chứng khoán đó có bị hạn chế chuyển nhượng hoặc đang là tài sản cầm cố thế chấp hay không, có thuộc sở hữu chính chủ của người bán hay không�) Chính đặc tính không thừa nhận ngoại lệ này làm cho việc chuyển nhượng chứng khoán trở nên đơn giản hơn và phân biệt chứng khoán với các động sản tương tự khác Và cũng chính đặc tính này cho phép

Trang 19

và giải thích việc chứng khoán có thể niêm yết và “chuyển nhượng” trên thị trường chứng khoán có tổ chức theo quy định tại các Điều 421-3 trở đi của Bộ luật về tiền tệ và tài chính [103, tr.51].

(2) Giao dịch chứng khoán có tính hệ thống và tập trung cao

Giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung được thực hiện qua hệ thống giao dịch, do vậy có tính hệ thống và tập trung cao độ Đây là một

đặc thù so với giao dịch tại thị trường tự do hoặc thị trường phi tập trung, nơi các giao dịch có thể được thực hiện phân tán, riêng lẻ theo các cơ chế thương lượng thoả thuận “song phương” chứ không qua khớp lệnh tập trung tại Sở giao dịch chứng khoán

Chính tính hệ thống và tập trung cao của giao dịch chứng khoán khiến cho giao dịch chứng khoán bị ảnh hưởng bởi các nhân tố rủi ro rất đặc thù so với các giao dịch dân sự thông thường: đó là rủi ro hệ thống (rủi ro gây đổ vỡ hệ thống trên diện rộng do thất bại của một hoặc một số thành viên theo hiệu ứng

đôminô) Đây cũng là vấn đề mà pháp luật phải quan tâm điều chỉnh nhằm kiểm soát và hạn chế tối đa rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán

(3) Chủ thể trong giao dịch không xác định

Một nét đặc thù nữa của giao dịch chứng khoán là không xác định chủ thể tham gia giao dịch (trừ các giao dịch thực hiện theo phương thức thoả thuận, nghĩa là các bên thực hiện giao dịch bên ngoài hệ thống giao dịch, chỉ đưa giá và kết quả giao dịch vào hệ thống) Các bên đặt lệnh mua bán thông qua trung gian môi giới, sau đó các trung gian này chuyển lệnh vào hệ thống giao dịch Hệ thống sẽ là người tìm kiếm và so khớp các lệnh phù hợp với nhau để tìm ra giá cả tốt nhất cho các bên, hay nói cách khác, hệ thống giao dịch là “người làm thay” công đoạn tìm kiếm đối tác và thoả thuận các điều khoản của giao dịch Giao dịch kết thúc, chứng khoán và tiền được chuyển giao, song người bán và người mua không thể biết mình đã mua/bán chứng khoán với ai Do vậy, khác với các giao dịch dân sự thương mại thông thường, việc thực hiện giao dịch chứng khoán nhắm tới chủ thể đích danh được coi là những giao dịch có tính chất đặc thù và phải có cơ chế kiểm soát đặc biệt để không vi phạm nguyên tắc bình đẳng của thị trường.

(4) Xung đột lợi ích đan xen phức tạp trong giao dịch

Một đặc điểm quan trọng chi phối các quy phạm pháp luật điều chỉnh các giao dịch chứng khoán chính là tính xung đột lợi ích luôn đan xen phức tạp trong giao dịch Rất nhiều luật gia trên thế giới như Kenneth J Bialkin, GS Melvin A.Eisenberg, Norman S.Poser �đã thừa nhận tính xung đột lợi ích là một trong các đặc trưng cố hữu của giao dịch chứng khoán [95, tr.545-546] [97, tr.111-123]

Trang 20

Thứ nhất là xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia giao dịch với nhau

Xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia giao dịch thể hiện rõ nét nhất qua mối

quan hệ giữa “người nội bộ” (insider) và “người không nội bộ” (outsider)

“Người nội bộ” là những cổ đông nắm giữ khối lượng lớn cổ phiếu (cổ đông lớn), hoặc những người nắm giữ các vị trí chủ chốt trong công ty, có ưu thế nắm giữ trong tay các thông tin nội bộ và quyền lực quản lý kiểm soát công ty Ngược lại,

“người không nội bộ” là những cổ đông nắm thiểu số cổ phiếu (cổ đông nhỏ) hoặc các nhà đầu tư thông thường, do vậy nếu diễn ra giao dịch giữa “người nội bộ” và “người không nội bộ”, xung đột lợi ích là không thể tránh khỏi vì mối quan hệ giữa họ không dựa trên sự bình đẳng và tương xứng về thông tin Do vậy, trên thị trường chứng khoán, có một loại giao dịch rất đặc thù dựa trên sự xung

đột lợi ích này, đó là “giao dịch nội gián”, trong đó “người nội bộ” và người có liên quan lợi dụng ưu thế kiểm soát và thông tin chưa công bố về công ty của mình để thu lợi cá nhân thông qua việc mua bán cổ phiếu của công ty

Thứ hai , xung đột lợi ích giữa các chủ thể tham gia giao dịch và các tổ chức trung gian thị trường Xung đột này xuất phát từ việc giao dịch chứng khoán

luôn phải thực hiện qua trung gian (nguyên tắc trung gian) Xung đột này liên quan tới vấn đề đạo đức nghề nghiệp của những người môi giới, nhà tư vấn đầu tư, nhân viên quản lý quỹ, quản lý danh mục đầu tư và bảo lãnh phát hành chứng khoán Chức năng cơ bản của những người này là cung cấp thông tin, tư vấn cho nhà đầu tư, mua bán chứng khoán thay cho nhà đầu tư hoặc thay mặt nhà đầu tư quản lý tài khoản đầu tư của họ Do các đối tượng này luôn tiềm ẩn mối xung đột giữa việc hành động vì lợi ích của chính mình và lợi ích của khách hàng, do đó tranh chấp về lợi ích là không thể tránh khỏi, ví dụ: tư vấn sai lệch để khách hàng thực hiện giao dịch lô lớn để hưởng thêm hoa hồng môi giới, đánh tráo lệnh mua bán của khách hàng với lệnh mua bán của chính mình để trục lợi, lợi dụng việc khách hàng uỷ quyền thực hiện giao dịch để tiến hành những giao dịch vì mục

đích cá nhân�Xung đột lợi ích này cũng có thể xuất phát từ kỹ năng hành nghề của các người hành nghề nêu trên: trình độ nghiệp vụ kém, gây thiệt hại cho nhà

Trang 21

độ, kỹ năng, trách nhiệm cẩn trọng trong việc cung ứng dịch vụ cho nhà đầu tư,

ví dụ như sự thiếu chính xác trong khâu lưu ký, bù trừ giao dịch, không đảm bảo yếu tố bí mật cho khách hàng, chức năng giám sát thị trường hoạt động không hiệu quả, thậm chí những yếu tố bất khả kháng do khách quan (lỗi hệ thống, lỗi phần mềm, ) khiến cho nhà đầu tư không được hưởng một môi trường cạnh tranh công bằng trong đó giá cả và kết quả giao dịch được hình thành một cách nhanh chóng, chính xác với chi phí thấp Sự độc quyền trong việc cung cấp dịch

vụ cũng được coi là một trong những nguyên nhân của các xung đột lợi ích dạng này, đặc biệt đối với những thị trường chỉ có một Sở giao dịch chứng khoán hoặc một Trung tâm lưu ký chứng khoán Ngoài ra, các tổ chức cung ứng dịch vụ thị trường khác như tổ chức kiểm toán, tổ chức định mức tín nhiệm � cũng tiềm ẩn những xung đột lợi ích với nhà đầu tư Do lợi ích của các đối tượng này gắn liền với những tổ chức mà họ cung cấp dịch vụ (tổ chức phát hành, công ty chứng khoán�)

mà không gắn liền với lợi ích của nhà đầu tư nên họ có thể hi sinh lợi ích của nhà

đầu tư để đứng về phía lợi ích của tổ chức phát hành, công ty chứng khoán�

Xuất phát từ đặc điểm xung đột lợi ích luôn đan xen phức tạp trong giao dịch, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với các nhà làm luật là phải xử lý hài hoà các xung đột về lợi ích nhằm đảm bảo tối đa tính công bằng, công khai và minh bạch trong giao dịch Đó là điều kiện tiên quyết đem lại lòng tin cho công chúng đầu tư, là yếu tố duy trì và phát triển thị trường.

(5) Tính đặc thù trong việc thể hiện các nguyên tắc của pháp luật về hợp đồng Điều này được thể hiện qua các nội dung sau:

Thứ nhất, giao dịch chứng khoán thể hiện một sự biến đổi rõ rệt trong các

nguyên tắc truyền thống của pháp luật về hợp đồng Ví dụ: nguyên tắc tự do hợp

đồng - thường được giải thích là sự tự do tham gia vào các quan hệ hợp đồng và quyền tự do của các bên trong việc xác định nội dung hợp đồng cho đến hiện nay hầu như không thể hiểu theo nghĩa tự do thuần tuý, tự do bất khả xâm phạm Có hai xu hướng chính khiến cho phạm vi của nguyên tắc tự do hợp đồng ngày càng

bị thu hẹp Xu hướng thứ nhất là quá trình can thiệp ngày càng chặt chẽ của quản

lý nhà nước đối với các quan hệ pháp luật trong nền kinh tế, đặc biệt là những quan hệ pháp luật có tính nhạy cảm và rủi ro cao, như: tài chính, tín dụng, bảo hiểm Xu hướng thứ hai là quá trình tập trung hoá quyền lực vào tay những chủ thể kinh doanh có lợi thế Xu hướng này tất yếu làm nảy sinh các hợp đồng mà trong đó người tham gia hợp đồng không thể đưa ra bất kỳ một thương lượng nào, thậm chí không có bất kỳ một lựa chọn nào khác ngoài việc tham gia hợp đồng như các hợp đồng mà chúng ta vẫn ký kết hàng ngày như hợp đồng điện, nước,

Trang 22

điện thoại

Riêng đối với giao dịch chứng khoán, sự thể hiện của quá trình biến đổi các nguyên tắc truyền thống trong pháp luật hợp đồng được lý giải do nhiều nguyên nhân Nguyên nhân quan trọng nhất phải kể đến chính là yếu tố rủi ro và nhạy cảm đặc biệt của loại giao dịch này Nói chung, khu vực tài chính là khu vực có tính nhạy cảm và độ rủi ro cao, do vậy, sự can thiệp của yếu tố quản lý nhà nước thường rõ rệt và khắt khe hơn nhiều so với các lĩnh vực khác trong nền kinh tế Đó là lý do tại sao quyền tự do định đoạt của các chủ thể trong hợp đồng

bị hạn chế ở mức độ rất cao, vì tự do của họ ảnh hưởng trực tiếp và lập tức tới sự vận hành bình thường của thị trường và quyền lợi của các chủ thể khác Có thể dẫn chứng ở đây hàng loạt những biện pháp hành chính như: nới lỏng hoặc thu hẹp biên độ dao động giá, cấm đặt lệnh mua và bán trong cùng một phiên cho một loại cổ phiếu, giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài

Nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong quá trình giao kết hợp đồng cũng không thể hiểu theo nghĩa thông thường là bình đẳng về vị thế giao kết hợp

đồng (không bên nào được sử dụng những ưu thế hoặc quyền lực riêng để ép buộc sự tham gia hợp đồng của phía bên kia) hay bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng Đối với một giao dịch chứng khoán, nguyên tắc bình đẳng cần được hiểu dưới một góc độ khác - đó là sự bình đẳng về thông tin

để từ đó ra quyết định đầu tư và bình đẳng về điều kiện thực hiện giao dịch Một quyết định đầu tư không dựa trên những thông tin có được một cách bình đẳng sẽ tạo nên một giao dịch không bình đẳng (giao dịch nội gián) và phải chịu những chế tài nghiêm khắc của pháp luật, trong đó có cả sự vô hiệu của hợp đồng.

Thứ hai , giao dịch chứng khoán còn là biểu hiện đậm nét của xu thế quốc

tế hoá trong lĩnh vực hợp đồng Quốc tế hoá là xu thế chung không những trong lĩnh vực luật pháp mà còn trong rất nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế Đối với

lĩnh vực luật pháp, quá trình quốc tế hoá thể hiện qua sự tăng cường ngày càng rõ nét ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến sự phát triển hệ thống pháp luật quốc gia, qua xu thế tương đồng không những trong bản thân nội dung các quy phạm pháp luật, mà còn cả trong hệ thống các khái niệm pháp lý Tính quốc tế hoá này thể hiện đặc biệt rõ nét trong pháp luật điều chỉnh các hoạt động của thị trường chứng khoán, thể hiện ở sự kế thừa trong nội dung các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường nói chung và hoạt động giao dịch nói riêng của pháp luật về chứng khoán nước ta từ pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán quốc tế, đặc biệt là những quốc gia trong khu vực

Xu thế quốc tế hoá trong pháp luật liên quan về giao dịch chứng khoán còn

Trang 23

là một đòi hỏi khách quan nhằm phát huy tối đa khả năng của kênh huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán Sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng như khả năng của nhà đầu tư Việt Nam tham gia đầu tư ra các thị trường chứng khoán ngoài nước chỉ có được khi chúng ta xây dựng một mặt bằng pháp luật thông thoáng, tương đồng với các chuẩn mực chung của thế giới và phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế trong tương lai

Đó cũng là lý do tại sao gia nhập các tổ chức quốc tế về chứng khoán như: Hiệp hội quốc tế các Sở giao dịch chứng khoán (FIBV), Hiệp hội các Sở giao dịch chứng khoán khu vực Châu á - Thái Bình Dương (EAOSEF), Tổ chức quốc tế các Uỷ ban Chứng khoán (IOSCO) được coi như một trong các mục tiêu chiến lược trong xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2010.

Việc nghiên cứu đặc điểm của các giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung có ý nghĩa quan trọng nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh các giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung

1.2 khái quát những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung

Pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán không ra đời gắn liền với sự xuất hiện của thị trường chứng khoán trên thế giới Lịch sử pháp luật về thị trường chứng khoán ghi nhận những dấu mốc hình thành và phát triển

đầu tiên sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế năm 1929 ở những nước Mỹ, Tây Bắc

Âu và Nhật Bản Trước đó, phần lớn hoạt động của các thị trường được điều tiết bởi cơ chế tự quản hoặc quản lý sơ khai Sau này, nhận thức được vai trò quan trọng của quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động của thị trường chứng khoán, một số nước đã xây dựng Luật về chứng khoán và giao dịch chứng khoán, điển hình là Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán 1933 và 1934 của Mỹ, sau này là hình mẫu cho nhiều nước học tập

Thị trường chứng khoán được coi là thị trường cạnh tranh tự do điển hình, nơi giá cả chứng khoán được xác định bởi cạnh tranh giữa cung và cầu nhằm phân bổ các nguồn tài chính một cách hiệu quả nhất Để đạt được điều này, thị trường chứng khoán cần có tính thanh khoản, công bằng và công khai thông tin Lịch sử phát triển thị trường chứng khoán thế giới cho thấy chính những yếu tố hạn chế tự do cạnh tranh như sự can thiệp của các biện pháp quản lý hành chính hoặc quyền lực trực tiếp, sự kém hiệu quả của các cơ chế kiểm soát các hành vi thao túng giá cả hoặc giao dịch nội gián� là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thất bại của thị trường chứng khoán Vì vậy, pháp luật luôn được coi là biện pháp

Trang 24

quan trọng nhất để quản lý thị trường chứng khoán nhằm duy trì hoạt động hiệu quả và công bằng của thị trường.

Với tư cách là một bộ phận của hệ thống pháp luật về tài chính ngân hàng, pháp luật chứng khoán có mối quan hệ hữu cơ với các lĩnh vực khác của pháp luật tài chính nói riêng (pháp luật về bảo hiểm, ngân hàng và các tổ chức tín dụng, pháp luật thuế�) và các lĩnh vực của pháp luật dân sự thương mại nói chung (luật công ty, luật thương mại, luật dân sự�).

1.2.1 Nguồn của pháp luật về giao dịch chứng khoán

Hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán có nhiều nét đặc thù so với các lĩnh vực khác của nền kinh tế, do vậy việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với các giao dịch này cũng có nhiều nét khác biệt: bên cạnh các quy phạm pháp luật chuyên ngành (i) còn có các quy phạm pháp luật chung (ii)

điều chỉnh các vấn đề liên quan tới hoạt động giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật cũng phải kể

đến vai trò bổ trợ rất quan trọng của các quy chế tự quản và các quy phạm quy tắc và tập quán (iii) đối với việc điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán

1.2.1.1 Quy phạm pháp luật chuyên ngành

Hầu hết các nước có thị trường chứng khoán đều xây dựng hệ thống pháp luật về chứng khoán Các nước phát triển và các nước công nghiệp mới phát triển của Châu á là những nước có hệ thống luật pháp khá hoàn chỉnh về nội dung và

đa dạng về hình thức Các nước chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng đang nỗ lực xây dựng cho mình một đạo luật cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán với nội dung bao trùm hầu hết các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của ngành chứng khoán, như: điều kiện đăng ký giao dịch, các yêu cầu đối với các thành viên tham gia thị trường, các loại hình kinh doanh chứng khoán, hình thức tổ chức và vận hành Sở giao dịch chứng khoán, các định chế đầu tư, vấn đề tham gia của nhà đầu tư nước ngoài �.

Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành về thị trường chứng khoán thể hiện rõ quan điểm của quốc gia đối với sự phát triển thị trường vốn và xây dựng nền kinh tế thị trường Nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy quá trình thiết lập hệ thống pháp luật mang tính kế thừa rõ nét các nguyên tắc của hệ thống pháp luật bản địa và tinh hoa của pháp luật quốc

tế Ví dụ: hầu hết các quốc gia là thuộc địa cũ của Mỹ hay bị lệ thuộc vào nền kinh tế Mỹ đều xây dựng đạo luật về chứng khoán của mình mang màu sắc của Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán Mỹ 1933, 1934 như: Nhật Bản,

Trang 25

Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Đài Loan, Ba Lan� Tuy nhiên, các quốc gia này không sao chép nguyên văn mà các nội dung cơ bản của đạo luật phản ánh màu sắc riêng của điều kiện cụ thể của nước sở tại Mặt khác, các nước đang phát triển thường không bắt đầu từ việc xây dựng các văn bản dưới luật rồi pháp điển hoá thành Luật Chứng khoán, mà bắt tay ngay vào việc xây dựng một đạo luật cơ bản về chứng khoán (nhờ sự trợ giúp của cộng đồng quốc tế, rút kinh nghiệm từ các nước đi trước�) Kinh nghiệm cho thấy việc quản lý các hoạt động của thị trường chứng khoán trên cơ sở các đạo luật có thể đem lại hiệu quả cao hơn đối với sự phát triển của thị trường.

Nhiều nước ban hành Luật Chứng khoán dưới hình thức một đạo luật thống nhất điều chỉnh tất cả các lĩnh vực của ngành chứng khoán, được coi là đạo luật cơ bản và giữ vị trí trung tâm Căn cứ vào đạo luật chung này, các vấn đề chuyên biệt được quy định cụ thể hơn ở những Luật cụ thể khác Ví dụ, tại Mỹ, Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán 1933 và 1934 là hai đạo luật cơ bản điều chỉnh toàn bộ hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán trên cả hai thị trường sơ cấp và thứ cấp Ngoài ra, còn có các Luật bổ trợ khác như Luật Công ty Đầu tư (1940), Luật Uỷ ban Giao dịch Hàng hoá Tương lai (1974), Luật Bảo vệ Nhà đầu tư Chứng khoán (1970)�đề cập sâu hơn về hoạt động tín thác

đầu tư, giao dịch chứng khoán phái sinh, bảo vệ quyền của nhà đầu tư chứng khoán � Hoặc tại Hàn Quốc, ngoài đạo luật cơ bản là Luật Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (1962), các luật chuyên biệt khác được ban hành để cụ thể hoá chính sách phát triển thị trường trong từng thời kỳ như Luật Khuyến khích Phát triển Thị trường vốn, Luật Tín thác Đầu tư Chứng khoán (1969), Luật Kiểm toán (1980), Luật Giao dịch Hợp đồng Tương lai (1995), Luật Công ty Đầu tư Chứng khoán (1998)�

Một số nước ban hành các luật đơn hành điều chỉnh từng lĩnh vực của thị trường chứng khoán (phát hành chứng khoán, quỹ đầu tư, thanh toán bù trừ chứng khoán ) Ví dụ, tại Đức, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán bao gồm: Luật Khuyến khích Thị trường Tài chính (1994), Luật Kinh doanh Chứng khoán (sửa đổi năm 1994), Luật Sở Giao dịch Chứng khoán, Luật Thanh toán bù trừ và Lưu ký chứng khoán, Luật Ngân hàng, Luật Công ty

Các nước đang phát triển như Trung Quốc, Indonesia� đi theo hướng ban hành một Luật Chứng khoán quy định những vấn đề chung của toàn bộ thị trường Tuy nhiên, để đảm bảo tính linh hoạt trong áp dụng và xây dựng thị trường, những vấn đề cụ thể thường được thể chế hoá trong hệ thống các văn bản

Trang 26

hướng dẫn dưới luật, ví dụ tại Trung Quốc là: Quy chế tạm thời về phát hành và giao dịch cổ phiếu, Quy chế tạm thời về Sở Giao dịch Chứng khoán, Biện pháp tạm thời trong việc ngăn chặn lừa đảo chứng khoán, Các quy định về công bố thông tin, phát hành chứng khoán�

Trong khi đó, một số nước lại không có Luật Chứng khoán riêng biệt Tại những nước này Luật Công ty điều chỉnh bao trùm hoạt động phát hành chứng khoán riêng lẻ và phát hành chứng khoán ra công chúng, điển hình là Anh (Luật Dịch vụ Tài chính năm 1986), ấn Độ, úc (Luật Công ty 1989 điều chỉnh hoạt

động phát hành, chào bán chứng khoán ra công chúng, cấp phép môi giới và giấy phép kinh doanh chứng khoán và quản lý thị trường chứng khoán�) Tuy nhiên, bên cạnh Luật Công ty còn có một số luật đề cập tới một vài lĩnh vực cụ thể của thị trường chứng khoán.

1.2.1.2 Quy phạm pháp luật chung liên quan tới giao dịch chứng khoán

Pháp luật về giao dịch chứng khoán có mối liên hệ chặt chẽ với các quy phạm pháp luật khác trong hệ thống pháp luật của quốc gia, gần nhất là pháp luật

kinh tế Theo TS Phạm Thị Giang Thu: “xét về bản chất, hoạt động chứng khoán

là một loại hoạt động kinh doanh, vấn đề quản lý hoạt động chứng khoán là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế Cụ thể hơn, nếu xét đối tượng điều chỉnh của pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán là chứng khoán và các hoạt động liên quan đến giao dịch chứng khoán - một loại hoạt động kinh tế quan trọng thì pháp luật thị trường chứng khoán cũng

là một bộ phận của pháp luật kinh tế” [58, tr.33].

IOSCO đã nghiên cứu và thấy rằng, các quy phạm pháp luật về chứng khoán và giao dịch chứng khoán của mỗi quốc gia không thể phát huy tác dụng thực sự nếu thiếu một khung pháp lý hoàn hảo, bao gồm ít nhất, nhưng không chỉ giới hạn ở những lĩnh vực pháp luật sau đây (tuỳ thuộc vào thực tiễn pháp lý của từng nước):

(1) Pháp luật về doanh nghiệp: bao gồm các nội dung cơ bản về việc thành lập doanh nghiệp; nghĩa vụ của giám đốc và các nhân viên; quy chế thực hiện các giao dịch thâu tóm doanh nghiệp và các giao dịch khác với mục đích thay đổi quyền sở hữu của doanh nghiệp; pháp luật điều chỉnh việc phát hành và chào bán chứng khoán; cơ chế công bố thông tin cho cổ đông sao cho họ có thể thực thi quyền biểu quyết của mình trên cơ sở có thông tin một cách đầy đủ; cơ chế công

bố thông tin về việc nắm giữ của các cổ đông chủ chốt.

(2) Bộ luật thương mại/pháp luật về hợp đồng, bao gồm các nội dung về

Trang 27

quyền của các bên trong lĩnh vực hợp đồng; cơ chế tạo điều kiện cho việc cho vay chứng khoán và thế chấp chứng khoán; quyền sở hữu, bao gồm các quyền gắn với chứng khoán và các quy chế liên quan tới việc chuyển giao các quyền này;

(3) Pháp luật thuế: các quy định về thuế trong hoạt động đầu tư và các sản phẩm đầu tư;

(4) Pháp luật về phá sản và giải thể doanh nghiệp: quyền của người nắm giữ chứng khoán trong việc yêu cầu thanh lý/phá sản doanh nghiệp; quyền của khách hàng trong việc yêu cầu phá sản tổ chức trung gian; giải quyết tài sản trong phá sản.

(5) Pháp luật về cạnh tranh: cấm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; cấm các quy định không công bằng về điều kiện gia nhập thị trường của các thành viên; cấm việc lạm dụng các vị thế thống trị thị trường.

(6) Pháp luật về ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty đầu tư, đầu tư tập thể, tiết kiệm và các công ty cung cấp dịch vụ đầu tư;

(7) Pháp luật về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp: hệ thống tư pháp công bằng và hiệu quả (bao gồm các cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

và các cơ chế giải quyết tranh chấp khác); khả năng cưỡng chế thi hành quyết

định của Toà án hoặc phán quyết của Trọng tài, bao gồm cả quyết định của Toà

án và phán quyết của Trọng tài nước ngoài.

(8) Luật bảo vệ nhà đầu tư, nếu các nhà đầu tư chưa được bảo vệ một cách thích đáng theo quy định của các luật nêu ở phần trên [4, tr.46-50].

1.2.1.3 Quy chế của các tổ chức tự quản

Tự quản (self-regulatory) là phương thức quản lý do chính bản thân các tổ

chức của ngành chứng khoán thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ các luật và văn bản pháp quy trong lĩnh vực chứng khoán [7, tr.50] Việc quản lý bằng tự quản

được thực hiện trên cơ sở chức năng và quyền hạn do luật pháp quy định Căn cứ

phạm vi thẩm quyền luật định đó, các tổ chức tự quản (self regulatory organizations) tự đề ra các Quy chế có tính áp dụng bắt buộc đối với thành viên

thuộc quyền quản lý của mình Phần lớn các Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán, Hiệp hội chứng khoán�ở các nước là các tổ chức tự quản Vì vậy, các quy chế, quy định và chính sách mà các tổ chức này ban hành

điều chỉnh một phạm vi rộng lớn các hoạt động của thị trường Mặc dù các quy chế và quy định này không do các cơ quan có thẩm quyền lập pháp hoặc lập quy ban hành, song do nó được ban hành căn cứ vào sự uỷ quyền ghi nhận tại các văn bản pháp luật (thường là Luật Chứng khoán) nên chúng cũng có tính cưỡng chế

và có tính áp dụng bắt buộc chung, và là một nguồn bổ sung quan trọng của việc

Trang 28

quản lý bằng pháp luật Ví dụ, theo Luật Doanh nghiệp Australia, quy định về niêm yết do Sở giao dịch chứng khoán đưa ra có giá trị áp dụng bắt buộc đối với các công ty niêm yết Quy định này bổ sung các nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ khác ngoài quy định thông thường của Luật Doanh nghiệp nhằm vừa bảo vệ lợi ích của các công ty niêm yết, vừa bảo vệ tối đa nhà đầu tư Hoặc theo quy định của Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán Mỹ, mọi công ty chứng khoán khi tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán với công chúng Mỹ đều phải đăng ký với Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Mỹ Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Mỹ là tổ chức tự quản lớn nhất trên thế giới trong lĩnh vực tài chính Tổ chức này tham gia vào mọi lĩnh vực của ngành chứng khoán Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Mỹ, đưa ra các quy định để điều chỉnh hoạt động của các công ty chứng khoán, giám sát việc tuân thủ các quy định và khi cần thiết sẽ

áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các tổ chức vi phạm quy định [92].

Vai trò quản lý bằng tổ chức tự quản là một nét đặc thù trong việc quản lý thị trường chứng khoán so với các hoạt động khác của nền kinh tế [3] và các quy chế do các tổ chức tự quản ban hành có vai trò bổ trợ vô cùng quan trọng đối với

hệ thống pháp luật thực định trong việc điều chỉnh các hoạt động trên thị trường

chứng khoán Về vấn đề này, Richard W Jennings (Mỹ) cho rằng: “Hoạt động quản lý thị trường chứng khoán từ xưa nay đã đặt một niềm tin cậy lớn lao vào các nguyên tắc của các tổ chức tự quản Từ rất lâu trước khi Luật Chứng khoán

và Giao dịch Chứng khoán 1934 được áp dụng thì các Sở Giao dịch Chứng khoán

đã tham gia một cách sâu sắc vào hệ thống quản lý ngành chứng khoán thông qua việc chấp thuận gia nhập và điều chỉnh các hoạt động của thành viên của mình” [99, tr.663] Thậm chí, theo luật gia Bernard S.Black (Mỹ), “Các quy chế

tự quản của Sở Giao dịch Chứng khoán có thể được coi là thành tố quan trọng trong tổng thể các thể chế pháp lý của thị trường chứng khoán, là cơ sở để thiết lập một thị trường chứng khoán vững mạnh” [102, tr.22] Theo quy định của Luật

Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán Mỹ, các công ty môi giới và tự doanh chứng khoán buộc phải tham gia ít nhất một tổ chức tự quản [96] Thông thường, các công ty này là thành viên của nhiều tổ chức tự quản và cùng một lúc chịu sự giám sát của các tổ chức này Chính vì thế, giữa Sở giao dịch chứng khoán và các

tổ chức tự quản có sự phân định chức năng giám sát đối với các công ty chứng khoán để hạn chế giám sát chồng chéo, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và hợp tác giữa các tổ chức này Như vậy, bên cạnh Uỷ ban Chứng khoán Mỹ thì Sở giao dịch chứng khoán Mỹ (AMEX), Sở giao dịch quyền chọn Chicago (CBOE), Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán (NASD), Sở giao dịch chứng khoán New York

Trang 29

(NYSE) và Hiệp hội quản lý chứng khoán Bắc Mỹ (NASAA) đều tham gia vào công tác giám sát các công ty môi giới và tự doanh thông qua các quy chế mà các

dụ, úc vốn là quốc gia chủ yếu sử dụng phương pháp quản lý bằng pháp luật như một biện pháp chính để quản lý thị trường Song điều này hiện đang thay đổi Uỷ ban Chứng khoán úc (ASC), một cơ quan của Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý thị trường chứng khoán theo Luật công ty và Luật Chứng khoán, trong một số lĩnh vực đã trao cho các tổ chức tự quản là Sở giao dịch chứng khoán úc (ASX) và Sở Giao dịch các Hợp đồng Tương lai Sydney (SFE) [43]

được quyền ban hành các quy chế và các quy chế này có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các thành viên tương tự như Luật, đồng thời ghi nhận Sở giao dịch chứng khoán có quyền cưỡng chế thực thi các quy chế này Điều 777 và Điều

1114 Luật Công ty úc cho phép ASX được yêu cầu Toà án ra lệnh cưỡng chế thi hành Quy chế do ASX ban hành Quyền được đòi hỏi Toà án ra lệnh cưỡng chế thực thi các quy chế về kinh doanh hoặc niêm yết của ASX đem lại cho các quy chế đó hiệu lực gần như luật định Vị thế là một tổ chức tự quản của ASX cùng với quyền cưỡng chế thực thi các quy chế do Sở ban hành (và quyền dành cho bên thứ ba đòi hỏi những quy chế của ASX phải được thực thi), quyền thi hành

kỷ luật hoặc khai trừ những thành viên của mình khiến cho Sở giao dịch chứng khoán trở thành một bộ phận trung tâm trong việc quản lý chứng khoán ở úc

Tại hầu hết các thị trường chứng khoán của các nước công nghiệp như Mỹ, Anh, Nhật, phần lớn công việc quản lý thị trường hàng ngày do các tổ chức tự

Trang 30

quản như Sở giao dịch chứng khoán hay Trung tâm thanh toán bù trừ thực hiện dưới sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước Ví dụ, tại Mỹ, Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán năm 1934 đã giao phần lớn trách nhiệm quản

lý thị trường cho Sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức tự quản khác dưới sự giám sát chặt chẽ của Uỷ ban Chứng khoán Các tổ chức tự quản Mỹ phải đăng

ký với Uỷ ban Chứng khoán và được Uỷ ban Chứng khoán thông qua quy chế hoạt động ở Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia, pháp luật chứng khoán đều trao phần lớn thẩm quyền giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán cho các tổ chức tự quản thực hiện

1.2.1.4 Quy phạm quy tắc và tập quán

Quốc tế hoá các thị trường chứng khoán trên thế giới không còn là một hiện tượng mới Nhu cầu hợp tác trong quản lý và giám sát những hoạt động kinh doanh xuyên biên giới cũng đã xuất hiện ngay từ khi công nghệ thông tin cho phép người ta thực hiện các giao dịch từ nước này sang nước một cách dễ dàng Mặt khác, thị trường chứng khoán các nước cũng đứng trước nhu cầu phải tiêu chuẩn hoá và quốc tế hoá hoạt động giao dịch, nhằm đáp ứng tối đa yêu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế Nhìn chung, nhu cầu hợp tác và hội nhập trên lĩnh vực thị trường vốn bao gồm những khía cạnh như: hợp tác đảm bảo quản lý tốt hơn các thị trường trong và ngoài nước với mục tiêu duy trì các thị trường công bằng

và hiệu quả; trao đổi thông tin và kinh nghiệm để phát triển thị trường vốn; thiết lập chuẩn mực và một cơ chế giám sát có hiệu quả đối với những giao dịch chứng khoán quốc tế; hỗ trợ lẫn nhau nhằm đảm bảo tính thống nhất của các thị trường bằng việc áp dụng những chuẩn mực và cơ chế cưỡng chế thực thi luật pháp có hiệu quả.

Chính vì những mục tiêu trên mà các tổ chức quốc tế trên lĩnh vực thị trường vốn như IOSCO và Hiệp hội các Sở giao dịch chứng khoán Quốc tế (FIBV) được thành lập Có thể nói rằng những tổ chức này là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển của các thị trường chứng khoán và chúng được hình thành từ nhu cầu hợp tác và hội nhập để phát triển của mỗi thị trường quốc gia và khu vực Các văn bản do các tổ chức này ban hành, cho dù dưới hình thức các nguyên tắc, khuyến nghị, biên bản ghi nhớ�đều có tính hướng dẫn áp dụng chung đối với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường chứng khoán của hầu hết các quốc gia

Hiện nay, các luật gia của nhiều nước trên thế giới đã chính thức thừa nhận các quy tắc và tập quán do các tổ chức quốc tế về chứng khoán ghi nhận và

Trang 31

ban hành như một bộ phận trong hệ thống pháp luật về thị trường chứng khoán quốc gia [102, tr.361-369] Có thể kể đến ở đây những văn bản quan trọng như:

30 nguyên tắc quản lý thị trường chứng khoán của IOSCO; Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp mẫu của IOSCO; Các khuyến nghị chung về xây dựng hệ thống thanh toán bù trừ chứng khoán của nhóm G30 (nhóm G30, thành lập năm 1978,

là một tổ chức quốc tế phi lợi nhuận, bao gồm các đại diện cao cấp từ khu vực tư nhân và nhà nước trong lĩnh vực kinh tế và tài chính Nhóm này có mục tiêu nghiên cứu và đưa ra những đề xuất, đánh giá về các vấn đề kinh tế và tài chính);

Bộ Các nguyên tắc trong quản trị công ty của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (đây là bộ các nguyên tắc quản trị đầu tiên trên thế giới, có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hoạt động quản trị công ty và trở thành mẫu mực cho các nước đi sau nghiên cứu áp dụng Mục đích của các nguyên tắc quản trị công ty của OECD là giúp các nước thành viên cũng như các nước khác

đánh giá và củng cố các khuôn khổ pháp luật và quản lý cho quản trị công ty ở các nước, đồng thời đưa ra các hướng dẫn và định hướng cho các Sở giao dịch chứng khoán, nhà đầu tư, các công ty và các bên liên quan khác có vai trò trong quá trình xây dựng và phát triển cơ chế quản trị công ty tốt Các nguyên tắc này chủ yếu áp dụng cho các công ty cổ phần đại chúng Tuy nhiên, trong nhiều khía cạnh vẫn có thể áp dụng cho các loại hình công ty khác như công ty tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước) [4, tr.46-50]

1.2.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung

Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung bao gồm các nội dung sau: (1) Pháp luật về tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung; (2) Pháp luật về hàng hoá (đối tượng của giao dịch); (3) Pháp luật về chủ thể tham gia giao dịch; (4) Pháp luật về cơ chế giao dịch; (5) Pháp luật về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp liên quan tới giao dịch chứng khoán.

1.2.2.1 Pháp luật về tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung

Thị trường giao dịch chứng khoán tập trung được tổ chức dưới hình thức các Sở giao dịch chứng khoán Theo Liên đoàn các Sở giao dịch chứng khoán thế giới, hiện nay trên thế giới đang tồn tại 5 mô hình tổ chức Sở giao dịch chứng khoán khác nhau Mỗi mô hình có một ưu và nhược điểm nhất định, và được thị trường chứng khoán các nước áp dụng tuỳ theo từng giai đoạn phát triển nhất

định của thị trường 5 mô hình này bao gồm [6, tr.53-58]:

Một là, Sở giao dịch chứng khoán tổ chức dưới hình thức công ty trách

Trang 32

nhiệm hữu hạn được sở hữu bởi các thành viên (còn gọi là mô hình thành viên) Theo mô hình này, Sở giao dịch chứng khoán do các thành viên là các công ty chứng khoán sở hữu Thành viên vừa là người tham gia giao dịch vừa là người quản lý Sở nên có thể phát huy tối ưu vai trò tự quản, nâng cao tính hiệu quả và nhanh nhạy trong việc xử lý các vấn đề phát sinh của thị trường Sở giao dịch chứng khoán theo mô hình thành viên thường hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, chủ yếu là phục vụ cho hoạt động giao dịch của chính các thành viên tại

Sở Những lợi ích kinh tế gắn bó với tư cách thành viên được phân chia một cách công bằng hoặc trên cơ sở phần đóng góp của thành viên vào Sở Hiện nay có tới 16,3% Sở giao dịch chứng khoán áp dụng mô hình này như: Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Sri Lanka�

Hai là, Sở giao dịch chứng khoán tổ chức theo mô hình công ty cổ phần

hữu hạn Trong khoảng hơn một thập kỷ gần đây, các Sở giao dịch chứng khoán theo mô hình thành viên đã dần đi theo xu hướng tư nhân hoá để chuyển đổi hình thức tổ chức thành các công ty cổ phần hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Mở đầu

là Sở giao dịch chứng khoán Stockholm năm 1993, theo sau là Sở giao dịch chứng khoán Helsinki năm 1995, Sở giao dịch chứng khoán Copenhagen năm

1996, Sở giao dịch chứng khoán Amsterdam năm 1997, Sở giao dịch chứng khoán Australia năm 1998 Các Sở giao dịch chứng khoán Toronto, Frankfurt, Singapore, Hongkong, London, Paris, Tokyo, New York � cũng lần lượt được tư hữu hoá và chuyển sang hình thức công ty cổ phần Lý do của trào lưu này chủ yếu là vì mô hình thành viên không cho phép các Sở giao dịch chứng khoán có

đủ khả năng tài chính để hiện đại hoá sàn giao dịch và cạnh tranh với các đối thủ cả về phương diện công nghệ lẫn phương diện tài chính [63] Hơn nữa, với mô hình sở hữu thành viên (chủ yếu là hoạt động phi lợi nhuận), các Sở giao dịch chứng khoán truyền thống cũng rất khó có thể đương đầu với những thách thức của quá trình toàn cầu hoá thị trường chứng khoán Hiện nay có khoảng 26,5%

Sở giao dịch chứng khoán trên thế giới áp dụng mô hình này.

Ba là, Sở giao dịch chứng khoán tổ chức theo mô hình công ty cổ phần

niêm yết (công ty đại chúng niêm yết) Theo mô hình này, Sở giao dịch chứng khoán phát hành cổ phiếu ra công chúng và niêm yết trên chính Sở giao dịch chứng khoán do mình quản lý Đây là mô hình đang được nhân rộng hiện nay trên thế giới Hiện nay có khoảng 26,5% Sở giao dịch chứng khoán trên thế giới áp dụng mô hình này, ví dụ Sở giao dịch chứng khoán Phillipines, Australia, Malaysia�

Bốn là, Sở giao dịch chứng khoán tổ chức theo mô hình Nhà nước sở hữu hoàn toàn hoặc một phần Thực chất mô hình này là Chính phủ hoặc một cơ quan

Trang 33

của Chính phủ đứng ra thành lập và quản lý Sở giao dịch chứng khoán Kinh phí

đề xây dựng và vận hành Sở giao dịch chứng khoán do Chính phủ cung cấp Ví dụ: Sở giao dịch chứng khoán Warsava, Istanbul, Việt Nam�Mô hình này có ưu

điểm là các chi phí cho giao dịch thấp, đảm bảo được tính định hướng trong quá trình phát triển thị trường chứng khoán và dung hoà được lợi ích của các chủ thể trên thị trường Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế nhất định là thiếu tính độc lập và khá cứng nhắc nên hoạt động thường kém tính hiệu quả

Nghiên cứu thực trạng cơ cấu sở hữu và cấu trúc tổ chức của các Sở giao dịch chứng khoán trên thế giới cho thấy một đặc điểm nổi bật là các Sở giao dịch chứng khoán đều là các tổ chức tự quản, nghĩa là các thành viên/cổ đông tự thiết lập các quy chế điều chỉnh hoạt động của các thành viên cũng như của Sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán có thẩm quyền quyết định việc kết nạp thành viên, cơ chế niêm yết và giao dịch chứng khoán tại Sở, cũng như các cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm của các thành viên liên quan tới hoạt động giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán Cơ chế tự quản đã tồn tại trong lịch sử gần một trăm năm của thị trường chứng khoán thế giới Đa số các Sở giao dịch chứng khoán trước đây lựa chọn cơ cấu sở hữu thành viên đều áp dụng cơ chế

tự quản Gần đây, khi quá trình chuyển đổi cơ cấu sở hữu đã biến nhiều Sở giao dịch chứng khoán thành công ty cổ phần thì cơ chế tự quản vẫn tiếp tục tồn tại

Bộ máy quản trị và điều hành Sở giao dịch chứng khoán thông thường bao gồm Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên do các cổ đông hoặc thành viên bầu ra và một Ban Giám đốc điều hành (bao gồm Tổng Giám đốc, các Giám đốc)

do Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên cử Sở giao dịch chứng khoán thuộc sở hữu Nhà nước thường hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, và cũng

được tổ chức theo mô hình Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc như các Sở giao dịch chứng khoán khác [6, tr.53-58]

1.2.2.2 Pháp luật về hàng hoá (đối tượng của giao dịch)

Việc xác định phạm vi hàng hoá (chứng khoán) được phép mua bán trên thị trường có ý nghĩa quan trọng Nó liên quan trực tiếp tới vấn đề tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán và phạm vi quản lý đối với chứng khoán Pháp luật chứng khoán trên thế giới có hai cách tiếp cận vấn đề này:

Cách tiếp cận thứ nhất hiểu chứng khoán theo nghĩa rộng, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, các chứng chỉ ghi nhận sự đầu tư dài hạn, giấy nhận nợ, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, kỳ phiếu thương mại, chứng chỉ tiền gửi, giấy chứng nhận góp cổ phần� Cách tiếp cận này được sử dụng rất phổ biến trong pháp luật chứng khoán của Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Ba Lan, Liên Xô

Trang 34

(cũ)�Ví dụ, Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán Mỹ 1933, Phần 2 (77b) định nghĩa chứng khoán rất rộng, bao gồm các loại chứng từ, cổ phiếu, cổ phiếu dự trữ, trái phiếu ngắn hạn, trái phiếu dài hạn, văn tự nợ, văn tự xác nhận tham gia các thoả thuận chia lợi nhuận, các cổ phần chuyển nhượng được, các hợp đồng đầu tư, văn tự xác nhận việc uỷ thác bỏ phiếu, văn tự xác nhận đã gửi tiền mua chứng khoán Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (Luật số 4701 ngày 5/6/1994), khoản 1 Điều 2 định nghĩa thuật ngữ "chứng khoán" bao gồm các loại sau: trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị, trái phiếu

được phát hành bởi công ty được thành lập theo Luật đặc biệt, trái phiếu công ty, các chứng chỉ bổ sung được phát hành bởi công ty được tổ chức theo luật đặc biệt, các chứng chỉ cổ phiếu và công cụ thể hiện quyền ưu tiên, các chứng chỉ hoặc công cụ được phát hành bởi Chính phủ nước ngoài hoặc công ty nước ngoài

có cùng bản chất và được quy định bởi Bộ Tài chính và kinh tế và các chứng chỉ hoặc công cụ khác được quy định trong Nghị định của Chính phủ và tương tự.

Cách tiếp cận thứ hai hiểu chứng khoán theo nghĩa hẹp, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu của các công ty thuộc khu vực Nhà nước và tư nhân, công trái Chính phủ, các giấy chứng nhận hưởng lợi của quỹ đầu tư và các chứng khoán do các công ty nước ngoài phát hành Cách tiếp cận này được phản ánh trong pháp luật về chứng khoán của Nhật Bản, Hungari, Thuỵ Điển, Trung Quốc�Ví dụ:

Điều 32 Luật chứng khoán Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1998) quy định chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu công ty và các chứng khoán khác được phép niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán.

Hai cách tiếp cận khác nhau nêu trên dẫn đến việc xác định phạm vi quyền lực của cơ quan quản lý rất khác nhau Tuy nhiên, vấn đề mà các luật gia và các nhà kinh tế thế giới đều cho rằng quan trọng hơn cả là cần phân biệt rõ ràng các công cụ của thị trường tiền tệ và công cụ của thị trường chứng khoán Nhìn chung, hàng hoá của thị trường tiền tệ là các chứng khoán ngắn hạn (thường có thời gian đáo hạn dưới 1 năm), còn hàng hoá của thị trường chứng khoán là các chứng chỉ ghi nhận đầu tư hoặc nợ dài hạn

Qua nghiên cứu, tôi thấy rằng có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại chứng khoán Từ trước đến nay việc phân loại chứng khoán chủ yếu dựa trên tính chất mối quan hệ giữa người nắm giữ chứng khoán và người phát hành chứng khoán Theo cách phân loại này, chứng khoán nợ (trái phiếu) thể hiện quyền chủ nợ của người sở hữu chứng khoán đối với người phát hành, còn chứng khoán vốn (cổ phiếu) thể hiện quyền sở hữu của người sở hữu chứng khoán đối với nhà phát hành Do đó, chứng khoán vốn được hưởng lợi tức theo cổ phần tuỳ

Trang 35

thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người sở hữu chứng khoán vốn không được hoàn trả vốn gốc trong quá trình công ty hoạt động song lại có các quyền như quyền bầu cử, quyền được cung cấp thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyền ra các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp thông qua tiếng nói của Đại hội cổ đông Trong khi đó người sở hữu chứng khoán nợ chỉ được hưởng lãi suất cố định thanh toán theo kỳ hạn và không

có quyền bỏ phiếu quyết định những vấn đề kinh doanh của doanh nghiệp Cách phân loại truyền thống này thực ra chỉ còn phù hợp với cổ phiếu và trái phiếu là những loại chứng khoán phổ biến nhất Cùng với sự phát triển của ngành chứng khoán và sự xuất hiện của các loại chứng khoán mới (chứng chỉ quỹ đầu tư, các chứng khoán phái sinh�), cách phân loại này không còn phù hợp Điều này thể hiện qua các điểm sau:

Một là, về chứng chỉ quỹ đầu tư: hiểu một cách đơn giản, chứng chỉ quỹ

đầu tư là loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ phát hành, xác nhận quyền hưởng lợi của nhà đầu tư đối với Quỹ đầu tư chứng khoán Đặc trưng của chứng chỉ quỹ đầu tư so với các chứng khoán nợ và chứng khoán vốn là nó mang tính chất “lưỡng tính”, vừa có những đặc điểm của một chứng khoán vốn, lại vừa có

đặc điểm của một chứng khoán nợ (mặc dù về cơ bản, chứng chỉ quỹ đầu tư có

tính chất gần giống với chứng khoán vốn hơn) Cụ thể là: việc sở hữu chứng chỉ

quỹ đầu tư không làm cho người sở hữu nó trở thành chủ sở hữu đối với tổ chức phát hành chứng chỉ (là công ty quản lý quỹ) giống như việc sở hữu cổ phiếu Việc phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư chỉ có giá trị làm tăng phần vốn của quỹ

được sử dụng vào việc đầu tư vào chứng khoán, chứ không làm tăng vốn điều lệ của tổ chức phát hành Bản thân tổ chức phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư cũng phải tách bạch tài sản của mình với tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán Mặt khác, chứng chỉ quỹ đầu tư lại có một số đặc điểm khác so với chứng khoán nợ

Cụ thể là chứng chỉ quỹ đầu tư đem lại cho người sở hữu nó khả năng “hưởng lợi” từ hoạt động đầu tư của quỹ Khoản lợi nhuận này nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của quỹ đầu tư Điều này hoàn toàn khác với vị thế của chủ

sở hữu trái phiếu so với chủ thể phát hành Với vai trò chủ nợ, chủ sở hữu trái phiếu chỉ có quyền được thanh toán vốn gốc và khoản lãi suất cố định theo kỳ hạn ghi trên trái phiếu.

Hai là, về chứng khoán phái sinh: chứng khoán phái sinh là chứng khoán

có nguồn gốc (dẫn xuất) từ một loại chứng khoán khác Nói cách khác, chứng khoán phái sinh là công cụ phòng vệ nhằm giảm thiểu rủi ro làm tăng khả năng lợi nhuận cho nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư vào các loại cổ phiếu, trái phiếu Ví

Trang 36

dụ: quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm đảm bảo cho cổ đông hiện hữu quyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định; chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu

đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán được quyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định� Hoàn toàn không giống như những chứng khoán nợ hoặc chứng khoán vốn thông thường, các công cụ phái sinh không xác nhận quyền sở hữu hay quyền chủ nợ giữa người phát hành và người sở hữu, mà chỉ xác nhận quyền và nghĩa vụ nhất

định liên quan tới chứng khoán giữa các bên tham gia hợp đồng Nhìn chung, sự khác biệt lớn nhất của các công cụ phái sinh so với các loại chứng khoán truyền thống là: đối tượng mua bán các loại chứng khoán thông thường chính là việc chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc quyền chủ nợ của chủ sở hữu chứng khoán

đối với tổ chức phát hành, còn đối tượng mua bán các chứng khoán phái sinh lại

là khả năng tăng hoặc giảm giá trị của những quyền này Nói một cách khác, việc nhà đầu tư mua hoặc bán các loại chứng khoán truyền thống đồng nghĩa với việc chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán, thì nhà đầu tư công cụ phái sinh có thể mua bán chứng khoán khi trong tay không thực sự sở hữu chứng khoán, hoặc không chuyển nhượng thực tế chứng khoán mà anh ta sở hữu Đó là lý do tại sao việc giao dịch những chứng khoán này thường được tiến hành trên một khu vực riêng biệt với những chứng khoán thông thường.

1.2.2.3 Pháp luật về chủ thể tham gia giao dịch

Cũng như các giao dịch mua bán hàng hoá khác, chủ thể của giao dịch chứng khoán là nhà đầu tư (người mua hoặc người bán chứng khoán) Ngoài ra còn có một chủ thể đặc thù trong mọi giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung: đó là các công ty chứng khoán – nhà trung gian môi giới giao dịch Chính chủ thể này làm nên sự khác biệt giữa giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung và giao dịch chứng khoán trên các thị trường khác Do vậy, pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch chứng khoán trên thị trường giao dịch tập trung bao gồm: (i) Pháp luật về công ty chứng khoán và (ii) Pháp luật về nhà đầu tư.

(i) Pháp luật về công ty chứng khoán � chủ thể đặc biệt trong giao dịch chứng khoán

Dưới góc độ pháp lý, công ty chứng khoán là doanh nghiệp được thành lập theo quy định pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao

Trang 37

gồm một hoặc một số loại hình kinh doanh: môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán hoặc một số hoạt động có liên quan đến chứng khoán như tư vấn tài chính, lưu ký chứng khoán v.v (Điều 118 Luật Chứng khoán ngày 29/12/1998 của Trung Quốc quy định công ty chứng khoán là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần làm nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán;

Điều 2 Luật số 25 năm 1948 về Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán Nhật Bản (sửa đổi năm 1992) quy định công ty chứng khoán là công ty cổ phần được cấp phép hoạt động kinh doanh chứng khoán; Điều 1 Chỉ thị số 93/22/EEC ngày 10/05/1993 của Cộng đồng Châu Âu (EU) về các dịch vụ đầu tư trong lĩnh vực chứng khoán quy định công ty chứng khoán (còn gọi là công ty đầu tư) ở các nước EU được hiểu là pháp nhân thực hiện các dịch vụ đầu tư cho bên thứ ba như

là nghề nghiệp chính của mình.)

Với nghiệp vụ trọng tâm là làm trung gian trong các quan hệ mua bán chứng khoán, công ty chứng khoán có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của thị trường và chính điều này khiến pháp luật của hầu hết các nước

đều dành cho công ty chứng khoán một sự kiểm soát và điều chỉnh đặc biệt so với các chủ thể tham gia thị trường khác, đặc biệt là các quy định nhằm kiểm soát khả năng xảy ra xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán và khách hàng Nhìn chung, pháp luật về chứng khoán của các nước đều quy định những nguyên tắc tổ chức và hoạt động đối với các công ty chứng khoán nhằm mục đích: (i) bảo

vệ nhà đầu tư; (ii) bảo đảm sự công bằng, hiệu quả và minh bạch của thị trường

và (iii) giảm thiểu rủi ro hệ thống trên thị trường.

Xuất phát từ ba mục đích này, IOSCO đã khuyến nghị các nước thành viên chín nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán, đó là:

1 Tính toàn vẹn và sự tận tuỵ: công ty chứng khoán phải tuân thủ các tiêu chuẩn về tính toàn vẹn và giao dịch công bằng, phải hành động với sự cẩn thận vì lợi ích của khách hàng và vì sự toàn vẹn của thị trường.

2 Các điều khoản cam kết: công ty chứng khoán phải có hợp đồng bằng văn bản, trong đó ghi rõ trách nhiệm của công ty đối với khách hàng;

3 Thông tin về khách hàng: công ty chứng khoán phải tìm hiểu các thông tin liên quan đến tình hình và mục đích đầu tư của khách hàng liên quan đến dịch

vụ mà công ty cung cấp cho khách hàng;

4 Thông tin cho khách hàng: công ty chứng khoán phải cung cấp cho khách hàng các thông tin đầy đủ và cần thiết đối với quyết định đầu tư của khách

Trang 38

hàng theo đúng cách thức và thời gian thoả thuận;

5 Tài sản của khách hàng: khi công ty chứng khoán quản lý hay chịu trách nhiệm về các tài sản của khách hàng, công ty phải bảo vệ các tài sản đó theo đúng với trách nhiệm mà công ty đã chấp nhận;

6 Hành vi trên thị trường: công ty chứng khoán phải tuân thủ các tiêu chuẩn về hành vi thực hiện trên thị trường và quy định pháp luật liên quan;

7 Kiểm soát hoạt động: công ty chứng khoán phải đặt ra cho mình các chính sách hiệu quả, các biện pháp và thủ tục kiểm tra hoạt động nội bộ của công

ty Tính hiệu quả của các biện pháp và thủ tục kiểm tra hoạt động này được đánh giá trên cơ sở chúng có hợp lý để đảm bảo: sự trao đổi thông tin hiệu quả giữa công ty và các khách hàng, bao gồm cả việc công bố thông tin theo yêu cầu cho khách hàng; tính toàn vẹn trong các hoạt động tự doanh của công ty, bao gồm việc đối xử với tất cả khách hàng một cách công bằng, trung thực và chuyên nghiệp; sự an toàn trong việc quản lý tài sản của công ty và của khách hàng chống lại mọi sự sử dụng hay chiếm hữu bất hợp pháp các tài sản đó; việc duy trì chế độ kế toán và lưu giữ các hồ sơ hợp lệ; hoạt động phù hợp với các quy định pháp luật liên quan; phân chia hợp lý các nhiệm vụ, chức năng quan trọng trong công ty, đặc biệt là các nhiệm vụ và chức năng mà nếu do cùng một cá nhân thực hiện có thể dẫn đến những sai phạm khó phát hiện hay dẫn đến sự lạm dụng và rủi ro cho công ty và khách hàng

8 Xung đột lợi ích: công ty chứng khoán cần cố gắng tránh mọi xung đột lợi ích có thể xảy ra Khi có nguy cơ xảy ra xung đột và không thể tránh khỏi xung đột lợi ích, công ty phải đảm bảo đối xử công bằng với tất cả các khách hàng của mình thông qua việc công bố thông tin đúng quy định, thông qua các quy định nội bộ về sự cẩn mật và đặt lợi ích của khách hàng lên trên lợi ích của công ty;

9 Giao dịch cho chính công ty: công ty chứng khoán cần có chính sách rõ ràng về giao dịch mà công ty được phép tiến hành vì lợi ích của chính mình

Các khuyến nghị của IOSCO đã được pháp luật của tất cả các nước ghi nhận khi đặt ra các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán Ví dụ: hầu hết pháp luật các nước đều quy định công ty chứng khoán phải

đáp ứng những yêu cầu khắt khe của pháp luật về tiềm lực tài chính, đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong quá trình hoạt động kinh doanh, cụ thể là:

Thứ nhất, công ty chứng khoán phải có đủ khả năng tài chính và phương

tiện kỹ thuật cần thiết để đảm bảo an toàn tối đa quá trình thực hiện các lệnh giao

Trang 39

dịch của khách hàng Ví dụ, các công ty chứng khoán Hàn Quốc muốn tham gia

ba loại hình kinh doanh: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu là 50 tỷ Won (Điều 14 Nghị định số 15312 ngày 22/03/1997 thi hành Luật Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán); hoặc mức vốn pháp định đối với công ty cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư, tự doanh ở Cộng hoà áo là 650,000 ATS, cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư là 1,750,000 AST (Điều 20 Luật Kiểm soát Giao dịch Chứng khoán Cộng hoà áo năm 1998); công ty chứng khoán phải có địa điểm kinh doanh cố định và có thiết bị giao dịch

đủ tiêu chuẩn (Điều 121 khoản 2 Luật Chứng khoán Trung Quốc)�

Thứ hai, Giám đốc và đội ngũ nhân viên kinh doanh của công ty chứng

khoán phải đạt tiêu chuẩn về trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp Ví dụ:

Điều 32 Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán Nhật Bản liệt kê các trường hợp Bộ Tài chính sẽ không cấp giấy phép thành lập cho công ty chứng khoán như: giám đốc của công ty chứng khoán từng làm việc cho một công ty chứng khoán khác đã bị rút giấy phép vì vi phạm pháp luật về chứng khoán; công

ty chứng khoán đã từng được cấp và bị rút giấy phép trong vòng 5 năm trước đó; thành viên điều hành hoặc kiểm toán viên chính của công ty đã từng bị tuyên bố phá sản hoặc vi phạm pháp luật về chứng khoán

Ngoài ra, pháp luật của hầu hết các nước đều ghi nhận nghĩa vụ quan trọng của công ty chứng khoán là phải đặt lợi ích của khách hàng lên trên lợi ích của bản thân công ty Nguyên tắc này xuất phát từ thực tiễn khách hàng, chủ yếu là những nhà đầu tư nhỏ, thường không có được lợi thế về trình độ chuyên môn và thông tin như các công ty chứng khoán khi tiến hành giao dịch Mặt khác, do công ty chứng khoán được phép giao dịch tự doanh nên khả năng các công ty này lợi dụng những lợi thế của mình thực hiện những giao dịch đi ngược lại lợi ích của khách hàng nhằm kiếm lời cho bản thân công ty là rất lớn Vì vậy, pháp luật các nước thường quy định những nghĩa vụ của công ty chứng khoán bao gồm: ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty, đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng, không tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng có thể hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng, quản lý tài sản chứng khoán của khách hàng tách biệt với tài sản chứng khoán của công ty Ngoài ra, công ty chứng khoán còn có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin cần thiết liên quan đến quyết

định đầu tư cho mọi nhà đầu tư, và theo quy định trong pháp luật của nhiều nước, còn có nghĩa vụ cảnh báo trong trường hợp cần thiết những hiểm hoạ có thể xảy

Trang 40

ra và công bố cả những thông tin khác mà công ty chứng khoán nhận thấy là hữu ích�(ích 58 Luật số 96-597 ngày 02 tháng 07 năm 1996 của Cộng hoà Pháp về Hiện đại hoá các hoạt động tài chính; Điều 31 đến Điều 36 Luật giao dịch chứng khoán năm 1998 của Cộng hoà Liên bang Đức; Điều 11 đến Điều 18 Luật Kiểm soát Chứng khoán năm 1996 của Cộng hoà áo, Điều 42 Luật Chứng khoán và Giao dịch Chứng khoán Nhật Bản (sửa đổi năm 1992) v.v )

(ii) Pháp luật về nhà đầu tư - chủ thể phổ biến nhất trong các giao dịch chứng khoán

Việc phân loại nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thường được tiến hành dựa trên hai tiêu chí: theo tính chất tổ chức, nhà đầu tư bao gồm nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư có tổ chức; theo quốc tịch, nhà đầu tư bao gồm nhà

đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực

hành vi để tham gia các giao dịch trên thị trường chứng khoán Đây là đối tượng

được pháp luật quan tâm bảo vệ nhất do họ thường được coi là đối tượng đầu tư không chuyên nghiệp với quy mô vốn đầu tư thấp và dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường Do vậy, pháp luật về thị trường chứng khoán của một số nước có những đạo luật chuyên biệt nhằm bảo vệ quyền lợi của các nhà

đầu tư cá nhân bên cạnh việc bảo vệ thông qua các đạo luật chung về hoạt động của thị trường chứng khoán khác Ví dụ, tại Mỹ, Luật về Bảo vệ Nhà đầu tư

Chứng khoán năm 1970 (Securities Investors Protection Act) đã quy định về việc

thiết lập một định chế đặc biệt có tên gọi là Công ty Bảo vệ Nhà đầu tư Chứng

khoán (Securities Investor Protection Corporation � SIPC) Công ty này hoạt

động không vì mục tiêu lợi nhuận và do Quốc hội thành lập Công ty có chức năng bảo hiểm số chứng khoán và tiền mặt tại tài khoản của khách hàng trong các công ty môi giới thành viên khi các công ty này lâm vào thua lỗ hoặc phá sản Tất cả các nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán đã đăng ký với Uỷ ban Chứng khoán Mỹ) và các thị trường chứng khoán quốc gia đều phải là thành viên của SIPC Hoạt động của SIPC gần giống với hoạt động của Công ty Bảo hiểm

Tiền gửi Liên bang (Federal Deposit Insurance Corporation) là công ty bảo

hiểm cho các ngân hàng và Công ty Bảo hiểm Khoản vay và Tiết kiệm Liên bang

(Federal Savings and Loan Insurance Corporation) là công ty bảo hiểm cho các

đơn vị tiết kiệm và cho vay Khi một công ty môi giới phá sản, việc đầu tiên là SIPC sẽ cố gắng sáp nhập công ty này với một công ty môi giới khác Nếu không làm được điều này, SIPC sẽ thanh lý tài sản của công ty đó và chi trả cho khách

Ngày đăng: 20/07/2014, 19:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Bằng (2006), "Luật Chứng khoán – những nội dung đổi mới chủ yếu và quan trọng", Tạp chí Luật học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Chứng khoán – những nội dung đổi mới chủ yếu và quan trọng
Tác giả: Vũ Bằng
Năm: 2006
3. Tạ Thanh Bình (2007), "Vai trò của tự quản trong quản lý thị trường chứng khoán", Tạp chí Chứng khoán, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của tự quản trong quản lý thị trường chứng khoán
Tác giả: Tạ Thanh Bình
Năm: 2007
4. Tạ Thanh Bình (2007), "Quan niệm về pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán ở một số nước trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán ở một số nước trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam
Tác giả: Tạ Thanh Bình
Năm: 2007
5. Tạ Thanh Bình (2007), "Các giải pháp quản lý thị trường chứng khoán tự do", Tạp chí Chứng khoán, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp quản lý thị trường chứng khoán tự do
Tác giả: Tạ Thanh Bình
Năm: 2007
6. Tạ Thanh Bình (2007), "Hoàn thiện tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán tập trung
Tác giả: Tạ Thanh Bình
Năm: 2007
7. Phạm Trọng Bình (chủ biên) (2006), Tài liệu giảng dạy Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán (Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Chứng khoán), Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giảng dạy Pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Phạm Trọng Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương) (2005), Các hạn chế đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam và các giải pháp chính sách, Đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hạn chế đối với sự phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam và các giải pháp chính sách
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương)
Năm: 2005
9. "Cho, tặng cổ phiếu: cơ quan quản lý bó tay?” http://www.tinnhanh chungkhoan.vn/tintuc.php?nid=4531 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho, tặng cổ phiếu: cơ quan quản lý bó tay
10. Corroran, A.M (1996), Quản lý tài chính các công cụ phái sinh của thị trường OTC, trong Quản lý tài chính ngân hàng và công ty chứng khoán, Ferrarini, G.ed Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính các công cụ phái sinh của thị trường OTC", trong "Quản lý tài chính ngân
Tác giả: Corroran, A.M
Năm: 1996
11. Trần Ngọc Dũng (2004), "Giải quyết tranh chấp kinh tế theo phương thức thương lượng, hoà giải", Tạp chí Luật học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp kinh tế theo phương thức thương lượng, hoà giải
Tác giả: Trần Ngọc Dũng
Năm: 2004
12. Đoàn Nhật Dũng (2006), “Hoạt động của Quỹ đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam – Tính cấp thiết của một khuôn khổ pháp lý đồng bộ”, Tạp chí Chứng khoán, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của Quỹ đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam – Tính cấp thiết của một khuôn khổ pháp lý đồng bộ”, "Tạp chí Chứng khoán
Tác giả: Đoàn Nhật Dũng
Năm: 2006
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Đoàn công tác Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (2006), “Quản lý thị trường chứng khoán, kinh nghiệm của Trung quốc và kiến nghị đối với Việt Nam”, Tạp chí Chứng khoán, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thị trường chứng khoán, kinh nghiệm của Trung quốc và kiến nghị đối với Việt Nam”, "Tạp chí Chứng khoán
Tác giả: Đoàn công tác Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Năm: 2006
15. Đặng Quang Gia (chủ biên) (1998), Từ điển thị trường chứng khoán, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thị trường chứng khoán
Tác giả: Đặng Quang Gia (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 1998
16. Nguyễn Kiều Giang (2006), “Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thị trường giao dịch chứng khoán ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thị trường giao dịch chứng khoán ở Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Kiều Giang
Năm: 2006
17. "Giao dịch nội gián phải được xem là tội phạm tài chính", http://www. tinnhanhchungkhoan.vn/tintuc.php?nid=2250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch nội gián phải được xem là tội phạm tài chính
18. Trần Thanh Hà (2006), “Hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm tại Việt Nam”, Tạp chí Chứng khoán, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm tại Việt Nam”, "Tạp chí Chứng khoán
Tác giả: Trần Thanh Hà
Năm: 2006
19. Trần Đình Hảo (10/1999), Hoà giải-thương lượng. Lựa chọn biện pháp giải quyÕt tranh chÊp trong kinh doanh, Tham luận tại Hội thảo: “Trao đổi kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp kinh tế và phá sản doanh nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoà giải-thương lượng. Lựa chọn biện pháp giải quyÕt tranh chÊp trong kinh doanh, "Tham luận tại Hội thảo: “Trao đổi kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp kinh tế và phá sản doanh nghiệp
20. Trần Đình Hảo (2000), "Hoà giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (1). (30) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoà giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế
Tác giả: Trần Đình Hảo
Năm: 2000
21. Lê Hồng Hạnh (1999), "Buôn bán nội gián trong hoạt động của các công ty trên thị trường chứng khoán", Tạp chí Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Buôn bán nội gián trong hoạt động của các công ty trên thị trường chứng khoán
Tác giả: Lê Hồng Hạnh
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

Vai trò quản lý bằng tổ chức tự quản là một nét đặc thù trong việc quản lý thị trường chứng khoán so với các hoạt động khác của nền kinh tế [3] và các quy Xu hướng chung ngày càng gia tăng trong việc quản lý thị trường chứng khoán trên thế giới là sử dụng các tổ chức tự quản thực hiện một số hoạt động ban hành như một bộ phận trong hệ thống pháp luật về thị trường chứng khoán quốc gia [102, tr.361-369] Có thể kể đến ở đây những văn bản quan trọng như: (i) Pháp luật về công ty chứng khoán� chủ thể đặc biệt trong giao dịch chứng khoán Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi để tham gia các giao dịch trên thị trường chứng khoán Đây là đối tượng Ngoài những biện pháp quản lý nhà đầu tư nước ngoài phổ biến trên đây, pháp luật một số nước còn có thể áp dụng các biện pháp khác như: xây dựng quy trình hướng dẫn việc nắm giữ, bảo vệ tài sản của khách hàng, tập trung hoá và phi vật chất hoá chứng khoán, chuyển giao chứng khoán bằng hình thức gh Thứ nhất, trong các vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực giao dịch chứng khoán, rất khó hoặc không thể xác định được người bị hại và mức độ thiệt

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w